1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHÁI QUÁT sơ lược về MIỀN tây NAM bộ

201 979 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 201
Dung lượng 22,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vùng đồng bằng sông Cửu Long là vùng cực Nam của Việt Nam, hay còn gọi là vùng đồng bằng sông Mê Kông, vùng đồng bằng Nam Bộ. Miền Tây Nam Bộ gồm có 12 tỉnh (An Giang, Bạc Liêu, Bến Tre, Cà Mau, Đồng Tháp, Tiền Giang, Sóc Trăng, Long An, Hậu Giang, Kiên Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long) và 1 thành phố trực thuộc Trung ương ( Cần Thơ). MiềnTây nổi tiếng với nhiều kênh rạch chằng chịt, sông ngòi dày đặc. Các con sông này nguồn nước dẫn chủ yếu là từ sông Cửu Long (Cửu Long giang), là tên gọi chung cho các phân lưu của sông Mê Kông chảy trên lãnh thổ của Việt Nam. Lưu lượng hai sông này rất lớn, cung cấp nguồn phù sa cho khắp vùng đồng bằng Nam Bộ. Nhờ vậy, cây trái tốt tươi, tạo nên nhiều vườn cây ăn trái trĩu quả. Chính vì thế, vùng đồng bằng sông Cửu Long hay miền Tây Nam Bộ, hình thành nên văn hóa sông nước và văn hóa miệt vườn.

Trang 1

MỤC LỤC

A Đề tài trang 31

I Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam ở vùng đất Tây NamBộ ………… trang 31

1 Khái quát các tỉnh Tây Nam Bộ trang 31

2 Quá trình xác lập chủ quyền trên vùng đất Nam Bộ thời các chúa Nguyễn (từ TKXVII - XIX) trang 57

3 Nhà Nguyễn củng cố và hoàn thiện thống nhất hành chính và tổ chức bộ máy quản lýtrên vùng đất Nam Bộ trang 70

4 Địa lý kinh tế Cà Mau trang 76

II Phong trào đấu tranh chống ngoại xâm của nhân dân Tây Nam Bộ trang 85

1 Trận đánh Rạch Gầm - Xoài Mút …… ……… trang 85

2 Các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm ở Tây Nam Bộ trang 98

3 Căn cứ địa cách mạng……… trang 136

4 Chiến thắng Ấp Bắc……… trang 153III Văn hóa Hoa Khmer và tiếp biến văn hóa Việt - Hoa - Khmer trang 187

1 Nguồn gốc dân tộc Khmer và dân tộc Hoa ……… trang 187

2 Văn hóa, lễ hội và tổ chức gia đình của người Khmer và Hoa ở NamBộ trang 190

C ĐỀ TÀI I- QUÁ TRÌNH XÁC LẬP CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM Ở VÙNG ĐẤT TÂY NAM BỘ

Trang 2

1- KHÁI QUÁT SƠ LƯỢC VỀ MIỀN TÂY NAM BỘ

*Vài nét sơ lược về miền Tây:

Vùng đồng bằng sông Cửu Long là vùng cực Nam của Việt Nam, hay còn gọi là vùngđồng bằng sông Mê Kông, vùng đồng bằng Nam Bộ Miền Tây Nam Bộ gồm có 12tỉnh (An Giang, Bạc Liêu, Bến Tre, Cà Mau, Đồng Tháp, Tiền Giang, Sóc Trăng, Long

An, Hậu Giang, Kiên Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long) và 1 thành phố trực thuộc Trungương ( Cần Thơ) MiềnTây nổi tiếng với nhiều kênh rạch chằng chịt, sông ngòi dàyđặc Các con sông này nguồn nước dẫn chủ yếu là từ sông Cửu Long (Cửu Longgiang), là tên gọi chung cho các phân lưu của sông Mê Kông chảy trên lãnh thổ củaViệt Nam Lưu lượng hai sông này rất lớn, cung cấp nguồn phù sa cho khắp vùng đồngbằng Nam Bộ Nhờ vậy, cây trái tốt tươi, tạo nên nhiều vườn cây ăn trái trĩu quả Chính

vì thế, vùng đồng bằng sông Cửu Long hay miền Tây Nam Bộ, hình thành nên văn hóa

sông nước và văn hóa miệt vườn.

*Vị trí địa hình:

2

Trang 3

Đồng bằng sông Cửu Long có đường bờ biển dài trên 700 km, phía Tây Bắc giápCampuchia, Đông Bắc tiếp giáp Vùng Đông Nam Bộ, Đông giáp biển Đông, Nam giápThái Bình Dương, Tây giáp vịnh Thái Lan Đồng bằng sông Cửu Long có vị trí đắcđịa, rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế biển, khai thác và nuôi trồng thủy sản.

*Về hệ sinh thái:

Dưới những ảnh hưởng của môi trường biển và sông, từ lâu ở vùng đồng bằng sôngCửu Long đã hình thành và phát triển các hệ sinh thái tự nhiên rất độc đáo Đó là hệsinh thái rừng ngập nước ngọt (Vườn quốc gia Tam Nông, rừng Trà Sư, vùng Đồng

Tháp Mười), hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển ( Vườn quốc gia U Minh Thượng, Vườn quốc Gia U Minh Hạ), hệ sinh thái nông nghiệp.

Đặc biệt, hệ sinh thái rừng ngập mặn ở các tỉnh Cà Mau, Kiên Giang, Bạc Liêu, SócTrăng, Trà Vinh, Bến Tre có vai trò cực kỳ quan trọng trong phát triển kinh tế - xãhội, giữ cân bằng môi trường sinh thái toàn khu vực Hệ sinh thái rừng ngập mặn đãhình thành nên hệ thực vật ngập mặn rất phong phú và đa dạng, nhưng phổ biến ởvùng này như các loài mắm trắng, đước, bần trắng, bần chua, vẹt tách, dà quánh, dàvôi, giá, cóc vàng, dừa nước

*Cư dân miền Tây:

Cư dân sống ở vùng đồng bằng sông Cửu Long bao gồm dân tộc Kinh, Hoa, Khmer

và Chăm trong đó người Kinh chiếm đại đa số Còn lại, người Hoa tập trung nhiều ởcác tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng; người Chăm sống chủ yếu ở An Giang; ngườiKhmer có mặt đông đúc ở các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang

*Du lịch miền Tây:

Du lịch Tiền Giang: Khu di tích Ấp Bắc thuộc xã Tân Phú huyện Cai Lậy – TiềnGiang cách trung tâm huyện lỵ khoảng 10 km về hướng Động Đây là di tích lịch sửghi chiến thắng Ấp Bắc 02/01/1963 đã đánh bại các chiến thuật bủa lưới, phóng lao,

Trang 4

trực thăng vận và thiết xa vận của đế quốc Mỹ Ngoài ra còn có chợ nổi Cái Bè, chùaVĩnh tràng,

Du lịch Bạc Liêu: Nói đến Bạc Liêu nhiều người sẽ nghĩ ngay đến giai thoại về công

tử nổi tiếng phong lưu khắp Lục tỉnh Nam Kỳ khi xưa Ngày nay, nhà công tử BạcLiêu là một trong những điểm đến du lịch nổi tiếng ở Bạc Liêu Ngoài ra còn có một

số nơi nổi tiếng khác như là vườn nhãn cổ trên trăm tuổi, vườn chim Bạc Liêu, đền thờBác Hồ

Du lịch Cần Thơ: Về Cần Thơ du khách thường đi chợ nổi Cái Răng trước tiên Ngoài

ra ở đây còn có nhiều vườn cây ăn trái cho du khách tham quan Cần Thơ được xem làTây Đô của thời trước, đây là trung tâm văn hóa, kinh tế lớn nhất ở vùng đồng bằngsông Cửu Long Du khách đi du lịch Cần Thơ có thể tham quan vườn cò Bằng Lăng,chợ nổi Cái Răng, chợ nổi Phong Điền, nhà cổ Bình Thủy, miệt vườn Cần Thơ…

Du lịch Cà Mau: Vùng đất Mũi Cà Mau là nơi tạo ấn tượng với du khách ở cột mốcghi dấu điểm cuối của Tổ quốc Ngoài ra còn có thể tham quan rừng U Minh, các vườnchim Cà Mau, mũi Cà Mau, đảo Hòn Khoai… khi đến Cà Mau

Như vậy, Tây Nam Bộ có những thuận lợi và khó khăn:

* Thuận lơị

- Đất phù sa có diện tích rộng lớn, được bồi đắp hăng năm nên rất màu mỡ, đặc biệt

là dải đất phù sa ngọt dọc sông Tiền và sông Hậu (diện tích 1,2 triệu ha) rất thuận lợi

để phát triển nông nghiệp, đặc biệt là trồng lúa, cây ăn quả

Khí hậu: thể hiện rõ tính chất cận xích đạo Tổng số giờ nắng trung bình năm là 2.200

— 2.700 giờ Chế độ nhiệt cao, ổn định với nhiệt độ trung bình năm 25 — 27°c.Lượng mưa hằng năm lớn (1.300 — 2.000mm), tập trung vào các tháng mùa mưa (từtháng V đến tháng XI) Với điều kiện khi hậu như thế, rất thích hợp cho việc trồng cáccây nhiệt đới cho năng suất cao, khả năng xen canh, tăng vụ rất lớn; có thể tiến hànhcác hoạt động sản xuất diễn ra liên tục quanh năm

4

Trang 5

- Mạng lưới sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, cắt xẻ châu thổ thành những ô vuông,tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông đường thủy, sản xuất và sinh hoạt.

- Sinh vật: thảm thực vật chủ yếu là rừng ngập mặn (Cà Mau, Bạc Liêu, ) và rừngtràm (Kiên Giang, Đồng Tháp ), về động vật, có giá trị hơn cả là cá và chim

- Tài nguyên biển: hết sức phong phú với hàng trăm bãi cá, bãi tôm và hơn nửa triệu

ha mặt nước nuôi trồng thủy sản

- Các loại khoáng sản chủ yếu là đá vôi (Hà Tiên, Kiên Lương) và than bùn (U Minh,

Tứ giác Long Xuyên) Ngoài ra, còn có dầu khí ở thềm lục địa

*Hạn chế

- Mùa khô kéo dài từ tháng XII đến tháng IV năm sau Vì thế, nước mặn xâm nhậpvào đất liền, làm tăng độ chua và chua mặn trong đất, gây trở ngại lớn cho sản xuất vàsinh hoạt Ngoài ra, đôi khi có thể xảy ra các thiên tai khác

- Phần lớn diện tích của đồng bằng là đất phèn, đất mặn Cùng với sự thiếu nướctrong mùa khô đã làm cho việc sử dụng và cải tạo đất gặp nhiều khó khăn Hơn nữa,một vài loại đất lại thiếu dinh dưỡng, đặc biệt là các nguyên tố vi lượng hoặc đất quáchặt, khó thoát nước

- Tài nguyên khoáng sản hạn chế, gây trở ngại cho việc phát triển kinh tế - xã hội củađồng bằng

Trang 6

Đơn vị hành chính gồm:

1 thành phố : Tân An

1 thị xã: Kiến Tường

13 huyện

Dân số: Trên vùng đất Long An có các dân tộc sinh sống : dân tộc kinh, người Hoa, các

dân tộc thiểu số như Khơ me, Cờ Lao,… Trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số

Các di tích lịch sử cấp quốc gia như:

- Lăng mộ và đền thờ ông Nguyễn Huỳnh Đức tọa lạc ấp Dinh phường Khánh Hậuthành phố Tân An tỉnh Long An

- Nhà Trăm Cột thuộc huyện Cần Đước Long An

- Di tích lịch sử Ngã Tư Đức Hòa và một số nơi khác

Trang 7

giáp với tỉnh Bến Tre và Vĩnh Long Tỉnh có thành phố Mỹ Tho, thị xã Gò Công, thị xãCai Lậy và 8 huyện gồm: Chợ Gạo, Gò Công Tây, Gò Công Đông, Tân Phước, ChâuThành, Cai Lậy, Cái Bè, Tân Phú Đông Diện tích 2.367km2, có 32km bờ biển, dân sốhơn 1.700.000 người Nhiệt độ trung bình 270C, có hai mùa mưa nắng rõ rệt, nhờ vậyđộng thực vật càng trở nên phong phú.

Văn hóa – du lịch:

Thế mạnh của du lịch chủ yếu nhờ vào các di tích văn hóa lịch sử và sinh thái như di tíchvăn hóa Óc Eo, Gò Thành từ thế kỉ I đến Thế kỉ VI sau công nguyên)

Trang 8

Di tích Ấp Bắc

Đoàn tham quan khu Di tích Ấp Bắc (chụp ngày 19/10/2016)

8

Trang 10

Đoàn tham quan cồn Phụng tại Tiền Giang (Chụp ngày 22/10/2016)

VĨNH LONG

Vị trí địa lý:

Vĩnh Long là tỉnh thuộc hạ lưu sông Mê Kông, nằm giữa sông Tiền, sông Hậu và ở trungtâm khu vực ĐBSCL, vị trí giáp giới như sau:

Phía Bắc và Đông Bắc giáp các tỉnh Tiền Giang và Bến Tre;

Phía Tây Bắc Đông giáp tỉnh Đồng Tháp;

Phía Đông Nam giáp với tỉnh Trà Vinh;

Phía Tây Nam giáp các tỉnh Hậu Giang, Sóc Trăng và Thành phố Cần Thơ

10

Trang 11

Phía bắc giáptỉnh An Giang, phía đông giáp tỉnh Đồng Tháp và tỉnh Vĩnh Long, phía tâygiáp tỉnh Kiên Giang, phía nam giáp tỉnh Hậu Giang

Trang 12

Cần Thơ là thủ phủ và là đô thị hạt nhân của miền Tây Nam Bộ từ thời Pháp thuộc naytiếp tục là trung tâm kinh tế của vùng Đồng Bằng sông Cửu Long.

Văn hóa –du lịch:

Hò Cần Thơ là một trong những làn điệu dân ca độc đáo với các loại là hò huê tình, hò cấy và hò mái dài, xuất phát từ những cầu hò của khách thương hồ lúc rảnh rỗi cắm sào

để tìm bạn hò và đợi con nước để rời sang bến khác

Cần Thơ là trung tâm của Đồng bằng song Cửu Long, nằm hiền hòa bên dòng song Hậu.Cuộc sống nơi đây mang đậm chất song nước Với lợi thế này, Cần Thơ đang trở thànhmột điểm du lịch hấp dẫn ở miền Tây như Chợ nổi Cái Răng, Nhà cổ Bình Thủy( tọa lạctrên đường Bùi Hữu Nghĩa, Bình Thủy, Cần Thơ), Chùa Ông ( đường Hai Bà Trưng, quậnNinh Kiều, TP Cần Thơ),…

12

Trang 14

Chợ nổi Cái Răng ở Cần Thơ (Chụp ngày 22/10/2016)

Đoàn tham quan tại khám lớn Cần Thơ (Chụp ngày 21/20/2016)

14

Trang 15

Đoàn tham quan tại Bảo tàng Cần Thơ (chụp ngày 21/10/2016)

HẬU GIANG:

-Diện tích: 1.602,4 km2

-Dân số: 773.800 người (2013)

Trang 16

Vị trí địa lý:

Hậu Giang hiện nay là tỉnh ở vị trí trung tâm đồng bằng sông Cửu Long, thị xã tỉnh lị

Vị Thanh( nay là thành phố Vị Thanh) cách thành phố Hồ Chí Minh 240 km về phíatây nam;nằm ở trung tâm đồng bằng sông Cửu Long, giữa một mạng lưới sông ngòi,kênh rạch chằng chịt như: sông Hậu, sông Cần Thơ, sông Cái Tư, kênh Quản Lộ, kênhPhụng Hiệp, kênh Xà No, sông Cái Sắn Các tuyến đường lớn chạy qua tỉnh là quốc

lộ 1A, quốc lộ 61, quốc lộ 61B

Địa giới hành chính tiếp giáp 5 tỉnh: thành phố Vị Thanh trung tâm tỉnh lị cách thànhphố Hồ Chí Minh 240 km về phía Tây Nam; phía Bắc giáp thành phố Cần Thơ; phíaNam giáp tỉnh Sóc Trăng; phía Đông giáp sông Hậu và tỉnh Vĩnh Long; phía Tây giáptỉnh Kiên Giang và tỉnh Bạc Liêu…

16

Trang 17

Đơn vị hành chính:

Trước đây (1976-1991) tỉnh Hậu Giang cũ bao gồm 3 đơn vị hành chính hiện nay làthành phố Cần Thơ, tỉnh Sóc Trăng và Hậu Giang Cuối năm 1991 tỉnh Hậu Giangđược chia thành hai tỉnh: Cần Thơ và Sóc Trăng Ngày 1 tháng 1 năm 2004 tỉnh CầnThơ được chia thành thành phố Cần Thơ trực thuộc Trung ương và tỉnh Hậu Giangngày nay

Hậu Giang hiện có 7 đơn vị hành chính, gồm 5 huyện: Phụng Hiệp, Long Mỹ, VịThủy, Châu Thành, Châu Thành A, 2 thị xã Ngã Bảy và thành phố Vị Thanh Trong 7đơn vị hành chính gồm có 74 xã, phường, thị trấn

Dân cư:

Tỉnh Hậu Giang có Ba tộc người Kinh, Khmer, Hoa có truyền thống đoàn kết, cần cùlao động sáng tạo kiến thiết quê hương, đem đến sự da dạng về văn hóa, tín ngưỡng,phong tục, tập quán

Di tích văn hóa, lịch sử:

Di tích chiến thắng 75 Tiểu đoàn ngụy (xã Vĩnh Viễn, huyện Long Mỹ)

Đền thờ Bác Hồ (xã Lương Tâm, huyện Long Mỹ)

Khu trù mật Vị Thanh - Hỏa Lựu, Di tích tội ác Mỹ - Diệm tàn sát đồng bào

Chiến thắng vàm Cái Sình nhận chìm tàu giặc

Trụ sở Liên hiệp đình chiến Nam bộ

……

SÓC TRĂNG:

Diện tích: 3.223,30 km2

Dân số: 1.303.700 Người (2011)

Trang 19

Vị trí địa lí:

Tỉnh Sóc Trăng nằm ở cửa Nam sông Hậu, cách thành phố Hồ Chí Minh 231km, cáchCần Thơ 62km; nằm trên tuyến Quốc lộ 1A nối liền các tỉnh Cần Thơ, Hậu Giang, BạcLiêu, Cà Mau Quốc lộ 60 nối Sóc Trăng với các tỉnh Trà Vinh, Bến Tre và Tiền Giang

- Đường bờ biển dài 72 km và 03 cửa sông lớn: Định An, Trần Đề, Mỹ Thanh đổ

ra Biển Đông

- Tỉnh có địa giới hành chính tiếp giáp như sau:

+ Phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Hậu Giang;

+ Phía Tây Nam giáp tỉnh Bạc Liêu;

+ Phía Đông Bắc giáp tỉnh Trà Vinh;

+ Phía Đông và Đông Nam giáp Biển Đông

Đơn vị hành chính: 01 thành phố (Sóc Trăng), 02 thị xã, 08 huyện

Dân cư:

Dân cư Sóc Trăng chủ yếu là ba dân tộc Kinh (836.513 người, chiếm 65,16%),Khmer (371.305 người, chiếm 28,92%), Hoa (75.534 người, chiếm 5,88%) đã cùngchung sức khai phá, xây dựng và bảo vệ vùng đất này

-Căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng còn có tên gọi là Căn cứ Mỹ Phước vì căn cứ được xâydựng trong rừng tràm thuộc địa phận xã Mỹ Phước, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng…

Đơnvị hành chính:

Tỉnh Sóc Trăng có 11 đơn vị hành chính cấp huyện gồm 1 Thành phố, 2 thị xã, 08huyện, trong đó có 17 phường, 12 thị trấn và 80 xã:

Trang 20

Các di tích văn hóa lịch sử:

20

Trang 21

Đoàn tham quan Chùa Dơi tại Sóc Trăng (Chụp ngày 19/10/2016)

- Chùa Sêrây Cro Săng hay còn được gọi là chùa Cà Săng - tọa lạc tại phường 2, thị xãVĩnh Châu, cách trung tâm thành phố Sóc Trăng về hướng Đông – Nam khoảng 40km.Đây là một trong những ngôi chùa Khmer cổ ở tỉnh Sóc Trăng với quần thể kiến trúchài hòa, có niên đại trên 400 năm

-Chùa Tầm Vu, có tên gọi theo tiếng Khmer là Prêk Om Pu, tọa lạc ấp Hưng Thới, xãThạnh Thới An, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng Đây là một trong những ngôi chùaKhmer cổ ở tỉnh Sóc Trăng

-Thăm di tích tưởng niệm liệt sĩ Thiều Văn Chỏi-Kế Sách

-Đây là khu di tích mang đậm nét đặc trưng của người Hoa Sóc Trăng, đầu tiên đượcđạt tên là Thất Phủ Miếu, sau đổi lại là Hòa An Hội quán và được giữ nguyên tên đếnngày nay Hòa An Hội quán được xây cất từ năm Ất Hợi năm 1875 Tuy nhiên đây chỉ

là tên gọi trong sách vở còn đối với người dân Sóc Trăng vẫn quen gọi là “Chùa ÔngBổn”, còn người Hoa gọi là “A Côn” tức Ông Bổn

BẠC LIÊU

Diện tích: 2.526 km2

Dân số: 876.80 Người (2013)

Trang 22

Bạc Liêu là tỉnh miền Tây Nam Bộ, thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long PhíaBắc giáp tỉnh Hậu Giang và Kiên Giang; phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Sóc Trăng;phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Cà Mau; phía Đông và Đông Nam giáp biển Đông với

bờ biển dài 56 km Bạc Liêu có địa hình khá bằng phẳng với những cánh đồng rộng,sông ngòi, kênh rạch

Dân cư:

Dân số của thành phố là 155.519 người (có 03 dân tộc chính: Kinh, Hoa, Khmer); với

10 đơn vị hành chính cấp xã (07 phường, 03 xã) được chia thành 67 khóm, ấp

22

Trang 23

Đơn vị hành chính:

Hiện nay, Bạc Liêu có 7 đơn vị hành chính cấp huyện, bao gồm 1 thành phố, 1 thị xã ,

5 huyện , trong đó có 63 đơn vị hành chính cấp xã, gồm có 10 phường, 5 thị trấn và 49xã

Di tích văn hóa, lịch sử:

Di tích lịch sử cấp quốc gia Đền thờ Bác Hồ

Di tích lịch sử cấp quốc gia Đồng Nọc Nạng

Di tích lịch sử - văn hóa Khu lưu niệm nhạc sĩ Cao Văn Lầu (Chụp ngày 21/20/2016)

Di tích lịch sử Nơi thành lập Chi bộ Đảng Cộng Sản đầu tiên của tỉnh Bạc Liêu

Trang 26

Vị trí địa lí:

Cà Mau là tỉnh cực nam của Việt Nam, thuộc khu vực Đồng bằng châu thổ sông CửuLong, được tái lập ngày 01/01/1997 Lãnh thổ gồm 2 phần: phần đất liền và vùng biểnchủ quyền

Phía bắc giáp tỉnh Kiên Giang, phía đông bắc giáp tỉnh Bạc Liêu, phía đông và đôngnam giáp biển Đông và phía tây giáp Vịnh Thái Lan Cà Mau nằm trên bán đảo, có vịtrí địa lý khá đặc biệt, với ba mặt tiếp giáp biển Mũi Cà Mau là nơi duy nhất trên đấtliền có thể ngắm được mặt trời mọc lên từ mặt biển Đông vào buổi sáng và lặn xuốngmặt biển Tây vào buổi chiều Cà Mau nằm ở trung tâm vùng biển các nước Đông Nam

Á nên rất thuận lợi giao lưu, hợp tác kinh tế với các nước trong khu vực

Vùng biển: Vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền và quyền tài phán của ViệtNam do tỉnh Cà Mau quản lý có diện tích 71.000 km2 Trong đó, có đảo Hòn Khoai,Hòn Chuối, Hòn Buông và Hòn Đá Bạc

Dân cư:

Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009,toàn tỉnh Cà Mau có 19 dân tộc cùng người nước ngoài sinh sống Trong đó dân tộckinh có 1.167.765 người, người khmer có 29.845 người, người hoa có 8.911 người, cònlại là những dân tộc khác như tày, thái, chăm, mường,…

Trang 27

Đoàn tham quan khu tưởng niệm chủ tịch Hồ Chí Minh tại Cà Mau (Chụp ngày

19/10/2016)

Trang 28

Đoàn tham quan tại Rừng chim Cà Mau (Chụp ngày 19/10/2016

28

Trang 30

Đoàn tham quan Mũi Cà Mau (chụp ngày 20/10/2016)

-Hòn Khoai nằm phía đông nam Mũi Cà Mau, cách đất liền (nơi gần nhất) 14,6 km,thuộc xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển, có diện tích 4km2 Đỉnh hòn cao 318 m so vớimặt nước biển Hòn Khoai còn mang nhiều tên khác nhau như: Đảo Giáng Tiên, HònĐộc Lập Trên đảo có nhiều con suối, có hai con suối lớn nước ngọt chảy quanh năm,

là nguồn cung cấp nước cho đảo, cho tàu đánh cá quanh khu vực Khi xâm lược nước

ta, thực dân Pháp xây ngọn hải đăng trên đỉnh hòn cao 12,05m, có công suất quét sángbán kính 35 km, nằm trong hệ thống đèn biển Cần Giờ - Côn Đảo - Hòn Khoai - PhúQuốc để chiếu sáng cho tàu biển đi lại trên biển Đông

- Địa điểm chiến thắng Đầm Dơi - Cái Nước - Chà Là, thuộc ấp Chà Là, xã Trần Phán,huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau

30

Trang 31

-Hòn Đá Bạc nằm ở xã Khánh Bình Tây, huyện Trần Văn Thời, có diện tích khoảng6,43ha, là một cụm đảo đẹp bao gồm ba hòn lớn, nhỏ nằm gần nhau là: Hòn Ông Ngộ,Hòn Đá Lẻ và Hòn Đá Bạc.

-Bến Vàm Lũng nằm ở rạch Chùm Gộng, ấp Xẻo Mắm, xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển.Đây là bến tiếp nhận vũ khí từ miền Bắc cho chiến trường miền Nam theo đường HồChí Minh trên biển

2 QUÁ TRÌNH XÁC LẬP CHỦ QUYỀN TRÊN VÙNG ĐẤT NAM BỘ THỜI CÁC CHÚA NGUYỄN (THẾ KỈ XVII ĐẾN THẾ KỈ XIX).

Sau khi Chân Lạp đánh bại Phù Nam, trong một số sách Trung Quốc đã xuất hiện têngọi “Thủy Chân Lạp” nhằm để chỉ phần lãnh thổ Phù Nam trên vùng đất Nam Bộ Từđây vùng đất Nam Bộ trên danh nghĩa bị đặt dưới quyền kiểm soát của Chân Lạp, nhưngtrên thực tế việc cai quản vùng lãnh thổ mới này đối với Chân Lạp còn gặp rất nhiều khókhăn Trước hết, với truyền thống quen khai thác các vùng đất cao, dân số còn ít ỏi,người Khmer khi đó khó có khả năng tổ chức khai thác trên quy mô lớn một vùng đồngbằng mới bồi lắp Hơn nữa, việc khai khẩn đất đai trên lãnh thổ của Lục Chân Lạp đòihỏi rất nhiều thời gian và sức lực Vì vậy, việc cai trị xứ Thủy Chân Lạp vẫn phải giaocho những người thuộc dòng dõi vua Phù Nam

“Theo những ghi chép của nhà thám hiểm Fernard Mendez Pinto người Bồ Đào Nha vàphụ tá của ông là Faria, thì từ đầu thế kỉ XVI, có thể đã có người Việt đến sinh sống ởvùng châu thổ sông Mêkông”1

Theo các nguồn sử liệu biên niên của nước ta như Gia Định thành thông chí của TrịnhHoài Đức; Phủ biên tạp lục của Lê Qúy Đôn; Đại nam thực lục (Tiền biên), Đại Namliệt truyện, Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, v.v cũng như biênniên sử Khmer và một số tài liệu khác cho biết quá trình khai phá và mở mang ở ĐồngNai và Mô Xoài (sử cũ chép là Mỗi Xuy), tức vùng đất Nam Bộ ngày nay của cư dân

1 Trần Đức Cường (2014), Lịch sử hình thành và phát triển vùng đất Nam Bộ, NXB Khoa

học xã hội, tr127.

Trang 32

Việt diễn ra từ đầu thế kỉ XVII Sự kiện mở đầu cho quá trình người Việt vào vùng đấtNam Bộ được Biên niên sử Khmer chép:

“Năm 1618, vua Chey Chettha II lên ngôi Ngài liền cho xây cung điện nguy nga tạiOudon, rồi cử hành lễ cưới trọng thể với một nàng công chúa Việt Nam rất xinh đẹp làcon của chúa Nguyễn Hoàng hậu Sam Đát Việt Nam cho đem nhiều đồng hương đếnCampuchia, có người được làm quan lớn trong triều, có người làm các nghề thủ công và

có người buôn bán hay vận chuyển hàng hóa”2

Cuộc hôn nhân này trước hết là nhằm thực hiện ý đồ của vua Chân Lạp lúc ấy là CheyChettha II: Xin cưới con gái chúa Nguyễn để lập một liên minh chống lại sự bànhtrướng của Vương quốc Xiêm

“Năm 1623, chúa Nguyễn sai một phái bộ tới yêu cầu Chey Chettha II cho lập sở thuthuế ở Prei Nokor (Sài Gòn) và Kas Krobei (Bến Nghé) và cử quan quân đến đóng đồn

án giữ Chủ yếu là thu thuế của người Việt Nơi chúa Nguyễn đặt sở thuế đầu tiên là MôXoài, Bà Rịa Đây là vùng rừng rậm, hoang vắng nhưng cũng là điểm qua lại và nghỉngơi của thương nhân người Việt Chẳng bao lâu, hai đồn thuế này trở thành thị tứ, trênbến dưới thuyền, cảnh tượng mua bán rất sầm uất”3

Trong tác phẩm Gia định thành thông chí, tác giả Trịnh Hoài Đức đã xác định: “ Bà Rịa

là đầu địa giới trấn Biên Hòa, là đất danh tiếng, cho nên các phủ miền Bắc có câu “cơmNai, Rịa cá Rí, Rang”, là vì lấy Đồng Nai-Bà Rịa là đầu mà bao gồm cả Bến Nghé, SàiGòn, Mỹ Tho, Long Hồ ở cả trong đó Đất ấy lưng ở dựa núi, mặt nhìn ra biển, rừng rậmche dài, ở trên có trương tuần để vời gọi là những người Man Mạch đến đổi chác, ở dưới

có cửa bến để xét hỏi ghe thuyền ra biển; trạm thủy, trạm bộ giao tiếp nhau Có nhiềucửa quan hiểm yếu, có thành trì xưa di chỉ hãy còn, như là quốc đô của vua nào vậy”

2 Trần Đức Cường (2014), Lịch sử hình thành và phát triển vùng đất Nam Bộ, NXB Khoa

học xã hội, tr128.

3 Trần Đức Cường (2014), Lịch sử hình thành và phát triển vùng đất Nam Bộ, NXB Khoa

học xã hội, tr128.

32

Trang 33

Vào thời kì này, vua Chân Lạp từng nhiều lần nhờ Đại Việt giúp chống lại quân Xiêm vàcho phép người Việt định cư ven theo bờ biển Đông Nam của vương quốc.

Hôn nhân giữa vua Chey Chettha II và công chúa Ngọc Vạn cùng việt lưu dân ngườiViệt có mặt tại Mô Xoài, Bà Rịa cũng được giáo sĩ Dòng tên người Ý Christoforo Borrighi lại trong hồi kí của mình: Chúa Nguyễn phải chuyên lo việc tập trận và gửi quânsang giúp vua Campuchia-cũng là chàng rễ lấy người con gái của Chúa Chúa viện trợcho nhà vua cả tàu thuyền lẫn binh lính để chống lại vua Xiêm

Như vậy, ngay từ đầu thập niên thứ ba của thế kỉ XVII, những lưu dân người Việt đầutiên đã có mặt tại vùng đất Nam Bộ, làng xóm người Việt đã hình thành “ Người Kinh,người Trung Quốc, người Cao Miên” làm nhà ở liền nhau, kết thôn họp chợ”

Từ nửa sau thế kỉ XVII trở đi, quá trình di dân của người Việt từ các địa phương miềnTrung theo đường biển nhập cư vào vùng đất từ phía Nam Bình Thuận trở vào ngàycàng đông và trải ra trên một địa bàn rộng lớn Mỗi bước tiến của cư dân Việt trên vùngđất mới đều gắn liền với những sự kiện lịch sử liên quan đến quan hệ của các chúaNguyễn ở Đàng Trong và quốc vương Chân Lạp ở từng mức độ khác nhau (thân thiện,giúp đỡ, bảo hộ hay đối đầu), tùy thuộc vào bố cảnh lịch sử đương thời Biên niên sửcủa nước ta đã ghi chép khá tường tận quá trình người Việt khai phá mở mang miền đấtNam Bộ với những sự kiện chính sau đây:

Tháng 9 năm Mậu Tuất (1658), vua Chân Lạp là Nặc Ông Chân xâm lấn bờ cõi DinhTrấn Biên (tức dinh trấn Thái Khang-Phú Yên) báo lên Chúa Nguyễn Phúc Tần sai Yến

Vũ hầu (tức Tôn Thất Yến) là Phó tướng Dinh Trấn Biên cùng với Cai đội xuất tiênphong là Xuân Thắng hầu, Tham mưu là Minh Lộc hầu, Câu Kê là Văn Lĩnh bá đem3.000 quân đi đánh miền Nam, hành quân hai tuần thì đến Mỗi Xoài đánh tan quânChân Lạp, bắt được Nặc Ông Chân đưa về Quảng Bình Lúc bấy giờ địa đầu trấn GiaĐịnh là hai xứ Mỗi Xoài, Đồng Nai đã có dân lưu nước ta cùng ở với người Cao Miên

để khai khẩn ruộng đất

Trang 34

Năm 1679, tướng cũ nhà Minh là Long Môn Tổng binh Dương Ngạn Địch và phó tướngHoàng Tiến, Cao Lôi Liêm; tổng binh Trần Thượng Xuyên và phó tướng Trần An Bìnhđem hơn 3.000 quân và 50 chiến thuyền đến các cửa biển Tư Dung và Đà Nẵng xin vào.Chúa Nguyễn cùng triều thần bàn bạc thấy họ bị thế cùng bức bách nên không nỡ cựtuyệt Lại thấy đất Đông Phố đồng ruộng thì phì nhiêu ngàn dặm, triều đình chưa rõ kinh

lý, bèn cho họ đến đây khai khẩn để ở Dương Ngạn Địch đưa quân đến cửa biển SoiRạp vào Cửa Đại, Cửa Tiểu (đều thuộc Định Tường), đóng ở xứ Mỹ Tho Trần ThượngXuyên đem quân đến cửa biển Cần Giờ, đóng quân ở Bàn Lân, xứ Đồng Nai, vỡ đất pháhoang, dựng làm phố chợ, buôn bán giao thông với người Trung Quốc, Tây Dương,Nhật Bản, Chà Và Đông Phố (hay còn gọi là Cù Lao Phố) trở thành một cảng quantrọng đầu tiên của Nam Bộ, xây dựng Nông Nại-Đại Phố nơi đây khá sầm uất

Sách Đại nam nhất thống chí, căn cứ vào các dấu tích hoạt động cụ thể đã cho biết nhómTrần Thượng Xuyên đến Biên Hòa “mở đất, lập phố”, còn nhóm Dương Ngạn Địch đến

Mỹ Tho “dựng nhà cửa, họp người Kinh, người Di, kết thành làng xóm” Sau đó dựng 9trường biệt nạp là Quy An, Quy Hóa, Cảnh Dương, Thiêu Mụ, Gian Thảo, Hoàng Lạp,Tam Lạch, Bả Cạnh, Tân Thạnh cho dân lập ấp khai khẩn ruộng đất cày cấy; lập lạithành trang, trại, man, nậu nhân dân đều theo nghề nghiệp của mình làm ăn để nộp thuế.Như vậy, cùng với Sài Gòn-Gia Định, Biên Hòa và Mỹ Tho cũng đã đang dần dần trởthành những trung tâm cư dân và kinh tế phát triển dưới quyền cai quản của chúaNguyễn ở Miền Đông và cả Miền Tây Nam Bộ

Cùng thời gian này Mạc Cữu là người xã Lôi Quách, huyện Hải Khang, phủ Lôi Châu,tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc), cũng vì việc nhà Minh mất mà “để tóc chạy sangphương Nam, đến nước Chân Lạp làm chức Ốc Nha , thấy phủ Sài Mạt ở nước này cónhiều người buôn bán các nước tụ họp, bèn mở sòng gá bạc để thu thuế gọi là hoa chi,lại được hố bạc chon nên thành giàu Nhân chiêu tập dân siêu dạt đến các nơi Phú Quốc;Cần Bột, Gía Khê, Lũng Kỳ, Hương Úc, Cà Mau (thuộc tĩnh Hà Tiên) thành lập 7 xã

34

Trang 35

thôn”4 Mạc Cữu đã biến toàn bộ vùng đất Hà Tiên – Long Xuyên - Bạc Liêu – Cà Mau(được gọi chung là Hà Tiên) thành khu vực các cứ của dòng họ mình, không còn lệthuộc vào chính quyền Chân Lạp nữa Sách Thanh triều văn hiến thông khảo gọi đây lànước Cảng Khẩu (Cảng Khẩu quốc) : “Nước này có nhiều núi cao, địa hạt khoảng 100dặm vuông Thành và các cung thất làm bằng gỗ không khác Trung Quốc mấy.Chỗ Vuaởxây bằng gạch ngói Chế độ trang phục phảng phất các Vua đời trước, búi tóc, đi võng,chit khăn ,đội mũ Vua mặc áo bào vẽ trăn rắn, lưng thắt dãi đai, giày dép bằng da Dânmặc áo vạt cổ rộng Khi có tang thì mặc đồ màu trắng, bình thường thì áo nhiều màu Họgặp nhau thì chấp hai tay chào theo lễ Phong tục nước này ham chuộng thơ văn, trongnước có dựng đền thờ Khổng Tử Vua và dân đều đến lễ…’’5

Những sự kiện trên cho thấy trong thời kì này vùng đất Nam Bộ đã trở thành nơi tranhchấp ảnh hưởng và quyền bính giữa của hai thế lực của vương triều Chân Lạp và ChúaNguyễn, trong đó vai trò của Chân Lạp ngày càng lưu mờ, còn vai trò của Chúa Nguyễnngày càng được khẳng định, mở rộng và cũng cố Năm 1674, vương triều Chân Lạp bịchia thành Chính Quốc Vương (đóng ở U Đông) và Phó Quốc Vương (đóng ở Sài Gòn),

cả hai đều triều cống Chúa Nguyễn Năm 1691, Phó Quốc Vương Nặc Nông Nộn (AngNon) qua đời và từ đó vùng đất này không còn đại diện cho Vương triều Chân Lạp nữa.Năm 1698, Chúa Nguyễn Phúc Chu sai Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lượcvùng đất Đồng Nai Tại đây, ông tiến hành “chia đất Đông Phố, lấy xứ Đồng Nai làmhuyện Phúc Long (nay thăng làm phủ) dựng dinh Trấn Biên (tức Biên Hòa ngày nay),lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình (nay thăng làm phủ) dựng dinh Phiên Trấn (tứcdinh Gia Định ngày nay), mỗi dinh đều đặt các chứa lưu thủ, cai bạ, ký lục và các cơ độithuyền thủy bộ tinh binh và thuộc binh Mở rộng đất đai được nghìn dặm, được hơn 4vạn hộ, bèn chiêu mộ những người dân xiêu dạt từ Bồ Chính về Nam cho đến ở chođông Thiết lập xã thôn,phường ấp, chia cắt giới hạn, khai khẩn ruộng nương , định lệthuế tô dung, làm sổ đinh điền Lại lấy người Thanh đến buôn bán ở Trấn Biên lập làm

4 Vũ Minh Giang (2008), Lược sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam, Nxb Thế Giới, trang 30.

5 Vũ Minh Giang (2008), Lược sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam, Nxb Thế Giới, trang 31.

Trang 36

xã Thanh Hà, ở Phiên Trấn lập xã Minh Hương Từ đó người Thanh ở đây buôn bán đềuthành dân hộ”6.

Như vậy, Chúa Nguyễn đã xác lập chủ quyền quản lí về mặt nhà nước đối với các xứĐồng Nai (huyện Phúc Long) – Sài Gòn (huyện Tân Bình) xác nhập hẳn vào lãnh thỗĐàng Trong, tổ chức các đơn vị hành chính và bộ máy chính quyền từ cấp dinh trấn chođến tận các thôn xã, thực thi quyền lực nhà nước trong việc quản lí đất đai, hộ khẩu, thuthuế và trưng thu các nguồn lợi tự nhiên và thu thuế qua việc trao đổi với thương nhânnước ngoài Đến đây, Sài Gòn – Gia Định trở thành trung tâm hành chính - chính trị vàđang từng bước hình thành một trung tâm kinh tề và văn hóa của vùng đất mới

Sự kiện năm 1698 là cột mốc quan trọng trong quá trình xác lập và thực thi chủ quyềncủa Chúa Nguyễn đối với vùng đất Nam Bộ

Trước tình hình phát triển hết sức nhanh chóng của khu vực Gia Định dưới quyền quản

lí của chính quyền Chúa Nguyễn, Mạc Cữu càng ngày càng nhận thấy không thể khôngdựa vào chính quyền Chúa Nguyễn nếu muốn tiếp tục cũng cố và mở rộng thế lực trênvùng đất này, nên đã đem toàn bộ vùng đất đang cai quản về với Chúa Nguyễn

Năm 1708 Mạc Cữu xin đem đất Hà Tiên nhập vào xứ Đàng Trong, được chúa Nguyễnphong chức Tổng Trấn Hà Tiên, tước Cửu Ngọc Hầu Mạc Cửu xây dựng dinh ngũ,đóng ở Phương Thành, nhân dân ngày càng đến đông Tháng 4 năm 1711, Tổng binhtrấn Hà Tiên Mạc Cửu đã đến cửa khuyết tạ ơn và được Chúa Nguyễn Phúc Chu hậuthưởng

“Việc vùng đất Hà Tiên được xác nhập vào lãnh thỗ Đàng Trong là sự kiện đánh dấubước phát triển quan trọng trong quá trình mở rộng chủ quyền của Chúa Nguyễn trênvùng đất Nam Bộ Đến đầu thế kỷ XVIII, chủ quyền Việt Nam đã mở rộng đến Hà Tiên

và mũi Cà Mau, bao gồm cả hải đảo ngoài Biển Đông và vịnh Thái Lan Lúc này, bêncạnh đội Hoàng Sa trấn giữ các quần đảo giữa Biễn Đông, Chúa Nguyễn còn đặt ra độiBắc Hải (dưới sự kiêm quản của đội Trường Sa) có trách nhiệm khai thác hóa vật, kiểm

6 Vũ Minh Giang (2008), Lược sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam, Nxb Thế Giới, trang 31,32.

36

Trang 37

tra, kiểm soát thực thi chủ quyền của Việt Nam ở khu vực các xứ Bắc Hải, cù lao CônLôn và các đảo ở Hà Tiên”7.

Sau khi Mạc Cửu mất, Chúa Nguyễn tiếp tục phong cho con của Mạc Cửu là Mạc Thiên

Tứ làm Đô đốc trấn Hà Tiên và “Cho ba thuyền long bài được miễn thuế, sai xuất dươngtìm mua các của quý báu để nộp Lại sai mở cục đúc tiền để tiện việc trao đổi Thiên Tứchia đặt nha thuộc, kén bổ quân ngũ, đắp thành lũy, mở phố chợ, khách buôn các nướcđến họp đông Lại vời những người văn học, mở Chiêu Anh các, ngày ngày cùng nhaugiảng bàn và xướng họa, có 10 bài vịnh Hà Tiên (Hà Tiên thập vịnh)”8

Trong lời tựa cuốn Hà Tiên thập vịnh viết vào cuối Hạ năm Đinh Tỵ (1737), chính MạcThiên Tứ đã khẳng định: “Trấn Hà Tiên nước An Nam xưa là đất hoang, từ tiên quânkhai sáng đến nay, đã hơn 30 năm, mà dân mới được yên Mùa hè năm Ất Mão (1735),tiên quân mất đi, tôi nối theo mối trước, trong khi chính trị thư rỗi, hang ngày cùng vớivăn nhân bàn việc vịnh thơ Do đó biết núi sông nhờ được phong hóa của tiên quân màthêm phần tráng lệ, lại được các danh sĩ phẫm đề mà thêm vẽ linh tú Thơ này chẳngnhững chỉ làm cho chốn ven biển thêm tươi đẹp, mà cũng là một trang sử của trấn HàTiên vậy”9

Mạc Thiên Tứ không chỉ ra sức xây dựng và phát triển Hà Tiên trở thành một trung tâmkinh tế phồn thịnh, mà còn nêu cao ý thức bảo vệ chủ quyền với tư cách là người đượcgiao nhiệm vụ bảo vệ vùng cực Nam của đất nước.Sách Đại Nam thực lục cho biết vàonăm 1739: Nặc Bồn nước Chân Lạp lấn Hà Tiên Thiên Tứ đem hết quân bản bộ rađánh, đuổi tới Sài Mát, ngày đêm đánh hăng, lương thực không tiếp kịp Vợ là NguyễnThĩ đốc suất vợ lính vận lương đến nuôi quân, quân không bị thiếu ăn, hăng hái cố đánhphá được quân Bồn Tin thắng trận báo lên, Chúa cả khen ngợi, đặc biệt cho Thiên Tứchức Đô đốc tướng quân, ban cho áo bào đỏ và mũ đai, phong Nguyễn Thị làm Phunhân Do đó Chân Lạp không dám nhòm ngó Hà Tiên nữa

7 Vũ Minh Giang (2008), Lược sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam, Nxb Thế Giới, trang 34.

8 Vũ Minh Giang (2008), Lược sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam, Nxb Thế Giới, trang 34.

9 Vũ Minh Giang (2008), Lược sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam, Nxb Thế Giới, trang 34.

Trang 38

Năm 1744, “Chúa Nguyễn Phúc Khoát lên ngôi vương, tổ chức bộ máy hành chínhthống nhất, chia toàn bộ đất Đàng Trong thành 12 dinh và 1 trấn phụ thuộc Các dinhđều đặt trấn thủ, cai bạ và ký lục để cai trị Đứng đầu trấn là chức đô đốc Riêng vùngđất Nam Bộ lúc ấy gồm 3 dinh là Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ và trấn Hà Tiên”10.Vùng đất Hà Tiên từ khi nhập vào lãnh thỗ Đàng Trong, một ngày hưng thịnh, trở thànhnơi nhiều thế lực trong triều đình Chân Lạp tìm đến với hi vọng được cưu mang và cậynhờ Cuối năm 1755, chính Vua Chân Lạp là Nặc Nguyên đã “chạy về Hà Tiên, nươngtựa Đô đốc Mạc Thiên Tứ”11.

Năm 1756, Nặc Nguyên “xin hiến đất hai phủ Tầm Bồn và Lôi Lạp và nộp bù lễ cốngcòn thiếu 3 năm về trước để chuộc tội”12 Sau khi bàn tính kỹ, Chúa Nguyễn đã chấpnhận việc “lấy đất hai phủ ấy, ủy cho thần xem xét hình thể, đặt lũy đóng quân, chia cấpruộng đất cho quân và dân, vạch rõ địa giới, cho đặt lệ vào Châu Đinh Viễn để thu lấytoàn khu”13

Năm 1757, Nặc Nguyên qua đời.Người chú họ là Nặc Nhuận tạm trong coi việc nước,nhưng ngay sau đó triều đình Chân Lạp bị rối loạn, đánh giết lẫn nhau Người con củaNặc Nhuận (em họ Nặc Nguyên) là Nặc Tôn (Outey II) chạy sang Hà Tiên Mạc Thiên

Tứ đã cưu mang và giới thiệu Nặc Tôn lên Chúa Nguyễn “Chúa bèn sắc phong cho NặcTôn (Outey II) ,làm vua nước Chân Lạp, sai Thiên Tứ cùng với tướng sĩ năm dinh hộtống về nước

“Để trả ơn chúa Nguyễn, Nặc Tôn dâng đất Tầm Phong Long (Đồng Tháp Mười).Thống suất Trương Phúc Du và Nguyễn Cư Trinh xin rời dinh Long Hồ đến xứ TầmBào, đồng thời đặt đạo Đông Khẩu ở sứ Sa Đéc, đạo Tân Châu ở Tiền Giang, đạo ChâuĐốc ở Hậu Giang lấy binh lính dinh Long Hồ để trấn giữ Nặc Tôn lại cắt năm phủHương Áo, Cần Bột, Chân Sâm, Sài Mạt, Linh Quỳnh Chúa Nguyễn Phúc Khoát cho lệ

10 Vũ Minh Giang (2008), Lược sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam, Nxb Thế Giới, trang 35.

11 Vũ Minh Giang (2008), Lược sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam, Nxb Thế Giới, trang 36.

12 Vũ Minh Giang (2008), Lược sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam, Nxb Thế Giới, trang 36.

13 Vũ Minh Giang (2008), Lược sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam, Nxb Thế Giới, tr 36.

38

Trang 39

năm phủ ấy vào quản hạt Hà Tiên, MạcThiên Tứ xin đặt đạo Kiên Giang ở Rạch Gía(Gía Khê), đạo Long Xuyên ở xứ Cà Mau, xếp đặt quan lại, chiêu tập dân cư, lập thôn

ấp, mở rộng thêm địa giới Hà Tiên”14

Vùng đất Đồng Tháp Mười còn có một cái tên rất tiểu thuyết: Tầm Phong Long

“Tầm Phong Long có hình dáng một mu rùa, choán cả một dải đất đai rộng lớn, bề dài

từ miền biên giới Việt-Miên (Campuchia ngày nay) chạy dọc theo sông Tiền và sôngHậu xuống tới Trà Vang (Trà Vinh), Ba Thắc (Sóc Trăng và Bạc Liêu), bề ngang từcương vực Hà Tiên sang tận Tâm Bôn (Tân An) và từ Ba Thắc lên thấu đất Long Hồ”15.Tiếp theo, bắt tay vào việc đào con kênh Đông Xuyên ăn thông từ Long Xuyên đếnRạch Gía, nối đất liền vùng sâu với vịnh Thái Lan Ngay năm sau, lại khởi công đào conkinh Vĩnh Tế, để tiện việc lưu thông từ Châu Đốc đến Hà Tiên và đồng thời xúc tiếnviệc lập làng, làm lộ, mở một con đường ngang, song song thông qua trường giang, mộtđường thẳng lên Sóc Vinh một con đường ngay đến Lò Gò Với từng đợt khai hoang củaPhật Thầy chia nhau ra đi “Đoàn thứ nhất vào Thất Sơn, bên chân núi Két, một nơi rừngbụi rậm rì, hổ báo như rươi Đoàn chia làm hai nơi, một nơi do cụ Bùi Văn Thân tứctăng chủ Bùi Thiền Sư hướng dẫn, một do cụ Bùi Văn Tây tức Đình Tây chỉ huy, cùngnhau góp sức dựng lập nên các nông trại Hương Thới và Xuân Sơn Đoàn thứ hai do cụQuản Thành dẫn đầu Cụ Thành lúc đó là Chánh Quản Cơ, đã từ bỏ mọi chức vụ để đitheo Phật Thầy Đoàn đi đến Láng Linh – một vùng đầm lầy, “mùa nước nổi như biển

cả, mà mùa cạn thì như bãi cát hoang, ngập lút đầu lau lưng, cỏ lác” Một trại ruộngmệnh danh Bửu Hương Các đã được dựng lên ở đây, để các tín đồ vừa ở vừa tu, vừachăm lo khai khẩn”16 Đoàn thứ ba do cụ Nguyễn Văn Xuyên tức Đạo Xuyên lãnh đạo

đã đưa tín đồ về Cái Dầu nay là Bình Long, sát hữu ngạn Hậu Giang, đất rộng mênhmông màu mở “cá trước sân, củi sau hè, vườn đơm trái ngọt, ruộng đầy lúa

14 Trần Đức Cường (2014), Lịch sử hình thành và phát triển vùng đất Nam Bộ, NXB Khoa

học xã hội, tr 141-142.

15 Ngô Văn Qũy (1998), Nam bộ xưa và nay, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, tr93.

16 Ngô Văn Qũy (1998), Nam bộ xưa và nay, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, tr94.

Trang 40

thơm”.”17“Đoàn thứ tư do cụ Đặng Văn Ngoạn tức Đạo Ngoạn đưa về miền Cần Lố, bênkia Tiền Giang dựng một ngôi chùa tại Trà Bồng, mở mang ruộng rẫy khắp nẻo rạch TràBồng, rạch Ông Bường Ở vùng này họ gặp một ngọn tháp cổ, xây bằng những tảng đá

to, các mặt được mài nhẵn vuông vắn, xếp chồng lên nhau như kiểu của kiến trúc ĐếThiên Đế Thích Đó là ngôi tháp thứ mười trong số mười ngôi tháp của vua nước ChânLạp xây cất Cánh đồng bao la bát ngát quanh đó vì thế được gọi là Đồng Tháp Mười”18.Tất cả những người mở đường, phá lối này đếu là những tín đồ thấm nhuần nhiệt tâmđạo đức của Phật Thầy, đầy lòng vị tha, cường tráng khỏe mạnh, tinh thông võ nghệ, tựnguyện chấp nhận một cuộc đời khó khăn nguy hiểm, gian khổ đạm bạc

Như vậy, đến năm 1757, những phần đất còn lại của Tây Nam Bộ mà trên thực tế đãthuộc quyền cai quản của Chúa Nguyễn trước đó, chính thức thuộc chủ quyền Việt Nam.Sau này, dưới thời Nhà Nguyễn (1802 – 1945) tuy có một số địa điểm cụ thể vẫn cònđược tiếp tục điều chỉnh, nhưng trên căn bản khu vực biên giới Tây Nam Việt Nam đãđược hoạch định từ năm 1757

Trên vùng đất Nam Bộ, Chúa Nguyễn đã thi hành chính sách khuyến khích đặc biệt đốivới việc khai phá đất hoang, cho phép người dân biến ruộng đất khai hoang được thànhruộng đất tư nhân

Trước làn sóng tự động di cư vào Nam tìm đất sinh sống của những người nông dânThuận – Quảng, Chúa Nguyễn cho người đứng ra tổ chức các cuộc di cư này và lậpthành các xã, thôn, phường, ấp của người Việt Chúa Nguyễn tạo mọi điều kiện thuận lợicho những địa chủ giàu có ở Thuận – Quảng đem tôi tớ và chiêu mộ nông dân lưu vongvào đây khai hoang lập ấp Chính sách này được thực thi lâu dài và nhất quán như mộtphương thức khai hoang chủ yếu ở Nam Bộ Lực lượng khai hoang chủ yếu là lưu dânngười Việt và một bộ phận những người dân gốc Champa, Chân Lạp Ngoài ra, một số

17 Ngô Văn Qũy (1998), Nam bộ xưa và nay, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, tr94.

18 Ngô Văn Qũy (1998), Nam bộ xưa và nay, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, tr 94-95.

40

Ngày đăng: 27/02/2018, 12:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w