LỜI MỞ ĐẦU 1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU THỰC TẾ. Theo báo cáo phát triển con người Việt Nam của UNDP, các tỉnh vùng núi và vùng dân tộc thiểu số là những tỉnh có trình độ phát triển thấp nhất trong cả nước. Trong đó, Đăk Nông là một trong những tỉnh có đông đồng bào dân tộc thiểu số. Trình độ phát triển thấp được đánh giá một cách tổng hợp trên tất cả các phương diện đời sống, kinh tế, giáo dục, y tế và các vấn đề xã hội. Tại sao vùng đồng bào dân tộc thiểu số lại đều là những vùng kém phát triển? Đồng bào dân tộc thiểu số nói chung thường sinh sống ở những vùng núi, vùng sâu, vùng xã trung tâm huyện, thị, có vị trí hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn. Các điều kiện giao lưu kinh tế, văn hoá và khoa học kỹ thuật còn nhiều hạn chế. Vì vậy, các vùng đồng bào dân tộc thường là những vùng chậm phát triển về kinh tế và là nơi tập trung của sự nghèo đói. Đồng bào dân tộc thiểu số thường là các cộng đồng dân cư có những phong tục, tập quán và bản sắc văn hoá riêng. Điều kiện giao thông và giao lưu kém phát triển cùng với thói quen truyền thống càng ngày càng làm cho người dân tộc có chiều hướng cách biệt hơn so với vùng trung tâm phát triển, nhất là trong bối cảnh mở và hội nhập thì sự cách biệt càng trở nên rõ rệt hơn. Vùng dân tộc thiểu số tại chỗ trên địa bàn tỉnh Đăk Nông nói chung và huyện Cư Jút nói riêng là những vùng khó khăn so với điều kiện khai thác và phát triển tại chỗ, song trong điều kiện giao lưu và trao đổi kinh tế quốc tế cùng với những tiến bộ mới về khoa học kỹ thuật thì vùng chứa đụng nhiều tiểm năng và có thể khai thác thành nguồn lực phát triển trên cơ sở của lợi thế so sánh. Như vậy, trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Đăk Nông nói chung và huyện Cư Jút nói riêng trong giai đoạn tới cần xác định một phương hướng và chiến lược riêng, phù hợp với các điều kiện và đặc điểm của vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Xuất phát từ những điều kiện, đặc trưng riêng của từng vùng dân tộc. Đảng và nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách dành riêng cho các vùng đồng bào dân tộc và miền núi. Những chủ trương và chính sách đều được bắt nguồn từ các yêu cầu thực tại, hướng tới mục tiêu nhằm thúc đẩy phát triển các vùng đồng bào dân tộc và miền núi theo định hướng chung của đất nước. Việc xác định đúng xu thế phát triển kinh tế xã hội của các vùng dân tộc và miền núi là cơ sở hết sức quan trọng để hoạch định các chính sách, chiến lược, định hướng các luồng đầu tư và tập trung khai thác đúng các tiềm năng thế mạnh vốn có của mỗi vùng cho phát triển bền vững. Xu thế phát triển kinh tế xã hội các vùng dân tộc thiểu số của huyện Cư Jút trong giai đoạn tới một mặt phải phù hợp với xu thế phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Đăk Nông và của cả nước, trong bối cảnh kinh tế mở và hội nhập, tăng cường giao lưu, thông tin và trao đổi. Mặt khác, xu hướng phát triển kinh tế xã hội các vùng đồng bào dân tộc thiểu số lại mang đậm nét đặc trưng bản sắc riêng của mỗi vùng, miền, mỗi dân tộc và thể hiện những tiềm năng thế mạnh riêng có của mỗi vùng. Chính vì vậy trong đợt thực tập này tôi tập trung nghiên cứu “ Chỉ ra xu thế phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng tại Bon U 2 thị trấn EaTling, huyện Cư Jút “ trong giai đoạn tới là một việc làm hết sức cần thiết và mang ý nghĩa quan trọng, mang tầm chiến lược lâu dài, bền vững.
Trang 1BÁO CÁO THỰC TẬP QUÁ TRÌNH THỰC TẬP VÀ NƠI THỰC TẬP
*Theo Hướng dẫn thực tập của Học Viện chính trị khu vực III
1 Tiến trình thực tập:
1.1 Địa điểm thực tập:Bon U2 thị trấn EaTling, huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông
1.2 Thời gian thực tập: 01.7.2016 đến 07.7.2016
1.3 Nhật ký thực tập:
* Ngày 01/7 /2016
- Báo cáo với Chủ tịch UBND thị trấn EaTling về kế hoạch thực tập
- Tìm hiểu chung về tình hình phát triển của Bon U2
- Viết đề cương báo cáo thực tập
- Từ ngày 02/7/2016 đến ngày 05/7/2016 đi thực tế nắm số liệu tại Bon U2
- Nghiên cứu các văn bản chỉ đạo của huyện và Thị trấn EaT’ling về công tác quy hoạch, phát triển kinh tế xã hội, Quốc phòng – An ninh của Bon U2
- Liên hệ với Trưởng phòng, các Phó phòng và các nhân viên các phòng ban của huyện để thu thập số liệu viết báo cáo thực tập
- Thu thập tài liệu cần thiết để viết báo cáo
- Từ ngày 6/7/2016 đến ngày 8/7/2016
- Hoàn thành báo cáo thực tập
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU 1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU THỰC TẾ.
Theo báo cáo phát triển con người Việt Nam của UNDP, các tỉnh vùng núi
và vùng dân tộc thiểu số là những tỉnh có trình độ phát triển thấp nhất trong cả nước Trong đó, Đăk Nông là một trong những tỉnh có đông đồng bào dân tộc thiểu
số Trình độ phát triển thấp được đánh giá một cách tổng hợp trên tất cả các phương diện đời sống, kinh tế, giáo dục, y tế và các vấn đề xã hội Tại sao vùng đồng bào dân tộc thiểu số lại đều là những vùng kém phát triển?
Đồng bào dân tộc thiểu số nói chung thường sinh sống ở những vùng núi, vùng sâu, vùng xã trung tâm huyện, thị, có vị trí hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn Các điều kiện giao lưu kinh tế, văn hoá và khoa học kỹ thuật còn nhiều hạn chế Vì vậy, các vùng đồng bào dân tộc thường là những vùng chậm phát triển về kinh tế và là nơi tập trung của sự nghèo đói
Đồng bào dân tộc thiểu số thường là các cộng đồng dân cư có những phong tục, tập quán và bản sắc văn hoá riêng Điều kiện giao thông và giao lưu kém phát triển cùng với thói quen truyền thống càng ngày càng làm cho người dân tộc có chiều hướng cách biệt hơn so với vùng trung tâm phát triển, nhất là trong bối cảnh mở và hội nhập thì sự cách biệt càng trở nên rõ rệt hơn
Vùng dân tộc thiểu số tại chỗ trên địa bàn tỉnh Đăk Nông nói chung và huyện Cư Jút nói riêng là những vùng khó khăn so với điều kiện khai thác và phát triển tại chỗ, song trong điều kiện giao lưu và trao đổi kinh tế quốc tế cùng với những tiến bộ mới về khoa học kỹ thuật thì vùng chứa đụng nhiều tiểm năng và có thể khai thác thành nguồn lực phát triển trên cơ sở của lợi thế so sánh
Như vậy, trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Đăk Nông nói chung và huyện Cư Jút nói riêng trong giai đoạn tới cần xác định một phương hướng và chiến lược riêng, phù hợp với các điều kiện và đặc điểm của vùng đồng bào các dân tộc thiểu số
Xuất phát từ những điều kiện, đặc trưng riêng của từng vùng dân tộc Đảng
và nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách dành riêng cho các vùng đồng bào dân tộc và miền núi Những chủ trương và chính sách đều được bắt nguồn từ các yêu cầu thực tại, hướng tới mục tiêu nhằm thúc đẩy phát triển các vùng đồng bào dân tộc và miền núi theo định hướng chung của đất nước Việc xác định đúng
xu thế phát triển kinh tế - xã hội của các vùng dân tộc và miền núi là cơ sở hết sức quan trọng để hoạch định các chính sách, chiến lược, định hướng các luồng đầu tư
Trang 3và tập trung khai thác đúng các tiềm năng thế mạnh vốn có của mỗi vùng cho phát triển bền vững
Xu thế phát triển kinh tế xã hội các vùng dân tộc thiểu số của huyện Cư Jút trong giai đoạn tới một mặt phải phù hợp với xu thế phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Đăk Nông và của cả nước, trong bối cảnh kinh tế mở và hội nhập, tăng cường giao lưu, thông tin và trao đổi Mặt khác, xu hướng phát triển kinh tế - xã hội các vùng đồng bào dân tộc thiểu số lại mang đậm nét đặc trưng bản sắc riêng của mỗi vùng, miền, mỗi dân tộc và thể hiện những tiềm năng thế mạnh riêng có của mỗi
vùng Chính vì vậy trong đợt thực tập này tôi tập trung nghiên cứu “ Chỉ ra xu
thế phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng tại Bon U 2 thị trấn EaTling, huyện Cư Jút “ trong giai đoạn tới là một việc làm hết sức cần thiết và
mang ý nghĩa quan trọng, mang tầm chiến lược lâu dài, bền vững
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI ĐỢT THỰC TẾ.
- Đây là vấn đề lớn và rất khó nên cần có bước khởi động cho quá trình nghiên cứu chuyên sâu và lâu dài hơn
- Trong điều kiện thời gian ngắn, chỉ 8 ngày (từ 01 đến 10/7, dành 02 ngày viết báo cáo thực tập) Nên tôi và (01 bạn học) kết hợp nghiên cứu 02 bon đồng bào dân tộc thiểu số tại thị trấn EaTling
Tôi không chọn nghiên cứu tổng thể mà chọn 01 Bon U2 dân tộc M’Nông tại thị trấn EaTling, huyện cư Jút để nghiên cứu và viết báo cáo thực tập Báo cáo nghiên cứu thực tập đạt các mục tiêu sau:
Phần thứ I CÁC MỤC TIÊU, CHỈ TIÊU CỤ THỂ
I MỤC TIÊU
- Tập trung xây dựng phát triển toàn diện về kinh tế, văn hoá xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng; kiện toàn hệ thống chính trị trong Bon nhằm thực hiện tốt công tác xoá đói giảm nghèo Trước hết phải bảo đảm về chính trị và trật tự an toàn
xã hội; tạo điều kiện thuận lợi nhất cho phát triển kinh tế, văn hoá – xã hội
- Thực hiện có hiệu quả các chính sách dân tộc của Đảng, nhà nước củng cố
và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, bảo đảm sự đoàn kết thống nhất
Trang 4trong các dân tộc anh em trong huyện, nhằm phát huy tốt sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng đất nước nói chung và huyện nói riêng
II CHỈ TIÊU CỤ THỂ
1 Về kinh tế - xã hội.
- Hoàn thành công tác định canh, định cư (kể cả điểm dân cư mới thành lập) 100% số hộ có nới ở ổn định Đến cuối năm 2018, giải quyết cơ bản về nhà ở cho Đồng bào dân tộc thiểu số tại chổ (DTTSTC) theo Chương trình định canh, định cư của huyện
- Phát triển mạnh mô hình kinh tế hộ gia đình trong Bon, không để đất vườn nhàn rỗi Xây dựng mới hoặc cải tạo, nâng cấp các công trình thuỷ lợi để phục vụ sản xuất và sinh hoạt trong bon
- Khuyến khích phát triển ngành nghề, truyền thống (như: dệt thổ cẩm, đat lát, làm đồ mỹ nghệ )
- Cứng hoá 75% giao thông nội Bon
- Tỷ lệ hộ dùng điện 100%, xây dựng hệ thống đèn chiếu sáng công cộng trong Bon
- Xây dựng trường mẫu giáo trong Bon, tỉ lệ trẻ em trong độ tuổi đến trường đạt 95% trở lên
- Năm 2016 có 95% số hộ được sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh; 75% số hộ được sử dụng hố xí hợp vệ sinh, đến năm 2020 tỉ lệ này đạt 100% Bảo đảm 100%
số hộ được sử dụng muối Iốt
- Tất cả số trẻ trong độ tuổi được tiêm chủng đủ loại Vaccin Giảm tỉ lệ suy dinh dưỡng xuống còn 20% năm 2016 và 15% vào năm 2020 Vận động các hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chổ không sinh con thứ tư
- Tăng số hộ khá, hộ giàu hàng năm; giảm tỉ lệ hộ nghèo xuống bằng mức bình quân chung của cả huyện vào năm 2020
- Duy trì Bon đạt tiêu chuẩn Bon văn hoá, 95% số hộ gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hoá
- 100% số hộ được nghe Rađiô, xem truyền hình, bảo tồn và phát huy văn hoá dân tộc
- Tăng tỉ lệ lao động có việc làm, giảm tỉ lệ thất nghiệp
Trang 52 Về xây dựng Quốc phòng – an ninh.
- Xây dựng và củng cố tiểu đội dân quân tự vệ trong Bon, vững vàng về bản lĩnh chính trị, hoạt động có chất lượng, có thể phát triển được đảng viên trong lực lượng dân quântự vệ
- Lực lượng dân quân được huấn luyện và giáo dục chính trị theo kế hoạch hàng năm của thị trấn và của huyện theo quy định
- Hàng năm bảo đảm số lượng thanh niên đăng ký tuổi 17 và thanh niên ĐBDTTS lên đường nhập ngũ bảo đảm chỉ tiêu 100%
- Củng cố lực lượng công an viên trong Bon, có bản lĩnh chính trị, đủ độ tin cậy, bảo đảm có ít nhất 02 công an viên theo quy định
- Cương quyết không để xẩy ra biểu tình, bạo loạn và khiếu kiện đông người Chấm dứt việc vượt biên trái phép, không để xẩy ra điểm nóng
3 Về xây dựng hệ thống chính trị.
- Tập trung xây dựng và kiện toàn, củng cố các tổ chức trong hệ thống chính trị trong Bon vững mạnh, đủ về số lượng, có phẩm chất đạo đức, năng lực lãnh đạo, quản lý, điều hành mọi hoạt động
- Phát huy dân chủ ở cơ sở, tăng cường được mối đại đoàn kết, gắn bó mật thiết giữa nhân dân với đảng, chính quyền, Mặt trận và các tổ chức đoàn thể quần chúng
- Củng cố Chi bộ Đảng, Phát triển đảng viên là người DTTSTC, luôn giữ vững Chi bộ trong sạch vững mạnh
- Củng cố các tổ chức Mặt trận và đoàn thể quần chúng của Bon, hàng năm xếp loại dạt loại khá trở lên
- Từ năm 2016 đến 2017, 100% cán bộ của Bon (gồm: Bí thư chi bộ; Bon trưởng, Bon phó và trưởng các đoàn thể) được cử đi bồi dưỡng nghiệp vụ và sơ cấp
lý luận chính trị
PHẦN THỨ II THÔN TIN CƠ BẢN CỦA BON
I LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN BON U2.
Trang 6Năm 1962, người dân Bon U tại xã ĐăkD’rông bị dồn về xã Tâm Thắng và khu vực gần Cầu 14 (sông SêRêPôk) hiện nay để thực hiện Ấp chiến lược của quân đội Mỹ Sau ngày giải phóng, năm 1975 người dân trong Bon định cư và sinh sống tại Bon U thuộc thị trấn EaT’ling, huyện cư Jút hiện nay
Năm 1986 đến năm 1989, một bộ phận người dân trở lại Bon U – xã Đăk D’rông để sinh sống và định cư lại Bon cũ, số còn lại định cư và lập bon lấy tên Bon U để nhớ tới cội nguồn Đời sống của nhân dân trong bon gặp nhiều khó khăn, cuộc sống chủ yếu dựa vào thu nhập từ lúa nương rẫy và một phần diện tích lúa nước một vụ
Theo quy hoạch định canh: Định cư lần đầu năm 2005, Bon U được tách ra thành 3 Bon (Bon U1; Bon U2; Bon U3; Tên Bon là là tên của người dân tộc M’nông sinh sống) Hiện nay tổng số hộ trong bon U2 là 304 hộ, 1.472 nhân khẩu chủ yếu là dân tộc Kinh, Dân tộc M’nông và một số hộ dân tộc khác, trong đó dân tộc thiểu số tại chổ (TSTC) là 117 hộ 726 nhân khẩu
Là Bon nằm ở gần trung tâm huyện và được sự quan tâm của Đảng và nhà nước các công trình công cộng và phục vụ đười sống cho người dân ở trong Bon được xây dựng cơ bản như: điện lưới quốc gia đã cung cấp cho 100% số hộ trong Bon, đường giao thông nội Bon phần lớn đã được cứng nhựa và bê tông hoá Song song với việc phát triển kinh tế, các tổ chức đoàn thể trong bon đã được kiện toàn củng cố và đi vào hoạt động có hiệu quả, tình đoàn kết gắn bó giữa các dân tộc anh
em được phát huy, ổn định đời sống chính trị, tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển kinh tế, văn hoá – xã hội
II ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN.
1 Vị trí địa lý.
Bon U2 Nằm ở phía Bắc của thị trấn EaT’ling gần trung tâm huyện Cư Jút Địa giới hành chính
Phía Bắc: Tiếp giáp với Xã Tâm Thắng;
Phía Đông: Tiếp giáp với Xã Tâm Thắng;
Phía Tây: Tiếp giáp với Đường nhựa Bon U3;
Phía Nam: Tiếp giáp với Khối 9;
2 Điều kiện tự nhiên.
Trang 7Đất đai: Bon có địa hình tương đối bằng phẳng, thổ nhưỡng phù hợp cho
sản xuất một số cây nông nghiệp ngắn ngày, cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả Diện tích đất canh tác chủ yếu tập trung tại cây số 312, suối Đắk Rít, Đăk R’la (huyện Đăk Mil) nên rất khó khăn trong việc canh tác và vận chuyển các sản phẩm nông sản và hàng hoá
Khí hậu: Hình thành hai mùa rõ rệt; mùa mưa thường bắt đầu từ khoảng
tháng 4 đến tháng 10; mùa khô thường bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Mùa mưa thường có lượng mưa lớn nhưng phân bổ không đều tron năm; Nền địa chất phần lớn không thuận lợi cho việc tích tụ nước ngầm; mùa khô thường kéo dài, gây hạn hán, Bon nằm cách xa nguồn nước sông, suối khó khăn cho sinh hoạt
và tưới tiêu cho cây trồng; việc sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào khí hậu và thời tiết
III TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ QUỐC PHÒNG AN NINH.
1 Về kinh tế:
1.1 Đất sản xuất: Tổng diện tích đất nông nghiệp của đồng bào DTTS trong
Bon là 49.28ha; trong đó đất cà phê là 4ha; Cây hàng năm 12 ha; (xâm canh tại Đăk Mol – huyện Đăk Mil chưa được thống kê); Có 29 hộ được huyện cấp đất theo Quyết định 132 của Thủ tướng Chính phủ (năm 2004) các hộ không canh tác mà cho cá hộ di cư thuê đất, hiện nay chưa ổn định sản xuất
1.2 Đất ở: Hiện nay còn 03 hộ chung sống trong một nhà và có nhu cầu tác
hộ và còn thiếu đất; 11 hộ có nhu cầu tách hộ và chưa có nhà ở ổn định
1.3 Sản xuất nông nghiệp: Nhìn chung trình độ canh tác của đồng bào
DTTS trong Bon còn lạc hậu, canh tác phần lớn theo phong tục tập quán cũ, chỉ một số ít hộ được tham gia tập huấn, hội thảo, chuyển giao khoa học kỹ thuật mới vào sản cuất do cơ quan khuyến nông tổ chức tại thị trấn, chưa có lớp nào được tổ chức tại Bon để bà con được tham gia tập huấn tiếp cận với khoa học kỹ thuật mới Bên cạnh đó, do điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn nên nguồn đầu tư phát triển sản xuất càn rất thấp, công cụ sản xuất còn thô sơ (toàn Bon có 13 máy cày tay; 20 bơm nước) năng suất cây trồng chỉ đạt khoảng 65 đến 70% năng suất bình quân
1tạ/sào) chất lượng sản phẩm kém, hiệu quả kinh tế thấp
1.2 Chăn nuôi: Tình hình chăn nuôi phát triển kém ( toàn Bon có 12 con
bò); 15 con heo và 80 con gia cầm; Giống vật nuôi chủ yếu là giống địa phương, phương thức chăn nuôi lạc hậu gia súc, gia cầm bị bệnh nhiều, hiệu quả kinh tế
Trang 8thấp Sản phẩm chăn nuôi chưa hàng hoá đem lại thu nhập đáng kể cho người dân.
(phụ lục 6, Kèm theo).
1.3 Cơ sở hạ tầng: Trong Bon hiện nay đã có bước đáng kể, hệ thống điện
sinh hoạt và phục vụ cho sản xuất đã phủ rộng khắp, đáp ứng được nhu cầu điện sinh hoạt và điện sản xuất cho người dân, có 01 km đường chính đã được nhựa các đường nội Bon chủ yếu là đường cấp phối vẫn còn lầy lội vào mùa mưa; 01 nhà sinh hoạt văn hoá cộng đồng; 01 hệ thống nước sạch và 01 hệ thống nước máy chung cả Thị trấn Phần lớn các hộ DTTS hiện nay đang sử dụng công trình vệ sinh thô sơ, mất vệ sinh, gây ô nhiễm môi trường đặc biệt là trong mùa mưa
2 Văn hoá – xã hội.
2.1 Giáo dục: Tỷ lệ người trong Bon đi học đúng độ tuổi đạt khá nhất trong
3 Bon của thị trấn; toàn Bon có 145 người DTTS đi học ( học sinh cấp I có 95 em; học sinh cấp II có 41 em; học sinh cấp III có 9 em; Trung cấp, cao đẳng 05 em; Đại học 04 em) tuy nhiên vẫn còn tình trạng học sinh bỏ học phổ biến, số người mù chữ còn cao: có đế 94 người; đa số chỉ học hết cấp I (phụ lục 1 Kèm theo)
2.2 Y tế: Công tác khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân được
các cấp, các ngành quan tâm, trong Bon đã có 01 cộng tác viên y tế cơ sở được tập huấn nghiệp vụ chuyên môn, người dân đã có ý thức trong việc đến cơ sở y tế để khám chữa bệnh, không còn tình trạng cúng đuổi tà, ma khi có người ốm, đau Nhưng ý thức giữ gìn vệ sinh, phòng chống dịch bệnh trong Bon (DTTS) chưa cao, chưa tạo được thói quen, nếp sống sinh hoạt đảm bảo vệ sinh, cải thiện vệ sinh môi trường sống chưa được quan tâm đúng mức
2.3 Thông tin, truyền thanh - truyền hình: Hệ thống truyền thanh không
dây, thu sóng truyền hình đã được đầu tư xây dựng Trong bon có 01 cụm loa FM, phục vụ tốt công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; đáp ứng nhu cầu tiếp cận với thông tin đại chúng cho người dân một cách tốt nhất
2.4 Xây dựng Bon văn hoá: Chưa lập được hương ước của Bon Năm 2015
có 80 hộ DTTS đạt chuẩn gia đình Văn hoá, Bon đạt Bon văn hoá 02 lần
2.5 Văn hoá và ngành - nghề truyền thống: Các lễ hội truyền thống của
dân tộc M’nông tại Bon U2 không còn được duy trì (như lễ cúng bến nước, cúng lúa mới, cúng cầu mưa…); Nhiều hộ dân trong Bon có nhu cầu khôi phục lại các lễ hội truyền thống Việc bảo tồn và giữ gìn văn hoá công chiêng hiện đang được UBND huyện và UBND thị trấn EaT’ling quan tâm duy trì và gìn giữ (đang duy trì
Trang 9được 03 bộ Cồng chiêng và 15 nghệ nhân) đã có 21 thanh niên tham dự khoá học đánh Cồng chiêng do Phòng Văn hoá huyện phối hợp với nghệ nhân tổ chức
Có nhiều hộ vẫn giữ được cách thức làm rượu cần, chủ yếu phục vụ trong gia đình và làm bán khi có người đặt, chưa đưa sản phẩm rượu cần vào sản xuất hàng hoá
Có 30 hộ biết dệt thổ cẩm, 10 hộ biết đan lát; do thiếu thị trường tiêu thụ nên hiện nay nghề này chỉ hoạt động cầm chừng, chủ yếu phục vụ nhu cầu trong Bon
và trong gia đình (phụ lục 7, kèm theo)
2.6 Dân số, lao động việc làm: Toàn bon hiện có 304 hộ, 1.472 khẩu; trong
đó có 117 hộ, 726 khẩu là người DTTSTC Tổng số lao động: 500 người trong độ tuổi lao động, trong đó có 320 lao động là người dân tộc thiểu số tại chỗ Có 122 lao động thiếu việc làm theo mùa vụ ( 190 người là ĐBDTTSTC)
3 Quốc phòng – An ninh.
Tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội trong Bon hiện nay cơ bản
ổn định, chưa phát hiện dấu hiệu gì của bọn phản động, qua các đợt phát động quần chúng đồng bào đã nhận thức được âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch, không nghe, không tin, không làm theo lời kích động, dụ dỗ của kẻ xấu Trong Bon vẫn còn tình trạnh rượu chè say xỉn, đánh nhau, gây mất đoàn kết nội bộ trong Bon, tệ nạn trộm cắp vặt vẫn thường xuyên xẩy ra, làm ảnh hưởng đến an ninh trật
tự trong Bon
Lực lượng an ninh trong Bon được quan tâm xây dựng củng cố: có 01 công
an viên (Phó bon kiêm nhiệm); 01 tổ an ninh gồm 05 người (01 người DTTSTC); lực lượng dân quân tự vệ 03 người, (02 người DTTS) song chất lượng chưa cao chưa đủ sức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay Cần có sự kiện toàn, củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của các lực lượng này trong thời gian tới
Tình hình Tôn giáo: Phần lớn đồng bào dân tộc thiểu số tại chổ theo đạo tin lành: có 488/726 người theo đạo Tin lành; 95/726 người theo đạo Công giáo (có hộ theo tin lành, nhưng lại có người theo công giáo) nhìn chung bà con có đạo chấp hành tốt các quy định của nhà nước, trong bon không có nhà thờ Tin Lành nên bà con đi lễ tại nhà thờ Bon U3 Không có hiện tượng sinh hoạt tôn giáo trái phép (phụ lục 4 kèm theo)
Trang 104 Xây dựng hệ thống chính trị: Hệ thống chính trị trong Bon được quan
tâm củng cố, kiện toàn: Bon có 01 chi bộ Đảng gồm 30 đảng viên, trong đó có 07 đảng viên là người dân tộc thiểu số tại chỗ, việc phát triển đảng viên gặp không ít khó khăn, vai trò của các tổ chức đoàn thể và của chi bộ trong phát triển nguồn đảng viên chưa được phát huy Ban tự quản Bon gồm 02 cán bộ (01 là người DTTSTC); có 05 tổ liên gia, gồm 05 cán bộ (03cán bộ DTTSTC); đã xây dựng đủ ban công tác Mặt trận và các tổ chức đoàn thể như: Nông dân, Phụ nữ, Đoàn thanh niên, hội Cựu chiến binh, Hội Chữ thập đỏ Tỉ lệ tham gia vào các tổ chức này khá cao như hội Nông dân, Đoàn Thanh niên Người đứng đầu các tổ chức đoàn thể phần lớn đều là Đảng viên Các tổ chức đoàn thể đã đi vào hoạt động song trình độ năng lực công tác của đội ngũ cán bộ còn yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm
vụ trong tình hình hiện nay Các hoạt động còn cầm chừng, chất lượng hoạt động chưa cao (phụ lục 4, kèm theo)
PHẦN THỨ III NHỮNG NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI, ĐẢM BẢO QUỐC PHÒNG - AN NINH
I NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP.
1 Nhiệm vụ.
1 Về kinh tế:
1.1 Đất ở và đất sản xuất.
- Rà soát thống kê cụ thể số hộ thiếu đất sản xuất, phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương và các ngành liên quan triển khai thực hiện tốt chương trình định canh, định cư của Chính phủ về giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số, Quyết định 755…… giải quyết dứt điểm tình trạng tranh chấp đất đai ( đã cấp cho đồng bào DTTS Năm 2005 theo quyết định 132, tại vùng quy hoạch tiểu khu 839,840 – xã Đăk Wil)
- Thống kê, lập danh sách cụ thể các hộ chưa có đất ở, đăng ký giải quyết và đề nghị tỉnh bổ sung vào Chương trình định canh, định cư tại Thôn 9 xã Đăk Wil Vận động các hộ trong gia đình, dòng họ có diện tích đất canh tác nhiều chuyển nhượng đất, giả dân nội vùng