So với những công trình nghiên cứu đã có về tuyệt cú và haiku – chủ yếu nghiên cứutừng thể loại độc lập, riêng rẽ - đề tài của chúng tôi đóng góp một hướng tiếp cận khá mới.Dưới góc nhìn
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tuyệt cú và haiku là hai thể thơ hội tụ tinh túy vẻ đẹp thơ cổ điển phương Đông Nếutuyệt cú – “hạt minh châu của thơ ca Trung Hoa” – long lanh vẻ sáng hàm súc, dư ba đầy ý
vị Đường thi thì haiku nhỏ xinh như một đóa anh đào là niềm tự hào của thơ ca Nhật Bảnvươn ra thế giới Trong khi nhiều thể thơ khác chịu sự hạn chế của lịch sử - thời đại thì tuyệt
cú và haiku có được sự năng động và sức sống mạnh mẽ với sự lan tỏa, ảnh hưởng vượtkhông gian – thời gian Chọn đề tài này, chúng tôi tiếp tục tìm hiểu mảnh đất thơ cổ điểnphương Đông muôn đời “quen mà lạ”, đầy bí ẩn mà chứa đựng bao vẻ đẹp không nói hết
So với những công trình nghiên cứu đã có về tuyệt cú và haiku – chủ yếu nghiên cứutừng thể loại độc lập, riêng rẽ - đề tài của chúng tôi đóng góp một hướng tiếp cận khá mới.Dưới góc nhìn so sánh, tuyệt cú và haiku sẽ thể hiện nhiều đặc điểm trên nhiều phương diện– hơn là nghiên cứu độc lập Từ đó đề tài góp phần làm sáng tỏ những nét đồng dị của haithể thơ đặc sắc trong thế giới thơ ca phương Đông
Từ lâu thơ Đường – trong đó tuyệt cú đóng vai trò quan trọng – đã được lưu tâmtrong nhà trường phổ thông Haiku được thế giới biết đến nhưng ở Việt Nam vẫn còn tươngđối lạ lẫm, gần đây mới được đưa vào giảng dạy Việc dạy học hai thể thơ này đối với giáoviên luôn là một công việc hay mà khó Với đề tài này, chúng tôi hy vọng góp phần giúpdạy học tốt hơn thơ tuyệt cú và haiku nói riêng, thơ cổ điển phương Đông nói chung trongnhà trường
Nghiên cứu – so sánh tuyệt cú và haiku trong bối cảnh thế giới hội nhập ngày naycũng là tìm hiểu thêm về hai quốc gia – hai nền văn hóa Trung Hoa và Nhật Bản – cũng nhưsức sống của thơ ca qua những bờ cõi và giới hạn, đồng vọng tiếng lòng nhân loại trong mộttiếng nói chung
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu:
2.1 Ở mảng tài liệu tiếng Việt:
Tuyệt cú song hành cùng với chiều dài truyền thống văn học Việt Nam hàng ngànnăm, vì vậy đã được biết đến từ rất lâu, còn haiku mãi đến đầu thế kỷ XX mới được biếtđến Và cũng phải mất một khoảng thời gian khá dài để thơ này trở nên gần gũi hơn với tâmthức văn hóa Việt Nam, đến cuối thế kỷ XX những nét tương đồng giữa tuyệt cú và haikumới được một số nhà nghiên cứu nhận ra và bước đầu có những so sánh trên những nét cơ
Trang 2bản Nhưng sự so sánh thường diễn ra khi tác giả đi vào tìm hiểu một thể thơ Ở đây xảy rahai khuynh hướng:
- So sánh tuyệt cú với haiku nhằm làm nổi bật đặc điểm của tuyệt cú Tiêu biểu cho hướng đi này là các công trình Một số đặc trưng nghệ thuật của thơ tứ tuyệt đời Đường của Nguyễn Sĩ Đại, Thơ tứ tuyệt trong Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX của Nguyễn
Kim Châu …
- So sánh haiku với tuyệt cú để làm nổi bật đặc điểm của haiku Có thể kể đến Basho
và thơ haiku của Nhật Chiêu, Haiku - Hoa thời gian của Lê Từ Hiển – Lưu Đức Trung…
Dù theo hướng đi nào thì các tác giả đều nhận ra nét chung và nổi bật của hai thểloại thơ tuyệt cú và haiku ở chỗ nó đều là những thể thơ ngắn và hội tụ tiêu biểu vẻ đẹp thơ
cổ điển phương Đông Nhưng so sánh không bình đẳng thường khó đảm bảo tính kháchquan và không làm rõ được đặc điểm loại hình của hai thể thơ độc đáo này
Dưới góc độ văn học so sánh, một số công trình nghiên cứu đã có cái nhìn tương đốitoàn diện hơn dưới nhiều hướng khác nhau:
- So sánh thể loại: Có thể kể đến bài viết “Phác thảo những nét tương đồng và dị biệt
của ba thể thơ: tuyệt cú, haiku và lục bát” của Nguyễn Thị Bích Hải, “Những nét tươngđồng và dị biệt của thơ sijo (Hàn Quốc) và thơ haiku (Nhật Bản) – nhìn từ đặc trưng thể
loại” của Hà Văn Lưỡng… Các tác giả đã sự giống nhau giữa các thể thơ cổ điển phương
Đông về các phương diện “cô đúc, ngắn gọn”, “bố cục chặt chẽ”, “trọng tâm ý nghĩa thường
nằm ở câu cuối” Trong Tiếp cận thể loại văn học cổ Trung Quốc, Đinh Phan Cẩm Vân
cũng chỉ ra những nét gặp gỡ và khác biệt của tuyệt cú và haiku Tác giả cũng chỉ ra đặcđiểm loại hình của thể loại: “Haiku, tứ tuyệt hay luật thi đều là sản phẩm của tư duy phươngĐông”
- So sánh loại hình tác gia: tiêu biểu là các bài viết “Basho (1644-1694) và Huyền
Quang (1254-1334) - Sự gặp gỡ với mùa thu hay sự tương hợp về cảm thức thẩm mĩ” của
Lê Từ Hiển, “Vương Duy và Matsuo Basho - loại hình thi tăng của khu vực văn hóa Phật
giáo” của Trần Thị Thu Hương Các tác giả tìm thấy vẻ đẹp của mĩ học Thiền trong thơ ca
của các tác giả, phần nào bộc lộ qua thể loại - “tứ tuyệt rất gần gũi với hai-kư về sự ngắngọn, tính hàm súc, đa nghĩa”, “kết cấu chân không” thể hiện qua “hình thức cực tiểu” củatuyệt cú và haiku …
Trang 3- So sánh loại hình thơ Thiền: tiêu biểu là Khảo sát một số đặc trưng nghệ thuật của thơ Thiền Việt Nam thế kỉ XI - thế kỉ XIX của Đoàn Thị Thu Vân, “Ba dòng thơ tiêu biểu
phương Đông: thơ Thiền Việt Nam, Đường thi Trung Hoa và Haiku của Nhật” của Thái TúHạp… Nếu Thái Tú Hạp chủ yếu chỉ ra tinh thần của ba dòng thơ này là “con người hòanhập với thiên nhiên, với vũ trụ nhất thể” thì Đoàn Thị Thu Vân cụ thể hơn khi triển khai sosánh cảm thức Thiền, tính trực cảm, gợi mở, hình ảnh thiên nhiên… trong đó sự khác nhaugiữa tuyệt cú và haiku cũng đã được đề cập đến Tác giả đã tinh tế chỉ ra được sự khác nhaugiữa tính cân đối và tính thiếu vắng, sự trau chuốt và tính tự nhiên giữa hai thể thơ này
2.2 Ở mảng tài liệu tiếng Trung Quốc:
Năm 1984, trong bộ Tỷ giảo văn học nghiên cứu tùng thư 比较文学研究丛书 của
Đại học Bắc Kinh, quyển Tỉ giảo văn học luận văn tập 比较文学论文集 do Trương LongKhê – Ôn Nho Mẫn biên tuyển có bài viết “Trung Nhật đích tự nhiên thi quan” của LâmLâm, trong đó tìm hiểu ảnh hưởng của Trung Hoa đến Nhật Bản trong cái nhìn đối với thếgiới tự nhiên, trong đó có thơ haiku của Basho, Buson…
Năm 1987, trong công trình Trung Nhật cổ đại văn học quan hệ sử khảo 中日古代文
学关系史稿, Nghiêm Thiệu Đãng đã dành chương 2 để tìm hiểu hình thái văn học Hántrong loại thơ đoản ca, ông chỉ ra đoản ca là loại thơ thuần Nhật, đồng thời cũng phát hiệnnhững ảnh hưởng của văn học Hán đối với thể loại thơ này Cũng Nghiêm Thiệu Đãng trong
công trình Trung Quốc văn học tại Nhật Bản 中国文学在日本 viết chung với Vương Hiểu
Bình xuất bản năm 1990, đã củng cố và mở rộng những vấn đề đã được đề cập trong cuốnsách trước, bàn đến “Ý nghĩa của văn học Trung Quốc trong sáng tác haikai của MatsuoBasho” Ông nói đến mối liên hệ giữa haiku của Basho với thơ ca Trung Hoa, đặc biệt là thơĐường, chịu ảnh hưởng sâu sắc của Đỗ Phủ, Lý Bạch… Tuy nhiên, dù so sánh song songhay tìm hiểu ảnh hưởng, thì tác giả cũng chỉ liên hệ đến thơ ca Trung Hoa chứ chưa xétriêng đến thể loại tuyệt cú
Năm 1996, trong công trình Thất thập âm đích thế giới: Nhật Bản bài cú 十七音的 世界—日本俳句, tác giả Mã Hưng Quốc cũng dành một chương để khảo sát “Bài cú dữ
Trung Quốc” Công trình có một bước phát triển mới so với các công trình của NghiêmThiệu Đãng ở chỗ tác giả không chỉ nghiên cứu ảnh hưởng của văn học Trung Quốc đối vớihaiku mà còn tìm hiểu theo chiều ngược lại, đó là haiku tại Trung Quốc Tuy nhiên, sự sosánh chủ yếu tìm hiểu trên phương diện nội dung, và tuyệt cú vẫn chưa được liên hệ so
Trang 4sánh Trịnh Dân Khâm với Nhật Bản bài cú sử 日本俳句史(2000) cũng tìm hiểu mối quan
hệ “Bài cú dữ Hán thi”, mà chưa đề cập đến thể loại tuyệt cú
Trong Đông phương cổ điển mĩ: Trung Nhật truyền thống thẩm mĩ ý thức tỉ giảo 东方古典美:中日传统审美意识比较(2002), trên sự so sánh rộng về mặt tư tưởng, ý thứcthẩm mĩ, Khương Văn Thanh đã lưu tâm đến haiku trong dòng chảy của thơ ca từ khởinguyên Nhưng khi so sánh, Khương Văn Thanh đã lựa chọn hòa ca với tuyệt cú như là haithể loại thơ ca tiêu biểu của hai dân tộc
Công trình nghiên cứu có ý thức so sánh tuyệt cú và haiku có thể kể đến là Đường tuyệt cú sử 唐绝句史(1987) của Chu Khiếu Thiên Trong khi nghiên cứu ngũ ngôn tuyệt cú
của Vương Duy, ông đã nhận thấy với haiku có những điểm tương đồng: thể thơ nhỏ bé,dung hợp họa ý với triết lý, thủ pháp tượng trưng, lời ngắn ý dài Có thể nói, đây là một pháthiện quan trọng trong việc so sánh hai thể loại thơ ca tiêu biểu nhất của hai dân tộc
Ngoài ra còn có những bài nghiên cứu trên báo – tạp chí viết về ảnh hưởng của thơ
ca cổ điển Trung Hoa đến thơ haiku
Mặc dù chưa có điều kiện trực tiếp tham khảo những công trình ngiên cứu so sánhbằng tiếng Nhật, nhưng một số công trình văn học so sánh bằng tiếng Trung có sự tham giacủa các học giả Nhật Bản đã hé mở cho chúng tôi cách nhìn nhận từ phía Nhật Bản về mốiquan hệ giữa hai nền thơ ca này
Năm 1988, cuốn Trung ngoại tỉ giảo văn học dịch văn tập 中外比较文学译文集 do
Châu Phát Tường biên soạn đã tập hợp các bài viết của các nhà nghiên cứu Trung Quốc vàthế giới, trong đó có các bài của các nhà nghiên cứu Nhật Bản tìm hiểu so sánh thơ ca TrungQuốc và Nhật Bản như “Chính trị tính dữ trữ tình tính – Trung Nhật thi ca sáng tác đích tỉgiảo” của Linh Mộc Tu Thứ (Suzuki Shuji), “Ba Tiêu dữ Đường Tống thi” của Tiểu TâyThậm Nhất (Konishi Jinichi) Nếu như Linh Mộc Tu Thứ tìm hiểu hai đặc trưng riêng biệtcủa văn học Trung Quốc và văn học Nhật Bản thể hiện qua thơ ca thì Tiếu Tây Thậm Nhấtchỉ ra Basho đã tiếp nhận thơ ca Đường Tống từ đó hình thành phong cách haiku của mình
Năm 1996, trong bộ sách công phu Trung Nhật văn hóa giao lưu sử đại hệ, quyển 6 – văn học quyển 中日文化交流史大系 - 文学卷– có sự tham gia của các nhà nghiên cứu từ
hai phía Trung Quốc và Nhật Bản, nhà nghiên cứu Nhật Bản Trung Tây Tiến (NakanishiSusumu) đã viết chương 2 của cuốn sách “Nhật Trung thi ca đích bản thể dữ hình thái cập
kỳ nghiên cứu tỉ giảo”, có sự mở rộng so sánh không chỉ Hòa ca và Hán thi mà còn tìm hiểu
Trang 5giao lưu và ảnh hưởng Đây là một nghiên cứu bổ ích và công phu, từ đó ta có được cái nhìn
đa chiều trong so sánh văn học chứ không đơn thuần nhìn từ một phía
2.3 Ở mảng tài liệu tiếng Anh
Thơ haiku được biết tới ở mảng tài liệu tiếng Anh trước hết là ở dạng những tuyển
tập thơ dịch, chẳng hạn các công trình One hundred famous haiku, Classic Haiku A master’s Selection, 1020 haiku in translation – The heart of Basho, Buson and Issa … Bên
cạnh đó là những công trình giới thiệu thơ haiku Nhật Bản, trong đó những đặc trưng nổi
bật của thơ haiku được lưu tâm phân tích Có thể kể đến Japanese Haiku của Kenneth Yasuda, Haiku and Modernist Poetics Yoshinobu Hakutani… Ở mảng tài liệu tiếng Anh
thơ ca Nhật Bản nói chung và haiku nói riêng được nghiên cứu độc lập, vì vậy mà chúng tôikhông tìm thấy có sự so sánh haiku với tuyệt cú
Tình hình cũng tương tự với thơ tuyệt cú khi thể loại này được các nhà nghiên cứugiới thiệu ra phương Tây Các nhà nghiên cứu thường giới thiệu về thơ ca Trung Hoa cổ
điển nói chung, còn riêng về tuyệt cú có thể kể đến Daniel Hsieh với The Evolution of jueju verse Trong cuốn sách này tác giả đã phân tích sự hình thành cũng như các chặng đường
phát triển của thơ tuyệt cú theo chiều dài lịch sử văn học Có thể coi đây là công trình khảocứu về tuyệt cú công phu nhất bằng Tiếng Anh Mặc dù vậy thì chúng tôi không tìm thấy có
sự so sánh nào giữa tuyệt cú Trung Hoa và thơ haiku Nhật Bản
Như vậy, trong phạm vi tài liệu tham khảo mà chúng tôi có được, cho đến nay vẫnchưa có một công trình nào so sánh tuyệt cú và haiku trên phương diện loại hình Nhữngcông trình của các nhà nghiên cứu đi trước đã cho chúng tôi những gợi ý cũng như cách tiếpcận quý báu để trên cơ sở đó chúng tôi triển khai thực hiện đề tài này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích của luận án: đề tài đi vào so sánh hai thể thơ tuyệt cú (Trung Quốc) vàhaiku (Nhật Bản) để làm sáng tỏ một số nét tương đồng – dị biệt giữa hai thể thơ, từ đó thấyđược vẻ đẹp của hai thể loại tiêu biểu cho thơ ca cổ điển phương Đông này
- Nhiệm vụ của luận án: dựa trên cơ sở tìm hiểu những điều kiện lịch sử - văn hóa –văn học làm nền tảng, luận án đi vào so sánh những đặc trưng tiêu biểu nhất của tuyệt cú vàhaiku trên các phương diện: nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật Từ đó thấy đượcnhững đặc điểm mang tính chất loại hình của thể loại
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 6Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là thơ tuyệt cú của Trung Quốc và haiku củaNhật Bản – trọng tậm là những tác phẩm thuộc giai đoạn cổ điển, so sánh để làm nổi bậtnhững đặc điểm mang tính chất loại hình của những thể loại tiêu biểu của thơ cổ điểnphương Đông Hướng đi của chúng tôi là so sánh trên những nét cơ bản nhất về đặc trưngthể loại (điều kiện hình thành, nội dung tư tưởng, hình thức nghệ thuật) mà rút ra nhữngtương đồng – dị biệt của hai thể thơ ca này.
Để khảo sát đề tài, chúng tôi tập trung vào những tuyển thơ tuyệt cú và haiku sau:
- Tuyệt cú tam bách thủ, Cát Kiệt, Thương Dương Khanh tuyển chú, Thượng Hải cổ
tịch xuất bản xã, 1980
- One hundred famous haiku, selected and translated into English by Daniel C.
Buchanan, Japan Publications, Inc., Tokyo, 1973
- 1020 haiku in translation – The heart of Basho, Buson and Issa, translated by
Takafumi Saito, William R Nelson, BookSurge, LLC, North Charleston, South Carolina
Ngoài ra chúng tôi còn tham khảo thêm một số công trình tuyển thơ Đường, thơ tuyệt
cú và haiku được dịch sang tiếng Việt như Đường thi tuyển dịch, Basho và thơ haiku
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp cơ bản sau:
Trang 7Tuyệt cú và haiku đều là những thể loại thơ hay mà khó, haiku gần đây được đưa vàogiảng dạy trong chương trình phổ thông, trong khi tuyệt cú là thể loại xuyên suốt trongchương trình Ngữ văn – vì vậy luận án có thể làm tư liệu tham khảo hữu ích cho việc dạyhọc hai thể loại thơ ca này nói riêng và thơ cổ điển phương Đông nói chung trong nhàtrường
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận án của chúng tôi được triểnkhai thành ba chương:
Chương 1: Những tiền đề hình thành nên sự tương đồng – dị biệt của tuyệt cú vàhaiku
Chương 2: Hứng thú tự nhiên, cảm nghiệm nhân sinh và suy tư tôn giáo trong tuyệt
cú và haiku
Chương 3: Vẻ đẹp nghệ thuật thơ tuyệt cú và haiku
Chương 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH NÊN SỰ TƯƠNG ĐỒNG – DỊ
BIỆT CỦA TUYỆT CÚ VÀ HAIKU 1.1 Những tiền đề cho sự hình thành thơ tuyệt cú và haiku
1.1.1 Điều kiện lịch sử - tự nhiên
Đất nước Trung Quốc có lãnh thổ rộng lớn với sự phong phú về địa hình, sự đa dạng
về khí hậu Đó là đất nước của những dãy núi cao chót vót, những dòng sông bao la là nơikhởi phát và nuôi dưỡng nền văn minh vĩ đại, những cao nguyên rộng lớn và bình nguyênmênh mông… làm nên cảnh quan hùng vĩ và độc đáo
Nhật Bản có hình thế một chuỗi các hòn đảo tạo thành một vòng cung trải dài hơn
2400 cây số Với ¾ là núi, Nhật Bản có cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ nhưng cũng rất khắcnghiệt vì thường xuyên phải chịu thiên tai núi lửa, động đất, sóng thần Quần đảo kéo dàitrên nhiều vĩ độ khác nhau tạo nên nhiều vùng khí hậu, phần lớn lãnh thổ có bốn mùa rõ rệt
Trên cơ sở điều kiện tự nhiên ấy đã ra đời ở Trung Hoa và Nhật Bản là nền văn minhnông nghiệp Nền nông nghiệp trồng lúa khiến con người từ sớm đã gắn bó và biết quan sát
tự nhiên Cuộc sống gắn bó của tự nhiên cũng đem lại cho người Nhật năng lực cảm thụ tinh
Trang 8tế thế giới tự nhiên với nhịp điệu của bốn mùa Điều này dẫn đến hiện tượng vì sao thiênnhiên trong tuyệt cú và haiku lại có dấu ấn vô cùng đậm nét và trở thành một đề tài trở đi trởlại trong hai thể thơ này Nhưng điều kiện thiên nhiên của mỗi quốc gia mỗi khác nên hìnhbóng thiên nhiên soi vào trong tuyệt cú và haiku cũng mang những vẻ đẹp riêng
Những đặc điểm về mặt tự nhiên gắn bó mật thiết đến lịch sử của mỗi dân tộc Nếunhư đất nước Trung Hoa rộng lớn thường xuyên phải trải qua những biến động dữ dội vềmặt lịch sử - nhất là đối mặt với nạn ngoại xâm, thì vị trí ở giữa biển khiến Nhật Bản cóđược sự độc lập tương đối Trong suốt hàng ngàn năm lịch sử, Trung Quốc thường phải đốimặt với những cuộc chiến tranh xâm lược, và ngược lại, với vị trí trung tâm, nước lớn,Trung Quốc cũng thường xuyên tiến hành những cuộc chiến tranh mở rộng bờ cõi Trongkhi đó, điều kiện địa lý đã tạo nên tính chất vừa đóng vừa mở của Nhật Bản, vừa dễ tiếpnhận những yếu tố bên ngoài vừa có một nền văn minh riêng biệt Điều này lý giải tại saonhững vấn đề lớn – vấn đề vận mệnh của quốc gia, dân tộc, số phận của nhân dân trở thànhmột đề tài xuyên suốt trong văn học Trung Quốc, trong khi chúng ta thấy văn học Nhật Bản
ít đề cập đến những điều này
1.1.2 Nền tảng văn hóa – tư tưởng
Cả Trung Quốc và Nhật Bản đều nằm trong vùng văn hóa Hán ngữ Người TrungQuốc dùng chữ Hán để sáng tác thơ ca còn người Nhật Bản thì vay mượn chữ Hán để tạo ravăn tự của riêng mình, thơ ca được sáng tác dựa trên cả hai ngôn ngữ - tiếng Trung Quốc vàtiếng Nhật Bản
Thời trung đại trong văn học phương Đông luôn có sự giao dung giữa các loại hìnhnghệ thuật Trình độ văn học cực cao của thời Đường không thể không tính đến vai trò quantrọng của sự phát triển các bộ môn nghệ thuật khác, bao gồm cả hội họa, âm nhạc, vũ đạo.Thời đại của các thi nhân haiku cũng là sự tôn vinh của các loại hình nghệ thuật, tất cả hòatan vào những bài haiku tràn đầy tình thơ ý họa
Đời Đường – thời đại thơ tuyệt cú đi vào hoàn thiện và định hình thể loại - cũng làthời kỳ hoàn bị chế độ dĩ thi thủ sĩ bắt nguồn từ đời nhà Tùy, thơ ca được đề cao tột bậc, gắnvới con đường hoạn lộ của sĩ nhân Trong khi đó, thơ ca Nhật Bản lại khẳng định dấu ấn củaquý tộc, các nhà sư và tầng lớp võ sĩ samurai Cùng với điều này là mặc dù lực lượng sáng
Trang 9tác thơ ca đời Đường vô cùng phong phú, nhưng sĩ nhân vẫn giữ vai trò chủ đạo, trong khi
đó haiku khởi từ M Basho lại gắn bó nhiều hơn với các thiền sư
Gần ba trăm năm đời Đường – thời đại định thể và đạt đỉnh cao của thơ tuyệt cú - tưtưởng giữ thái độ kiêm dung, dĩ Nho vi chủ, kiêm thủ bách gia Tư tưởng Nho Phật Đạogiao dung có thể nói là đặc điểm cơ bản của tư tưởng thời Đường Nếu ở đời Đường Nho –Phật – Đạo tam giáo đồng nguyên thì thời Tokugawa nền tảng tư tưởng của văn học NhậtBản cũng là Thần – Phật – Nho tập hợp Bối cảnh bách gia tranh minh của hai thời đại đãđem lại cho tuyệt cú và haiku một tầm cao mới về mặt tư tưởng, đem lại một chiều sâu vềmặt nội dung cho hai thể thơ này
1.1.3 Sự phát triển tự thân của văn học
Từ lúc tập thơ ca đầu tiên ra đời cho đến giai đoạn của tuyệt cú và haiku, thơ caTrung Hoa và Nhật Bản đã trải qua thời kỳ dài phát triển hàng ngàn năm, đạt đến độ hoànthiện về bút pháp nghệ thuật, đạt đến chỗ mẫu mực cổ điển Chính vì vậy mà hai thể loại thơ
ca này có thể coi là đại diện tiêu biểu cho thành tựu thơ ca cổ điển của hai quốc gia
1.2 Sự hình thành thơ tuyệt cú và haiku
nhất định nào đó” với “những đặc điểm khác nhau về nhiều mặt tổng hợp như phương thứckết cấu, xây dựng hình tượng, vận dụng ngôn ngữ và thủ pháp biểu đạt” Tuyệt cú có nguồngốc sâu xa từ cổ thi và Nhạc phủ, manh nha và thời Lục triều, đến đời Đường thì thành hình
và đạt được thành tựu cổ điển mẫu mực Trải qua dòng chảy thời gian, tuyệt cú có nhữngbiến thiên để phù hợp với tinh thần của thời đại
1.2 2 Sự hình thành thơ haiku
Trang 10Haiku là thể thơ 3 câu, 5-7-5 âm tiết Cũng giống như tuyệt cú, haiku có một lịch sửlâu dài Nguồn gốc trực tiếp của haiku – tên nguyên thủy là haikai (bài hài) – là renga (liênca), bài thơ dài do nhiều người ngâm liên tiếp mà thành Haiku được cắt ra từ 3 dòng đầu 5-7-5 âm tiết của một bài tanka 31 âm tiết Bài haiku đầu tiên được tìm thấy trong một tập thơ
từ thế kỷ XIV, từ đó cũng đã xuất hiện nhiều nhà thơ sáng tác haikai cũng như nhiều trườngphái thơ ca, nhưng haiku chưa thực sự bén rễ trong dòng chảy thơ ca dân tộc Người thật sựđưa haiku đạt đến một thể thơ mẫu mực cổ điển là một nhà thơ của thế kỷ XVII – bậc thầy
vĩ đại Matsuo Basho (1644-1694)
1.2.3 Hai thể loại tinh hoa thuộc loại hình thơ cổ điển phương Đông
Trong bài viết “Mấy vấn đề nghiên cứu những nền văn học trung cổ phương Đôngtheo phương pháp loại hình”, nhà nghiên cứu B L Ríp-tin đã đưa ra cách hiểu về khái niệmloại hình như sau: “Khái niệm “loại hình” (typologie) được nêu lên trong ngành nghiên cứuvăn học với những ý nghĩa rất khác nhau – khi thì như cách xác định những con đường khácnhau của sự phát triển văn học, ngược lại, khi thì như cách khảo sát những hiện tượng giốngnhau nảy sinh trong quá trình phát triển nghệ thuật bằng ngôn ngữ Trong trường hợp này
điều làm chúng ta quan tâm hơn cả là vấn đề xác định một kiểu văn học giống nhau có tính chất tiêu biểu đối với một thời đại lịch sử” Theo cách hiểu này, tuyệt cú và haiku thật sự là một kiểu văn học giống nhau mang đậm những nét tiêu biểu của thơ cổ điển phương Đông
Haiku vừa là một thể thơ truyền thống nội sinh của Nhật Bản, nhưng cũng lại chịuảnh hưởng của Hán thi – trong đó có tuyệt cú – về mặt bút pháp, đề tài Vì vậy so sánhtuyệt cú và haiku, chúng tôi triển khai trên cả hai phương diện: vừa là so sánh song song,vừa là so sánh ảnh hưởng, từ đó thấy được những điểm tương đồng cũng như dị biệt giữahai thể thơ độc đáo này
Về phương diện loại hình, tuyệt cú và haiku đều thuộc loại hình thơ cổ điển phươngĐông Khái niệm phương Đông mà chúng tôi dùng ở đây để chỉ khu vực Đông Á với cácnước nằm trong khu vực văn hóa Hán tự bao gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên vàViệt Nam
1.3 Quan niệm thơ ca
1 3.1 Khởi từ tâm hay là bản chất trữ tình của thơ ca
Trang 11Xét về hệ thống quan niệm, Trung Hoa và Nhật Bản đều có một hệ thống quan niệmriêng, nhưng vẫn mang đậm những nét tương đồng Những tương đồng này, có phần doquan niệm về thơ ca của Nhật Bản chịu ảnh hưởng của Trung Hoa, nhưng đều xuất phát từmột tâm thức văn hóa chung trong truyền thống phương Đông, đó là đều xem trọng tính trữtình Tuy nhiên, cùng bản chất trữ tình nhưng phương thức thể hiện trong thơ ca của haiquốc gia là khác nhau Dễ dàng nhận ra tình điệu xuyên suốt thơ ca Trung Quốc vẫn là “ônnhu đôn hậu”, lúc nào cũng có một phong thái khắc kỷ xứng với người quân tử, tình cảmđược lý trí khắc chế đưa đến sự thâm trầm trong cảm xúc Điều này không xảy ra trong thơ
ca Nhật Bản Trên mảnh đất của xứ sở hoa anh đào, cảm xúc như một dòng dung nham tuônchảy tự nhiên, tình điệu cũng vì vậy mà vô cùng phong phú Ở đó nỗi bi ai không bị coi là
ủy mị, tình yêu không bị coi là nam nữ thường tình, giọt nước mắt không bị giữ lại trênkhóe mắt mà có thể chảy tự nhiên như suối tuôn ra từ mạch đất
1.3.2 Tính chính trị và tính duy mĩ
Trong bài viết “Chính trị tính dữ trữ tình tính – Trung Nhật thi ca sáng tác đích tỉ
giảo” in trong Trung ngoại tỉ giảo văn học dịch văn tập do Châu Phát Tường biên soạn, nhà
nghiên cứu văn học Nhật Bản Suzuki Shuji đã chỉ ra sự khác biệt của thơ ca hai nước là ởtính chính trị và tính trữ tình, theo đó nếu thơ ca Trung Quốc qua các thời đại luôn quan tâmđến chính trị thì thơ ca Nhật Bản lại quan tâm đến sự thể hiện tình cảm cá nhân Thật ra mànói, về bản chất cả hai nền thơ ca đều mang đậm tính chất trữ tình đặc trưng phương Đông,nhưng sự khác biệt là đối tượng để trữ tình, thơ ca Trung Quốc với truyền thống hiện thựcluôn để tâm đến chính trị - xã hội, trong khi đối tượng hướng đến của thơ ca Nhật Bản lại làcái đẹp
1.3.3 Phong cốt và vật ai – cốt tủy của trữ tình Trung Hoa và Nhật Bản
Nhà nghiên cứu Đoàn Lê Giang trong bài viết So sánh quan niệm văn học trong văn học cổ điển Việt Nam và Nhật Bản đã có nhận xét rất đúng rằng, “đặc trưng của trữ tình Nhật Bản là mononoaware, của Trung Quốc là “phong cốt”.
Có thể hiểu phong cốt chính là phong cách nghệ thuật của tác phẩm văn chươnghướng đến sự mãnh liệt tràn đầy của tình cảm gắn liền với sự mạnh mẽ cứng cáp của ngôn
từ Đây chính là một đặc trưng của thơ ca Trung Quốc Vì vậy mà thơ ca Trung Hoa có đau
Trang 12buồn nhưng không có yếu đuối, với sự khắc chế của lý trí, khiến cho thơ giữ được tinh thầnmạnh mẽ
Nhắc đến cảm thức thẩm mĩ đặc trưng của Nhật Bản, khái niệm mono no aware
thường được nói đến đầu tiên như là “khái niệm thẩm mĩ quan trọng nhất, nền tảng nhất củavăn học Nhật bản nói riêng và ý thức thẩm mĩ của dân tộc Nhật Bản nói chung” Về cơ bản
các cách hiểu hầu như thống nhất rằng mono no aware là cảm thức rung động pha nỗi buồn
trước thế giới đẹp đẽ mà mong manh
Nhìn chung, quan niệm của người Trung Quốc thiên về chuộng cái đẹp mạnh mẽ cótính chất nam tính, trong khi cái đẹp mang tính chất nữ tính lại tiêu biểu cho quan niệmthẩm mĩ của người Nhật Nhưng dù là vẻ đẹp mạnh mẽ hay u buồn, thì thơ ca của hai nước
đều khởi phát từ một chữ tâm – khởi từ tấm lòng mà có sức cảm hóa vạn vật, tuy thơ ca Trung Hoa thiên về chí – sự kiểm soát của lý trí nhiều hơn là thuần túy trữ tình như trường
hợp thơ ca Nhật Bản Tất cả những điều này sẽ chi phối trong tuyệt cú và haiku để làm nên
sự đồng điệu cũng như khác biệt giữa hai thể loại thơ ca này
CHƯƠNG 2: HỨNG THÚ TỰ NHIÊN, CẢM NGHIỆM NHÂN SINH VÀ SUY
TƯ TÔN GIÁO TRONG TUYỆT CÚ VÀ HAIKU 2.1 Hứng thú tự nhiên trong tuyệt cú và haiku
Nếu thiên nhiên chiếm địa vị danh dự trong tuyệt cú thì đạo của thơ haiku - haiku no michi - là tìm về thiên nhiên Thiên nhiên đã trở thành một phần không thể thiếu được trong
tâm hồn Nhật Bản, mà R H Blyth ghi nhận “thiên nhiên là một tôn giáo” Trong thơ haikuNhật Bản, dấu ấn thiên nhiên bốn mùa được quy định thành những kigo (quý ngữ), còntrong thơ tuyệt cú Trung Hoa, mặc dù không được quy định bắt buộc như trong haiku,nhưng nó cũng trở thành “luật bất thành văn” mà các thi nhân tìm kiếm Đó chính là cái gọi
là: “Nói đến cảnh vật, phải xem bốn mùa Khí sắc xuân hạ thu đông, tùy thời sinh ý” (Thi cách – Vương Xương Linh)
2.1.1 Vẻ đẹp ý cảnh
Theo Khái niệm và thuật ngữ lý luận văn học Trung Quốc, ý cảnh là “một cảnh giới
nghệ thuật được hình thành từ sự hài hòa giữa tự nhiên rộng lớn và bức tranh cuộc sốngtrong tác phẩm trữ tình thông qua những tình cảm và ý tứ rất phong phú, rất hàm súc củanhà văn, có thể làm cho độc giả phải tưởng tượng và suy ngẫm nhiều hơn” Ý cảnh hài hòa