1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự cần thiết phải tổ chức lại bộ máy Dân số, Gia đình và Trẻ em cấp huyện ở tỉnh Thái Nguyên

25 357 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự cần thiết phải tổ chức lại bộ máy Dân số, Gia đình và Trẻ em cấp huyện ở tỉnh Thái Nguyên
Trường học Trường Đại Học Thái Nguyên
Thể loại tiểu luận
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 113 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý Nhà nước về công tác Dân số – Kế hoạch hoá gia đình nhằm mục tiêu ổn định Dân số để phát triển kinh tế xã hội, đưa đất nước ngày càng phồn vinh giàu đẹp. Từ năm 1961 Đảng và Nhà nước đã có những văn bản đầu tiên về quản lý Dân số – Kế hoạch hoá gia đình. Hơn 30 năm sau công tác Dân số – Kế hoạch hoá gia đình ở Việt Nam đã có những chuyển biến mạnh mẽ và đã đạt được những thành tựu lớn . Khẳng định điều đó vào tháng 6/1999 Việt Nam đã được nhận giải thưởng Quốc tế về Dân số. Trong quá trình thực hiện mục tiêu về chính sách Dân số. Công tác tổ chức quản lý thông qua hệ thống bộ máy Nhà nước đóng vai trò quyết định vào thành công của chương trình. Giai đoạn đầu 1961 – 1989 công tác Dân số – Kế hoạch hoá gia đình dưới sự chỉ đạo của Bộ y tế, kết quả giai đoạn này bên cạnh những thành công đạt được còn có một số mặt hạn chế nhất định. Từ năm 1989 Uỷ ban Quốc gia Dân số – Kế hoạch hoá gia đình tách ra thành một cơ quan trực thuộc Chính phủ, quản lý theo ngành dọc từ TW đến địa phương, sự đầu tư cho chương trình đã được tăng lên rõ rệt. Do vậy giai đoạn 1989 – 2000 công tác Dân số – Kế hoạch hoá gia đình đạt được nhiều kết quả, tỷ lệ sinh giảm nhanh, số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ từ 3,85 con (năm 1989) xuống còn 2,3 con (năm 1999). Hoàn thành mục tiêu chiến lược Dân số đến năm 2000 và thực hiện có kết quả Nghị quyết IV Hội nghị Ban chấp hành TW Đảng khoá VII về chính sách Dân số – Kế hoạch hoá gia đình.

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

1 Tình hình đặc điểm kinh tế – xã hội của địa phương 4

2 Hệ thống tổ chức bộ máy Dân số – Gia đình - Trẻ em 6

III Xây dựng và lựa chịn phương án giải quyết và kế

1

Trang 2

Quản lý Nhà nước về công tác Dân số – Kế hoạch hoá gia đình nhằmmục tiêu ổn định Dân số để phát triển kinh tế xã hội, đưa đất nước ngày càngphồn vinh giàu đẹp.

Từ năm 1961 Đảng và Nhà nước đã có những văn bản đầu tiên về quản

lý Dân số – Kế hoạch hoá gia đình Hơn 30 năm sau công tác Dân số – Kếhoạch hoá gia đình ở Việt Nam đã có những chuyển biến mạnh mẽ và đã đạtđược những thành tựu lớn Khẳng định điều đó vào tháng 6/1999 Việt Nam

đã được nhận giải thưởng Quốc tế về Dân số

Trong quá trình thực hiện mục tiêu về chính sách Dân số Công tác tổchức quản lý thông qua hệ thống bộ máy Nhà nước đóng vai trò quyết địnhvào thành công của chương trình Giai đoạn đầu 1961 – 1989 công tác Dân số– Kế hoạch hoá gia đình dưới sự chỉ đạo của Bộ y tế, kết quả giai đoạn nàybên cạnh những thành công đạt được còn có một số mặt hạn chế nhất định Từnăm 1989 Uỷ ban Quốc gia Dân số – Kế hoạch hoá gia đình tách ra thành một

cơ quan trực thuộc Chính phủ, quản lý theo ngành dọc từ TW đến địa phương,

sự đầu tư cho chương trình đã được tăng lên rõ rệt Do vậy giai đoạn 1989 –

2000 công tác Dân số – Kế hoạch hoá gia đình đạt được nhiều kết quả, tỷ lệsinh giảm nhanh, số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ từ3,85 con (năm 1989) xuống còn 2,3 con (năm 1999) Hoàn thành mục tiêuchiến lược Dân số đến năm 2000 và thực hiện có kết quả Nghị quyết IV Hộinghị Ban chấp hành TW Đảng khoá VII về chính sách Dân số – Kế hoạch hoágia đình

Bước vào giai đoạn chiến lược mới 2001 – 2010 mục tiêu công tác Dân

số là: duy trì giảm sinh vững chắc và từng bước nâng cao chất lượng Dân số

để đáp ứng được yêu cầu về nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ côngcuộc CNH – HĐH Công tác Dân số – Kế hoạch hoá gia đình ngày càng đòihỏi yêu cầu cao hơn Thực hiện được mục tiêu chiến lược Dân số đến năm

2010 thì giải pháp về tổ chức bộ máy và cán bộ là giải pháp tiên quyết Tuy

Trang 3

nhiên vấn đề khó khăn đặt ra là: thiếu sự thống nhất trong mô hình tổ chức bộmáy trong phạm vi toàn quốc thể hiện ở chỗ có nhiều mô hình sát nhập khácnhau như: có tỉnh có Uỷ ban Dân số – Gia đình – Trẻ em cấp huyện, có tỉnhlại không có Ở tỉnh Thái Nguyên Uỷ ban Dân số – Kế hoạch hoá gia đìnhtỉnh và Uỷ ban Bảo vệ chăm sóc trẻ em tỉnh sát nhập lại thành Uỷ ban Dân số– Gia đình – Trẻ em Nhưng ở cấp huyện Uỷ ban Dân số – Kế hoạch hoá giađình và Uỷ ban Bảo vệ chăm sóc trẻ em tỉnh cũng được sát nhập thành một

bộ phận trong văn phòng HĐND – UBND huyện và sau đó được thành lập(năm 2003) thành Uỷ ban DS – GĐ - TE nhưng trực thuộc văn phòng HĐND– UBND huyện Kết quả sau hơn ba năm thực hiện theo mô hình này chothấy: việc không có Uỷ ban DS – GĐ - TE hoạt động độc lập như các phòngchuyên môn khác của huyện làm cho công tác quản lý Nhà nước về công tác

DS – GĐ - TE huyện gặp nhiều khó khăn, lúng túng, ảnh hưởng không nhỏtới kết quả của chương trình DS – GĐ - TE Đây là tình huống mà tôi chọn

tiểu luận với đề tài “Sự cần thiết phải tổ chức lại bộ máy Dân số, Gia đình

và Trẻ em cấp huyện ở tỉnh Thái Nguyên”.

3

Trang 4

PHẦN II NỘI DUNG

1 Tình hình đặc điểm kinh tế – xã hội của địa phương

Thái Nguyên là tỉnh miền núi có vị trí nằm ở trung tâm của các tỉnhmiền núi phía Bắc Thái Nguyên tiếp giáp với các tỉnh: Bắc Cạn, Lạng Sơn,Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Tuyên Quang và Thành phố Hà Nội

Tỉnh Thái Nguyên có 7 huyện, 1 thị xã và 1 Thành phố Toàn tỉnh có

181 xã / phường, trong đó có 18 xã vùng cao Diện tích tự nhiên 3.541,1 Km2,đất canh tác nông nghiệp có 76,715 ha (22,3% diện tích tự nhiên)

Dân số trung bình năm 2003 là 1.067.842 người trong đó trẻ em dưới

16 tuổi có 326.406 cháu (chiếm 30,6% Dân số), trẻ em dưới 1 tuổi có 13.891cháu (chiếm 1,31%), trẻ em dưới 5 tuổi có 82.508 cháu (chiếm 7,78%) Mật

độ Dân số 298 người/Km2 sự phân bố không đều, tập trung chủ yếu ở thànhphố và các huyện phía Nam của tỉnh: Thành phố Thái Nguyên 1.255 người/

Km2, thị xã Sông Công 670 người/ Km2, huyện Phồ Yên, Phú Bình 550-560người /Km2 Trong khi đó các huyện vùng cao và miền núi dân cư thưa thớt

Võ Nhai 72 người/ Km2, Đồng Hoá 194 người/ Km2 Định cư trên địa bàngồm 16 dân tộc, nhưng có 5 dân tộc chính là: Dân tộc Kinh 76,42%, dân tộcTày 11,21%, dân tộc Nùng 5,1%, dân tộc Sắn Dìu 2,45%, dân tộc Dao 2,03%

và còn lại là các dân tộc khác 2,76%

Năm 2003 dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của tỉnh uỷ, HĐND vằUBND tỉnh, các ngành, các cấp và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã đoànkết, nỗ lực vượt qua khó khăn, thách thức, phấn đấu vươn lên giành bước pháttriển mới Nền kinh tế tỉnh tiếp tục duy trì được nhịp độ phát triển với mứctăng trưởng khá Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) đạt trên 3.272 tỷ đồng.Trong đó sản xuất công nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao nhất đạt 14,3%, cơcấu kinh tế của tỉnh tiếp tục được chuyển dịch theo hướng tích cực Tỷ trọnggiá trị sản xuất công nghiệp trong GDP tăng từ 31,34% năm 2002 lên 33,37%

Trang 5

năm 2003 Các chính sách của tỉnh ban hành đã từng bước phát huy nội lựccho công cuộc phát triển.

Nhiều lĩnh vực đã đạt được những thắng lợi cụ thể:

* Sản xuất nông lâm nghiệp, thuỷ sản:

Các loại cây trồng đều đạt diện gieo trồng và năng suất so với năm

2002, năng suất lúa bình quân đạt 43,93 tạ /ha, sản lượng thóc đạt 309,86ngàn tấn Diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 2.006 ha, phát triển đàn giasúc, gia cầm đều tăng mạnh đảm bảo nhu cầu tiêu dùng của địa phương

* Sản xuất công nghiệp – XDCB.

Tiếp tục duy trì được nhịp độ sản xuất, tốc độ tăng trưởng nhanh, giá trịsản xuất công nghiệp đạt 3.325 tỷ đồng và giá trị xây lắp đạt 362 tỷ đồng

* Văn hoá - xã hội:

Các hoạt động văn hoá, thông tin đã tổ chức hoạt động thiết thực, nhằmtuyên truyền chủ trương, pháp luật của Đảng và Nhà nước, nhiệm vụ chính trị

ở địa phương tới đông đảo quần chúng nhân dân, tạo ra môi trường văn hoálành mạnh, góp phần ổn định tình hình chính trị, xã hội trên địa bàn tỉnh, toàntỉnh có 52% gia đình đạt tiêu chuẩn văn hoá, 32,2% làng, phố văn hoá

* Công tác xã hội:

Đã triển khai toàn diện các chương trình xã hội có mục tiêu trên địa bàntỉnh, chương trình giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo tập trung vào hoànthiện đề án chi tiết quy hoạch mạng lưới các trường dạy nghề giai đoạn 2001-

2010 Tổng số hộ nghèo toàn tỉnh còn 12,83%, ngoài ra triển khai mạnh mẽcông tác phòng chống tệ nạn xã hội

* Về giáo dục, đào tạo:

UBND tỉnh đẩy mạnh việc triển khai thực hiện đồng bộ các nội dungcủa đề án phát triển giáo dục, đổi mới chương trình giáo dục phổ thông Đàotạo bồi dưỡng giáo viên có nhiều tiến bộ, xây dựng xóa phòng học tạm, xây

5

Trang 6

phòng học thiếu tại 36 xã đặc biệt khó khăn và ATK, để từng bước nâng cao

cơ sở vật chất phục vụ công tác giáo dục đào tạo Tỉnh Thái Nguyên đã được

Bộ Giáo dục - Đào tạo quyết định công nhận là tỉnh đạt tiêu chuẩn phổ cậptiểu học đúng độ tuổi

* Về y tế:

Là một trong 10 tỉnh dẫn đầu cả nước thực hiện tốt các chương trình y

tế cơ sở Năm 2003 khám sức khoẻ cho trẻ em dưới 15 tuổi cho 804.943 lượtngười Số phụ nữ có thai và các cháu sơ sinh được tiêm chủng đạt 98% Côngtác khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế Nhà nước thực hiện tốt theo đúng cácquy chế chuyên môn Đến nay đã có trên 94% số xã, phường trong tỉnh cónhà trạm y tế, bình quân mỗi trạm y tế có 4,78 cán bộ và hầu hết các trạm y tế

xã phường có bác sỹ Trên đây là những kết quả đã đạt được nhưng tình hìnhkinh tế xã hội của tỉnh chưa vững chắc cần có nhiều giải pháp đồng bộ và tiênquyết hơn Muốn phát triển kinh tế – xã hội thì phải dựa vào nguồn nhân lực

có chất lượng, mà nguồn nhân lực gắn liền với tình hình biến động Dân số vàchất lượng Dân số mà mục đích cuối cùng của chiến lược phát triển kinh tế –

xã hội là không ngoài việc nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi người dân

2 Hệ thống tổ chức bộ máy Dân số - Gia đình và trẻ em của địa phương.

a Hệ thống tổ chức bộ máy Dân số – GĐ - TE trước tháng 7/2001:

* Về hệ thống tổ chức bộ máy Dân số – Kế hoạch hoá gia đình:

Ngày 26/12/1961 Hội đồng chính phủ đã có nghị quyết số 216/CP vềcông tác sinh đẻ có kế hoạch Thực hiện công tác này chủ yếu là các đội sinh

đẻ ở cấp tỉnh và huyện, biện pháp tránh thai chủ yếu là đặt vòng Sau hơn 20năm tốc độ phát triển Dân số vẫn còn ở mức cao đã ảnh hưởng đến sự pháttriển kinh tế – xã hội, nếu tính năm 1955 Dân số nước ta là 25,1 triệu ngườithì đến năm 1985 Dân số đã tăng lên 59,9 triệu người Nhận thức được tầmquan trọng của công tác Dân số – Kế hoạch hoá gia đình Đảng và Nhà nước ta

Trang 7

đã có những quyết sách đúng đắn Năm 1984 Uỷ ban quốc gia Dân số đượcthành lập nhưng trực thuộc Bộ y tế, ở các tỉnh cũng thành lập Uỷ ban Dân số– Kế hoạch hoá gia đình trực thuộc Sở y tế Năm 1989 Uỷ ban Quốc gia Dân

số – Kế hoạch hoá gia đình tách khỏi Bộ y tế thành một ngành độc lập thuộcChính phủ, cũng trong năm đó Uỷ ban Dân số – Kế hoạch hoá gia đình tỉnhBắc Thái (cũ) tách ra khỏi Sở y tế tỉnh và trực thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh

Năm 1993 Uỷ ban Dân số – Kế hoạch hoá gia đình cấp huyện đượckiện toàn Mỗi đơn vị cấp huyện có từ 3 đến 4 cán bộ, có tư cách pháp nhânriêng, có trụ sở và có tài khoản riêng tại kho bạc Nhà nước trực thuộc ngànhdọc là Uỷ ban Dân số – Kế hoạch hoá gia đình tỉnh Đến hết năm 1995 có100% số xã trong tỉnh có Ban Dân số – Kế hoạch hoá gia đình Uỷ ban Dân

số – Kế hoạch hoá gia đình cấp huyện có chức năng chỉ đạo Ban Dân số – Kếhoạch hoá gia đình ở các xã, phường, thị trấn thực hiện chức năng quản lýNhà nước về Dân số – Kế hoạch hoá gia đình trên địa bàn Đồng thời chịu sựchỉ đạo của Uỷ ban Dân số – Kế hoạch hoá gia đình tỉnh và UBND huyện

Hệ thống hoạt động điều hành từ trên xuống và từ dưới lên hoạt động rấtnhịp nhàng và thực hiện cơ chế quản lý theo chương trình mục tiêu Quốc gia là:

+ Nâng cao năng lực quản lý (VDS – 01)

+ Thực hiện Dịch vụ – Kế hoạch hoá gia đình (VDS – 02)

+ Thông tin – giáo dục – truyền thông (VDS – 03) và các lĩnh vực khácnhư: xây dựng cơ bản và dự án như: Dự án dân số – sức khoẻ gia đình

SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY CHUYÊN TRÁCH NHƯ SAU

7

Chính phủ

Uỷ ban Quốc gia Dân số – Kế hoạch hoá gia đình

Uỷ ban Dân số – Kế hoạch hoá gia đình cấp Tỉnh

Uỷ ban Dân số – Kế hoạch hoá gia đình cấp

HuyệnBan Dân số – Kế hoạch hoá gia đình cấp Xã,

Phường

Trang 8

* Về hệ thống tổ chức bộ máy Uỷ ban Bảo vệ chăm sóc trẻ em:

Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em Tỉnh Thái Nguyên được thành lập từnăm 1992 Cũng năm đó Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em cấp Huyện đượcthành lập mỗi huyện có từ 1 đến 2 cán bộ thường trực và trực thuộc Uỷ banbảo vệ và chăm sóc trẻ em Tỉnh, ở xã, phường, thị trấn có Ban bảo vệ vàchăm sóc trẻ em

Uỷ ban Dân số - Kế hoạch hoá gia đình và Uỷ ban bảo vệ và chăm sóctrẻ em là những đơn vị hoạt động quản lý nhà nước đồng thời mang tính chấtđiều phối liên ngành Tham gia vào các Uỷ ban này ngoài bộ phận thườngtrực còn có các ngành thành viên như y tế, giáo dục, tài chính, kế hoạch… cácđoàn thể như: phụ nữ, thanh niên, nông dân, cựu chiến binh… Công tác Dân

số - Kế hoạch hoá gia đình và công tác chăm sóc bảo vệ trẻ em được thựchiện với phương châm xã hội hoá, huy động các ngành các đoàn thể tổ chức

xã hội cùng vào cuộc Có như vậy mới đạt kết quả cao và tiết kiệm các nguồnlực cho chương trình

Thực tế với một tổ chức bộ máy như vậy trong những năm qua ở tỉnh,hai Uỷ ban Dân số - Kế hoạch hoá gia đình và bảo vệ chăm sóc trẻ em đãhoàn thành tốt các chương trình mục tiêu của Uỷ ban nhân dân Tỉnh giaocũng như các chương trình mục tiêu Quốc gia

b Hệ thống tổ chức bộ máy Dân số – Gia đình – Trẻ em từ ngày 01/07/2001.

* Ngày 01/07/2001 Uỷ ban Dân số - Kế hoạch hoá gia đình và Uỷ banbảo vệ và chăm sóc trẻ em Tỉnh sát nhập thành Uỷ ban Dân số – Gia đình -Trẻ em (DS – GĐ - TE) tại quyết định số 2528/QĐ-UB ngày 28/06/2001 Uỷ

Trang 9

ban Dân số – Gia đình - Trẻ em Tỉnh chịu sự lãnh đạo toàn diện của Uỷ bannhân dân Tỉnh, là đơn vị có tư cách pháp nhân, được sử dụng con dấu riêng và

mở tài khoản tại kho bạc nhà nước Tỉnh Thực hiện các chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn quy định tại thông tư liên tịch số 32/2001/TTLT – BTCCBCP –UBQGDS – KHHGĐ - UBBVCSTE ngày 06/06/2001 của Ban TCCB Chínhphủ, Uỷ ban Quốc gia Dân số - Kế hoạch hoá gia đình, Uỷ ban bảo vệ vàchăm sóc trẻ em Việt Nam về bộ máy gồm:

- Lãnh đạo gồm: Chủ nhiệm và hai phó chủ nhiệm

- Cơ quan chuyên môn giúp việc cho Uỷ ban Dân số – Gia đình - Trẻ

* Cấp xã, phường, thị trấn thành lập Ban Dân số – Gia đình - Trẻ emtrên cơ sở hợp nhất Ban Dân số - Kế hoạch hoá gia đình và Ban bảo vệ vàchăm sóc trẻ em Là cơ quan giúp chủ tịch UBND xã thực hiện triển khai cáchoạt động Dân số – Gia đình - Trẻ em ở phạm vi xã, phường, thị trấn, chịu sựchỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra của UBND huyện về chuyên môn, nghiệp vụ

- Thành phần Ban Dân số – Gia đình - Trẻ em gồm:

+ Trưởng ban: Do đồng chí chủ tịch UBND xã phụ trách

+ Phó ban: 1 đồng chí cán bộ chuyên trách

9

Trang 10

1 đồng chí kiêm nhiệm là trưởng trạm y tế.

+ Các uỷ viên: Đại diện các đoàn thể như phụ nữ, nông dân, đoàn thanhniên…

Đến nay Ban Dân số – Gia đình - Trẻ em trong tỉnh đã được kiện toàn

và đi vào hoạt động theo chương trình, mục tiêu Dân số – Gia đình - Trẻ em

và có những kết quả đáng kể

SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY SAU KHI SÁT NHẬP

Việc không có Uỷ ban Dân số – Gia đình - Trẻ em cấp huyện đã gặpnhiều khó khăn trong quản lý và điều hành chương trình theo ngành dọc thì

Uỷ ban Dân số – Gia đình - Trẻ em tỉnh không có chức năng chỉ đạo vănphòng HĐND – UBND cấp huyện, mọi hoạt động thường phải thông qua ýkiến và chỉ đạo của UBND tỉnh

Chỉ đạo nghiệp vụ, các hoạt động của Uỷ ban Dân số – Gia đình - Trẻ

em tỉnh xuống các huyện phải thông qua văn phòng sau đó mới đến bộ phậnDân số – Gia đình - Trẻ em

Bộ phận DS - GĐ - Trẻ em

UBND Xã

Ban DS – GĐ

- Trẻ em

Trang 11

* Ngày 05/09/2003 UBND tỉnh có quyết định số 2107/QĐ-UB thànhlập Uỷ ban Dân số – Gia đình - Trẻ em ở huyện, thành phố, thị xã (gọi chung

là huyện) Chức năng giúp UBND cấp huyện quản lý nhà nước về lĩnh vựcDân số – Gia đình - Trẻ em trong địa bàn cấp huyện Uỷ ban Dân số – Giađình - Trẻ em huyện chịu sự quản lý toàn diện của UBND cấp huyện và sựchỉ đạo, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của Uỷ ban Dân số – Gia đình -Trẻ em tỉnh

Uỷ ban Dân số – Gia đình - Trẻ em huyện có bộ phận thường trực nằmtrong văn phòng HĐND – UBND cấp huyện Uỷ ban Dân số – Gia đình - Trẻ

em huyện thực hiện nhiệm vụ quy định tại thông tư số 32/2001/TTLT –BTCCBCP – UBQGDSKHHGĐ - UBBVCSTEVN

Tổ chức bộ máy của Uỷ ban Dân số – Gia đình - Trẻ em huyện gồm:

- Chủ nhiệm: Do phó chủ tịch UBND cấp huyện đảm nhiệm và làmviệc kiêm nhiệm

- 1 phó chủ nhiệm là phó văn phòng HĐND và UBND cấp huyện làmviệc chuyên trách

- Các thành viên làm việc kiêm nhiệm khác: Uỷ ban Dân số – Gia đình

- Trẻ em huyện có bộ phận chuyên trách giúp việc được bố trí trong vănphòng HĐND - UBND

SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY SAU KHI CÓ QUYẾT ĐỊNH SỐ 2107 – UB NHƯ SAU

Uỷ ban DS - GĐ - Trẻ em HuyệnUBND Xã

Ban DS – GĐ

- Trẻ em Xã

Trang 12

Văn phòng HĐND – UBND cấp huyện với chức năng tham mưu cholãnh đạo huyện và đáp ứng công tác hậu cần cho HĐND – UBND huyện làchính nên khả năng điều phối hoạt động Dân số – Gia đình - Trẻ em và một

số lĩnh vực mang tính sự nghiệp khác gặp nhiều khó khăn Mặt khác các thủtục hành chính trong điều hành cũng còn nhiều bất cập Có ý kiến cho rằng

mô hình này mới chỉ thành công được một việc là giảm bớt đầu mối cácphòng ở huyện chứ chưa nâng cao được năng lực quản lý và điều hành củanhà nước về lĩnh vực Dân số – Gia đình - Trẻ em cấp huyện

Do vậy việc tổ chức lại bộ phận Dân số – Gia đình - Trẻ em cấp huyện

là hoàn thiện cơ chế hoạt động của nó là một nhiệm vụ rất quan trọng và cấpbách

3 Phân tích nguyên nhân và hậu quả

a/ Phân tích nguyên nhân:

Với mục đích thực hiện cải cách hành chính, tinh giảm biên chế, tổchức sắp xếp thu gọn các đầu mối nên chính phủ đã có nghị định số 12/2001/NĐ-CP ngày 27/3/2001 Trong đó khoản 1 điều 1 của nghị định này là:

“Thành lập Uỷ ban Dân số – Gia đình - Trẻ em trực thuộc UBND tỉnh trên cơ

sở hợp nhất Uỷ ban Dân số - Kế hoạch hoá gia đình và Uỷ ban bảo vệ vàchăm sóc trẻ em”

Khoản 3 điều 1 quy định “Căn cứ vào đặc điểm, địa lý, kinh tế, nhiệm

vụ yêu cầu quản lý nhà nước và năng lực cán bộ quản lý UBND tỉnh, thành

Ngày đăng: 31/07/2013, 09:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY CHUYÊN TRÁCH NHƯ SAU - Sự cần thiết phải tổ chức lại bộ máy Dân số, Gia đình và Trẻ em cấp huyện ở tỉnh Thái Nguyên
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY CHUYÊN TRÁCH NHƯ SAU (Trang 7)
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY SAU KHI SÁT NHẬP - Sự cần thiết phải tổ chức lại bộ máy Dân số, Gia đình và Trẻ em cấp huyện ở tỉnh Thái Nguyên
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY SAU KHI SÁT NHẬP (Trang 10)
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY SAU KHI CÓ QUYẾT ĐỊNH SỐ 2107 – UB NHƯ SAU - Sự cần thiết phải tổ chức lại bộ máy Dân số, Gia đình và Trẻ em cấp huyện ở tỉnh Thái Nguyên
2107 – UB NHƯ SAU (Trang 11)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w