Bảng 2.5 Công tác tuyển dụng, sử dụng đội ngũ GVTH vùngBảng 2.6 Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ GVTH theo yêu cầu Bảng 2.7 Đánh giá kết quả của các khóa tập huấn, bồi dưỡng chuy
Trang 1TRẦN HỒNG THẮM
QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIỂU HỌC
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG THEO YÊU CẦU
ĐỔI MỚI GIÁO DỤC HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2018
Trang 2TRẦN HỒNG THẮM
QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIỂU HỌC
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG THEO YÊU CẦU
ĐỔI MỚI GIÁO DỤC HIỆN NAY
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 9140114
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS.TS Nguyễn Xuân Tế
2 TS Ngô Đình Qua
Thành phố Hồ Chí Minh - 2018
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận án
Trần Hồng Thắm
Trang 4Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
MỞ ĐẦU
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIỂU HỌC THEO YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề quản lý đội ngũ giáo viên tiểu học theo yêu
cầu đổi mới giáo dục 10
1.2 Các khái niệm cơ bản 27
1.3 Đội ngũ GVTH theo yêu cầu đổi mới GDTH 42
1.3.1 Một số định hướng đổi mới GDTH 42
1.3.2 Chuẩn trình độ đào tạo và chuẩn nghề nghiệp GVTH 49
1.3.3 Yêu cầu về ĐNGVTH theo định hướng đổi mới giáo dục 55
1.4 Quản lý ĐNGVTH theo yêu cầu đổi mới giáo dục 58
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 75
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIỂU HỌC VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG THEO YÊU CẦU ĐỔI MỚI 2.1 Khái quát về khảo sát thực trạng quản lý ĐNGVTH vùng ĐBSCL 76
2.2 Thực trạng quản lý ĐNGVTH vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới giáo dục 90
2.2.1 Công tác quy hoạch ĐNGVTH vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới giáo dục 90
Trang 5đổi mới giáo dục 94 2.2.4 Một số nguyên nhân của thực trạng quản lý ĐNGVTH vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới giáo dục 104
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 110
Chương 3 GIẢI PHÁP QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIỂU HỌC VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG THEO YÊU CẦU ĐỔI MỚI
3.1 Một số cơ sở khoa học và nguyên tắc xây dựng các giải pháp quản lý độingũ GVTH vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới giáo dục 113
3.1.1 Một số cơ sở pháp lý của việc xây dựng các giải pháp quản lý ĐNGVTH vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới giáo dục 113 3.1.2 Một số nguyên tắc xây dựng giải pháp quản lý ĐNGVTH vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới giáo dục 117
3.2 Một số giải pháp quản lý ĐNGVTH vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới giáodục 120
3.2.1 Giải pháp 1: Hoàn thiện cơ sở pháp lý về quản lý nhà nước trong công tác quản lý ĐNGVTH vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới giáo dục 120 3.2.2 Giải pháp 2: Đổi mới công tác tuyển dụng và sử dụng ĐNGVTH vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới 125 3.2.3 Giải pháp 3: Đổi mới hoạt động đào tạo, bồi dưỡng ĐNGVTH ở vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới 132 3.2.4 Giải pháp 4: Xây dựng các điều kiện hỗ trợ công tác quản lý ĐNGVTH ở vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới giáo dục 139 3.2.5 Mối quan hệ giữa các giải pháp quản lý ĐNGVTH vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới giáo dục 142
3.3 Khảo sát tính cần thiết và khả thi của các giải pháp quản lý đội ngũ GVTHvùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới 144
Trang 6KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7Chữ viết tắt Chữ đầy đủ
CBQL Cán bộ quản lý
CĐSP Cao đẳng sư phạm
CNTT Công nghệ thông tin
CNH, HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
NCKH Nghiên cứu khoa học
Trang 8Bảng 2.5 Công tác tuyển dụng, sử dụng đội ngũ GVTH vùng
Bảng 2.6 Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ GVTH theo yêu cầu
Bảng 2.7
Đánh giá kết quả của các khóa tập huấn, bồi dưỡng chuyênmôn, nghiệp vụ cho GV theo yêu cầu đổi mới giáo dục docác cấp quản lý GD địa phương tổ chức
96
Bảng 2.8 Nhu cầu bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ của GVTH
Bảng 2.9 Công tác đánh giá đội ngũ GVTH theo yêu cầu đổi mới
Bảng 2.10 Những điều kiện cần để quản lý GVTH vùng ĐBSCL theo
yêu cầu đổi mới giáo dục hiệu quả hơn 102Bảng 2.11 Tác dụng của các chế độ chính sách hiện nay đối với việc
Bảng 2.12 Một số nguyên nhân khách quan làm hạn chế công tác
Bảng 2.13 Một số nguyên nhân chủ quan làm hạn chế công tác quản
Bảng 3.1 Đánh giá tính cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp 144
Trang 9Bảng 3.4 Kết quả đảm bảo số lượng giáo viên tiểu học đặc thù theo
Bảng 3.5 Kết quả tỉ lệ trường tiểu học đảm bảo số lượng GVTH đặc
Bảng 3.6 Kết quả tuyển dụng GVTH đạt chuẩn bằng cấp đáp ứng
yêu cầu dạy học 2 buổi/ngày ở thành phố Cần Thơ 154Bảng 3.7 So sánh xếp loại GVTH sau thực nghiệm giữa hai nhóm
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Mô hình 1.1 Quản lý nguồn nhân lực trong tổ chức của Leonard Nadle
Biểu đồ 2.1 Tình hình đội ngũ GVTH theo trình độ đào tạo 84
Biểu đồ 2.2 Ý kiến đánh giá của GV về sự cần thiết đáp ứng yêu cầu
Biểu đồ 2.3 Mức độ đáp ứng yêu cầu chuẩn nghề nghiệp theo đánh giá
Hình 3.1 Mối quan hệ giữa các giải pháp quản lý đội ngũ GVTH
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhân loại đã bước sang những thập niên đầu của thế kỷ XXI Đây là giai đoạncuộc cách mạng KHCNphát triển với những bước tiến mạnh mẽ, đưa thế giới bướcsang kỷ nguyên thông tin và nền kinh tế tri thức Sự hình thành và phát triển củanền kinh tế tri thức, xã hội thông tin sẽ tạo cơ hội cho sự phát triển giáo dục Đại hội
Đảng lần thứ XI đã đặt ra vấn đề cấp bách:“Đổi mới căn bản và toàn diện” nền
giáo dục nước nhà Quá trình đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục có tầm quantrọng đặc biệt, liên quan trực tiếp đến vận mệnh của đất nước, của dân tộc trong giaiđoạn mới Bởi vì, sức mạnh của một dân tộc, năng lực cạnh tranh của mỗi quốc giađang chuyển mạnh từ nguồn lực tài nguyên, vốn, lao động chân tay sang tri thức, trítuệ, nguồn nhân lực chất lượng cao Đó chính là sản phẩm của nền giáo dục tiêntiến, hiện đại Vì thế, nhiệm vụ đặt ra để chúng ta thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần
8 của BCH.TƯ Đảng khóa XI “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo,
đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” là đầu tư phát triển nguồn nhân
lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo đòi hỏi phải đổi mới từ gốc rễ
và đổi mới mọi mặt Căn bản (gốc rễ) của một nền giáo dục là việc xác định và thựchiện mục đích giáo dục Việc này có liên quan đến đội ngũ GV và việc quản lý độingũ ấy Bởi vì chính GV, người được giáo dục và các nhà quản lý là những ngườitrực tiếp tham gia vào hoạt động giáo dục theo mục đích đã được xác định Đổi mớitoàn diện (mọi mặt) giáo dục - đào tạo tức là đổi mới tất cả các thành tố cấu trúc củahoạt động giáo dục bao gồm: mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện, nhàgiáo dục, người được giáo dục, quản lý giáo dục
Sở dĩ phải đổi mới giáo dục là vì mục tiêu giáo dục chưa đáp ứng đầy đủ yêucầu của một xã hội công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong đó nền kinh tế đang chuyểnsang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Mục tiêu của đổi mới căn bản,
Trang 11toàn diện giáo dục là đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng được nguồn nhân lực có năng lực
để làm việc trong môi trường kinh tế thị trường có nền công nghiệp hiện đại, đápứng được các thách thức của thời đại, thừa nhận sự khác biệt, tận dụng cơ hội vàthời cơ để cùng phát triển, cùng đấu tranh giải quyết những thảm họa của thiênnhiên, chống lại những hoạt động đi ngược lại sự tiến bộ của nhân loại
GDTH là bậc học nền tảng, hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triểnnhân cách con người Chất lượng GDTH tốt là tiền đề quan trọng cho sự phát triểntoàn diện con người Việt Nam XHCN Điều 27, Khoản 2, Luật Giáo dục năm 2009cho biết: “GDTH nhằm giúp HS hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triểnđúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để
HS tiếp tục học trung học cơ sở” [94] Do vậy, người GVTH có vị trí, vai trò hếtsức quan trọng, là nhân tố quyết định trong việc xây dựng bậc TH trở thành bậc họcnền tảng, tạo điều kiện cơ bản để nâng cao dân trí và trang bị những cơ sở ban đầuhết sức quan trọng để phát triển nhân cách con người Việt Nam trong thế kỷ XXI.GVTH là người giữ vai trò chủ yếu trong việc thực hiện phổ cập GDTH Đối vớivùng cao, vùng sâu và hải đảo, GVTH là lực lượng trí thức của địa phương Khácvới các bậc học khác, mỗi lớp TH chủ yếu có một GV làm chức năng tổng thể(dạy nhiều môn), tương ứng với nhiều GV ở các bậc học khác Đối với HSTH, GV
là người có uy tín, là “thần tượng” đối với HS Lời thầy, cô giáo là sự thuyết phục,
cử chỉ của thầy, cô là mẫu mực, cuộc sống và lao động của thầy, cô là tấm gươngđối với trẻ em Điều 15 của Luật Giáo dục đã xác định: “Nhà giáo giữ vai tròquyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục” [94]
Việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, phục vụ sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa, phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế, đòi hỏi đội ngũ GV phổthông trong đó có ĐNGVTH phải có những phẩm chất đạo đức và năng lực nghềnghiệp đáp ứng mục tiêu đổi mới Với xu thế phát triển giáo dục thế giới và yêu cầuđổi mới giáo dục phổ thông, GV nói chung, GVTH nói riêng đang gặp khó khăn,thử thách trước yêu cầu mới về thay đổi vai trò, chức năng của GV: chuyển từ kiểudạy tập trung vào GV sang kiểu dạy tập trung vào HS Do vậy, việc quản lý đội ngũ
Trang 12GV đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, chất lượng ngày càng cao là một yêu cầuquan trọng hàng đầu để nâng cao chất lượng giáo dục Chỉ thị 40/CT/TW ngày 15tháng 6 năm 2004 về việc nâng cao chất lượng nhà giáo và cán bộ quản lý đã chỉ rõ:
“Phải tăng cường xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục một cách
toàn diện Đây là nhiệm vụ vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa mang tính chiến lược lâu dài” Đối chiếu với nhiệm vụ trên, ngành giáo dục đã có nhiều thành tựu to
lớn, tuy vậy vẫn còn một số bất cập trong việc đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và quản
lý đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, đặc biệt là đội ngũ GVTH, nhất là GV ởvùng ĐBSCL Việc đổi mới quản lý ĐNGVTH vùng ĐBSCL theo hướng đổi mớiđào tạo, bồi dưỡng, và sử dụng cần gắn chuẩn trình độ đào tạo của GVTH với chuẩnnghề nghiệp để GV có đủ năng lực thực hiện hiệu quả nhiệm vụ của bậc học Đồngthời, cần xác định và thực hiện nội dung đào tạo, bồi dưỡng thực hành ở trường THtrong các khóa đào tạo GV, góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi sự nghiệpgiáo dục theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 của BCH Trung ương Đảng khóa XI.Công tác quản lý ĐNGVTH theo yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay sẽ gópphần nâng cao chất lượng ĐNGVTH và nâng cao chất lượng GDTH Những nămqua, công tác quản lý ĐNGVTH vùng ĐBSCL đã đạt được nhiều thành tựu quantrọng Về số lượng, GVTH trong vùng cơ bản đáp ứng việc dạy học 1 buổi/ngày.Chất lượng ĐNGVTH từng bước được cải thiện Tuy nhiên, ĐNGVTH trong vùngchưa đáp ứng yêu cầu dạy học 2 buổi/ngày; chưa đảm bảo thực hiện mục tiêu phổcập GDTH mức độ 2… Mặt khác, trong quản lý đội ngũ GV, công tác quy hoạchđội ngũ chưa được chú trọng; việc giao quyền tự chủ cho Hiệu trưởng các trường
TH trong tuyển dụng GV chưa được thực hiện triệt để; đa số GV đạt chuẩn về trìnhđộ đào tạo nhưng chưa đáp ứng tốt yêu cầu Chuẩn nghề nghiệp GVTH và yêu cầunâng cao chất lượng giáo dục Vì thế, việc xây dựng, hoàn thiện cơ chế quản lýĐNGVTH trong quy hoạch, phân công, sử dụng hợp lý đội ngũ GV cần có các côngtrình nghiên cứu chuyên sâu
Trang 13Xuất phát từ những cơ sở nói trên, đề tài: “Quản lý ĐNGVTH vùng đồng bằng
sông Cửu Long theo yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay” được tiến hành nghiên
cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hóa cơ sở lý luận, xác định thực trạng quản lý ĐNGVTH vùngĐBSCL, xây dựng và chứng minh hiệu quả của một số giải pháp quản lýĐNGVTH vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quản lý đội ngũ giáo viên tiểu học
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý đội ngũ GVTH vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới giáo dục
4 Giả thuyết khoa học
Trong những năm qua, Quản lý ĐNGVTH vùng ĐBSCL bước đầu đã cónhững kết quả tích cực, nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, bất cập, hạn chế chưa đápứng các yêu cầu cả về số lượng và chất lượng đội ngũ Vì vậy, nếu đề xuất và triển
khai có hiệu quả các giải pháp quản lý dựa trên cơ sở lý luận quản lý đội ngũ nhân
lực, lý luận phát triển nguồn nhân lực về các lĩnh vực như quy hoạch phát triển đội
ngũ; tuyển chọn,sử dụng; đào tạo và bồi dưỡng; kiểm tra và đánh giá; xây dựng vàthực hiện chính sách ưu đãi đối với ĐNGVTH vùng ĐBSCL thì sẽ góp phần pháttriển đội ngũ ĐNGVTH vùng ĐBSCL đáp ứng yêu cầu đổi mới GD
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Xây dựng cơ sở lý luận về công tác quản lý đội ngũ GVTH theo yêu cầuđổi mới giáo dục hiện nay
5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác quản lý đội ngũ GVTH vùngĐBSCL theo yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay
5.3 Xây dựng và chứng minh hiệu quả của một số giải pháp quản lýĐNGVTH vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay
6 Phạm vi nghiên cứu
Trang 14Luận án này tập trung nghiên cứu:
- Các giải pháp quản lý ĐNGVTH vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới giáodục giai đoạn 2013 - 2015 của cơ quan quản lý là các Sở Giáo dục & Đào tạo,Phòng Giáo dục & Đào tạo thuộc Sở, Hiệu trưởng trường TH
- Chỉ nghiên cứu thực trạng công tác quản lý ĐNGVTH theo yêu cầu đổi mớigiáo dục tại thành phố Cần Thơ, tỉnh Vĩnh Long, tỉnh Trà Vinh và tập trung vào cácchủ thể quản lý đã xác lập
- Thực nghiệm biện pháp quản lý ĐNGVTH theo yêu cầu đổi mới giáo dục tạithành phố Cần Thơ
7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp luận nghiên cứu
7.1.1 Quan điểm hệ thống - cấu trúc
Theo cách tiếp cận hệ thống - cấu trúc, mọi sự vật, hiện tượng đều tồn tại dướidạng một hệ thống với các yếu tố hợp thành, có liên hệ với nhau Hệ thống khôngtồn tại độc lập mà có liên hệ với các hệ thống khác
Vận dụng cách tiếp cận này vào đề tài, việc quản lý ĐNGVTH vùng ĐBSCLtheo yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay có thể được xem như là một hệ thống vớicác yếu tố hợp thành như: chủ thể quản lý, mục tiêu quản lý, nội dung quản lý, biệnpháp quản lý, chức năng quản lý, đối tượng quản lý, khách thể quản lý, kết quả quản
lý Hệ thống này còn có quan hệ với các hệ thống khác như: công tác quản lý tàichính, quản lý cơ sở vật chất, quản lý hoạt động chuyên môn,…
7.1.2 Quan điểm lịch sử - logic
Quan điểm lịch sử - logic trong khoa học giáo dục đòi hỏi người nghiên cứuphải thực hiện quá trình nghiên cứu đối tượng bằng phương pháp lịch sử, tức là tìmhiểu, phát hiện sự nảy sinh, phát triển của đối tượng trong những khoảng thời gian
và không gian cụ thể với những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể để phát hiện cho đượcquy luật tất yếu của quá trình giáo dục
Với cách tiếp cận này, nghiên cứu công tác quản lý ĐNGVTH ở vùng ĐBSCLtrong giai đoạn 2012 - 2015, theo yêu cầu đổi mới giáo dục Tiếp cận logic đòi hỏi
Trang 15phải thể hiện mối liên hệ giữa các phần của luận án cũng như mối liên hệ giữa cácgiải pháp quản lý và các biện pháp trong từng giải pháp quản lý.
7.1.3 Quan điểm thực tiễn
Quan điểm thực tiễn đòi hỏi phải dựa vào thực tiễn để tìm kiếm các giải pháp
để giải quyết vấn đề của thực tiễn Đó là thực tiễn về nhận thức, thực trạng quản lýĐNGVTH vùng ĐBSCL, nguyên nhân của thực trạng công quản lý ĐNGVTH vùngĐBSCL theo yêu cầu đổi mới giáo dục
Các giải pháp quản lý ĐNGVTH vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới giáo dụcđược đề xuất cũng xuất phát từ thực tiễn và đảm bảo tính khả thi dựa trên điều kiệncủa vùng ĐBSCL cũng như yêu cầu của đổi mới giáo dục hiện nay
7.2 Phương pháp nghiên cứu
7.2.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
7.2.1.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết
Phương pháp này được sử dụng để phân tích, tổng hợp các nguồn tài liệu lýluận có liên quan đến công tác quản lý ĐNGVTH nhằm nhận xét, tóm tắt và tríchdẫn phục vụ trực tiếp đề tài bao gồm:
- Các tác phẩm kinh điển của Chủ nghĩa Mác - Lênin, văn kiện của Đảng, cóliên quan đến luận án Các tác phẩm về Tâm lý học, Giáo dục học, Khoa học quản
lý giáo dục, Quản trị nguồn nhân lực trong giáo dục, GDTH… trong và ngoài nước
- Các công trình nghiên cứu khoa học quản lý giáo dục của các nhà lý luận,các nhà quản lý giáo dục, các nhà giáo… có liên quan đến đề tài như: luận án, báocáo khoa học, các chuyên khảo, các bài báo, tham luận khoa học
7.2.1.2 Phương pháp phân loại, hệ thống hóa lý thuyết
Phương pháp này được sử dụng để phân loại, sắp xếp các tài liệu lý luận vềcông tác quản lý ĐNGVTH theo thời gian, theo không gian, phục vụ cho việc trìnhbày phần Tổng quan nghiên cứu
7.2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
* Mục đích
Trang 16Phương pháp này sử dụng nhằm thu thập ý kiến các nhóm khách thể về thựctrạng công tác quản lý ĐNGVTH vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới giáo dục Ngoài ra, cũng sử dụng phương pháp này để khảo nghiệm tính cần thiết và khảthi của các giải pháp đề xuất trong đề tài
* Nội dung khảo sát
Khảo sát thực trạng công tác quản lý ĐNGVTH vùng ĐBSCL theo yêu cầuđổi mới giáo dục
Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các giải pháp đề xuất quản lýĐNGVTH vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới giáo dục
* Đối tượng khảo sát:
GV, CBQL quản lý giáo dục ở địa phương, cơ sở GDTH vùng ĐBSCL.7.2.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp này để chứng minh hiệu quả của biện pháp thực nghiệm quản
lý ĐNGVTH theo yêu cầu đổi mới giáo dục với mô hình thực nghiệm cụ thể
* Nội dung thực nghiệm
Áp dụng giải pháp “Đổi mới hoạt động đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ GVTH”,trong đó tập trung vào hai biện pháp cụ thể: Lập kế hoạch hoạt động đào tạo, bồi
Trang 17dưỡng GVTH ở khu vực ĐBSCL và Đổi mới công tác tuyển dụng và sử dụngĐNGVTH ở khu vực ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới giáo dục.
Trên cơ sở đó, luận án đề xuất 4 giải pháp quản lý ĐNGVTH vùng ĐBSCL đáp ứng yêu cầu đổi mới GD bằng việc giải quyết các mâu thuẫn, tháo gỡ khó khăn
và khắc phục bất cập từ thực trạng quản lý ĐNGVTH vùng ĐBSCL hiện nay,
đồng thời khẳng định và luận giải về tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp
đã được đề xuất cùng với việc triển khai thực nghiệm hiệu quả thực tiễn của giảipháp lập kế hoạch hoạt động ĐT, BD ĐNGVTH và đổi mới công tác tuyển dụng, sửdụng ĐNGVTH vùng ĐBSCL góp phần nâng cao chất lượng GVTH trong bối cảnhđổi mới giáo dục
Trang 19CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIỂU HỌC THEO
YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề quản lý đội ngũ giáo viên tiểu học theo yêu cầu đổi mới giáo dục
1.1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề quản lý đội ngũ giáo viên tiểu học ở nước ngoài
1.1.1.1 Một số nghiên cứu về công tác phát triển GV, yêu cầu đối với người
GV trong hoạt động dạy học - giáo dục
Có thể nói, những nghiên cứu về công tác phát triển GV, yêu cầu đối vớingười GV trong hoạt động dạy học - giáo dục được triển khai ở nhiều quốc gia trênthế giới trong một khoảng thời gian dài Vì thế, việc chọn lọc những nghiên cứu vềcông tác phát triển GV, yêu cầu đối với GV trong hoạt động dạy học - giáo dụcđược nhìn nhận tổng thể dựa trên luận điểm đặt nó vào trong bối cảnh phát triển
Đầu tiên, có thể điểm qua những nghiên cứu về công tác phát triển GV, yêucầu đối với GV trong hoạt động dạy học trên bình diện chung
Nền giáo dục quốc tế đang có những thành tựu đáng kể trong đổi mới từ cấp vĩ
mô như triết lý giáo dục, các xu hướng đào tạo nguồn nhân lực đến cấp vi mô nhưđổi mới từng cấp học trong hệ thống giáo dục, đổi mới cách tiếp cận trong thiết kếchương trình, đổi mới trong thiết kế các phương thức đánh giá, kiểm định chấtlượng giáo dục, đổi mới quản lý giáo dục theo hướng phân cấp Từ nửa cuối thế kỷ
XX, trên thế giới tồn tại hai mô hình đào tạo và quản lý GV chủ yếu là đào tạo GVtrong các trường đại học đa ngành và đào tạo GV trong các trường đại học sư phạm.Các trường đại học tổng hợp lớn như Oxford, Cambridge (Anh), Tokyo, Hiroshima(Nhật), Harvard, Stanford, Texas (Hoa Kỳ), Victoria (Canada), đại học Sydney,New-England (Australia), các trường đại học quốc gia ở Singapore, Hong Kong…đều có các khoa giáo dục đào tạo GV cùng với việc quản lý một cách khoa họcnguồn nhân lực trong quá trình đào tạo Nét đặc trưng của mô hình này là đào tạo
Trang 20kiến thức chuyên môn từ 3 đến 5 năm, sau đó sinh viên được đào tạo các kiến thức
và kỹ năng nghiệp vụ sư phạm [51, tr.12] Những sinh viên tốt nghiệp được quản lý
gián tiếp trong sự phối hợp với nơi họ công tác và các hiệp hội nghề để tiếp tục bồidưỡng, không ngừng phát triển nhằm đáp ứng yêu cầu luôn đổi mới của nhiệm vụgiáo dục Đây là một kinh nghiệm trong công tác đào tạo, sau đào tạo ở một số quốcgia, trường đại học để đảm bảo chất lượng cho đội ngũ GV với thực tiễn nghềnghiệp
Ở các nước phát triển, yêu cầu và tiêu chí về chất lượng GV cũng được đặt ratrước xu thế phát triển giáo dục - đào tạo và nhu cầu tăng trưởng kinh tế Vì thế,nhiều nước trên thế giới rất quan tâm đến chất lượng đội ngũ GV và các biện pháp
để đào tạo - bồi dưỡng trong tiến trình quản lý Có thể đề cập đến một số công trình:Nghiên cứu của các nước thành viên OECD chỉ ra các phẩm chất cần có đốivới GV, đó là: 1) Kiến thức phong phú về phạm vi chương trình và nội dung bộmôn mình dạy; 2) Kỹ năng sư phạm, kể cả việc có được “kho kiến thức” về phươngpháp giảng dạy, về năng lực sử dụng những phương pháp đó; 3) Có tư duy phản ánhtrước mỗi vấn đề và có năng lực tự phê, nét rất đặc trưng của nghề dạy học; 4) Biếtcảm thông và cam kết tôn trọng phẩm giá của người khác; 5) Có năng lực quản lý, kể
cả trách nhiệm quản lý trong và ngoài lớp học [84] Rõ ràng, đây là những nội dungliên quan đến việc bồi dưỡng đội ngũ GV nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới của giáo dục.Điều này trở thành kinh nghiệm quan trọng có thể sử dụng trong luận án
Michel Develay, trong tác phẩm Một số vấn đề về đào tạo GV đã quan niệm:
“Ðào tạo GV mà không làm cho họ có trình độ cao về năng lực tương ứng khôngchỉ với các sự kiện, khái niệm, định luật, lý thuyết, hệ biến hóa của môn học đó, mà
còn cả với khoa học luận của chúng là không thể được” [37] Ở tác phẩm này,
Michel Develay đã bàn về các vấn đề như: quan niệm, nội dung, phương thức đàotạo, tính chất và bản sắc nghề nghiệp của GV… Từ đây, có thể nhận thấy khuynhhướng nghiên cứu về quản lý đội ngũ GV là một trong những hướng nghiên cứuđược quan tâm khá nhiều trên thế giới
Trang 21Khi đề cập đến phát triển đội ngũ GV, một số nghiên cứu gần đây đề cao việcthúc đẩy phát triển bền vững và sự thích ứng nhanh của GV Với sự xuất hiện củacác công nghệ dạy học hiện đại, sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật thìyêu cầu về vai trò và chức năng của người thầy càng trở nên cấp thiết Vấn đề đặt ra
là GV phải thích ứng cao trước yêu cầu đổi mới Theo Daniel R.Beerens, Nhà giáokhông chỉ là nhà chuyên môn, mà còn là nhà lãnh đạo (trong lãnh đạo hoạt độnghọc tập của HS) [117] Luận điểm này cho thấy phát triển bền vững GV là tráchnhiệm của bản thân nhà giáo nhưng đó cũng chính là trách nhiệm của những cơ sở
sử dụng nguồn nhân lực này nếu muốn đảm bảo hiệu quả giáo dục HS
Theo tổng kết của UNESCO sự thay đổi vai trò của người GV đang diễn ratheo hướng:
(1) Người GV phải đảm nhiệm nhiều chức năng hơn so với trước và cótrách nhiệm nặng hơn trong việc lựa chọn các nội dung dạy học và giáodục; (2) Vai trò của người GV đang chuyển mạnh từ chỗ truyền thụ kiếnthức sang tổ chức việc học tập của HS; (3) Coi trọng hơn việc cá biệt hóatrong học tập của HS và thay đổi tính chất trong quan hệ thầy trò; (4)Yêu cầu người GV phải biết sử dụng rộng rãi các phương tiện dạy họchiện đại, do đó đặt ra yêu cầu trang bị thêm các kiến thức và kỹ năng cầnthiết; (5) Yêu cầu hợp tác rộng rãi và chặt chẽ hơn các GV cùng trường,thay đổi cấu trúc trong mối quan hệ giữa các GV với nhau; (6) Yêu cầuthắt chặt hơn các mối quan hệ với cha mẹ HS và cộng đồng nhằm gópphần nâng cao chất lượng cuộc sống; (7) Yêu cầu người GV phải thamgia các hoạt động rộng rãi trong và ngoài nhà trường; giảm bớt và làmthay đổi kiểu uy tín truyền thống trong quan hệ đối với HS, nhất là đốivới HS lớn và với cha mẹ HS [111]
Trên cơ sở này, có thể thấy việc quản lý đội ngũ GV nhằm phát triển GV làtrách nhiệm của nhà quản lý trường học cũng như lực lượng khác có liên quan
Kế đến, vấn đề quản lý đội ngũ GV theo chuẩn nghề nghiệp cũng đã đượcnghiên cứu theo nhiều góc độ khác nhau Đây cũng là một trong những khuynh
Trang 22hướng có liên quan chặt đến quản lý đội ngũ GV Vì nếu chuẩn nghề nghiệp trởthành công cụ quản lý thì bất kỳ sự vận động nào của chuẩn cũng kéo theo sự thayđổi nhất định trên bình diện quản lý đội ngũ GV.
Tại Hoa Kỳ, sau Hội thảo Camegie về “Giáo dục và ảnh hưởng của
nhiệm vụ kinh tế vào trong giảng dạy” (1987), NBPTS (National Board
of Professional Teaching Standards) đưa ra nguyên tắc định hướng nghề
nghiệp: Thầy giáo cần phải biết và cần phải làm cái gì? Theo đó, sứ mệnh tương lai nhà giáo cần đạt tới gồm 5 vấn đề cốt lõi là: kiến thức, kỹ
năng, phẩm chất, thái độ và niềm tin Đây là sự bảo đảm giá trị của mộtnhà giáo quốc gia Người thầy cần: biết tận tâm với HS và sự học hành;hiểu biết và làm chủ môn học, có sự liên hệ với các môn khác; có nềntảng tri thức, văn hóa chung để hiểu giới trẻ, biết ứng xử và bắt nhịp vớithời đại Người thầy cần làm: giảng dạy, quản lý, kiểm tra đánh giá việchọc của HS; khám phá phân loại khả năng và tôn trọng năng lực cá nhântrong dòng chảy chung của sự phát triển cộng đồng và xã hội; thầy giáophải là thành viên đáng tin cậy của cộng đồng học tập [74]
Có thể nói ý tưởng này là vấn đề khá quan trọng khi không chỉ ngay trongtrường đào tạo GV mà đến khi công tác, quản lý đội ngũ cần quản lý các phẩm chất,
kỹ năng nghề nghiệp nếu muốn đảm bảo hiệu quả giáo dục
Tại Australia, các nhà nghiên cứu giáo dục đã lập ra hệ thống các tiêu chuẩnđối với GV với 12 tiêu chí: (1) Thiết lập những kinh nghiệm học linh động và sángtạo cho các cá nhân và các nhóm; (2) Đóng góp vào việc phát triển ngôn ngữ, khảnăng đọc viết và toán; (3) Xây dựng những kinh nghiệm học tập mang tính thửthách về mặt trí tuệ; (4) Xây dựng những kinh nghiệm học tập phù hợp, có mối liênkết với thế giới bên ngoài trường học; (5) Xây dựng những kinh nghiệm học tậpmang tính tổng quát và có sự tham gia; (6) Kết hợp công nghệ thông tin và liên lạc
để tăng hiệu quả việc học của HS; (7) Đánh giá và báo cáo việc học của HS; (8) Hỗtrợ việc phát triển và tham gia xã hội của thanh niên; (9) Tạo ra môi trường học tập
an toàn và mang tính hỗ trợ; (10) Xây dựng những mối quan hệ với cộng đồng rộng
Trang 23lớn hơn; (11) Đóng góp vào những nhóm nghề; (12) Tham gia thực hiện những hoạtđộng nghề giáo Đây là cơ sở quan trọng để quản lý nghề giáo mà người GV cầnkhông ngừng hoàn thiện để đáp ứng Chính vì thế, đội ngũ GV cần được vạch rachiến lược hay kế hoạch phát triển, phải thực thi hành động phát triển, kiểm tra việcphát triển cũng như đánh giá công tác phát triển này
Nhiều nghiên cứu cho thấy, công tác quản lý chất lượng đội ngũ GV nói riêng,đội ngũ lao động ở các ngành nghề khác nói chung đều dựa trên Chuẩn nghềnghiệp Chẳng hạn, ở Anh, Bỉ, Australia, Canada, Chuẩn nghề nghiệp đã được BộGiáo dục và Đào tạo công bố Các cơ quan quản lý sẽ căn cứ vào đó để xây dựngchương trình đào tạo GV, các trường học và GV sẽ căn cứ vào đó đưa ra chươngtrình bồi dưỡng và tự bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụđáp ứng yêu cầu phát triển ở các nước đó [86]
Nhìn chung, các nghiên cứu nước ngoài đã đề cập đến việc phát triển đội ngũ
GV, yêu cầu đối với GV trong hoạt động dạy học - giáo dục Một trong những kinhnghiệm nổi bật là GV phải làm chủ được môn học (nội dung), thu hút được HStham gia học tập (phương pháp), đánh giá được việc học của HS (mục tiêu) trongtiến trình phát triển nghề nghiệp Nói cách khác, việc phát triển đội ngũ GV đượcnhững nhà quản lý giáo dục cũng như bản thân nhà giáo phải tích cực thực hiệnnhằm đáp ứng những yêu cầu của nghề nghiệp, của xã hội không ngừng phát triển
1.1.1.2 Một số nghiên cứu về quản lý GVTH
Trước hết, có thể đề cấp đến thực tiễn đào tạo và quản lý GVTH ở một sốquốc gia để nhận thấy biện pháp quản lý GVTH được triển khai một cách cụ thể.Nhật Bản
Nhật Bản là quốc gia có sự phát triển kinh tế vượt bậc trong nhiều thập kỷ qua.Những năm 1980, Nhật Bản đã đặt ra cho hệ thống giáo dục hai vấn đề lớn: 1) Giáodục phải được phát triển như thế nào để bảo đảm vị trí siêu cường về kinh tế - kỹthuật của Nhật Bản khi bước vào thế kỷ XXI; 2) Làm thế nào để giữ gìn và phát huytruyền thống Nhật Bản trong quá trình hiện đại hóa đất nước Để thực hiện hai vấn
đề trên, Nhật Bản đã có nhiều chính sách trong quản lý đội ngũ GVTH: thực hiện
Trang 24nhất quán chính sách ưu đãi và chăm lo đến cuộc sống và trình độ của GV GVTH
có một vị trí rất quan trọng trong đời sống xã hội, GV được quan tâm ưu đãi nhiều
về lương bổng, phụ cấp, tiền thưởng, miễn các khoản đóng góp nghĩa vụ xã hội.GVTH được đào tạo, bao gồm GV dạy nhiều môn và GV dạy các môn đặc thù nhưnội trợ, âm nhạc Các nhà quản lý luôn tạo môi trường để GV cải thiện sự hiểu biếtcủa bản thân như học tập, bồi dưỡng để nâng cao trình độ [54, tr.447] Kinh nghiệm
về việc nhà quản lý cần tạo môi trường để GV cải thiện sự hiểu biết, nghề nghiệp làđiều dễ dàng nhận thấy để có thể bổ sung vào hành động của đội ngũ quản lýGDTH trong đề tài nghiên cứu này
Singapore
Singapore luôn dành cho GDTH một sự quan tâm đặc biệt, chính sách pháttriển và nâng cao chất lượng ĐNGVTH là một minh chứng sinh động ĐNGVTHcủa Singapore hầu hết đạt trình độ đại học hoặc thạc sĩ Bộ Giáo dục trực tiếp quản
lý đội ngũ GV và đội ngũ quản lý nhà trường Trong đào tạo, GVTH được đào tạo
từ hai nguồn cơ bản: 1) Đào tạo trực tiếp từ các Viện Sư phạm; 2) Tuyển dụng từcác ngành nghề ngoài sư phạm để đào tạo GV Những người đã có bằng cấp về cácngành nghề khác muốn trở thành GV phải qua một khóa đào tạo sư phạm 3 năm.Công tác bồi dưỡng GVTH được xác định là một trong những nhiệm vụ hết sứcquan trọng của giáo dục Singapore nhằm không ngừng nâng cao năng lực chuyênmôn và phẩm chất nghề nghiệp của GV Hàng năm, GVTH phải tham gia và hoànthành khóa bồi dưỡng là 100 giờ GVTH phải luôn đổi mới phương pháp dạy họcnhằm đáp ứng nhu cầu học tập của các đối tượng HS từ các vùng miền khác nhau[86] Điều này cho thấy công tác bồi dưỡng GVTH ở Singapore trở thành một giảipháp thường xuyên để quản lý đội ngũ GVTH Nếu so sánh với định hướng nghiêncứu của đề tài, muốn đảm bảo quản lý đội ngũ GV đáp ứng yêu cầu đổi mới giáodục thì không những cần đảm bảo việc bồi dưỡng thường xuyên hàng năm mà cầnđầu tư có trọng điểm, thật sự hiệu quả thì đội ngũ mới có thể đáp ứng được nhữngyêu cầu mới về giáo dục
Pháp
Trang 25Pháp đã tiến hành một loạt những cải cách về giáo dục nhằm làm cho giáo dụcđáp ứng những yêu cầu mới của đất nước và phù hợp với xu thế toàn cầu hóa vàothế kỷ XXI GVTH là cấp học có tính chất bắt buộc Trong quản lý đội ngũ GV,Pháp tập trung vào việc đổi mới phương pháp dạy học, người GV phải hướng vàoviệc giúp đỡ từng HS, cá biệt hóa trong dạy học, HS được rèn luyện theo đà pháttriển phù hợp nhất với các nhu cầu và khả năng của từng em Trong đào tạo GVTH,các cấp quản lý quan tâm đến phát triển đại học nhằm mở rộng đào tạo GVTH cótrình độ đại học [82, tr.253] Bên cạnh đó, cũng như các nước phát triển khác, chủtrương phân cấp, phân quyền trong quản lý giáo dục ở nước Pháp cũng được thểhiện rõ trong những thập niên gần đây Hiệu trưởng các trường có nhiều quyềnquyết định và linh hoạt hơn trong công tác điều hành Địa vị của nhà giáo đã đượcnâng cao, GVTH rất tự hào về nghề nghiệp của mình [43] Đây là một trong nhữngkinh nghiệm có thể ứng dụng trong đề tài nghiên cứu này vì nếu người quản lý ýthức được vai trò, vị trí cũng như quyền hạn của mình, công tác quản lý đội ngũ sẽđược tiến hành một cách có hiệu quả, có chất lượng trong sự tự tin, tự chịu tráchnhiệm, có tư duy, sáng tạo.
Phần Lan
Nền giáo dục hiện đại của Phần Lan luôn được xếp vào nhóm hàng đầu thếgiới Trong quản lý đội ngũ GVTH, Phần Lan đòi hỏi GV trong hệ thống giáo dụctoàn diện phải đạt trình độ thạc sĩ trở lên GV dạy TH (từ lớp 1 đến lớp 6) phải cótrình độ thạc sĩ giáo dục (Master of Education - M.Ed) GV đứng lớp ở TH được xãhội hết sức coi trọng Chính vì thế, GVTH ở Phần Lan được chọn từ những ngườithật sự đam mê, tâm huyết và đa tài, có kỹ năng sư phạm tuyệt vời GV không chỉ lànhà giáo đơn thuần mà còn là nhà nghiên cứu độc lập về giáo dục, GVTH được xem
là “người đem lại ánh sáng” cho cộng đồng Trong phân cấp, GVTH được giaoquyền tự chủ cao trong soạn giảng, tự do sáng tạo trong nghề nghiệp, nhưng cótrách nhiệm phát triển hơn nữa kinh nghiệm trong nghề dạy học Trong công tác bồidưỡng GV, Phần Lan có nhiều cơ quan giáo dục tổ chức các khóa bổ túc và bồi
Trang 26dưỡng GV, nhằm đảm bảo GV liên tục được cập nhật kiến thức và phương phápgiảng dạy mới nhất để có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ [43].
Như vậy, công tác quản lý đội ngũ GV theo chuẩn nghề nghiệp là xu hướngchung của các nước trên thế giới Quản lý theo chuẩn nghề nghiệp là quản lý nănglực nghề nghiệp của GV trong cả quá trình từ khi được đào tạo đến suốt thời gianlàm nghề dạy học Đặc biệt là tập trung vào việc đánh giá và tự đánh giá năng lựcnghề nghiệp của GV theo chuẩn [85] Nói cách khác, thực chất của việc này là đánhgiá khả năng tổ chức và thực hiện các hoạt động giảng dạy, giáo dục của GV saocho phù hợp với mục tiêu và hiệu quả GDTH Đây cũng là công cụ để đo năng lựcnghề nghiệp, là cơ sở để GV xây dựng kế hoạch tự học, tự bồi dưỡng
* Quá trình đào tạo kết hợp với quản lý GV
Ở các nước phương Tây, quá trình đào tạo và quản lý được chia làm ba giaiđoạn: đào tạo và quản lý ban đầu (initial teacher training), đào tạo và quản lý tập sự(induction training) và quản lý trong phát triển nghề nghiệp (continuing professtiondevelopment) Đào tạo ban đầu là thời kỳ học chính quy trong trường sư phạm theothời gian quy định bắt buộc có sự quản lý chặt chẽ Đào tạo tập sự là thời kỳ thựctập quy định cho GV mới vào nghề từ 12 đến 24 tháng Sau đó SV được cấp chứngchỉ hành nghề dạy học Phát triển nghề nghiệp là giai đoạn từ khi bắt đầu làm GVđến khi không còn dạy học Đây là giai đoạn cần phải quản lý và phân công hợp lýnhằm phát huy tối đa khả năng của mỗi người
Song song với những kinh nghiệm về quản lý GVTH ở các nước trên thế giới,
có thể đề cập đến một số nghiên cứu có liên quan đến vấn đề quản lý ĐNGVTHthông qua các nghiên cứu cụ thể, các mô hình quản lý đội ngũ cụ thể:
Theo Michel Develay, muốn nâng cao chất lượng, công tác đào tạo - bồidưỡng GV phải tuân thủ những yêu cầu nhất định Đào tạo phải dành sựquan tâm đến hoạt động nghề nghiệp của GV Nhiệm vụ chủ yếu của GV
là giáo dục, giảng dạy Vì vậy, GV phải có kiến thức, kỹ năng tổ chứchoạt động học tập theo mục đích giáo dục Kết hợp chặt chẽ kiến thứctrong lĩnh vực chuyên môn, kiến thức thực tế với kiến thức về lý luận
Trang 27dạy học để chọn cách dạy, cách học phù hợp nhất với đối tượng củamình Công tác đào tạo phải chấp nhận nguyên tắc điều chỉnh, bổ sung
để gắn chặt kiến thức kỹ năng đào tạo với các yêu cầu thực tiễn giảngdạy của GV, giúp họ có năng lực hoàn thành nhiệm vụ cơ bản trong giáodục dạy học [37, tr.9]
Có thể nói đây là cơ sở quan trọng để điều chỉnh việc bồi dưỡng GV trongthực tiễn ở Việt Nam để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
Các quốc gia trên thế giới đều có nhiều mô hình quản lý GV theo những tiêuchuẩn cụ thể Tăng trưởng kinh tế cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học
và công nghệ đã làm biến đổi giáo dục một cách cơ bản Cơ cấu lao động xã hộithay đổi làm cho giáo dục cũng phải thay đổi Nội dung chương trình giảng dạytrong nhà trường phải có sự điều chỉnh cho phù hợp Cùng tham gia vào quá trìnhdạy học, các phương tiện, kỹ thuật dạy học hiện đại đã có những đóng góp khôngnhỏ vào quá trình đổi mới phương pháp dạy học Những yêu cầu về đào tạo, bồi
dưỡng và cơ cấu lại ĐNGVTH theo hướng chuẩn hóa để có thể phát huy được hiệu
quả đang được hầu hết các quốc gia trên thế giới quan tâm Là bậc học đầu tiên, yêucầu quản lý ĐNGVTH phải không ngừng cập nhật kiến thức mới, đòi hỏi của xã hội
để GVTH có thể làm tốt nhất chức năng giáo dục và dạy học [13]
Các nghiên cứu ngoài nước cho thấy công tác quản lý ĐNGVTH theo hướngnâng cao chất lượng đang được quan tâm nhằm đáp ứng yêu cầu mới về chức năng
và nhiệm vụ của GV Công tác quản lý ĐNGVTH không thể chỉ quản lý về hànhchánh mà cần quản trị con người theo khuynh hướng phát triển Trên cơ sở này,quan niệm về quản lý ĐNGVTH theo định hướng phát triển tối đa về năng lực, hoànthiện phẩm chất nghề nghiệp trong đó có chú trọng khai thác kinh nghiệm nghềnghiệp và kỹ năng tổ chức dạy học hiện đại được chú trọng
Tóm lại các nghiên cứu trên thế giới về quản lý đội ngũ GVTH được khai tháckhá rộng nhưng trọng điểm của hướng nghiên cứu vẫn đề cập đến việc quản lý độingũ GVTH theo chuẩn nghề nghiệp, quản lý đội ngũ GVTH theo sự phát triểnkhông ngừng của xã hội và nghề nghiệp Các nội dung trong quản lý đội ngũ GVTH
Trang 28được đề cập nhiều nhất vẫn là đào tạo - bồi dưỡng và kích thích nhu cầu tự đào tạo,
tự hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp không ngừng nâng cao, đổi mới
1.1.2 Tổng quan nghiên cứu vấn đề quản lý đội ngũ GVTH ở trong nước
1.1.2.1 Một số nghiên cứu về quản lý đội ngũ GV
Lịch sử nghiên cứu vấn đề phát triển đội ngũ GV gắn liền với lịch sử phát triểngiáo dục Việt Nam Hơn năm mươi năm xây dựng và phát triển, nền giáo dục nước
ta đã xây dựng được một hệ thống giáo dục liên thông và hoàn chỉnh từ giáo dụcmầm non đến giáo dục đại học đáp ứng nhu cầu nâng cao dân trí, nhu cầu nhân lực
và nhân tài của xã hội Vấn đề phát triển đội ngũ GV đã được Bác Hồ, Đảng và Nhànước ta hết sức quan tâm
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nếu không có thầy giáo thìkhông có giáo dục” Người còn chỉ rõ vai trò và ý nghĩa của nghề dạyhọc: “Có gì vẻ vang hơn là đào tạo những thế hệ sau này tích cực gópphần xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”, “các thầy cô giáo cónhiệm vụ nặng nề và vẻ vang là đào tạo cán bộ cho dân tộc”, “các cô, các chú
đã thấy trách nhiệm to lớn của mình, đồng thời cũng thấy khả năng của mìnhcần được nâng cao thêm lên mãi mới làm tròn nhiệm vụ” [87]
Thực hiện tư tưởng của Hồ Chủ tịch, hơn nửa thế kỷ qua, Đảng và Nhà nướckhông ngừng quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng và phát triển độingũ GV, trong đó tập trung vào các nghiên cứu về quản lý đội ngũ GV Nhiềunghiên cứu về quản lý đội ngũ GV triển khai dưới sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục vàĐào tạo Đây cũng là một trong những mối quan tâm của toàn xã hội và là vấn đềtrọng yếu trong chính sách giáo dục của Đảng và Nhà nước ta hiện nay Nghị quyết
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã xác định:“Hoàn thiện cơ chế, chính sách và
luật pháp để bảo đảm sự nghiệp giáo dục phát triển ổn định, chất lượng, hiệu quả đáp ứng nhu cầu về con người và nguồn nhân lực cho đất nước phát triển nhanh và bền vững” [2] Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2011-2020 khẳng định
“phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là khâu then chốt” [33].
Trang 29Đầu thế kỉ XXI đến nay, nền giáo dục thế giới có những bước tiến lớn vớinhiều thành tựu mọi mặt Hầu hết các quốc gia nhận thức được sự cần thiết và cấpbách phải đầu tư cho giáo dục Đầu tư cho giáo dục được coi là đầu tư có lãi nhấtcho tương lai của mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng, mỗi gia đình và mỗi cá nhân Haimươi năm gần đây đã có rất nhiều sách, báo, đề tài, luận án, luận văn nghiên cứu vềgiáo dục, dạy học ở các cấp từ TH đến đại học, trong đó có những công trình nghiêncứu về giáo dục - đào tạo trong các trường sư phạm Có thể đơn cử một số luận án
và đề tài nghiên cứu như: Luận án tiến sĩ giáo dục học “Các giải pháp phát triển độingũ GV THCS trong giai đoạn CNH, HĐH đất nước” của Lê Khánh Tuấn (2005),Trường ĐHSP Hà Nội [107]; Đề tài trọng điểm cấp Bộ của Nguyễn Thị Quy (2007)
“Các giải pháp bồi dưỡng để nâng cao chất lượng ĐNGVTH ĐBSCL”, ViệnNghiên cứu Giáo dục - Trường ĐHSP TP.HCM [95]; Luận án tiến sĩ giáo dục học
“Bồi dưỡng năng lực sư phạm cho GVTH dân tộc Khmer tỉnh Bạc Liêu” củaNguyễn Văn Tấn (2011), Đại học Sư phạm Hà Nội [100],…
Tác giả Trần Ngọc Giao thực hiện đề tài nghiên cứu cấp bộ “Các giải pháp cơ
bản đổi mới quản lý giáo dục” cũng đề xuất giải pháp đổi mới quản lý giáo dục phổ
thông, đặc biệt là đổi mới quản lý nguồn nhân lực phổ thông hiện nay [49]
Trong 25 năm trở lại đây các tác giả nghiên cứu về GV đã tập trung vào vấn đề
lý luận và tổng kết thực tiễn về đào tạo, bồi dưỡng GV, đánh giá thực trạng đội ngũ
GV về động lực của nhà giáo, về lao động của GV; trên cơ sở đó thiết kế các chươngtrình bồi dưỡng thường xuyên cho GV các cấp học; đề xuất các biện pháp đổi mớihình thức tổ chức và phương pháp bồi dưỡng GV, phương pháp đào tạo ở trường sư
phạm đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông [10, tr.19] Bên cạnh
đó, nghiên cứu quản lý đội ngũ GV còn được thực hiện dưới góc độ quản lý giáo dục
ở cấp độ vĩ mô và vi mô Nhiều hội thảo khoa học, nhiều tài liệu về chủ đề quản lýđội ngũ GV dưới góc độ quản lý giáo dục theo ngành, bậc học đã được thực hiện Các tác giả Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo trong tài liệu
“Quản lý giáo dục” đưa ra yêu cầu chung về xây dựng và phát triển đội ngũ GV.Theo đó, các yêu cầu cần phải chú ý đến là: đủ về số lượng, đạt chuẩn về chất lượng
Trang 30và đồng bộ về cơ cấu Tác giả phân tích các chức năng quản lý trong phát triển độingũ GV từ việc lập kế hoạch, tổ chức - chỉ đạo và kiểm tra phải đảm bảo các vấn đề
về số lượng, chất lượng và cơ cấu Chính việc quan tâm 3 vấn đề: số lượng, chất
lượng, cơ cấu của đội ngũ GV là điều kiện cần cho sự phát triển; và chú ý đến tính đồng thuận của đội ngũ GV mới tạo điều kiện đủ cho sự phát triển bền vững của đội
ngũ Các tác giả phân tích sâu về chất lượng và chất lượng giáo dục [56, tr.275] Song song đó, có thể đề cập đến một số bài viết đề cập đến quản lý công táctrường học trong đó trọng điểm là quản lý đội ngũ GV
Trong bài viết “Đổi mới quản lý nhà trường phổ thông theo phương thức lấy
nhà trường làm cơ sở”, Phạm Đỗ Nhật Tiến đề cập đến vị trí của nhà trường phổ
thông trong bối cảnh đổi mới quản lý giáo dục, xu thế chung trong bối cảnh đổi mớitrường phổ thông Tác giả đã khẳng định, phương thức quản lý lấy nhà trường làm
cơ sở là bước đột phá trong đổi mới quản lý nhà trường phổ thông ở nước ta và đưa
ra các nguyên tắc cơ bản nhất thiết phải tuân theo khi thiết kế và triển khai phươngthức quản lý nguồn nhân lực, đồng thời nêu những cơ hội, thách thức khi triển khaiphương thức quản lý mới này [103]
Tác giả Nguyễn Sỹ Thư cho rằng chất lượng đội ngũ GV là tổng hòa nhữngthuộc tính, những giá trị tạo nên đội ngũ GV Những thuộc tính này gắn bó với nhautrong một chỉnh thể thống nhất tạo nên giá trị và sự tồn tại của đội ngũ làm cho GVthực hiện được sứ mệnh kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của mình [102]
Các tác giả Bùi Văn Quân, Nguyễn Ngọc Cầu đã đưa ra 03 cách tiếp cận trongnghiên cứu và phát triển đội ngũ GV: 1) Cách tiếp cận quản lý và phát triển nguồnnhân lực theo sơ đồ của Chirstan Batal; 2) Tiếp cận theo phương pháp quản lý baogồm: phương pháp giáo dục, vận động tuyên truyền; phương pháp hành chính;phương pháp kinh tế; 3) Tiếp cận theo nội dung phát triển đội ngũ GV Theo các tácgiả, việc lựa chọn cách tiếp cận nào là do ý thức lý luận và kết quả phân tích thựctiễn của nhà nghiên cứu quyết định [90] Luận điểm này là một điểm nhấn thú vị cóthể khai thác và ứng dụng để tiếp tục phát triển ĐNGVTH nhằm đáp ứng yêu cầuđổi mới giáo dục trong tình hình chung
Trang 31Bên cạnh đó, những nhà nghiên cứu thực tiễn giáo dục và quản lý giáo dụccòn rất quan tâm vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ GV
Trong bài viết “Chất lượng GV”, Trần Bá Hoành đề xuất cách tiếp cận
chất lượng GV từ các góc độ: đặc điểm lao động của người GV, sự thayđổi chức năng của người GV trước yêu cầu đổi mới giáo dục, mục tiêu
sử dụng GV, chất lượng từng GV và chất lượng đội ngũ GV Các thành
tố tạo nên chất lượng GV là phẩm chất và năng lực Ba nhân tố ảnhhưởng đến chất lượng GV là: quá trình đào tạo - sử dụng - bồi dưỡng
GV, hoàn cảnh, điều kiện lao động sư phạm của GV, ý chí thói quen vànăng lực tự học của GV Tác giả đề ra 3 giải pháp cho vấn đề GV: phảiđổi mới công tác đào tạo, công tác bồi dưỡng và đổi mới việc sử dụng
GV [64]
Bài viết “Nghề và Nghiệp của người GV” đăng trong Kỷ yếu Hội thảo
nâng cao chất lượng đào tạo toàn quốc lần thứ 2, Nguyễn Thị Mỹ Lộc
đề cập tính chất nghề nghiệp của GV Tác giả nhấn mạnh đến vấn đề “lýtưởng sư phạm”, cái tạo nên động cơ cho việc thực hành nghề dạy họccủa GV, thôi thúc GV sáng tạo, thúc đẩy GV không ngừng học hỏi, nângcao trình độ Từ đó, cần phải xây dựng tập thể sư phạm theo mô hình
“đồng thuận” ở đó GV trong quan hệ với nhau có sự chia sẻ “bí quyếtnhà nghề”; đồng thời, những yêu cầu về năng lực chuyên môn của người
GV là nền tảng của mô hình đào tạo GV thế kỷ XXI: sáng tạo và hiệuquả [79]
Trong bài viết “Chất lượng GV và những chính sách cải thiện chất lượng
GV” đăng trên tạp chí Phát triển giáo dục số 2 năm 2003, tác giả
Nguyễn Thanh Hoàn trình bày khái niệm chất lượng GV bằng cách phântích kết quả nghiên cứu về chất lượng GV các nước thành viên OECD.Tác giả đưa ra những đặc điểm và năng lực đặc trưng của một GV quaphân tích 22 năng lực trên góc độ tiếp cận năng lực giảng dạy và giáodục Tác giả cũng đề cập chính sách cải thiện và duy trì chất lượng GV ở
Trang 32cấp vĩ mô và vi mô; từ đó, nhấn mạnh đến 3 vấn đề quyết định chấtlượng GV: bản thân người GV, nhà trường, môi trường chính sách bênngoài [61]
Tác giả Trần Kiều khi bàn về chiến lược phát triển giáo dục đã coi chất lượngđội ngũ GV là yếu tố quan trọng hàng đầu Ông cho rằng, muốn nâng cao chấtlượng giáo dục không thể không chú ý chất lượng đội ngũ GV Theo đó, GV phải
đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và tay nghề ngày càng được nâng cao [72]
Khi đề cập đến các giải pháp phát triển đội ngũ GV THCS trong giaiđoạn CNH, HĐH đất nước, Lê Khánh Tuấn đã xác định GV là yếu tố cơbản, là “tế bào” của đội ngũ Tác giả đặt ra yêu cầu đối với GV là phải
được chuẩn hóa, hiện đại hóa để đạt những tiêu chuẩn về cá nhân Trong
phát triển đội ngũ phải đảm bảo tính xã hội hóa, tức là cần có sự tham giacủa các lực lượng xã hội vào công tác bồi dưỡng, đào tạo GV; đồng thờiphải bảo đảm tính dân chủ hóa để phát huy trí tuệ của mỗi cá nhân trongcông tác đào tạo, bồi dưỡng, tự tu dưỡng cá nhân [107]
1.1.2.2 Một số nghiên cứu về quản lý đội ngũ GVTH
Trong thực tế, có khá nhiều nghiên cứu về quản lý đội ngũ GVTH Nhữngnghiên cứu này đề cập đến các chức năng quản lý đội ngũ, nội dung quản lý đội ngũGVTH Trong phạm vi nghiên cứu đề tài, có thể đề cập đến một số công trình sau:
Đầu tiên, đó là bài viết tại các hội thảo: Hội thảo “Nâng cao chất lượng đào
tạo GVTH đáp ứng yêu cầu phát triển GVTH giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Hội thảo “Nâng cao chất lượng đào tạo bồi dưỡng GV đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục - Trường Đại học sư phạm Hà Nội” [10]
Kế đến, các bài viết tập trung các giải pháp phát triển đội ngũ GV trong đó cóGVTH Các giải pháp nâng cao chất lượng GV được tựu trung vào giải pháp đàotạo và bồi dưỡng GV của một số tác giả như:
Đặng Huỳnh Mai trong bài viết “Một số vấn đề về đổi mới quản lýGDTH vì sự phát triển bền vững”, đã nhấn mạnh GVTH là người gópphần quyết định trong việc thực hiện hoạt động dạy và học có chất
Trang 33lượng, thực hiện phổ cập GDTH Chính vì thế, nhà quản lý phải chăm lonâng cao chất lượng đội ngũ GVTH Trước yêu cầu đổi mới chươngtrình giáo dục phổ thông, tác giả đặt ra những đòi hỏi mới về phẩm chấtđạo đức, năng lực nghề nghiệp của GVTH; nhấn mạnh bồi dưỡng GVTH
theo hướng chuẩn hóa, đáp ứng chuẩn nghề nghiệp là một giải pháp tích
cực trong việc xây dựng đội ngũ GVTH Đồng thời, tác giả cho rằngquản lý chất lượng ĐNGVTH theo chuẩn là cách nhìn mới trong quản lýgiáo dục nước ta, là xu hướng chung trên thế giới [86, tr.18]
Việc đánh giá GV theo chuẩn là yêu cầu mới cần tiếp tục nghiên cứu trongthực tiễn quản lý giáo dục Tác giả Nguyễn Trí cho rằng, xây dựng và quản lý
ĐNGVTH theo chuẩn trình độ đào tạo sang xây dựng và quản lý ĐNGVTH theo chuẩn nghề nghiệp đang là nhu cầu hiện nay Đây là quá trình đưa ĐNGVTH nước
ta lên trình độ khu vực, thế giới trong tiến trình hội nhập [106, tr.24]
Liên quan đến công tác quản lý ĐNGVTH về nâng cao năng lực nghề nghiệp,
Đỗ Đình Hoan cùng các cộng sự nghiên cứu xây dựng chương trình dạy học năm
2000 Đỗ Đình Hoan, Nguyễn Hữu Dũng, Đặng Vũ Hoạt nghiên cứu về lý luận dạyhọc nêu lên phương hướng triển vọng của việc đổi mới phương pháp dạy học và cơ
sở lý luận của việc vận dụng những phương pháp dạy học mới ở trường TH [60]
Kế đến, có thể đề cập nghiên cứu cấp Bộ về công tác đào tạo bồi dưỡng GV:
“Nghiên cứu định hướng công tác đào tạo bồi dưỡng GV cho các giai đoạn 2007
-2010 và 2011 - 2020”, B2007-17-78, ĐHSP Hà Nội; đề tài “Giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng đội ngũ GV”, mã số: B2004-CTGD-07, Bộ GD&ĐT Hoặc Trung
tâm nghiên cứu giáo dục dân tộc và Viện nghiên cứu giáo dục với “Nghiên cứu về
giáo dục và GV dân tộc thiểu số nói chung và dân tộc Khmer nói riêng”
Công tác xã hội hóa trong bồi dưỡng, đào tạo GVTH cần được tiếp tục nghiêncứu nhằm huy động thêm các nguồn lực xã hội để nâng cao chất lượng đội ngũ.Nguyễn Ngọc Dũng đã đề cập đến nội dung chuẩn về quản lý, chuẩn về GV, chuẩn
về xã hội hóa, chuẩn về chất lượng giáo dục trong trường TH [38]
Trang 34Trong chương trình đào tạo sau đại học chuyên ngành quản lý giáo dục , nhiềutác giả luận án, luận văn đã chọn đề tài nghiên cứu về vấn đề quản lý đội ngũ GV
nói chung và quản lý GVTH nói riêng Luận án tiến sĩ Giáo dục học: “Cơ sở lý luận
và thực tiễn về phân cấp quản lý trường trung học phổ thông Việt Nam” của
Nguyễn Tiến Hùng đã nghiên cứu một số cơ sở lý luận và kinh nghiệm về phân cấpquản lý trường trung học phổ thông, từ đó phân tích thực trạng những khó khănchính tồn tại trong hệ thống phân cấp quản lý trường trung học phổ thông ViệtNam Tác giả nghiên cứu ở phạm vi vĩ mô, những giải pháp phân cấp quản lýtrường THPT do tác giả đề xuất chỉ được khảo nghiệm [68] Kinh nghiệm đề tài là
cơ sở quan trọng để luận án của chúng tôi xem xét về các giải pháp quản lýĐNGVTH đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, đảm bảo khai thác sức mạnh của cáccấp quản lý dù sự phân cấp quản lý được đảm bảo khoa học, logic
Luận án tiến sĩ quản lý giáo dục “Phát triển đội ngũ GV tin học THPT theo
quan điểm chuẩn hoá và xã hội hoá”, Vũ Đình Chuẩn đã đề cập đến việc vận dụng
lý luận quản lý giáo dục, quản lý nhân lực vào giải quyết một vấn đề thực tiễn củacông tác quản lý phát triển đội ngũ GV tin học ở các trường THPT theo quan điểmchuẩn hóa và xã hội hóa [35] Luận án này cũng đã đề cập đến cơ sở khoa học củaviệc phát triển đội ngũ GV theo quan điểm luận, một cách tiếp cận có thể ứng dụngtrong công tác quản lý ĐNGVTH theo yêu cầu đổi mới giáo dục
Ngoài ra, các luận án, luận văn sau cũng góp phần củng cố hướng nghiên cứu
về quản lý ĐNGVTH theo yêu cầu đổi mới giáo dục Luận văn Thạc sĩ của Trần ThịLan (2010), Thực trạng và một số giải pháp xây dựng đội ngũ GVTH của một số
trường tiểu học ở quận 4 thành phố Hồ Chí Minh; Luận án Tiến sĩ của Vũ Thị Thu
Huyền (2015), Quản lý công tác bồi dưỡng GVTH theo chuẩn nghề nghiệp; Luậnvăn Thạc sĩ quản lý giáo dục của Nguyễn Thị Huyền Trang (2016), Quản liý nhànước về phát triển đội ngũ GV các trường tiểu học trên địa bàn huyện Đan Phượng,thành phố Hà Nội; Đây là những đóng góp làm cho hướng nghiên cứu dày thêm,tích lũy kinh nghiệm nhiều hơn để áp dụng cho đề tài luận án này
Trang 35Riêng vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ GV, giảng viên và cán bộ quản lýngành giáo dục và đào tạo vùng ĐBSCL cũng được nhiều tác giả quan tâm: Nguyễn
Thị Quy với đề tài “Các giải pháp bồi dưỡng để nâng cao chất lượng GVTH vùng
ĐBSCL”; từ thực tế khảo sát thực trạng ĐNGVTH tại một số tỉnh ĐBSCL, tác giả
nhấn mạnh muốn nâng cao năng lực GV trong vùng cần thực hiện được hai vấn đề
cơ bản là GV phải có mức lương đủ sống để không phải làm thêm nghề khác và GVđược bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ thiết thực để nâng cao tay nghề; cần cóchính sách thỏa đáng đối với GV vùng sâu, vùng xa, đó là được hưởng chính sáchnhư GV miền núi, dân tộc [95] Có thể nói, các đặc trưng của GVTH vùng ĐBSCL
và các giải pháp bồi dưỡng để nâng cao chất lượng GVTH vùng ĐBSCL là kinhnghiệm quan trọng luận án của chúng tôi xem xét Lẽ nhiên, đề tài nghiên cứu nàynhìn nhận từ góc độ nhà quản lý sẽ quản lý ĐNGVTH nên cách tiếp cận khôngtrùng lặp nhưng có thể tận dụng những kết quả nghiên cứu trên
Đề tài luận án tiến sĩ quản lý giáo dục “Phát triển đội ngũ giảng viên các
trường đại học ở vùng ĐBSCL đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đại học”, tác giả
Nguyễn Văn Đệ đã tiếp cận và cụ thể hóa một số nội dung, quan điểm của lý thuyếtquản lý nguồn nhân lực vào việc nghiên cứu, quy hoạch, dự báo hoạt động pháttriển đội ngũ giảng viên phù hợp với bối cảnh đổi mới của giáo dục đại học ViệtNam và vùng ĐBSCL nói riêng [44] Hơn thế nữa, kinh nghiệm tiếp cận các yêucầu đổi mới giáo dục đại học để đề xuất các giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên
sẽ là kinh nghiệm quan trọng luận án này có thể xem xét, học tập và phát triển
Tác giả Phạm Minh Giản với đề tài luận án tiến sĩ: “Quản lý phát triển đội
ngũ GV THPT các tỉnh ĐBSCL theo hướng chuẩn hóa” đề cập đến việc xây dựng,
quản lý phát triển đội ngũ GV THPT các tỉnh vùng ĐBSCL theo hướng chuẩn hóa,xem đó là một trong những giải pháp phát triển vững chắc giáo dục - đào tạo cáctỉnh trong vùng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBSCL [47] Đề tài này
đã tiếp cận lý thuyết về phát triển đội ngũ GV luận án này có thể tiến hành so sánh
Có thể đề cập đến Nguyễn Văn Tấn với luận án tiến sĩ: “Bồi dưỡng năng lực
sư phạm cho GVTH dân tộc Khmer tỉnh Bạc Liêu” đã khảo sát, đánh giá năng lực
Trang 36sư phạm đặc thù của GVTH theo chuẩn nghề nghiệp để đề xuất các biện pháp bồidưỡng phù hợp, hiệu quả đối với GVTH dân tộc Khmer của tỉnh [100] Kết quảnghiên cứu về biện pháp bồi dưỡng năng lực sư phạm cho GVTH dân tộc Khmercủa đề tài này là cơ sở quan trọng để luận án có thể xem xét và phát triển cho côngtác quản lý ĐNGVTH theo yêu cầu đổi mới giáo dục vùng ĐBSCL.
Nhìn chung, mỗi công trình đề cập đến những khía cạnh khác nhau nhưngđiểm chung là khẳng định vai trò của công tác quản lý ĐNGVTH trước yêu cầunâng cao chất lượng giáo dục theo yêu cầu đổi mới Đồng thời, yêu cầu quản lýĐNGVTH không chỉ đủ về số lượng, đạt chuẩn về chất lượng mà phải đồng bộ về
cơ cấu Quản lý ĐNGVTH theo yêu cầu thực tiễn đang là xu thế chung của thời đại,
là giải pháp cấp thiết để nâng cao chất lượng GDTH, đáp ứng yêu cầu thực tế.Trước tình hình về đổi mới giáo dục mà GDTH cũng không nằm ngoài cuộc, vấn đềquản lý ĐNGVTH cần tiếp tục nghiên cứu trong thực tiễn: yêu cầu đổi mới Nóicách khác, trước yêu cầu đổi mới giáo dục và đổi mới GDTH, công tác quản lýĐNGVTH cần được nhìn nhận trong bối cảnh mới để đảm bảo hiệu quả, góp phầnnâng cao chất lượng GDTH cũng như chất lượng giáo dục phổ thông hiện nay.Tóm lại, các nghiên cứu chuyên sâu trên từng lĩnh vực trong cái nhìn tổng thể
về ĐNGVTH và quản lý GVTH đã thực hiện Tuy nhiên, chưa có đề tài nào đề cậptrực tiếp đến quản lý ĐNGVTH đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay phù hợpvới đặc điểm vùng miền, điều kiện kinh tế - xã hội của vùng miền đó Vì thế, đề tàiluận án không trùng lặp nhưng có thể tiếp cận những kinh nghiệm, kết quả nghiêncứu của các công trình đi trước để có cái nhìn tương tác và tích lũy kinh nghiệm.Việc tiến hành đề tài quản lý ĐNGVTH đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay
có thể dựa trên kinh nghiệm tổng quan các nghiên cứu trong nước và ngoài nướcđảm bảo các nguyên tắc tiếp cận lịch sử và logic để tiến hành hiệu quả
1.2 Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý giáo dục
Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động Quản lý diễn
ra ở mọi tổ chức từ phạm vi nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp Vì vậy, quản lý
Trang 37là khái niệm được xem xét hai góc độ: (1) Theo góc độ chính trị - xã hội: quản lýđược hiểu là sự kết hợp giữa tri thức với lao động, vận hành sự kết hợp này cần cómột cơ chế quản lý cho phù hợp; (2) Theo góc độ hành động: quản lý được hiểu làchỉ huy, điều khiển, điều hành [98, tr.40].
Theo tác giả Trần Khánh Đức, ở góc độ quản lý nguồn nhân lực thì: “Quản lý
là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người
để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất” [45]
Như vậy, quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượngquản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cánhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan.Quản lý giáo dục được hiểu ở hai cấp độ: cấp vĩ mô quản lý một hoặc một loạtđối tượng có quy mô lớn bao quát toàn bộ hệ thống; cấp vi mô quản lý hoạt độnggiáo dục trong nhà trường gồm hoạt động có định hướng của hiệu trưởng đến cáchoạt động giáo dục, con người, các nguồn lực, các ảnh hưởng ngoài nhà trường mộtcách hợp quy luật nhằm mục đích giáo dục Quản lý giáo dục là phạm trù xã hội,còn quản lý nhà nước được tiến hành trên cơ sở quyền lực nhà nước nhằm thực hiệnquyền lực của nhân dân thông qua quy phạm pháp luật
1.2.2 Đội ngũ GVTH
Đội ngũ là tập hợp gồm số đông người cùng chức năng hoặc nghề nghiệp tạo
thành một lực lượng Từ điển GDH: “Đội ngũ GV là tập hợp những người đảm
nhận công tác giáo dục và dạy học có đủ tiêu chuẩn đạo đức, chuyên môn và nghiệp vụ quy định” [50].
Trong lĩnh vực giáo dục, thuật ngữ đội ngũ cũng được sử dụng để chỉ nhữngtập hợp người được phân biệt với nhau về chức năng trong hệ thống giáo dục Vídụ: đội ngũ GV, đội ngũ cán bộ quản lý trường học Đội ngũ GV được nhiều tácgiả nước ngoài quan niệm như là những chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục, nắmvững tri thức, hiểu biết về dạy học và giáo dục, có khả năng cống hiến toàn bộ sứclực và tài năng của họ đối với giáo dục Ở Việt Nam, khái niệm đội ngũ GV đượcdùng để chỉ một tập hợp lực lượng GV [113]
Trang 38GVTH đóng vai trò chủ đạo trong việc tổ chức, điều khiển và lãnh đạo các tácđộng giáo dục - đào tạo nhằm làm phát triển các thuộc tính nhân cách cho trẻ emlứa tuổi nhi đồng theo đúng mục tiêu GDTH Như vậy, ĐNGVTH tập hợp nhữngngười đảm nhận công tác giáo dục và dạy học cho HS TH có đủ tiêu chuẩn đạo đức,chuyên môn và nghiệp vụ theo quy định.
Có thể xem xét nhiệm vụ của GVTH dựa vào một số căn cứ sau:
Điều lệ trường TH mới đã quy định nhiệm vụ người GVTH như sau:
- Giảng dạy, giáo dục đảm bảo chất lượng theo chương trình giáo dục, kếhoạch dạy học; soạn bài, lên lớp, kiểm tra, đánh giá, xếp loại HS; quản lý
HS trong các hoạt động giáo dục do nhà trường tổ chức; tham gia cáchoạt động của tổ chuyên môn; chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quảgiảng dạy và giáo dục
- Trau dồi đạo đức, nêu cao tinh thần trách nhiệm, giữ gìn phẩm chất, uytín, nhà giáo; gương mẫu trước HS, thương yêu, đối xử công bằng và tôntrọng nhân cách HS; bảo vệ các quyền lợi chính đáng của HS; đoàn kếtgiúp đỡ đồng nghiệp
- Tham gia công tác phổ cập TH ở địa phương
- Rèn luyện sức khoẻ, học tập văn hoá, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ
để nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy và giáo dục
- Thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và của ngành,các quyết định của Hiệu trưởng; nhận nhiệm vụ do Hiệu trưởng phâncông, chịu sự kiểm tra của Hiệu trưởng và các cấp quản lý giáo dục
- Phối hợp với Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, với gia đình HS
và các tổ chức xã hội có liên quan trong hoạt động giảng dạy và GD [9].Theo thông tư liên tịch Số: 21/2015/TTLT-BGDĐT-BNV, nhiệm vụ củaGVTH hạng IV - Mã số V.07.03.09 được quy định:
- Giảng dạy, giáo dục HS theo chương trình giáo dục, kế hoạch dạy họctiểu học;
Trang 39- Tham gia phát hiện, bồi dưỡng HS năng khiếu, phụ đạo HS yếu kémcấp tiểu học;
- Vận dụng các sáng kiến kinh nghiệm, kết quả nghiên cứu khoa học sưphạm ứng dụng vào thực tế giảng dạy, giáo dục và làm đồ dùng, thiết bịdạy học cấp tiểu học;
- Thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới tổ chức lớp học, tổchức hoạt động dạy học và đánh giá kết quả học tập theo hướng phát huytính chủ động, tích cực, hình thành năng lực và phương pháp tự học củaHS;
- Hoàn thành các chương trình bồi dưỡng; tự học, tự bồi dưỡng trau dồiđạo đức, nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ; tham gia các hoạtđộng chuyên môn; tham gia phổ cập GDTH, xóa mù chữ;
- Phối hợp với Đội TNTP HCM, gia đình HS và các tổ chức, đoàn thểliên quan để tổ chức, hướng dẫn các hoạt động giáo dục, tham gia tư vấntâm lý HS TH;
- Tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo và các hội thi cho HS TH;
- Chấp hành sự phân công, kiểm tra, đánh giá của các cấp quản lý giáodục;
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do hiệu trưởng phân công [18]
Theo chúng tôi, các nhiệm vụ được mô tả ở thông tư liên tịch này có phần đầy
đủ, cụ thể hơn nếu dựa trên mức độ hạng của ngạch GVTH từ hạng 4 đến hạng 2.Trên cơ sở sự chi tiết hóa các nhiệm vụ cụ thể của GVTH, có thể nhận thấy theoyêu cầu đổi mới giáo dục và đổi mới GDTH hiện nay, người GVTH cần có nhiều
cơ hội để hoàn thành nhiệm vụ đặc trưng của mình Từ đó, người cán bộ quản lýgiáo dục cần quản lý đội ngũ để tạo điều kiện phát triển đội ngũ đáp ứng yêu cầuđổi mới giáo dục Có thể khẳng định phải quản lý ĐNGVTH theo hướng nâng caochất lượng, đặc biệt phải coi trọng đào tạo, bồi dưỡng theo hướng chuẩn hoá và hiệnđại hóa mới có thể đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong tình hình hiện nay
Trang 401.2.3 Quản lý đội ngũ GVTH
1.2.3.1 Quản lý đội ngũ GV
Quản lý đội ngũ GV là hoạt động gồm tuyển chọn, sử dụng, phát triển, độngviên, tạo những điều kiện thuận lợi để đội ngũ GV hoạt động có hiệu quả nhằm đạtmục tiêu cao nhất của tổ chức và sự bất mãn ít nhất của đội ngũ trong tổ chức Nội dung quản lý đội ngũ GV bao gồm: (1) Dự báo nhu cầu và lập kế hoạchđào tạo đội ngũ GV; (2) Tuyển dụng, bố trí, sắp xếp đội ngũ GV; (3) Đào tạo vàbồi dưỡng đội ngũ GV; (4) Xây dựng và thực hiện các giải pháp quản lý phát triểnnăng lực nghề nghiệp đội ngũ GV [85]
1.2.3.2 Quản lý đội ngũ GVTH
Quản lý ĐNGVTH là hoạt động bao gồm tuyển chọn, sử dụng, phát triển,động viên, tạo những điều kiện thuận lợi để ĐNGVTH hoạt động có hiệu quả nhằmđạt mục tiêu cao nhất của tổ chức và sự hài lòng của ĐNGVTH trong tổ chức Nóicách khác, quản lý ĐNGVTH là hoạt động áp dụng các nguyên tắc pháp định như:công tác tuyển dụng, bố trí, sử dụng, đánh giá, đào tạo, trả lương và thực hiện cácchế độ động viên khuyến khích vật chất, tinh thần cho GV (kể cả CBQL) nhằmnâng cao hiệu quả đội ngũ [19, Tr.8]
Có thể xem xét nội dung quản lí đội ngũ GVTH theo nhóm công việc: (1)Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển đội ngũ GVTH; (2) Phân công,phân nhiệm cho GVTH; (3) Đánh giá, xếp loại GVTH; (4) Tạo động lực phát triểncho GVTH; (5) Bồi dưỡng phát triển chuyên môn cho GVTH [19]
1.2.3.3 Lý thuyết phát triển nguồn nhân lực trong quản lý đội ngũ GVTH
a Thuật ngữ quản lý đội ngũ GVTH
Theo tác giả Trần Kiểm thì quản lý là những tác động của chủ thể quản lýtrong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồnlực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cáchtối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức hiệu quả cao nhất [71]