1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

luận án khuynh hướng hiện thực – trào lộng trong tiểu thuyết việt nam đương đại

164 252 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 164
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứuLuận án nhằm xác định có một khuynh hướng hiện thực – trào lộng trongtiểu thuyết Việt Nam đương đại với những nét riêng trong nhận thức, phản ánhhiện thực và thi pháp

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Trong văn học hiện đại, tiểu thuyết là thể loại đóng vai trò chủ lực.Cùng với công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước, văn học Việt Nam đã cónhững bước chuyển đổi sâu sắc, đặc biệt là tiểu thuyết Từ sau 1986, đổi mới đãtrở thành nhu cầu bức thiết của nhà văn, của công chúng và của chính bản thânvăn học Công cuộc đổi mới cho phép nhà văn phát huy sáng tạo, vận dụngnhiều bút pháp, thủ pháp nghệ thuật khác nhau, đào sâu hơn vào bản thể tâmhồn con người, mở rộng hơn biên độ hiện thực được nhận thức, phản ánh Cuộcsống và con người trong tiểu thuyết được thể hiện đa dạng về nội dung, phongphú về hình thức nghệ thuật Để tiếp cận, khám phá hiện thực phù hợp với nhucầu thẩm mỹ của thời đại, các nhà văn đã vận dụng sáng tạo nhiều thủ phápnghệ thuật hoặc đã có từ trước, hoặc mới du nhập từ nước ngoài như trào lộng,huyền ảo, kỹ thuật dòng ý thức, phân tâm học, kỹ thuật phân mảnh, lắp ghép, kỹthuật độc thoại nội tâm, nghệ thuật đồng hiện, liên văn bản Tiểu thuyết đươngđại, trong tình hình đó, đã kết tinh được những giá trị thẩm mỹ mới

1.2 Khuynh hướng hiện thực – trào lộng trong tiểu thuyết là một khuynhhướng nghệ thuật đã có từ đầu thế kỷ XX, đặc biệt là giai đoạn 1930 – 1945,với sự xuất hiện và phát triển vững vàng của chủ nghĩa hiện thực Các tác gialớn như Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao đãđóng góp cho lịch sử văn học dân tộc nhiều tác phẩm có giá trị Với bút pháp vàgiọng điệu chủ đạo là trào lộng – trào phúng – giễu nhại, nhiều tiểu thuyết hiệnthực 1930 – 1945 đã góp phần quan trọng làm thay đổi diện mạo tiểu thuyếtViệt Nam hiện đại trước 1945 và đẩy thể loại này bước thêm những bước pháttriển mới Từ sau 1945, khuynh hướng này lắng xuống và đứt gãy trong mộtthời gian dài do sự chi phối của chiến tranh, phương pháp hiện thực xã hội chủnghĩa Từ sau 1975, nhất là từ sau 1986, khuynh hướng trào lộng trong tiểuthuyết tái sinh và ngày càng phát triển mạnh mẽ với các tác giả như Tô Hoài,Nguyễn Khải, Lê Lựu, Ma Văn Kháng, Vũ Bão, Đỗ Minh Tuấn, Hồ Anh Thái,

Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương, Đặng Thân, Thuận, v.v Tiểu thuyết hiệnthực – trào lộng phát triển mạnh trong điều kiện đời sống xã hội dân chủ, mỗitác phẩm là những giả thuyết hàm chứa ý nghĩa sâu sắc về cuộc sống Cùng với

Trang 2

các nguồn cảm hứng khác, cảm hứng về cái hài có vai trò tạo nên sự phong phú,

đa dạng cho tiểu thuyết Sự trở lại của tiếng cười là dấu hiệu lạc quan, nó tạo ranhiều bè, nhiều giọng điệu nghệ thuật và nhiều giá trị mới trong tiểu thuyết 1.3 Việc nghiên cứu các khuynh hướng khác nhau của tiểu thuyết đã đượckhông ít các bài báo, công trình, luận văn, luận án tìm hiểu từ nhiều góc độ.Tiến trình đổi mới văn học ở nước ta nói chung, tiểu thuyết nói riêng diễn rangót ba thập kỷ với rất nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn cần được nhìn nhận, lýgiải, đánh giá một cách thỏa đáng và có hệ thống Tuy nhiên, đến nay chưa cócông trình nào thật chuyên sâu nghiên cứu tiểu thuyết hiện thực – trào lộng vớichủ đích xem nó là một khuynh hướng, nhất là trong thời gian gần đây, nhiềutiểu thuyết mới ra đời mà chưa có thêm sự khảo sát Thực hiện đề tài này,chúng tôi xác định đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu nhằm góp một tiếng nói khẳngđịnh có một khuynh hướng hiện thực – trào lộng trong tiểu thuyết Việt Namđương đại Khuynh hướng này là một biểu hiện cụ thể đời sống dân chủ trongvăn học, góp phần tạo nên sự đa dạng của tiểu thuyết trên nhiều phương diện

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Như tên đề tài đã xác định, đối tượng nghiên cứu của luận án là Khuynh hướng hiện thực – trào lộng trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại.

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận án bao quát tiểu thuyết Việt Nam đương đại (từ sau 1986) để tìmhiểu khuynh hướng hiện thực – trào lộng (tiểu thuyết trước 1986, đặc biệt làtiểu thuyết trào lộng giai đoạn 1930 – 1945 được xem như là một tiền đề và làmột đối tượng để đối sánh) Theo yêu cầu của đề tài, luận án tập trung đi sâukhảo sát các tiểu thuyết đương đại viết theo khuynh hướng hiện thực – trào lộng(những tiểu thuyết có thể không thuộc khuynh hướng hiện thực – trào lộngnhưng chứa nhiều yếu tố trào lộng cũng được quan tâm) của các tác giả: TôHoài, Nguyễn Khải, Lê Lựu, Phạm Thị Hoài, Ma Văn Kháng, Nguyễn Bắc Sơn,

Vũ Bão, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Thuận, Đỗ Minh Tuấn, Nguyễn KhắcTrường, Võ Văn Trực, Nguyễn Quang Vinh, Nguyễn Việt Hà, Trịnh ThanhPhong, Nguyễn Đình Tú, Đặng Thân, Lê Minh Quốc, Trần Nhương,

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 3

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận án nhằm xác định có một khuynh hướng hiện thực – trào lộng trongtiểu thuyết Việt Nam đương đại với những nét riêng trong nhận thức, phản ánhhiện thực và thi pháp thể loại; góp phần vào việc nghiên cứu tiểu thuyết nướcnhà trước yêu cầu của xu thế đổi mới và hội nhập

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.2.1 Trên cơ sở bao quát tiểu thuyết Việt Nam đương đại, tổng quan vấn

đề nghiên cứu và xác lập cơ sở lý thuyết của đề tài

3.2.2 Nhận diện khuynh hướng hiện thực – trào lộng trong bối cảnh đổimới của tiểu thuyết Việt Nam đương đại

3.2.3 Đi sâu khảo sát, phân tích con người và thế giới hiện thực trong tiểuthuyết Việt Nam đương đại viết theo khuynh hướng hiện thực – trào lộng

3.2.4 Đi sâu khảo sát, phân tích những đặc điểm về thi pháp thể loại củatiểu thuyết Việt Nam đương đại viết theo khuynh hướng hiện thực – trào lộng

4 Phương pháp nghiên cứu

Chọn đề tài Khuynh hướng hiện thực – trào lộng trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, tác giả luận án vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác

nhau, trong đó chủ yếu là các phương pháp sau:

4.1 Phương pháp liên ngành: Phương pháp này giúp cho việc huy động

tri thức của một số ngành khác như văn hóa học, triết học, tâm lý học, ngôn ngữhọc nhằm tham chiếu, soi tỏ các vấn đề được đề cập trong luận án

4.2 Phương pháp thống kê – miêu tả: Phương pháp này vận dụng các thao

tác thống kê – miêu tả, tìm tần số xuất hiện có ý nghĩa dự báo tính quy luật củacác yếu tố thể hiện qua các tác phẩm, giúp các nhận định có cơ sở khoa học

4.3 Phương pháp phân tích – tổng hợp: Phương pháp này đi vào phân tích

tác phẩm, các vấn đề, trên cơ sở đó, tổng hợp theo định hướng của luận án

4.4 Phương pháp lịch sử: Phương pháp này giúp cho việc nhìn nhận, xác

định tiểu thuyết viết theo khuynh hướng hiện thực – trào lộng trong tiến trìnhđổi mới tiểu thuyết Việt Nam đương đại, tái diễn những nét chính của bối cảnhlịch sử – văn hóa – xã hội có ảnh hưởng đến khuynh hướng tiểu thuyết này

4.5 Phương pháp so sánh – loại hình: Phương pháp này được dùng để đối

chiếu, so sánh các tác phẩm và các vấn đề văn học cùng hoặc khác loại hình

Trang 4

nhằm chỉ ra những nét tương đồng và khác biệt của tiểu thuyết viết theo khuynhhướng hiện thực – trào lộng và tiểu thuyết viết theo khuynh hướng khác

4.6 Phương pháp cấu trúc – hệ thống: Phương pháp này được dùng để

xâu chuỗi, hệ thống các vấn đề nghiên cứu trong tính thống nhất chỉnh thể

Luận án tạo dựng và phác thảo bức tranh tiểu thuyết Việt Nam đương đại,trên cơ sở đó khu biệt và nhận diện diện mạo, vị thế, đường hướng vận độngcủa tiểu thuyết viết theo khuynh hướng hiện thực – trào lộng

Luận án là công trình đi sâu khảo sát con người, thế giới hiện thực và chỉ

ra, làm rõ những đặc điểm nổi bật về thi pháp thể loại của tiểu thuyết viết theokhuynh hướng hiện thực – trào lộng

Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được dùng làm tài liệu tham khảocho việc nghiên cứu và vận dụng vào việc dạyhọc ở học đường về thể loại tiểuthuyết, trong đó có khuynh hướng hiện thực – trào lộng

của tiểu thuyết Việt Nam đương đại

Chương 3 Con người và thế giới hiện thực trong tiểu thuyết Việt Nam

đương đại viết theo khuynh hướng hiện thực – trào lộng

Chương 4 Thi pháp thể loại của tiểu thuyết Việt Nam đương đại viết theo

khuynh hướng hiện thực – trào lộng

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trang 5

VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Các khuynh hướng vận động, phát triển của tiểu thuyết Việt Nam đương đại trên lịch trình nghiên cứu

1.1.1.1 Vấn đề nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam đương đại

Tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1975, nhất là từ sau 1986 đến nay phát triểnmạnh mẽ, ngày càng phong phú và đa dạng Thể loại văn học này không ngừngđổi mới, cách tân trên các phương diện như chức năng, nội dung và thi pháp thểloại Biên độ phản ánh hiện thực của tiểu thuyết được mở rộng do sự vận động,phát triển của cuộc sống và đổi mới tư duy sáng tạo của nhà văn Việc nghiêncứu, đánh giá tiểu thuyết từ sau đổi mới vì thế mà hấp dẫn đối với giới nghiêncứu, phê bình văn học Trong số các công trình đó, chúng tôi chú ý đến nhữngcông trình nghiên cứu có tính chất chuyên sâu về thể loại tiểu thuyết

Năm 1995, trong Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau

1975 (khảo sát trên nét lớn), Nguyễn Thị Bình nhấn mạnh cảm hứng phê phán

ở một số tiểu thuyết do tinh thần dân chủ hóa và ý thức nghệ thuật của nhà văn

đã có những thay đổi quan trọng Trong đó có Bến không chồng, Mảnh đất lắm người nhiều ma, Chuyện làng ngày ấy

Năm 1996, Nxb (Nhà xuất bản) Hội Nhà văn ấn hành Khảo về tiểu thuyết

của Vương Trí Nhàn Tập sách thể hiện sự quan sát tinh tế các hiện tượng trêntiến trình tiểu thuyết Việt Nam và những vấn đề, những khía cạnh có ý nghĩa lýluận về thể loại Một số tác giả khác với các bài viết, các công trình rất đáng

chú ý, như Lê Huy Bắc với “Đồng hiện trong văn xuôi” (Văn học, số 6/1996);

Ma Văn Kháng với “Tiểu thuyết, nghệ thuật khám phá cuộc sống” (Văn nghệ quân đội, số 11/1998); Bùi Việt Thắng (2000) với Bàn về tiểu thuyết (Nxb Văn

hoá Thông tin); Phan Cự Đệ với “Tiểu thuyết Việt Nam những năm đầu thời kỳ

đổi mới” (Văn nghệ quân đội, số 3/2001); Lý Hoài Thu với “Các nhà văn bàn

về tiểu thuyết” (Văn nghệ quân đội, số 3/2001); Tôn Phương Lan (2002) với

“Một số vấn đề trong văn xuôi thời kỳ đổi mới” (sách Văn học Việt Nam thế kỷ

XX, Nxb Chính trị quốc gia); Nguyễn Xuân Khánh (2003) với Suy nghĩ về hiện thực trong đổi mới tiểu thuyết (Nxb Hội Nhà văn); v.v

Trang 6

Năm 2005, trong Ý thức cách tân trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 (in trong Văn học Việt Nam sau 1975 – những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy,

Nxb Văn học), Bích Thu đã có những nhận xét xác đáng về sự đổi mới của tiểuthuyết từ sau 1986 qua các yếu tố: nhân vật, cốt truyện, ngôn ngữ và giọng điệu

Bùi Việt Thắng với Tiểu thuyết đương đại (2005), Nxb Quân đội nhân dân phát

hành, gồm 2 phần: Phần 1 có 12 bài viết mang tính chất nhận diện và chỉ ranhững đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1986; Phần 2 có 27 bài, tác giả

đi vào phân tích 29 tác phẩm (viết từ sau 1986) của 27 nhà văn, trong đó có TôHoài, Lê Lựu, Đoàn Minh Phượng, Chu Lai, Đào Thắng, v.v…

Từ 2006 đến 2008, bàn về văn xuôi nói chung và tiểu thuyết Việt Nam

đương đại nói riêng, có thể kể đến Hoàng Ngọc Hiến với Những ngả đường văn học (Nxb Văn học), Bích Thu với “Một cách tiếp cận tiểu thuyết Việt Nam thời

kỳ đổi mới” (Nghiên cứu văn học, số 11/2006), Văn Giá với “Thử nhận diện tiểu thuyết ngắn Việt Nam gần đây” (Văn nghệ, số 26/2006), Mai Hương với “Đổi mới tư duy văn học và đóng góp của một số cây bút văn xuôi” (Nghiên cứu văn học, số 11/2006), Nguyễn Trường Lịch với “Đổi mới tiểu thuyết trong bối cảnh giao lưu văn hóa” (Văn nghệ, số 4/2007), Trần Thị Mai Nhân (2008)với Những đổi mới trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 – 2000 (luận án Tiến sĩ), v.v Các

công trình này đều đề cập đến sự đổi mới, cách tân của tiểu thuyết đương đại trêncác phương diện nội dung tư tưởng cũng như thi pháp thể loại

Trong Lời giới thiệu chuyên luận Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại (2009) của Mai Hải Oanh, Trần Đình Sử nhận định:

“Bắt đầu từ tư duy mới về thể loại tiểu thuyết, quan niệm mới về con người, sựtìm tòi các phương thức biểu hiện và cấu trúc mới, tiểu thuyết Việt Nam đã cónhững khuynh hướng sáng tác nổi bật ” [137; 6] Các tác giả khác như Đỗ HảiNinh với “Quan niệm về lịch sử trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh ”

(Nghiên cứu văn học, số 2/2009), Nguyễn Thành với “Khuynh hướng lạ hóa trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại – một số bình diện tiêu biểu” (Nghiên cứu văn học, số 4/2012), Bích Thu với “Một vài cảm nhận về ngôn ngữ tiểu thuyết Việt Nam đương đại” (Nghiên cứu văn học, số 3/2013) và “Bước đầu nhận diện tiểu thuyết Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI” (trong Văn học Việt Nam hiện đại – Sáng tạo và tiếp nhận, Nxb Văn học, 2015) khẳng định

Trang 7

tiểu thuyết có những đổi mới về nội dung phản ánh, cái nhìn hiện thực và đổimới quan niệm nghệ thuật về con người với tư tưởng nhân văn phương Đông Trong “Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới (1986–2016) – Những bước

thăng trầm” (Văn nghệ, số 24/2016), Bùi Việt Thắng xác định, văn học Việt Nam 1975 – 1986 là giai đoạn tiền đổi mới, chưa vượt thoát ra khỏi phạm trù

“sử thi và lãng mạn” của văn học cách mạng Theo tác giả, tiểu thuyết thật sựbước vào cao trào đổi mới là vào khoảng cuối những năm tám mươi, đầu những

năm chín mươi của thế kỷ XX Tác giả xem Thời xa vắng (1986) của Lê Lựu là

sự đột phá của tiểu thuyết đổi mới, tác phẩm thấm đượm nhiệt hứng nhận thứclại thực tại, về sau trở thành một khuynh hướng quan trọng của văn học đươngđại được viết theo tinh thần của “cái bi kịch” và mở ra một dòng tiểu thuyết tựthuật được các nhà văn ưa chuộng sau này; v.v…

Ngoài những bài báo, công trình đề cập đến các vấn đề mang tính lý luận,khái quát diện mạo hoặc chỉ ra những cách tân nghệ thuật tiểu thuyết như xâydựng nhân vật, cấu trúc tác phẩm, nghệ thuật trần thuật, ngôn ngữ, giọng điệu

còn có không ít những bài báo quan tâm đến các tác phẩm cụ thể như Mùa lá rụng trong vườn, Ba người khác, Nỗi buồn chiến tranh, Mảnh đất lắm người nhiều ma, Thượng đế thì cười, Giã biệt bóng tối, các tiểu thuyết Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn, Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh nói riêng và tiểu

thuyết lịch sử nói chung… Ngoài những bài viết mang tính cập nhật hoặc rảirác sau khi tác phẩm ra đời, nếu cuốn tiểu thuyết nào gây được chú ý trong dư

luận, thường Báo Văn nghệ hoặc một số báo, Viện tổ chức tọa đàm, thảo luận: Thảo luận về tiểu thuyết Mưa mùa hạ (Viện Văn học); Thảo luận về tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú (Văn nghệ, số 6/1990); Trao đổi về Lời nguyền hai trăm năm – tiểu thuyết của Khôi Vũ (Văn nghệ, số 26/1990); Thảo luận về tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma (Báo Văn nghệ, số 11/1991);Thảo luận về tiểu thuyết Thân phận tình yêu (Văn nghệ, số 37/1991); Thảo luận về tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai (Văn nghệ, số 29/1992); Hội thảo về tiểu thuyết Hồ Quý Ly (Văn nghệ, số 41/2000); Nguyễn Khắc Phê với “Sông Côn mùa lũ” (Nhà văn, số 4/2000); Lê Nguyên Cẩn với “Thế giới kỳ ảo trong Mảnh đất lắm người nhiều ma từ điểm nhìn văn hóa” (Nghiên cứu văn học, số 8/2006); “Tọa đàm về tiểu thuyết Luật đời và cha con” (Văn nghệ, số 17 và

Trang 8

18/2006); Hội Nhà văn Hà Nội tổ chức trao đổi Ba người khác của Tô Hoài

(22/12/2006), Viện Văn học tổ chức hội thảo về tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn

Xuân Khánh (được tập hợp lại trong cuốn Nguyễn Xuân Khánh – Cái nhìn lịch

sử nghệ thuật (2003), Nxb Phụ nữ); Hội Nhà văn (2013) tổ chức hội thảo về

tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Mộng Giác, Hoàng QuốcHải, Võ Thị Hảo, Nam Dao; v.v… Ngoài ra, còn rất nhiều bài báo lẻ khác như

Vân Thanh với “Một mảnh đời trong cuộc sống hôm nay qua Mùa lá rụng trong vườn” (Văn học, số 3/1986); Mai Huy Bích với “Trở lại với tiểu thuyết Thời xa vắng: Hôn nhân, gia đình, xã hội qua một tiểu thuyết” (Văn nghệ, số 23/1987); Nguyễn Huy Thông với “Về cuốn tiểu thuyết Ngồi của Nguyễn Bình Phương” (Văn nghệ, số 51/2006); Nguyễn Thị Minh Thái với “Mười lẻ một đêm, cái nhìn hắt sáng từ phía sau” (Văn nghệ, số 23/2006) Nhìn chung, các

hội thảo, trao đổi, tọa đàm, các bài báo trên đều khẳng định tiểu thuyết ViệtNam đã tạo ra những cao trào từ cuối những năm tám mươi, đầu những nămchín mươi của thế kỷ trước Tiểu thuyết thời đổi mới đã đi được những bước tựtin và thành tựu của mình với nhiều tác giả thuộc nhiều thế hệ Khi thể loại tiểuthuyết – “cỗ máy cái văn học” ngự trị văn đàn thì văn học thật sự đổi mới

Có thể thấy, dư luận chung đều khẳng định tiểu thuyết đương đại ngàycàng phát triển mạnh mẽ, giàu chất văn xuôi, mang tính hướng nội, có nhiềucách tân, sáng tạo trong nhận thức và thể hiện cuộc sống

1.1.1.2 Vấn đề nghiên cứu các khuynh hướng vận động, phát triển của tiểu thuyết Việt Nam đương đại

Khuynh hướng, trào lưu là các khái niệm dùng để chỉ những hiện tượngcủa quá trình văn học, là “những cộng đồng các hiện tượng văn học được liênkết lại trên cơ sở một sự thống nhất tương đối về các định hướng thẩm mỹ – tưtưởng và về các nguyên tắc thể hiện nghệ thuật” [10; 173] Trào lưu văn họcđược đánh dấu bằng sự xuất hiện hàng loạt sáng tác của nhóm nhiều tác giả,biểu hiện thành cương lĩnh riêng, có những đặc điểm cơ bản giống nhau, “cóquan điểm tư tưởng – xã hội và quan điểm thẩm mỹ tương đối gần gũi, thốngnhất với nhau” [58; 302] Một số nhà nghiên cứu xem trào lưu là phạm trù rộng,dung chứa nhiều khuynh hướng Tuy nhiên, “quan niệm được dùng phổ biếnhơn thì coi khuynh hướng là phạm trù rộng, dung chứa nhiều trào lưu” [10;

Trang 9

173] Khuynh hướng “ghi nhận tính cộng đồngvề cơ sở tư tưởng thẩm mỹ củanội dung nghệ thuật; tính cộng đồng này được quy định bởi sự thống nhất vềtruyền thống nghệ thuật và văn hóa, bởi sự gần gũi trong cách hiểu của các nhàvăn đối với các vấn đề của đời sống, bởi sự giống nhau về các tình thế xã hội,thời đại, văn hóa, nghệ thuật” [10; 174] Khuynh hướng văn học không đòi hỏiphải có “một sự gần gũi trực tiếp về tư tưởng và nghệ thuật, một sự thống nhấtmang tính cương lĩnh về thẩm mỹ của các thành viên” [10; 174] Khuynhhướng là “Sự thiên về một phía nào đó trong hoạt động, trong quá trình pháttriển” [135; 498] Khái niệm khuynh hướng ở đây được hiểu với ý nghĩa chỉnhững tiểu thuyết có chung một số đặc điểm nổi trội về vấn đề nhận thức vàphản ánh hiện thực – một vấn đề quan trọng của lịch sử văn học Sự hình thành

và phát triển của các khuynh hướng tiểu thuyết giúp chúng ta nhận thức được

sự biến đổi và phát triển trong nội dung tư tưởng và thi pháp thể loại của một

giai đoạn, một thời kỳ, một nền văn học Theo D.X Likhatsev trong Thi pháp của nền văn học Nga cổ (Nxb Khoa học, Leningrad 1967, Phan Ngọc dịch),

khuynh hướng văn học cũng là một biểu hiện quan trọng của thi pháp văn học,đánh dấu trình độ phát triển của nghệ thuật ngôn từ trong các giai đoạn khácnhau của lịch sử văn học Từ giữa những năm 80 của thế kỷ trước, nhiều nhànghiên cứu Việt Nam vận dụng các khái niệm lý luận của G.N Pospelov (Nga),nhận thấy văn học Việt Nam sau 1975 có khuynh hướng phi sử thi hóa, thế sự

hóa và đời tư hóa Trong bài Các khuynh hướng phê bình văn học Việt Nam hiện nay, Trần Đình Sử nhận xét, cách phân biệt khuynh hướng trên“còn được

vận dụng, gắn với quan niệm về sự giải thiêng, giải huyền thoại, khuynh hướngthế tục hóa văn học, khuynh hướng biểu hiện chấn thương tinh thần” Nhìnchung, sự phân chia các khuynh hướng trên có những đặc điểm giống vớikhuynh hướng văn học thuộc các nước xã hội chủ nghĩa trước đây Tính khuynhhướng là “điều kiện cần thiết để có tính tư tưởng và tính nghệ thuật” [58; 294].Khuynh hướng văn học “không phải là ý đồ chủ quan không có cơ sở của nhàvăn mà là một xu thế tư tưởng bắt nguồn từ cuộc sống,…bao giờ cũng toát ramột cách tự nhiên từ sự miêu tả sinh động của đời sống chứ không phải quanhững lời lý thuyết khô khan, hoặc những tư tưởng trừu tượng” [58; 294]

Trang 10

Trong Một số khuynh hướng tiểu thuyết ở nước ta từ thời điểm đổi mới đến nay (2008), Nguyễn Thị Bình chọn trọng tâm nghiên cứu là tư duy thể loại,

tiêu chí phân chia là đặc điểm bút pháp Tác giả cho rằng: “một lối tư duy bao

giờ cũng được biểu hiện ra ngoài bằng một bút pháp tương ứng”, và phân chiatiểu thuyết Việt Nam đương đại thành các khuynh hướng: tiểu thuyết theo

phong cách “lịch sử hóa”, tiểu thuyết theo phong cách “tự thuật”, tiểu thuyết tư

liệu – báo chí, tiểu thuyết hiện thực kiểu truyền thống và tiểu thuyết theo phongcách hậu hiện đại Trong Văn xuôi Việt Nam 1975 – 1995 những đổi mới cơ bản, Nguyễn Thị Bình đã nghiên cứu bước ngoặt trong hệ hình ý thức của nhà

văn, đánh giá tính đối thoại trong tác phẩm đồng thời chỉ ra căn bệnh xã hội đã

trở thành đối tượng phê phán của nhà văn trong tiểu thuyết Ly thân và Chuyện làng Cuội [18; 99] Theo tác giả, với cảm hứng đó, những căn bệnh xã hội đã

trở thành lố bịch, phi lý khi nó được thể hiện với giọng giễu nhại và trào lộng

Mai Hải Oanh với Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại giai đoạn 1986 – 2006 (2008) đã luận giải sự đa dạng về cách thức

thể hiện của tiểu thuyết trên cơ sở đề cập đến một số bút pháp nghệ thuật Theotác giả, tiểu thuyết thực sự đã trở thành “nhân vật chính” trên văn đàn và thâmnhập mạnh mẽ vào các thể loại, đồng thời thu hút vào nó các thể loại khác đểtạo nên cấu trúc nghệ thuật đa tầng Một thay đổi quan trọng trong nghệ thuật tự

sự của tiểu thuyết là sự đa dạng và linh hoạt về bút pháp nghệ thuật Căn cứ vàocác nguyên tắc và bút pháp nghệ thuật, tác giả chia tiểu thuyết đương đại thànhcác khuynh hướng như: tiểu thuyết tả thực mới; tiểu thuyết phúng dụ, huyền

thoại; tiểu thuyết trào lộng giễu nhại; tiểu thuyết tượng trưng…

Bùi Việt Thắng với Tiểu thuyết đương đại muốn khái quát diện mạo của

tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1975 qua những giai đoạn ngắn và đề cập đến một

số khuynh hướng vận động, phát triển của tiểu thuyết đương đại Ông nhậnđịnh, “sẽ là không đầy đủ trong công việc nhận diện văn học nếu không nói đếntiểu thuyết” Theo ông, tiểu thuyết đương đại Việt Nam đã tiếp thu được nhiềukinh nghiệm nghệ thuật tiểu thuyết thế giới, ít mô tả thế giới hơn là tạo ra mộtthế giới theo cách của nó và ở đó, “con người có thể chiêm ngưỡng mình từnhiều chiều hơn là chỉ thấy cái bóng của mình đổ dài xuống lịch sử” [161; 202]

Trang 11

Luận án Kết cấu tiểu thuyết Việt Nam đương đại (2012) của Nguyễn Thị

Ninh đi vào nghiên cứu những đổi mới kết cấu của xu hướng tiểu thuyết cáchtân theo thi pháp hiện đại trong việc đối sánh với tiểu thuyết truyền thống Tácgiả nhận diện sự xuất hiện của xu hướng tiểu thuyết mới từ cuối thập niên 1980,hình thành rõ nét từ giữa thập niên 1990 đến nay – xu hướng tiểu thuyết cónhiều đổi mới cách tân, đặc biệt là kỹ thuật viết Luận án khám phá một sốphương diện kết cấu đặc sắc của xu hướng tiểu thuyết mới như: đổi mới kết cấuvăn bản trần thuật và kết cấu hình tượng trong quan hệ với cốt truyện và hiệnthực được phản ánh; kết cấu nhịp điệu và ngôn ngữ như là phương tiện để biếnkết cấu trong hình dung tưởng tượng của nhà văn thành một thực thể sinh động

Luận án Con người trong tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới (2012) của

Nguyễn Thị Kim Tiến tập trung tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người vàkhái quát các dạng thái con người trong tiểu thuyết từ sau 1986: con người dướigóc nhìn nhân bản xã hội (người lính, người nông dân, người trí thức), conngười dưới góc nhìn loại hình văn học (con người lịch sử – văn hóa, con người

“huyền thoại”, con người “dị biệt”) Tác giả luận án cũng chỉ ra một số phươngdiện của nghệ thuật biểu hiện con người trong tiểu thuyết thời kỳ đổi mới, trong

đó có giọng điệu giễu nhại

Luận án Tiểu thuyết về chiến tranh trong văn học Việt Nam sau 1975 – những khuynh hướng và sự đổi mới nghệ thuật (2012) của Nguyễn Thị Thanh căn cứ các quan niệm: “Văn học là nhân học” (M Gorki), Tiểu thuyết giáo dục và ý nghĩa của nó trong lịch sử chủ nghĩa hiện thực (M Bakhtin) và sự thay đổi

quan niệm về hiện thực và con người, chia tiểu thuyết viết về chiến tranh sau

1975 thành các khuynh hướng như: khuynh hướng khám phá người anh hùnglưỡng diện, khuynh hướng thể hiện con người bị chấn thương và những số phận

bi kịch, khuynh hướng thể hiện con người đời thường và những vấn đề thế sự

Thái Phan Vàng Anh với Các khuynh hướng tiểu thuyết Việt Nam đầu thế

kỷ XXI (2013) xem tiểu thuyết là “cỗ máy cái của văn học”, là trụ cột của một

nền văn học và luôn thích nghi với những chuyển động phong phú của đờisống Từ góc nhìn thể loại, tác giả nhận thấy tiểu thuyết ngày càng xuất hiệnnhiều khuynh hướng, thể hiện sự cách tân triệt để trong xu thế hội nhập Căn cứvào mỹ học hậu hiện đại, tác giả chia tiểu thuyết thành các khuynh hướng: tiểu

Trang 12

thuyết tân lịch sử – sự phản tư lịch sử, tiểu thuyết hiện sinh – sự phân rã nhữngmảnh hiện tồn, tiểu thuyết tính dục – sự phì đại của dòng văn chương thân xác,tiểu thuyết nữ quyền – phụ nữ không phải là “cái khác vắng mặt”.

Ngô Thị Quỳnh Nga với luận án Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 viết về chiến tranh (2015), trên một số nét chính đã phác họa lại diện mạo của tiểu

thuyết với những đường hướng vận động và phát triển của nó

Các công trình trên tuy chưa trực tiếp tìm hiểu các khuynh hướng vậnđộng và phát triển của tiểu thuyết Việt Nam đương đại một cách hệ thống,nhưng đã tạo dựng, phác thảo được những đường nét quan trọng, có cơ sở.Theo tác giả luận án, khuynh hướng văn học nói chung và khuynh hướngtiểu thuyết nói riêng được phân loại theo nhiều cách khác nhau, trong đó có haicách thường được chú ý là phân loại theo nội dung, tư tưởng và phân loại theothi pháp thể loại hoặc bút pháp Cùng chiếm lĩnh một hiện thực đời sống, nhưngtừng nhà văn có cách thức nhận thức và xử lý chất liệu khác nhau, có quyền tự

do lựa chọn cho mình một khuynh hướng nghệ thuật nhất định bên cạnh cáckhuynh hướng nghệ thuật khác Có thể thấy, tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1986thể hiện sự đa dạng, phong phú về các khuynh hướng nội dung tư tưởng vàkhuynh hướng thẩm mỹ Sự hình thành, phát triển các khuynh hướng trong tiểuthuyết thể hiện sự đổi mới về tư tưởng nghệ thuật, bút pháp nghệ thuật, là sự thểhiện những lập trường nghệ thuật không giống nhau trong văn học Sự xuất hiệncác khuynh hướng tiểu thuyết cũng chính là biểu hiện của quá trình dân chủ hoátrong văn học Việt Nam đương đại Khảo sát tiến trình vận động, phát triển củatiểu thuyết Việt Nam đương đại, có thể thấy mối quan hệ cộng hưởng của cáckhuynh hướng trong hệ thống thể loại Mỗi hệ thống thể loại tạo thành một hệthống nghệ thuật và các yếu tố hợp thành hệ thống có sự tác động qua lại lẫnnhau Từ sau 1986, tiểu thuyết Việt Nam có những đặc điểm và quy luật vậnđộng riêng, có sự phân định và cũng có sự cộng sinh giữa các khuynh hướng.Những “đổi mới, cách tân của tiểu thuyết thời gian qua, đặc biệt trên phươngdiện thi pháp thể loại nhờ vận dụng, pha trộn nhiều thủ pháp, kỹ thuật của lốiviết mới với muôn kiểu “trò chơi” (chơi ngôn ngữ, chơi lịch sử, chơi cấu trúc,chơi kết cấu, chơi nhân vật…), lắm những thủ pháp (“cắt dán”, “lồng ghép” –

“phân mảnh” – modular, phỏng nhại, liên văn bản, ký hiệu hóa, số hóa, vật hóa,

Trang 13

v.v…) quả thực có làm cho diện mạo và đặc điểm của tiểu thuyết Việt Namđương đại khác trước” [44; 7], không ngừng đổi mới về nội dung tư tưởng vàthi pháp thể loại Về nội dung tư tưởng, bức tranh hiện thực trong tiểu thuyếtmang đậm hơi thở cuộc sống, nhiều mảng màu đan xen hỗn tạp Về thi pháp thểloại, tiểu thuyết đã có những đổi mới về bút pháp, phương thức trần thuật vàkhắc họa nhân vật

Việc nhận diện các khuynh hướng tiểu thuyết dù dựa vào tiêu chí nào cũng

đều mang tính tương đối, bởi chúng có những điểm giao thoa với nhau Căn cứ

chủ yếu vào bút pháp, tác giả luận án có thể nhận diện tiểu thuyết Việt Namđương đại vận động và phát triển theo các khuynh hướng nổi trội như: khuynhhướng hiện thực – trào lộng, khuynh hướng hiện thực – huyền ảo, khuynhhướng hiện thực – tâm lý, khuynh hướng hiện thực – hiện sinh, khuynh hướnghiện thực – lịch sử (“Một số khuynh hướng của tiểu thuyết Việt Nam đương

đại”, Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Sư phạm thành

phố Hồ Chí Minh, số 1(66)/ 2015, tr 156 – 163)

Cách nhận diện trên phần nào cho thấy được diện mạo của tiểu thuyết ViệtNam đương đại, tuy nhiên, nó chỉ có tính chất tương đối, vì thường trong mộttác phẩm có thể tìm thấy sự giao thoa, chuyển hóa giữa các khuynh hướng khácnhau Sự phân chia các khuynh hướng nhằm nhận diện toàn bộ diện mạo tiểuthuyết Việt Nam đương đại thực ra là vấn đề phức tạp và không thể dừng lại, vìtiểu thuyết là thể loại chưa hoàn thành, đang tiếp diễn Nhà văn không nhữngnhận thức mà còn thể hiện bản chất của đời sống và hiện thực, bởi như ý của

Nguyễn Minh Châu nói trong Di cảo: đó mới là hiện thực cuộc sống đích thực.

Bằng tài năng và bản lĩnh nghệ thuật của mình, mỗi nhà văn luôn tìm tòi sángtạo, gắn thể loại với đời sống và có cái nhìn mới về hiện thực , nhằm tạo nênmột diện mạo mới cho nền tiểu thuyết nước nhà

1.1.2 Vấn đề tìm hiểu, nghiên cứu khuynh hướng hiện thực – trào lộng trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại

1.1.2.1 Về tìm hiểu, nghiên cứu tiếng cười trào lộng trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại

Nhiều nhà nghiên cứu trong nước và trên thế giới cho rằng, tiếng cười làmột trong những yếu tố ghi nhận trình độ trưởng thành của nhà văn cũng như

Trang 14

của một nền văn học Sự xuất hiện tiếng cười là một biểu hiện của sự vận động

đa dạng hóa hình thức thẩm mỹ trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại Tiếng

cười xuất hiện trong tiểu thuyết với tần số ngày càng cao sau một thời gian dài

“ngủ đông” đã cho thấy vai trò quan trọng của vấn đề dân chủ trong đời sống xãhội, là điều kiện để tiếng cười hồi sinh và phát triển Hầu hết, các nhà nghiêncứu đã nhận thấy sự xuất hiện trở lại của tiếng cười trong hàng loạt tiểu thuyếtxuất hiện từ sau 1986 như là một khuynh hướng chủ đạo Vượt lên sự trangnghiêm của phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa và tư duy sử thi trước đó,tiểu thuyết Việt Nam ngày càng chủ ý dùng tiếng cười như một phương tiệnhữu hiệu để nhận thức và phản ánh đời sống

Tiếng cười thường thể hiện tính cách của con người, thậm chí là phản ánhphẩm chất của một dân tộc Nguyễn Tuân đã tìm ra hơn một trăm từ ngữ dùng

để chỉ các dạng thái tiếng cười của người Việt Khi so sánh về tính dân tộc củatiếng cười, Đỗ Lai Thúy cho rằng: “Khác với tiếng cười Trung Hoa, người Tàu

dùng tiếng cười như công cụ để chuyển tải tư tưởng, từ Nho lâm ngoại sử của Ngô Kính Tử đến A.Q chính truyện của Lỗ Tấn Đó là tiếng cười thiên về châm

biếm, đả kích một cách thâm nho, lộng óc Còn tiếng cười Việt Nam thì xuấtphát từ bụng (cười rung bụng) tưởng như vô nghĩa (vì ít dùng làm công cụ), màthâm hậu” [171; 207]

Nhìn một cách khái quát, công cuộc đổi mới văn học đã làm thay đổi tưduy thể loại tiểu thuyết; quan niệm về hiện thực, về con người và phương thứctrần thuật là những vấn đề được bàn đến trong các bài viết, công trình nghiêncứu của Phong Lê, Trần Đình Sử, La Khắc Hòa, Nguyễn Văn Long, Lê NgọcTrà, Hà Văn Đức, Nguyễn Thị Bình, Lưu Khánh Thơ, Mai Hương, Tôn PhươngLan, Bích Thu, Trần Đăng Suyền, Biện Minh Điền, Nguyễn Đăng Điệp, LêQuang Hưng, Mai Hải Oanh Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, sự xuất hiện trởlại của tiếng cười trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại là minh chứng cho sựđổi mới và phát triển của thể loại văn học này

Trong “Cảm hứng phê phán trong văn chương hiện nay”, Huỳnh NhưPhương nhận xét về tiếng cười trong văn học: “Giống như trong câu chuyện cổvềông vua có tai lừa, văn chương ta, nhiều năm qua, trongkhi viết về xã hộiđương đại, đã cố gắng che nhau, các tác phẩm có tiếng vang đều bộc lộ cảm

Trang 15

hứng phê phán của nhà văn có một cái gì như là sự “phục thù” đối với quá khứ,một quá khứ thừa những bài tụng ca ” [141; 2]

Trong “Văn học Việt Nam sau 1945 – nhìn từ các mục tiêu của công việc

“Viết” (Nghiên cứu văn học, số 3/2005), Phong Lê khái quát đặc trưng thẩm

mỹ nổi bật của văn học sau 1975 nói chung, văn xuôi nói riêng bằng mệnh đề:

“Cái hài bên cái bi và một giai đoạn mới của văn học” Tác giả khẳng định sựxuất hiện trở lại của tiếng cười đã mở ra một “giai đoạn mới” là từ nhu cầucười, một nhu cầu tự nhiên của con người Tiếng cười là một phần của cuộcsống, có quyền tồn tại và phát triển trong văn học: “Cái cười, nhu cầu cười,không chỉ cái cười nghiêm trang của sự đả kích mọi loại kẻ thù mà còn là cườivui, cười nghịch, cười chế giễu, cười trong hàng ngũ chúng ta, cười chínhchúng ta, theo dạng truyện tiếu lâm, thơ Bút Tre, lúc nào cũng đòi quyền tồntại, như là một lẽ tự nhiên, mà thiếu nó, cuộc sống không chỉ mất đi ý vị mà còn

là không bình thường” [95; 88] Theo ông, nhu cầu trở lại tự nhiên ấy đã diễn ravào thập niên cuối của thế kỷ trước, tính từ 1986, nó đã xuất hiện trong tiểuthuyết của Đoàn Lê, Lê Lựu, Ma Văn Kháng, Phạm Thị Hoài Ông nhấn mạnh,cái hài và cái bi chính là một cặp tạo nên sự cân đối, hài hòa cho văn học, giúpcho văn học nói chung, tiểu thuyết nói riêng đi vào quỹ đạo để hòa nhập vớikhu vực và thế giới

Hoàng Ngọc Hiến khẳng định: “Hài hước là một tình cảm mỹ học có giátrị nhân bản và sức cảm hóa to lớn Tình cảm hài hước chế giễu những gì đángkhinh ghét, đồng thời làm dịu đi những tình cảm khinh ghét”[63; 96]

La Khắc Hòa cho rằng, việc bút pháp trào lộng xuất hiện ngày càng nhiềutrong tiểu thuyết đương đại như một sự cân bằng trạng thái trong văn học, nhằmphần nào giải tỏa áp lực của đời sống Theo ông, “Văn học thời kỳ đổi mớikhông thể cất lên thành tiếng hát Cái vô lý, phi lý, chất văn xuôi và vẻ đẹpcuộc sống phồn tạp chỉ có thể hóa thân vào tiếng cười trào tiếu, giễu nhại đểvăn học thế sự biến thành tiếng nói nghệ thuật” (Văn học Việt Nam sau 1975 – Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy) [101; 66] Ông nhận định, chưa bao giờthơ trào tiếu, truyện cười giễu nhại dân gian lại xuất hiện nhiều như những năm

1980 của thế kỷ trước, “hình như giễu nhại đã trở thành kiểu quan hệ đời sốngmang phong cách thời đại” [101; 66] Ông phát hiện ra tiếng cười trào tiếu, giễu

Trang 16

nhại thấm đẫm cảm hứng trào lộng trong nhiều tiểu thuyết của Nguyễn KhắcTrường, Ma Văn Kháng, Nguyễn Quang Thân, Phạm Thị Hoài Ông nhấnmạnh: “Sau 1975, văn học thế sự chuyển tiếng nói thành tiếng cười trào tiếu,giễu nhại Tiếng cười giễu nhại, trào tiếu mở đường cho văn xuôi phát triển, tạomôi trường để văn xuôi nói to hơn thơ” [101; 69]

Trong “Chất hài hước, nghịch dị trong Mười lẻ một đêm” Hoài Nam nhận

thấy, việc sáng tác tiểu thuyết bị đè xuống bởi sự đạo mạo, nghiêm trang thìkhông thể bật ra tiếng cười đúng nghĩa của nó: “Nếu tôi không nhầm thì kể từ

khi Số đỏ của Vũ Trọng Phụng ra đời đến nay, văn xuôi nghệ thuật nói chung

và tiểu thuyết Việt Nam nói riêng đã đánh mất (một cách rất đáng tiếc) tiếngcười hài hước Suốt một thời gian dài các nhà văn Việt Nam ít cười và cũng ítmuốn độc giả phải bật cười thông qua tác phẩm của mình Chúng ta quá trangnghiêm, trang nghiêm tới mức coi sự cười cợt thoải mái là một trò lố, một sự vô

bổ và thậm chí có hại” [215; 384] Có thể thấy, tiếng cười trào lộng đã khai phá,

mở đường cho văn xuôi Việt Nam phát triển

Với bài viết “Cười – chất lượng cao” (Văn nghệ Trẻ, số 9/2007), Vương

Trí Nhàn khẳng định chức năng chính của tiếng cười là giúp vào việc nhậnthức, khi nào nhân loại còn muốn và cần phát hiện lại đời sống, họ còn đượccười Tác giả cho rằng: “Những nhà văn viết hay là những người sắc sảo, câuchuyện của họ luôn mang đến tiếng cười Khả năng hài hước thường là tỉ lệthuận với tài năng văn học” [114; 7]

Trong “Cảm hứng trào lộng trong văn xuôi sau 1975” (Văn học, số

3/2008), Nguyễn Thị Bình nhấn mạnh cảm hứng trào lộng trong văn xuôi sau

1975 gắn bó mật thiết với quan niệm đa chiều về cuộc sống và con người, mộtquan niệm ít tính lý tưởng nhưng chân thực và sâu sắc hơn Nó là bằng chứngcủa tư duy văn học mang đậm tinh thần dân chủ của ý thức cá nhân được giảiphóng, đã đóng góp cho truyền thống nhân văn của văn học dân tộc nhiều vẻđẹp mới Tác giả nhận định: “Không có độc giả nào không nhận ra sự “phụcsinh” của tiếng cười như một đổi thay quan trọng trong nội dung cảm hứng củavăn xuôi giai đoạn này, nó mang đậm sắc thái dân chủ hóa và đem lại nhiều giátrị nhân văn quý giá, chi phối cả giọng điệu văn chương” [320; 39] Theo tác

Trang 17

giả, cảm hứng trào lộng gắn liền với sự phát hiện cái xấu, đây là phương diệnthể hiện tích cực xã hội của văn xuôi nói chung, tiểu thuyết nói riêng.

Trong “Vấn đề nhận thức và xử lý chất liệu hiện thực của tiểu thuyết ViệtNam đương đại”, Biện Minh Điền nhấn mạnh vấn đề nhận thức và xử lý chấtliệu hiện thực bằng tiếng cười trào lộng trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại:

“Quan sát toàn bộ văn học Việt Nam, không khó để nhận thấy có hai thời kỳcảm hứng trào phúng/ trào lộng phát triển mạnh trong văn học: 1, từ giữa thế kỷXIX đến 1945; 2, từ 1986 đến nay Đây là hai thời kỳ có lắm cái để cười nhất,kho cất giữ cái hài trong đời sống luôn luôn đầy ắp Vấn đề là có người biếtcười, thích cười và cười giỏi hay không mà thôi” [44; 5]

Luận án Yếu tố trào lộng trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại (2012) của

Trần Thị Hạnh đã góp thêm một tiếng nói khẳng định về tiếng cười trong tiểuthuyết Việt Nam đương đại bằng những khảo sát về yếu tố trào lộng và sự đổimới văn học Việt Nam đương đại, yếu tố trào lộng và các chủ đề cơ bản củatiểu thuyết Việt Nam đương đại, nghệ thuật biểu hiện yếu tố trào lộng trong tiểuthuyết Việt Nam đương đại Qua nhiều khảo sát về tiểu thuyết Việt Nam đươngđại, tác giả nhận định: “Bằng việc tạo tiếng cười trong tiểu thuyết, các nhà văn

đã làm nhuận sắc tiếng cười trong văn xuôi thời kỳ đổi mới, tiếp nối tiếng cườitrong văn mạch truyền thống dân tộc… Tiểu thuyết dùng tiếng cười vạch ranhững mâu thuẫn, những nghịch lý, phi lý, những lệch chuẩn đáng cười…Tiếng cười trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại mang ý nghĩa xã hội thẩm

mỹ, thấm đẫm nhân bản, đưa văn học Việt Nam hòa nhập vào cộng đồng vănchương nhân loại” [60; 196]

Bên cạnh các nhà nghiên cứu, lý luận phê bình văn học, các nhà văn, nhàthơ tên tuổi cũng có những nhận xét xác đáng về tiếng cười trào lộng trong tiểuthuyết Việt Nam đương đại Nguyễn Huy Thiệp nhận định: “Chỉ khi nào tố chấthài kịch xuất hiện ở trong tác phẩm của nhà văn lúc ấy mới biết chắc rằng nhàvăn có thật nhà văn hay không Cười được nghĩa là bay lên được trên các bikịch, trên các thành kiến và nguyên tắc” [165; 91] Ma Văn Kháng khái quát vềtiếng cười trào lộng trong tiểu thuyết đương đại: “Chất trào phúng, giễu nhạicay chua mà tâm thiện” [78; 326] v.v…

Trang 18

Các bài viết, các công trình nghiên cứu trên đều khẳng định tiếng cườixuất hiện ngày càng nhiều trong tiểu thuyết đương đại, và đó là một phẩm chấtquý của nền văn học hiện đại Thời mở cửa, cuộc sống phơi bày tất cả những gìtạo nên khuôn mặt thật của nó, sự gia tăng tiếng cười trong tiểu thuyết là điềutất yếu và vô cùng cần thiết Tiếng cười trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại

đa dạng, phong phú, có khả năng cảnh báo và thức tỉnh người đọc

1.1.2.2 Vấn đề nghiên cứu khuynh hướng hiện thực – trào lộng trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại

Cảm hứng trào lộng trong tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1986 gắn với sự đổimới tư duy, quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con người Nhà văn chiếuvào cuộc sống và con người cái nhìn đời tư, thế sự, trên tinh thần dân chủ và sựtôn trọng ý thức cá nhân Việc sử dụng phổ biến bút pháp trào lộng là biểu hiện

rõ nét quan niệm về bản chất dân chủ của thể loại, cái hài được thể hiện đậm nétqua các phương diện, các yếu tố cấu thành tác phẩm Giới nghiên cứu, phê bìnhcũng như sáng tác đã có những nhận xét xác đáng về không ít tác phẩm viếttheo khuynh hướng hiện thực – trào lộng trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại

Thời xa vắng (1986) của Lê Lựu tuy không thuộc khuynh hướng hiện thực

– trào lộng nhưng rất đáng được xem là cuốn tiểu thuyết đã “chuyển hướng rõrệt trong phong cách nghệ thuật Do cách nhìn hiện thực mới, sâu sắc và nhuầnnhị hơn, đã đem lại cảm hứng mới, giọng điệu mới cho tác giả” (Nguyễn Văn

Lưu) [197; 104] Thời xa vắng là “một tiểu thuyết giễu nhại độc đáo Nó không

cần sử dụng những thủ pháp lạ hóa quen thuộc như phóng đại hay vật hóa hìnhảnh con người để làm nổ ra tiếng cười Nó chỉ đơn giản thuật lại những chuyện

“thật như đùa” mà đã có thể tạo ra được hình tượng giễu nhại Nhờ thế, lời văn

của Thời xa vắng khi thì như bông đùa, lúc lại xót xa, chì chiết, nhưng giễu nhại

bao giờ cũng là giọng điệu chủ đạo của nó” (La Khắc Hòa) [101; 67] Giễu nhại

là giọng điệu chủ đạo trong các tiểu thuyết của Lê Lựu thời đổi mới, với ngônngữ hài hước đời thường, nhiều khi là mộc mạc đến quê kiểng, nó giúp nhà vănđưa những yếu tố trào tiếu dân gian vào tác phẩm, có lẽ vì thế mà tác phẩm củaông gần gũi với bạn đọc

Lady Borton, nữ nhà văn kiêm dịch giả người Mỹ (người hiệu đính bản

tiếng Anh cuốn Mảnh đất lắm người nhiều ma (1990) của Nguyễn Khắc

Trang 19

Trường) trả lời Báo Thể thao – Văn hóa ngày 15/10/1999: “Giá trị thẩm mỹ cao

nhất của tác phẩm văn học là hình tượng nghệ thuật, Nguyễn Khắc Trường đãgóp phần vào cho nền tiểu thuyết hôm nay những hình tượng nhân vật mang giátrị thẩm mỹ giáo dục sâu sắc ” Nguyễn Đăng Mạnh nhận định: “Đã lâu lắmmới xuất hiện một tác phẩm viết về nông thôn Việt Nam theo đúng các mạch

của Tắt đèn, Chí Phèo… Mảnh đất lắm người nhiều ma là một cuốn truyện hấp

dẫn nhờ nghệ thuật kể chuyện Sự hấp dẫn tình tiết, sự tổ chức các tình huống

đã tạo được nhiều bất ngờ” [223; 391]

Ngày 25/1/1991, Báo Văn nghệ tổ chức thảo luận, tuy có nhiều ý kiến khác

nhau nhưng nhận định chung về cuốn sách là thú vị, hấp dẫn Hà Minh Đức chorằng, Nguyễn Khắc Trường viết về nông thôn với cách nhìn chân thực, tác giả

Nguyễn Thị Bình nói về Thiên sứ: “Phạm Thị Hoài giễu lối phản ánh hiện

thực” thụ động và phiến diện bằng cách sáng tạo một hiện thực ảo, cố tình thoát

ly hẳn cái quen thuộc của đời sống, mô hình hóa tất cả hiện thực trong cõi nhânsinh không có chuyện nào là nghiêm túc, chuyện nào cũng vô nghĩa và nựccười” “Phạm Thị Hoài thông qua bút pháp huyền thoại pha trộn trào phúng, soithế giới vào tấm gương cong, mô hình hóa toàn bộ hiện sinh của con người,công khai đi ngược lại nguyên tắc miêu tả hiện thực truyền thống” Và, “PhạmThị Hoài vừa nhại các thể loại vừa tìm cách dung hợp chúng Các nhân vật là sựnhại lại để phá hủy một số kiểu nhân vật của văn học thời trước” [17; 3]

Trao đổi về Ba người khác (Hội Nhà văn Hà Nội tổ chức tại Viện Văn

học), nhiều ý kiến đã đánh giá cao chất trào tiếu được sử dụng khi một vấn đềnghiêm chỉnh được Tô Hoài đặt ra trong cuốn tiểu thuyết này Trong “Nhân đọc

Ba người khác” (18/12/2006), Lại Nguyên Ân nhận xét: “chủ nghĩa đồ vật”

(chosisme) trong văn xuôi Việt Nam, chất “quỷ” như một phẩm chất nên có ởnhà văn “Chất “đồ vật”, “loài vật” được nhấn mạnh trong sự thể hiện nhiềunhân vật, cảnh sống ở đây, đặc biệt là về hai phương diện ăn uống và tính giao,

Trang 20

tuy được mô tả tự nhiên như rút lấy từ trải nghiệm, thật ra là đáp ứng sự “lýgiải”, “cắt nghĩa” của nhà văn về sự kiện rung trời chuyển đất những năm 1950trên đất Việt, khi mà cơn thác bùn này cho thấy nó có thể làm tha hoá con ngườiđến mức nào… Ở nhà tư tưởng và nhất là ở nhà văn, chất “quỷ”, “chất

Mephisto” là nên có, cần có… Sáng tác của Tô Hoài, ví dụ tiểu thuyết Ba người khác này, hẳn cũng thuộc trường hợp như thế”.

Luật đời và cha con (2005), Lửa đắng (2008), Gã tép riu (2013), Vỡ vụn

(2015) là những cuốn tiểu thuyết không mới về đề tài, nhưng rất mới ở cách đặtvấn đề và điểm nhìn trần thuật của nhà văn Tác giả mạnh dạn đưa vào tácphẩm của mình những vấn đề nóng bỏng của xã hội, những bất cập, những mặttrái của cơ chế, độ chông chênh giữa lý luận và thực tiễn, kể cả phương thứclãnh đạo của một số cán bộ cao cấp đã ảnh hưởng đến số phận mỗi con người,

“buộc họ phải đối diện, tranh đấu với chính mình và hoàn cảnh để tự khẳngđịnh mình sau những trải nghiệm và trả giá” [75; 531] Tác giả đã công phá trựcdiện vào hiện thực nóng bỏng của đất nước hôm nay, một hiện thực đầy phứctạp và nhọc nhằn của công cuộc đổi mới mà tác giả gọi là “cuộc vật vã trongcơn đau đẻ” [208; 619] Nguyễn Bắc Sơn đã thể hiện một ngòi bút trào lộng,giễu nhại sắc sảo trong việc xử lý, chuyển tải những vấn đề nhức nhối, nóngbỏng của cuộc sống hôm nay

Vết sẹo và cái đầu hói (2006) là cuốn tiểu thuyết phê phán con người tham

quyền cố vị, gây nhiều tranh luận khi vừa mới ra đời Sự thành công của VõVăn Trực trong cuốn sách này là lật mặt những con người bị “ngộ độc quyềnlực” Nguyễn Trọng Tạo cho rằng, không phải ngẫu nhiên mà độc giả cả nướcsăn lùng cuốn tiểu thuyết này, vì “đấy là một cuốn tiểu thuyết viết vô cùng sinhđộng về một loại nhân vật mới – Quách Quyền Lực – một quan tham trong giớitrí thức văn nghệ với hàng loạt mưu mô thâm hiểm để nắm giữ nhiều chức vụ,thâu tóm quyền lực, lộng hành cả một cơ quan lớn của nền “văn hiến – họcthuật” nước nhà nhằm phục vụ những mưu đồ cá nhân Người thủ trưởng cơquan văn hiến có tên là Quách Quyền Lực đã biến cơ quan thành một bãi chiếntrường, nghi kỵ nhau, hằn học nhau, và tiêu diệt lẫn nhau mà họ không hề biết

âm mưu tàn nhẫn của thủ trưởng là “chia để trị”” (Dân trí, 10/6/2006)

Trang 21

Trong Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn

1986 – 2006 (2008), Mai Hải Oanh cho rằng các tác phẩm Thời xa vắng (Lê Lựu), Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), Cõi người rung chuông tận thế và Mười lẻ một đêm (Hồ Anh Thái), Thượng đế thì cười (Nguyễn Khải), T mất tích

(Thuận)… là những tác phẩm sử dụng bút pháp trào lộng, giễu nhại thành công.Trong số các nhà văn đương đại, Nguyễn Khải “sớm nhận ra phải nhanhchóng từ giã thời lãng mạn, giản đơn, dễ dãi để viết những tác phẩm mang quan

điểm cá nhân Khi Thượng đế thì cười xuất hiện, người đọc bất ngờ nhận thấy một Nguyễn Khải mới mẻ với chất giọng giễu nhại sắc sảo Người sông Mê của

Châu Diên cũng sử dụng thủ pháp nhại: “nhại nhịp điệu sống quẩn quanh (quacách tổ chức ngữ điệu, nhịp điệu), nhại các loại giọng (giọng quyền uy bên cạnhgiọng dân dã, giọng nghiêm túc và cả giọng bông phèng…) Hồ Anh Thái cũng

là nhà văn có ý thức sử dụng bút pháp giễu nhại và phương cách trần thuật này

ám cả vào giọng điệu của nhà văn” [137; 44] Nhiều nhà nghiên cứu đánh giá

cao chất giọng giễu nhại của Nguyễn Khải trong Thượng đế thì cười Nói về

mình, nhưng lại dùng ngôi thứ ba để khách quan hóa, Nguyễn Khải rất thànhcông với lối viết tự trào Mai Hải Oanh nhận xét: “Cái cười của Nguyễn Khảivừa bao dung vừa nâng tầm nhận thức về một thời giản đơn và ấu trĩ, đầy ngộ

nhận” [137; 41] Nguyễn Quốc Trung đánh giá: “Tiểu thuyết Thượng đế thì cười như chính ông cho biết, sẽ khép lại một đời văn Thời gian gần đây, văn

xuôi nước ta, trong đó có tiểu thuyết đã đổi mới nhiều, nhất là cách viết

Thượng đế thì cười trong chừng mực nào, đã góp thêm cách thể hiện mới Tác

phẩm này có nhiều giọng, nhưng đậm nhất vẫn là chất hài, yếu tố nhại, tác giảnhại lại chính mình, tạo nên tiếng cười hóm hỉnh Đây là lối trào lộng của thipháp tiểu thuyết hiện đại Có lẽ vì vậy, trong chừng mức nào đó, nó mang tính

đa thanh”[131; 98]

Bàn về Những mảnh đời đen trắng, Phạm Xuân Nguyên nhận xét, cuốn

tiểu thuyết mà khi xuất hiện trên văn đàn, nhiều “con mắt sử thi đã không thểnào chịu nổi cách nhìn về thân phận con người và cuộc sống của tác giả Nhưngcũng đã có nhiều tiếng nói bảo vệ, cho rằng đấy là một cách xót thương nhânvật của Nguyễn Quang Lập thương đến mức anh không thể khóc mà phải lấycái cười có chua chát, có châm chọc, có khỏa lấp, để chia sẻ cùng nhân vật

Trang 22

những hoạn nạn mà họ phải gánh chịu do thời thế, con người Chỉ bằng tài năngthiên bẩm và sự trải nghiệm sớm cuộc sống, Lập mới có được cái giọng văn hàihước mà đau đớn thấm đẫm cả cuốn tiểu thuyết đầu tay” Thụy Khuê nhận xét,Nguyễn Quang Lập “đã tạo nên một không khí hài hước trong một cốt truyện bi

thảm” (NQL Những mảnh đời đen trắng Quechoa.inffo).

Trong Vấn đề nhận thức và xử lý chất liệu hiện thực của tiểu thuyết Việt Nam đương đại (2014), Biện Minh Điền đã có phát hiện xác đáng là giữa hai

khuynh hướng hiện thực – trào lộng và hiện thực – huyền ảo có mối quan hệtương liên với nhau Trên thực tế, nhiều tác giả đồng thời vận dụng kết hợp cả

hai phương thức, tiêu biểu như Hồ Anh Thái với Mười lẻ một đêm, SBC là săn bắt chuột; Đỗ Minh Tuấn với Thần thánh và bươm bướm Đỗ Minh Tuấn đã

xử lý rất thành công thế giới hiện thực trong tác phẩm, bi hài lẫn lộn.Kiểu hiệnthực được nhận thức ở đây là “rất thực”, tuy nhiên lại rất hư huyễn, tất cảquay cuồng xoay quanh thần thánh và bươm bướm: “Cách xử lý chất liệu hiệnthực nhờ vận dụng các thủ pháp huyền ảo và trào lộng của Đỗ Minh Tuấn rất

tinh quái… Có thể thấy trong Thần thánh và bươm bướm vừa có cách xử lý

chất liệu hiện thực của Market, vừa có cách xử lý của Bồ Tùng Linh, lại vừa cócách xử lý của Vũ Trọng Phụng” [44; 7]

Hồ Anh Thái là hiện tượng được đông đảo công chúng và giới phê bìnhquan tâm, tuy có nhiều ý kiến khác nhau nhưng đều có nhận xét chung là tiểuthuyết của ông có khả năng châm biếm, trào lộng sâu rộng Nguyễn Đăng Điệpnhận xét: “Trong truyện Hồ Anh Thái, nhất là giai đoạn sau, ta bắt gặp khánhiều chất giọng giễu nhại Cái nụ cười chua chát về cõi nhân sinh, khả năng lậttẩy những trớ trêu, nghịch cảnh trong đời chỉ có thể có được khi nhà văn khôngnhìn đời bằng cảm hứng lãng mạn thuần túy màu hồng mà nhìn nó như những

mảnh vỡ” [215; 348] Nhận xét về Trong sương hồng hiện ra, Wayne Karlin

cho rằng: “chất hài hước, chất lạ quyện với chất Kafka dường như gây bất ngờcho người phương Tây khi họ tìm hiểu về văn học Việt Nam” (Phần giới thiệu

sách Người đàn bà trên đảo, Trong sương hồng hiện ra, Nxb Phụ nữ, 2005) Hồ

Anh Thái là người viết có nghề, thông minh, hài hước, tinh quái và ngày cànghiện đại Đó là lý do để có nhiều người viết về ông, nhiều luận văn chọn ônglàm đề tài mà trong phạm vi này, chúng tôi chưa nêu hết được

Trang 23

Ngày 12 tháng 12 năm 2016, Phạm Thị Thu bảo vệ thành công luận án

Parody/ Nhại trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại (Trường Đại học Sư phạm

Hà Nội) Luận án tập trung tìm hiểu, nghiên cứu hai vấn đề: Parody/ Nhại vănbản và các phong cách ngôn ngữ trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại (chương2), Parody/ Nhại thể loại trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại (chương 3) Tácgiả giới thiệu và hệ thống lý thuyết parody/ nhại của thế giới và trong nước(chương 1), từ đó đi sâu phân tích các hình thức parody/ nhại trong tiểu thuyếtViệt Nam từ 1986 đến nay Tác giả đã chứng minh parody/ nhại như một hiệntượng tồn tại khách quan, đáng ghi nhận trong lịch sử, đồng thời, xem nó nhưmột hướng thể nghiệm trên hành trình tự vượt mình để hòa nhập với văn họcthế giới của tiểu thuyết Việt Nam đương đại

Các hội thảo, bài báo và công trình nghiên cứu trên đã đề cập sâu rộng đếnyếu tố trào lộng, cảm hứng trào lộng, bút pháp trào lộng trong tiểu thuyết đươngđại Đó là những tư liệu quý, là cơ sở để chúng tôi một lần nữa khẳng định cómột khuynh hướng hiện thực – trào lộng trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại.Khuynh hướng tiểu thuyết này đã có những đổi mới quyết liệt, tỏ ra ưu trộitrong việc nhận thức và xử lý chất liệu hiện thực, tất cả đều thích ứng với yêucầu thể loại Hy vọng là kế thừa thành tựu của những người đi trước, luận án sẽ

đi sâu khảo sát trên một diện rộng hơn, hệ thống hơn để cho thấy rõ một khuynhhướng đặc sắc vốn bị ngắt quãng trong một thời gian dài, đang hồi sinh và trởlại với một phong độ mới, có những đóng góp cho thành tựu của tiểu thuyếtđương đại Việt Nam

1.2 Cơ sở lý thuyết của đề tài

1.2.1 Lý thuyết về mối liên hệ giữa văn học và hiện thực, văn học phản ánh hiện thực

Trong lịch sử nghiên cứu văn học, đã có nhiều lý thuyết khẳng định vănhọc là sự nhận thức, phản ánh hiện thực Từ thời cổ đại, Aristote đã nói văn học(thi ca) do mô phỏng cái khả nhiên mà giàu tính triết lí hơn lịch sử Triết họcduy vật biện chứng biểu hiện hiện thực là cặp phạm trù đối lập và chuyển hoácho nhau, “hiện thực là cái tồn tại với tư cách là kết quả thực hiện của một khảnăng nào đó, còn khả năng là khuynh hướng phát triển của một tiềm năng hiệnthực nào đó” [148; 4]

Trang 24

Văn học không phản ánh hiện thực như lịch sử, thông tấn, báo chí… màphản ánh hiện thực trong những ý nghĩa do thực tế và khả năng đời sống gợi ra.

Nó thiên về phản ánh cái khả nhiên, bởi đặc điểm con người là không chỉ quantâm đến thực tại mà còn quan tâm đến cái khả năng (quá khứ, tương lai, tìnhcảm, tâm linh…) Cái khả năng là cái chưa trở thành hiện thực, vì thế, “nhà vănmới có thể dùng hư cấu sáng tạo để làm cho cái khả năng tiềm tại hiện hình lênmặt giấy cho mọi người quan sát, thể nghiệm, thực hiện chức năng dự báo củavăn học” [148; 4] Bản chất hiện thực bao hàm cả cái khả năng, vì thiếu tínhkhả năng thì hiện thực chưa phải là hiện thực của văn học

Cuộc sống hàm chứa vô vàn khả năng hiện thực và khả năng phi hiện thực,trong hoàn cảnh cụ thể, con người chỉ có thể thực hiện được một trong sốnhững khả năng đó Những khả năng chưa được thực hiện vẫn nằm trong ký ứccủa con người, và con người sẽ thực hiện nó trong một điều kiện cụ thể nào đó

Vì vậy, cái khả nhiên là hiện thực duy nhất có trong văn học, vì nó là nhữngkhả năng để nhà văn sáng tạo thế giới hình tượng nghệ thuật và thể hiện tưtưởng, tình cảm, quan điểm nghệ thuật của mình Văn học phản ánh cái hiệnthực khả nhiên, do đó, có chức năng dự báo và giải phóng tư duy con ngườikhỏi những khuôn mẫu có sẵn

“Văn học phản ánh hiện thực” là mệnh đề được xác lập dựa trên mối liên

hệ giữa văn học với hiện thực Platon cho rằng “mô phỏng” (mimesis) là môphỏng thế giới bên ngoài, chưa phải bản chất Aristote quan niệm đấy là sự môphỏng con người, hành động, tự nhiên, bởi nghệ thuật không mô phỏng cái dĩ

nhiên, mà mô phỏng “cái khả nhiên” của thế giới để tạo ra thế giới có giá trị

triết lí và thẩm mĩ, và vì thế, thơ ca (văn học) mang đậm chất triết lí hơn lịch sử

Từ thời Phục hưng cho đến trước chủ nghĩa lãng mạn, tư tưởng mô phỏng hiệnthực vẫn là tư tưởng chủ yếu của phê bình:văn học là tấm gương phản chiếu đờisống xã hội (Stendhal), nhà văn là thư kí của thời đại (Balzac)…

Đối với các bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực, “phản ánh hiện thực cónghĩa là tìm kiếm các giá trị nhận thức, đạo đức, thẩm mỹ của đời sống, lột trầncác dối trá, phơi bày mọi ung nhọt, xé toạc mọi mặt nạ, là dấn thân vào tiếntrình tiến bộ của xã hội Các tư tưởng đó đã diễn đạt khá đúng và hay về mốiquan hệ giữa văn học và đời sống lịch sử trên tầm vĩ mô, nghĩa là toàn bộ các

Trang 25

sự kiện, nhân vật, tư tưởng, tình cảm thể hiện trong văn học nghệ thuật đều là

sự phản ánh của đời sống xã hội” [148; 4]

Tuy nhiên, xem lý thuyết phản ánh là duy nhất để giải thích, cắt nghĩa mốiliên hệ giữa văn học và hiện thực là chưa đủ, vì với phương diện nhận thức, lýthuyết phản ánh chưa thể đi vào các quy luật sáng tạo của văn học và quy luậttiếp nhận của người đọc Giá trị thẩm mỹ của một tác phẩm văn học đều bắtnguồn từ hiện thực, nó “được quy định bởi tính đặc thù giữa quan hệ thẩm mỹgiữa con người đối với hiện thực” [58; 130] Bởi vì, “để hiểu nghệ thuật người

ta phải nghiên cứu quy luật sáng tạo, tâm lí học sáng tạo, kí hiệu học, tiếp nhậnnghệ thuật… nhưng không vì thế mà phủ nhận văn học phản ánh hiện thực, tức

là phản ánh sự kiện, kinh nghiệm, tư tưởng, tình cảm của con người trong vănhọc” [148; 5]

Theo Trần Đăng Suyền, “mỗi trào lưu nghệ thuật đều có những nguyên tắctái hiện đời sống riêng Đó cũng là một trong những đặc điểm quan trọng đểphân biệt chủ nghĩa hiện thực với các trào lưu văn học khác Trong việc tái hiệnđời sống, chủ nghĩa hiện thực đã hình thành những nguyên tắc nghệ thuật riêng,

có tính hệ thống, chặt chẽ và sâu sắc” [150; 22] Nghiên cứu văn học hiện thựcViệt Nam giai đoạn 1930 – 1945, ông đã chỉ ra năm nguyên tắc tái hiện đờisống của chủ nghĩa hiện thực là nguyên tắc lịch sử – cụ thể, nguyên tắc phảnánh hiện thực bằng chính hình thức của bản thân đời sống, nguyên tắc đảm bảotính chân thực của chi tiết, nguyên tắc chú trọng mối quan hệ biện chứng giữatính cách điển hình và hoàn cảnh điển hình và nguyên tắc biểu hiện Theo ông,chủ nghĩa hiện thực tái hiện hiện thực đời sống là hướng tới tính xác thực trựctiếp của sự miêu tả, nó như là tiêu chuẩn cơ bản của nghệ thuật hiện thực Khái niệm chủ nghĩa hiện thực dùng để “chỉ một phương pháp nghệ thuật,hay một khuynh hướng, một trào lưu văn học có nội dung chặt chẽ, xác địnhtrên cơ sở các nguyên tắc mỹ học” [58; 67] Văn học hiện thực là thuật ngữdùng để “xác định quan hệ giữa tác phẩm văn học đối với hiện thực, bất kể tácphẩm đó là của nhà văn thuộc trường phái hoặc khuynh hướng văn nghệ nào”[58; 67] Khuynh hướng hiện thực là một hiện tượng văn học có tính chất lịch

sử, gắn liền với thời đại sản sinh ra nó, tồn tại và phát triển trong sự tác độngqua lại với các khuynh hướng khác Cảm hứng chủ đạo của khuynh hướng này

Trang 26

là phản ánh hiện thực xã hội, có tính chất phê phán hoặc ngợi ca, phủ định hoặckhẳng định Về phương diện phản ánh, khái niệm chủ nghĩa hiện thực gần vớikhuynh hướng hiện thực, được xác định trên cơ sở các nguyên tắc mỹ học: phảnánh bản chất hiện thực cuộc sống và điển hình hóa bằng hình tượng nghệ thuật,thể hiện mối quan hệ giữa con người với đời sống xã hội, chú trọng chi tiết tiêubiểu và khách quan hóa đối tượng miêu tả Từ đầu thế kỷ XX đến 1945, vănhọc Việt Nam chuyển bước phát triển theo hướng hiện đại hóa và “đã hìnhthành nhiều khuynh hướng văn học”, trong đó có khuynh hướng hiện thực Từđầu thập niên 30 của thế kỷ XX, “khuynh hướng tả thực đã thực sự chiếm ưuthế trên văn đàn, ngày càng phát triển mạnh mẽ” [150; 21] Vì những lý dokhách quan và chủ quan, khuynh hướng văn học hiện thực của nước ta xuất

hiện muộn hơn so với thế giới khoảng một thế kỷ Nghệ thuật văn học hiện thực

xuất hiện khi hình tượng thẫm mỹ gắn với cái thực, xuất phát từ cái thực và tìmcảm hứng từ cái thực Trong ý thức sáng tạo của mình, nhà văn luôn hướng vàoviệc phát hiện, nhận thức hiện thực và dùng các thủ pháp nghệ thuật để thể hiệnhiện thực Cốt lõi của khuynh hướng hiện thực là tinh thần phân tích xã hội,nhận thức và khám phám phá về sự thật con người và cuộc sống Khuynhhướng văn học hiện thực có nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật gắn vớithời đại mà nó ra đời, vì nó “chỉ có thể xuất hiện khi nào con người đạt đến mộttrình độ tri thức nhất định về thế giới, về tự nhiên và xã hội, về bản thân conngười – đối tượng trung tâm của văn học” [150; 16] Giai đoạn 1930 – 1945,khuynh hướng hiện thực được kế thừa và phát triển từ văn học có cảm hứnghiện thực trong quá khứ Có thể tìm thấy tiền đề này trong văn học trung đại(Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ, Nguyễn Du, Lê Hữu Trác, đặc biệt làNguyễn Khuyến, Trần Tế Xương) Khuynh hướng hiện thực bắt đầu hình thành

từ sáng tác của Hồ Biểu Chánh, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, v.v Đầu thế

kỷ XX, chế độ thực dân nửa phong kiến đã bộc lộ rõ bộ mặt thật phi nhân tínhcủa giai cấp thống trị và tình trạng khốn cùng của nhân dân từ thành thị đếnnông thôn Hiện thực lịch sử là điều kiện cho sự ra đời khuynh hướng hiện thựctrong văn học, nhằm đáp ứng những vấn đề thiết yếu của đời sống xã hội.Khuynh hướng văn học hiện thực ra đời như một tất yếu của tiến trình lịch sử

Trang 27

văn học, đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ của con người, thời đại sản sinh ra nó vànhiều nhu cầu khác cho sự phát triển xã hội.

“Văn học phản ánh hiện thực” là mệnh đề tưởng như đã trở thành địnhluận Nhưng rồi, “nó được hiểu, được diễn giải theo nhiều cách khác nhau,được bàn đi bàn lại, được bổ sung, điều chỉnh, thậm chí được/ bị “xét lại” bởinhiều quan điểm, lý thuyết khác nhau về mối liên hệ giữa văn học với hiệnthực, đời sống, xã hội” [44; 1] Đây là một vấn đề được giới nghiên cứu, lý luậncũng như giới sáng tác đặc biệt quan tâm và đặt ra sớm nhất từ những ngày đầu

đổi mới Trong bài “Vấn đề phản ánh hiện thực” (Văn nghệ, số 20/1988), Lê

Ngọc Trà đặt ra ba vấn đề là văn học và nhiệm vụ phản ánh hiện thực, vai tròcủa chủ thể trong sáng tạo văn học, các tác giả kinh điển với vấn đề văn họcphản ánh hiện thực Trong Hội thảo “Phản ánh hiện thực là chức năng hay là

thuộc tính của văn học?” (Văn học, số 1/1989), Lê Xuân Vũ cho rằng: “Hiện

thực trong mệnh đề “văn học phản ánh hiện thực”… được hiểu là cuộc sống củacon người với tất cả sự phong phú, đa dạng của nó, bản chất và quy luật pháttriển của nó, chứ không phải chỉ là các sự kiện, hiện tượng, chi tiết ngẫu nhiênhoạt động bên ngoài của con người”; và, “phản ánh không phải là sao chụp,phản chiếu lại như trong một tấm gương mà là phản ánh theo lý luận phản ánhcủa V Lenin, phản ánh có sáng tạo, phản ánh bằng nghệ thuật” Lê Ngọc Tràquan niệm: “Phản ánh hiện thực đã bao hàm trong đó có sự “nghiền ngẫm” vềhiện thực, cho nên không thể tách “phản ánh” với “nghiền ngẫm” như là hai quátrình độc lập” Nghĩa là, không nên đối lập hai nhiệm vụ của văn học để khẳngđịnh nhiệm vụ này mà phủ định nhiệm vụ kia Có những ý kiến phản đối quanđiểm của Lê Ngọc Trà (Lê Xuân Vũ, Phương Lựu, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức,Phong Lê…); có những ý kiến đồng tình (Nguyễn Văn Hạnh, Trương ĐăngDung, Nguyễn Nghĩa Trọng, Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Huệ Chi…) TheoHoàng Ngọc Hiến, bài viết của Lê Ngọc Trà là những nỗ lực đáng chú ý để xáclập chân lý khoa học, loại chân lý làm việc giúp ích cho sự suy nghĩ, tìm tòi.Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Nghĩa Trọng đều khẳng định những nhận xét, đánhgiá của Lê Ngọc Trà là khá xác đáng, khoa học Nguyễn Huệ Chi, Trương ĐăngDung đều cho rằng: “Phản ánh hiện thực là thuộc tính của văn học” Trong bài

“Văn học phản ánh hiện thực” (Văn nghệ quân đội, số 6/1988), Lê Thành Nghị

Trang 28

quan niệm: “Phản ánh hiện thực, đó là một thuộc tính của văn học, nhưng mụcđích tối thượng của văn học có lẽ không chỉ dừng lại ở đó Dùng hiện thực làmphương tiện, văn học còn đi xa hơn nữa, đó là nó nhằm hoàn thiện con người”.

Trong Văn học và hiện thực (Nxb Khoa học Xã hội, 1990), ở trang 192, nhân

bàn về đặc trưng phản ánh nghệ thuật của hai nhà lý luận Lucate và Cottoen,Trương Đăng Dung viết: “Tất nhiên, hiện thực không tự dưng mà vào tác phẩm,nhưng khi chúng ta thừa nhận lý thuyết phản ánh thì rõ ràng phản ánh hiện thực

là một thuộc tính mà bất kỳ nghệ sĩ nào cũng có” Những ý kiến không đồngtình với Lê Ngọc Trà ở hai điểm là không thể đồng nhất phản ánh hiện thực vớighi chép, mô tả về hiện thực; không thể đối lập giữa phản ánh hiện thực vớinghiền ngẫm về hiện thực để từ đó phủ nhận nhiệm vụ hàng đầu của văn học làphản ánh hiện thực Dẫu sao, ý kiến của Lê Ngọc Trà cũng là một sự khuyếncáo về sự nệ thực của văn học Theo Biện Minh Điền, hệ lụy của “cách hiểu thụđộng từ “phản ánh” và “việc đề cao quá mức đặc tính phản ánh và nhiệm vụ mô

tả hiện thực của văn học” ấy đã dần dần được khắc phục trong văn học ta, nhất

là ở tiểu thuyết thời gian qua (từ sau 1986) Tuy nhiên cũng không vì thế màcực đoan phủ định chức năng phản ánh hiện thực” của văn học mà tiểu thuyết làthể loại có khả năng lớn lao nhất” [44; 2]

Chúng tôi cho rằng, nghệ thuật không chỉ đơn thuần là sự phản ánh hiệnthực, mà còn là vấn đề nhận thức và cách thức xử lý chất liệu hiện thực của nhàvăn Về phương diện lý luận phản ánh, hiện thực được thể hiện trong tác phẩmcũng như tư tưởng và tình cảm của nhà văn đều là thuộc tính của văn học Vềphương diện lý luận nghệ thuật, hiện thực được phản ánh trong tác phẩm là quátrình nhận thức và sáng tạo nghệ thuật của nhà văn Bản chất và chức năng củavăn học là nhận thức hiện thực, quan trọng hơn là vấn đề xử lý chất liệu hiệnthực của nhà văn Văn học chân chính dù ở đâu và bao giờ cũng là nơi nhà văngởi gắm những suy tư, tư tưởng, quan điểm và khát vọng chân – thiện – mỹ củamình Vấn đề ở đây không chỉ là sự phản ánh hiện thực mà còn là sự đối thoại,

là niềm tin và hy vọng về con người và cuộc sống của nhà văn

1.2.2 Lý thuyết về trào lộng, trào phúng và các loại hình, thể loại của văn học trào lộng, trào phúng

Trang 29

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, trào phúng là “một loại đặc biệt của sáng

tác văn học”, “đồng thời cũng là một nguyên tắc phản ánh nghệ thuật trong đócác yếu tố của mỉa mai, châm biếm, phóng đại, khoa trương, hài hước được

sử dụng để chế nhạo, chỉ trích, tố cáo, phản kháng những cái tiêu cực, xấu xa,lỗi thời, độc ác trong xã hội” [58; 306] Theo nghĩa từ nguyên, trào phúng là

“dùng lời lẽ bóng bẩy, kín đáo để cười nhạo, mỉa mai kẻ khác, song trong lĩnhvực văn học, trào phúng gắn liền với phạm trù mỹ học và cái hài với các cungbậc hài hước, umua, châm biếm” [58; 306] Trào phúng là tiếng cười châmbiếm, phê phán, đả kích những hiện tượng đáng lên án trong xã hội Văn họctrào phúng “bao hàm một lĩnh vực rộng lớn với những cung bậc cái hài khác

nhau từ những truyện cười, truyện tiếu lâm đến tiểu thuyết (như Số đỏ), từ các

vở hài kịch đến những bài thơ trào phúng, châm biếm” [58; 306] Trong Hán – Việt từ điển, Đào Duy Anh giải thích: trào là cười, cười nhạo; lộng là ngắm

nghía, chơi Trào lộng là đùa cợt, giễu nhại, chế giễu, hài hước nhằm vào thói

hư tật xấu hoặc những cái lố bịch trong đời sống xã hội nhằm đem lại tiếngcười Trong văn học, trào lộng hay trào phúng đều là nghệ thuật tạo ra cái hàivới những cung bậc khác nhau, nhằm tạo ra tiếng cười đa âm sắc Cái hài là

“một hiện tượng thẩm mỹ khách quan, mang ý nghĩa xã hội sâu sắc Đó lànhững cái xấu đội lốt cái đẹp, bị phát hiện bất ngờ và gây ra tiếng cười tích cực,phê phán cái xấu dưới ánh sáng của một lý tưởng thẩm mỹ tiến bộ” [61; 177]

Từ cơ sở của những quan niệm trên, tác giả luận án xác định trào phúng vàtrào lộng về cơ bản là tương đồng, cùng một “hệ hình” của tiếng cười, tuy nhiên

có khác nhau chút ít ở đối tượng của tiếng cười và mức độ của tiếng cười Tràophúng thường là tiếng cười phê phán, châm biếm, đả kích những hiện tượng chứadựng sự mâu thuẫn đấu tranh giai cấp, chống tiêu cực, chống cái xấu, cái ác.Tiếng cười trào phúng được tạo ra từ những mâu thuẫn mang tính chất đối khángđược bắt nguồn từ bản chất xấu xa của đối tượng đối lập với lý tưởng thẩm mỹtiến bộ Tiếng cười trong văn học trước đây nghiêng về đả kích, châm biếm, phêphán cái xấu xa, độc ác, kẻ thù của dân tộc nhằm tiêu diệt chúng nên thườngđược gọi là văn học trào phúng, như thơ trào phúng của Nguyễn Khuyến, Trần

Tế Xương, văn xuôi trào phúng của Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng…Trào lộng là tiếng cười chứa dựng sự mâu thuẫn mang tính toàn dân, cười vào

Trang 30

mọi đối tượng, mang màu sắc khôi hài, hài hước, giễu nhại Tiếng cười trào lộngđược tạo ra từ sự mâu thuẫn do sự không hài hòa, không cân đối, không tươngxứng giữa những mặt nào đó của con người hay một số hiện tượng xã hội so vớinhững hiện tượng bình thường của cuộc sống, là những biểu hiện lệch lạc nhấtthời so với chuẩn mực đạo đức, văn hóa, thẩm mỹ của xã hội Tiếng cười tràolộng giúp con người nhận thức sâu sắc về cuộc sống, hướng đến mọi đối tượngchưa hoàn chỉnh, dám nhìn thẳng vào sự thật, thoát khỏi tính giáo điều, mộtchiều, cuồng tín, ảo tưởng Tiếng cười trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975,nhất là từ sau 1986 đến nay nghiêng về sự hài hước, giễu cợt, giễu nhại gắn vớinhững phẩm chất thẩm mỹ mới trong bối cảnh lịch sử – văn hóa – xã hội mới nênthường được gọi là tiếng cười trào lộng Về mức độ, trào phúng là tiếng cười cótính chất mạnh mẽ hơn trào lộng Về bản chất, trào phúng là tiếng cười nghiêng

về phê phán, châm biếm, đả kích còn trào lộng là tiếng cười nghiêng về chia sẻ,giải tỏa Trong luận án, chúng tôi đề cập đến tiếng cười trào lộng mang tư tưởng

xã hội, có ý nghĩa phổ quát, thể hiện sự nhận thức nhất định về đời sống và conngười với những ý nghĩa xã hội – thẩm mỹ mới Chúng tôi quan niệm, cảm hứngtrào lộng, bút pháp trào lộng là những phương diện chủ đạo tạo nên nên khuynhhướng hiện thực – trào lộng trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại

Thể loại văn học là các dạng thức của tác phẩm, thể hiện sự giống nhau vềcách thức tổ chức, về đặc điểm của các hiện tượng đời sống được miêu tả, quy

tụ những hình thức nhìn nhận và phản ánh đời sống M Bakhtin xem thể loại lànhân vật chính của văn học: “Đằng sau cái mặt ngoài sặc sỡ và đầy tạp âm ồn

ào của tiến trình văn học, người ta không nhìn thấy vận mệnh to lớn và cơ bảncủa văn học và ngôn ngữ, mà những nhân vật chính nơi đây trước hết là thểloại” [14; 28] Về bản chất, ông khái quát đặc trưng thể loại và chỉ ra tính dânchủ trong tư duy tiểu thuyết: “Người viết tiểu thuyết thiên về những cái gì chưaxong xuôi Anh ta có thể xuất hiện trong trường miêu tả những sự việc có thậttrong đời mình hoặc nói ám chỉ đến chúng, có thể can thiệp vào cuộc trò chuyệngiữa các nhân vật, có thể bút chiến công khai với các địch thủ văn học củamình” [14; 57] M Kundera suy nghiệm về những vấn đề gốc rễ của nghệ thuậttiểu thuyết Ông xem tiểu thuyết như một loại triết học nghiên cứu con ngườitồn tại trong thế giới, sứ mệnh của nó là lên tiếng khẳng định vị trí con người,

Trang 31

bởi: “Tiểu thuyết sinh ra không phải vì tinh thần lý thuyết mà từ tinh thần hàihước” [85; 127].

Trong văn học trung đại, trào phúng chủ yếu nằm ở thể loại thơ, nhiều nhànghiên cứu đánh giá thơ trào phúng Việt Nam trong nhiều thế kỷ đã tạo nên sự

đa dạng, phong phú về cung bậc của tiếng cười Trong Thơ văn trào phúng Việt Nam, Vũ Ngọc Khánh cho rằng, mười thế kỷ văn học nước nhà là mười thế kỷ

của một kho tàng trào phúng dồi dào Các nhà thơ trào phúng được biết đếntrong văn học trung đại như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát,Nguyễn Nguyến, Trần Tế Xương, v.v Thơ văn của họ là tiếng nói phê phánnhững thói hư tật xấu, đả kích sự thoái hóa, quan liêu của giới quý tộc phongkiến, lên án gian thần và mọi thế lực của cái xấu Có rất nhiều công trình nghiên

cứu về họ, như: Hồ Xuân Hương, hoài niệm phồn thực (Đỗ Lai Thúy), Nguyễn Khuyến về tác gia và tác phẩm (Nhiều tác giả), Trần Tế Xương về tác gia và tác phẩm (Nhiều tác giả), Phong cách nghệ thuật Nguyễn Khuyến (Biện Minh

Điền)… Và, có nhiều nhận xét xác đáng thơ trào phúng, như: Trần Đình Hượu:

“Trong văn học cận – hiện đại của ta, thơ trào phúng chuẩn bị trực tiếp cho vănhọc hiện thực phê phán” [76; 164], Trần Nho Thìn xem thơ trào phúng “là mộtbiểu hiện quan trọng của sự giải thể nhà nho, mở đường cho nền văn học mới,một nền văn học hướng vào hiện thực” [165; 861], v.v…

Từ 1930 đến 1945, văn học hiện thực phát triển mạnh mẽ, tiếng cười tràophúng xuất hiện ở hầu khắp các thể loại như thơ, phóng sự, kịch, truyện, tiểuthuyết Trong đó, nổi trội và thành công nhất là ở các thể loại phóng sự, truyệnngắn và đặc biệt tiểu thuyết Nhiều cây bút trào phúng được đánh giá xuất sắcnhư Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Đồ Phồn, Tam Lang, Tú

Mỡ… Có nhiều bài viết và công trình nghiên cứu về họ như Nguyễn Công Hoan cây bút hiện thực xuất sắc (Vũ Thanh Việt); Vũ Trong Phụng một tài năng độc đáo, Thơ Tú Mỡ – những lời bình (Mai Hương tuyển chọn); Chủ nghĩa hiện thực Nam Cao, Chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX (Trần Đăng Suyền); Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, Nhà văn Việt Nam hiện đại – chân dung và phong cách (Nguyễn Đăng Mạnh)… Trong Vũ Trọng Phụng trong rừng cười nhiệt đới, Văn Tâm đã khu

biệt và định vị cho các cây bút trào phúng: “Nguyễn Công Hoan, người kể

Trang 32

chuyện tiếu lâm thời Tây cười rộ thống khoái, Tô Hoài cười nửa miệng ngánngẩm, Ngô Tất Tố cười nụ thâm nho, Tam Lang cười khẩy nhọn hoắt, Nam Caocười nhếch mép lạnh lùng, Tú Mỡ cười nhấm nháy hóm hỉnh, Đồ Phồn cườinửa miệng cay độc… và vươn cao ngọn trên rừng cười tứ thiết ấy là cây cườiloại chò cổ thụ Vũ Trọng Phụng với các giai điệu cười có thanh điệu, tiết tấu,

âm sắc, trường độ và cường độ đa dạng” [151; 229] Trần Đăng Suyền chorằng: “Mỗi thời đại văn học, mỗi trào lưu văn học thường có một hệ thống thểloại với tư cách là những mô hình nghệ thuật tương ứng, phù hợp với trình độ,kiểu tư duy nghệ thuật của nhà văn, phản ánh đặc điểm xã hội, văn hóa, trình độnhận thức cũng như nhu cầu thẩm mỹ của con người thời đại ấy” [150; 99].Theo ông, thể loại văn học “được hình thành, tồn tại khá ổn định và cũng biếnđổi trong quá trình phát triển của lịch sử văn học Một mặt nó lưu giữ nhữngyếu tố nòng cốt, những mã di truyền để duy trì hình thức tương đối ổn định; mặtkhác, nó luôn tự làm mới mình, tạo nên những biến thể phong phú” [150; 99].Nghiên cứu sự vận động và phát triển các thể loại tiêu biểu của chủ nghĩa hiệnthực trong văn học Việt Nam (1930 – 1945), ông đề cập đến ba thể loại làphóng sự, truyện ngắn và đặc biệt là tiểu thuyết

Sau hơn ba mươi năm chiến tranh vệ quốc (1945 – 1975), con người ViệtNam trở về trạng thái đời thường với cuộc sống hòa bình, tiếng cười “phụcsinh” trở lại Cùng với tiểu thuyết, các loại hình, thể loại khác như truyện ngắn,báo chí, điện ảnh, sân khấu, dịch thuật cũng xuất hiện tiếng cười trào lộng Đầunhững năm 1980 của thế kỷ trước, sân khấu là loại hình nghệ thuật cất lên tiếngcười phản ánh sự thật khá mạnh mẽ Tiêu biểu là Lưu Quang Vũ với các vở

kịch: Ông không phải là bố tôi, Hồn Trương Ba da hàng thịt, Tôi và chúng ta, Lời thề thứ 9… Năm 1982, bản dịch Những người thích đùa (Aziz Nesin) xuất

hiện ở Việt Nam, chỉ trong vài tháng đã bán hết hơn hai nghìn cuốn Năm 1984,

Tuổi trẻ Cười ra đời, đến nay vẫn giữ được vị thế vững chãitrong làng báo bởi

tiếng cười đặc sắc của mình Tiếng cười đã thu hút được sự quan tâm đặc biệtcủa công chúng Trong bối cảnh đời sống dân chủ, tiếng cười lan tỏa và thănghoa, mở đường cho văn học có những hướng đi mới và tiếp tục phát triển Từnửa sau thập niên 1980 đến nay, tiểu thuyết đã bắp nhịp kịp thời với những nhu

Trang 33

cầu thẩm mỹ của công chúng bạn đọc, sự hồi sinh của tiếng cười là một trongnhững dấu hiệu phát triển, mang đậm tính dân chủ của thể loại văn học này Các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm đến cảm hứng và bút pháp trào lộngtrong tiểu thuyết với những cấp độ khác nhau Lê Huy Bắc phát hiện ra kiểu tựnhại độc đáo của Nguyễn Huy Thiệp là “ít khi gắn với tiếng cười Mà nếu có thì

tiếng cười đó thực sự bi đát” [101; 319] La Khắc Hòa nhận xét Thời xa vắng

(Lê Lựu) là “một tiểu thuyết giễu nhại độc đáo Nó không cần sử dụng nhữngthủ pháp lạ hóa quen thuộc như phóng đại, hay vật hóa hình ảnh con người Nóchỉ đơn giản thuật lại những chuyện “thật như đùa” mà đã có thể tạo ra được

hình tượng giễu nhại Nhờ thế, lời văn của Thời xa vắng khi thì bông đùa, lúc

lại xót xa, chì chiết, nhưng giễu nhại bao giờ cũng là giọng điệu chủ đạo” [101;

67] Hoàng Ngọc Hiến phát hiện Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc

Trường): “Những chuyện bi hài ở xóm Giếng Chùa được Nguyễn Khắc Trường

kể lại bằng giọng kể sự đời cứ diễn ra như thế Nhiều nhếch nhác, tệ lậu ở chi

bộ và những đảng viên thoái hóa đã được phơi bày Nhưng đồng thời với cáchnhìn tỉnh táo và nghiêm khắc này là một nụ cười humour, một giọng văn hómhỉnh ngay khi nói về những sự việc nhếch nhác nhất…” [132; 8] Lê Dục Tú

nhận thấy Utopi một miếng để đời (Vũ Bão) đã mang lại tiếng cười góp phần

làm tươi tỉnh cho một nền văn chương quá thừa sự nghiêm nghị, đó là tiếngcười nhân bản, hồn hậu, có duyên Nguyễn Thị Minh Thái nhận xét thi pháp của

Hồ Anh Thái là “giễu nhại – thông tấn” [216; 368] Ma Văn Kháng viết: “Tôithích giọng văn của Hồ Anh Thái Nó có cái thông minh, hóm hỉnh vừa sâu sắcvừa có tính truyền thống Hơn nữa, cái này mới là cái thật thích đây: chất tràophúng, giễu nhại, cay chua mà tâm thiện” [215; 314] Hoàng Ngọc Hiến giới

thiệu cuốn Cơ hội của Chúa (Nguyễn Việt Hà): “Trong thời kỳ đổi mới xuất

hiện nhiều tác phẩm cảm hứng phê phán rất mạnh Có những quan điểm vàgiọng điệu phê phán rất khác nhau: xót xa và lo thương, căm uất và hằn học,tỉnh táo và điềm đạm… Cảm hứng phê phán mang tinh thần hài hước khoanhòa sẽ tạo một vị trí đặc biệt cho Nguyễn Việt Hà trong văn xuôi Việt Nam

đương đại” [184; 18] Trong Sự đa dạng các sắc thái thẩm mỹ của văn xuôi Việt Nam sau 1975, Phạm Tuấn Anh cho rằng, tiếng cười trào lộng chiếm “vị trí chủ âm trong hệ thống thẩm mỹ mới” [5; 147] Trong Yếu tố trào lộng trong

Trang 34

tiểu thuyết Việt Nam đương đại, Trần Thị Hạnh quan niệm: “trào lộng chính là

tiếng cười, đồng nghĩa với cái hài” [60; 16]…

Có thể thấy, không phải ngẫu nhiên mà tiếng cười trào lộng xuất hiện phổbiến, nổi bật trong các tiểu thuyết của Tô Hoài, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng,

Vũ Bão, Phạm Thị Hoài, Đỗ Minh Tuấn, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Thuận,Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bắc Sơn, Nguyễn Khắc Trường… Truyền thống hàihước của văn học dân tộc đến nay được kế thừa, phát triển với những giá trị xãhội – thẩm mỹ mới Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy tiếng cười trào lộng có

sự kế thừa và cách tân từ tiếng cười trào phúng của văn học truyền thống, như

là một phương thức sáng tác phổ biến trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại

Tiểu kết

Từ sau 1975, đặc biệt là từ 1986, trong xu thế chung của văn học ViệtNam đương đại, tiểu thuyết là thể loại phát triển mạnh mẽ và phát triển theonhiều khuynh hướng tư tưởng, nghệ thuật khác nhau Vấn đề nghiên cứu tiểuthuyết Việt Nam đương đại và các khuynh hướng vận động, phát triển của nóđược giới nghiên cứu đặc biệt quan tâm Việc phân loại các khuynh hướng tiểuthuyết là một vấn đề phức tạp Có nhiều cách phân loại khác nhau tùy thuộc gócnhìn, tiêu chí và dụng ý của người nghiên cứu Vấn đề là phải bám sát thực tiễnphong phú, bề bộn của tiểu thuyết đương đại Từ góc nhìn và tiêu chí bút phápnghệ thuật, có thể thấy, hiện thực – trào lộng là một khuynh hướng nổi trội Cáckhuynh hướng vận động, phát triển của tiểu thuyết trên tiến trình nghiên cứu đã

có một bề dày đáng ghi nhận Riêng vấn đề cảm hứng trào lộng, bút pháp tràolộng, yếu tố trào lộng trong tiểu thuyết cũng đã có một số công trình và bài viếtbàn đến Đấy là những tiền tố quan trọng giúp tác giả luận án trên cơ sở quansát, bao quát của mình khẳng định có một khuynh hướng hiện thực – trào lộngtrong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến nay Vấn đề là cần phải làm sáng tỏ nóbằng những khảo sát, phân tích, luận giải có cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn

Về lý thuyết về mối liên hệ giữa văn học và hiện thực, văn học là sự nhậnthức, phản ánh hiện thực, cũng như lý thuyết về trào lộng, trào phúng và cácloại hình, thể loại của văn học trào lộng, trào phúng cũng đã có nhiều côngtrình, bài viết chuyên sâu luận bàn Những ý kiến xác đáng, tin cậy mang tính

Trang 35

“lập thuyết” trên là cơ sở giúp tác giả luận án hệ thống hóa, xác lập cơ sở lýthuyết cho mình nhằm triển khai thực thi đề tài này

Trang 36

Chương 2 KHUYNH HƯỚNG HIỆN THỰC - TRÀO LỘNG TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

2.1 Tiểu thuyết Việt Nam đương đại trong bối cảnh đổi mới văn học 2.1.1 Cơ sở xã hội – thẩm mỹ của sự đổi mới tiểu thuyết Việt Nam đương đại

Có thể giới hạn, tiểu thuyết Việt Nam đương đại là tiểu thuyết được viết từ

1975 đến nay Tuy nhiên, với đề tài này, luận án đi sâu khảo sát tiểu thuyết viết

từ mốc 1986 (khi có Nghị quyết 05 về văn hóa văn nghệ và đất nước bước vàothời kỳ đổi mới)

Từ sau 1975, đất nước thống nhất, cách mạng Việt Nam chuyển sang giaiđoạn mới Công cuộc đổi mới do Đảng phát động tại Đại hội VI (1986) đánhdấu một bước ngoặt lớn lao của đất nước đã tác động mạnh mẽ, sâu rộng tớimọi lĩnh vực của đời sống xã hội Đường lối đổi mới nhìn thẳng vào sự thật, nóiđúng sự thật,đánh giá đúng sự thật đã đáp ứng thích đáng nhu cầu của xã hộicũng như nhu cầu bức thiết của sự nghiệp đổi mới văn học nghệ thuật Đảng tanhiều lần khẳng định: “Coi trọng đúng mức giáo dục thẩm mỹ, đẩy mạnh pháttriển văn hóa, nghệ thuật quần chúng, nâng cao không ngừng trình độ thưởngthức và năng lực sáng tạo nghệ thuật của quần chúng, thỏa mãn ngày càng đầy

đủ nhu cầu thưởng thức và hoạt động văn hóa của nhân dân” [31; 126] Bêncạnh đó, vấn đề toàn cầu hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ và sâu sắc, tác độngvào tất cả các lĩnh vực, trong đó có văn học nghệ thuật Đây vừa là cơ hội, vừa

là thách thức to lớn đối với vấn đề giữ gìn, kế thừa và phát triển các giá trị vănhóa truyền thống của dân tộc Trong bối cảnh hiện nay, toàn cầu hóa là một xuthế khách quan, là hệ quả và sản phẩm tất yếu của nền văn minh hiện đại Mỗidân tộc phải đối diện với mâu thuẫn giữa xu hướng tạo ra các giá trị phổ quátchung với bản sắc văn hóa riêng của dân tộc mình Đây là một đặc điểm cơ bảntrong mối quan hệ giữa toàn cầu hóa và văn hóa của các dân tộc, mở cửa, hộinhập, giao lưu và hợp tác nhằm tiếp thu có chọn lọc các giá trị văn hóa củanhân loại Bản chất của giao lưu văn học là ở sự đối thoại bình đẳng và rộng

mở, là nguồn lực tạo ra sự phong phú và tính độc đáo của mỗi nền văn học Đó

là “những nhân tố quan trọng bậc nhất tạo ra những ảnh hưởng qua lại giữa các

Trang 37

khu vực, các nền văn học của nhiều dân tộc khác nhau trong tiến trình chungcủa văn học nhân loại” [58; 10] Trong quá trình giao lưu và hợp tác, chúng tachủ trương loại bỏ những yếu tố ngoại lai không phù hợp, trái với đạo lý vàphát triển vì sự tiến bộ của con người Hồ Chí Minh quan niệm: “Phương Đônghay phương Tây có cái gì hay, có cái gì tốt là phải học lấy để tạo ra nền văn hóaViệt Nam Nghĩa là lấy kinh nghiệm tốt của văn hóa xưa và văn hóa nay, traudồi cho văn hóa Việt Nam thật có tinh thần thuần túy Việt Nam” [31; 72].

Từ sau 1986, tiểu thuyết là thể loại nhận thức một cách đầy đủ nhất diệnmạo đời sống, những biến đổi xã hội và thế giới tâm hồn của con người Nhàvăn phản ánh bản chất những trạng thái đời sống tinh thần xã hội và không nétránh khi thể hiện những mặt trái, những góc khuất của nó Do tác động củacông cuộc đổi mới, tiểu thuyết thể hiện sự đấu tranh gay gắt của những mâuthuẫn mới trên nhiều phương diện của đời sống xã hội Với thế mạnh của nghệthuật tự sự, tiểu thuyết thể hiện đầy đủ nhất những vấn đề bức thiết của xã hội,những số phận bi hài trong hành trình đi tìm ý nghĩa đích thực cuộc sống Trênhành trình đó, có khi con người phải dành cả cuộc đời để đi tìm lý tưởng, hướngđến những mục tiêu lớn trong khoa học, tìm chỗ đứng trong xã hội, hoặc đi tìmhạnh phúc cá nhân Nhà tiểu thuyết đương đại “không thờ ơ, né tránh sự thậtđó”, giá trị nhân bản của văn học là “vì con người, vì tất cả những nỗi niềm của

nó dù nhỏ nhoi nhất” [160; 7] Từ sau đổi mới, tiểu thuyết đã có những bướctiến đột phá về tư duy nghệ thuật thể loại, quan niệm nghệ thuật về con người,nghệ thuật trần thuật, gia tăng chất văn xuôi và chuyên chở nhiều thông điệpcảnh tỉnh con người Những tác phẩm viết về nông thôn không còn là nhữngcảnh vui thú điền viên, chân chất và mộc mạc nữa, thay vào đó là những cuộctranh giành “long trời lở đất” giữa các họ tộc với những “mảnh đất lắm ngườinhiều ma”, những “ma làng” quấy nhiễu đời sống vốn dĩ yên bình của ngườinông dân Thể loại văn học này có cái nhìn tinh nhạy về thực trạng tinh thầncon người thời đại như cảm giác cô đơn, hư vô, đi tìm thời gian đã mất; nhậnthức sâu sắc về con người đang bị tha hóa diễn ra dưới nhiều dạng thức khácnhau như cuồng tín, vô cảm, mất dần nhân tính bởi đồng tiền và quyền lực Hướng đến chân – thiện – mỹ, nhìn chân – thiện – mỹ trong một mối liên

hệ gắn bó, thống nhất (thậm chí nhiều khi là đồng nhất) là một nét nổi bật, quán

Trang 38

xuyến trong truyền thống thẩm mỹ của người Việt và văn học Việt Bộ phận(hay khuynh hướng) văn học trào phúng, trào lộng trong lịch sử văn học dân tộc

ta đã có một bề dày truyền thống Bộ phận/ khuynh hướng văn học này dùngtiếng cười để nhạo báng, phê phán, hạ bệ mọi biểu hiện của cái xấu, cái tiêucực, lỗi thời cũng là để khẳng định, đề cao, tìm kiếm cái đẹp của tâm hồn, nhâncách, ứng xử, lối sống… Từ 1945 đến 1975, tiểu thuyết Việt Nam phát triểntrong hoàn cảnh đặc biệt, đất nước trải qua hai cuộc chiến tranh vệ quốc kéo dàisuốt 30 năm Vấn đề giao lưu với thế giới của văn học thu hẹp trong vùng ảnhhưởng của các nước xã hội chủ nghĩa Đây là giai đoạn mà nền văn học bướcđầu xây dựng theo mô hình mới nên khó tránh khỏi những lệch lạc, ấu trĩ Tất

cả đều đặt lợi ích Tổ quốc lên trên hết, mọi lợi ích khác đều phải xếp lại, phải hisinh Đường lối văn nghệ do Đảng lãnh đạo, thống nhất về quan điểm thẩm mỹ,

đề tài, phương pháp sáng tác, lập trường tư tưởng, nội dung phản ánh Văn nghệ

sĩ phải đứng trên lập trường kháng chiến, cổ vũ chiến đấu, xem nghĩa vụ côngdân là cao cả và thiêng liêng nhất Con người ngoài đời cũng như trong tiểuthuyết đều được nhìn nhận và đánh giá ở phẩm chất chính trị, rạch ròi giữa ta vàđịch, bạn và thù Nghiên cứu, lý luận phê bình lấy chính trị làm tiêu chuẩn mỹhọc cao nhất, coi đó là tiêu chuẩn hàng đầu để đánh giá văn học Quá trình vậnđộng, phát triển của văn học gắn liền với từng bước đi và theo sát từng nhiệm

vụ chính trị của cách mạng Tiểu thuyết chủ yếu sáng tác theo khuynh hướng sửthi và cảm hứng lãng mạn cách mạng, đặt lên hàng đầu những vấn đề lớn liênquan đến số phận của cộng đồng và dân tộc Nhà văn tập trung làm nổi bậtnhững xung đột lớn, cố gắng thể hiện những xu hướng phát triển của lịch sử vàhiện thực lịch sử hoành tráng Góc nhìn đời tư bị thu hẹp, nhường chỗ chonhững vấn đề tập thể, cộng đồng Vẻ đẹp của tiểu thuyết sử thi là sự hùng vĩ,phạm trù mỹ học cơ bản nhất là cái cao cả, biên độ nhìn ngắm con người đượcđặt trong một không gian và thời gian rộng lớn, cách nhìn về lịch sử trùng khítvới cái nhìn cộng đồng, dân tộc Âm hưởng anh hùng ca là giọng điệu chủ đạo,ngôn ngữ ít góc cạnh, thường trang trọng Cảm hứng lãng mạn của tiểu thuyết

là khẳng định “cái ta”mang tính thời đại, lý tưởng và vẻ đẹp con người cáchmạng, con người mới Sự kết hợp hài hòa giữa khuynh hướng sử thi và cảm

Trang 39

hứng lãng mạn trong tiểu thuyết là sự thấm nhuần tinh thần lạc quan, phản ánhhiện thực cuộc sống trong xu thế vận động và phát triển của cách mạng.

Sự tác động lớn nhất đến tiến trình tiểu thuyết nước ta trong thời gian qua

là xu hướng đổi mới trong toàn xã hội Từ sau 1986, tinh thần dân chủ đã “thổimột luồng gió lớn vào đời sống văn học nghệ thuật nước nhà, mở ra một thời kỳđổi mới của văn học Việt Nam trong tinh thần đổi mới tư duy và nhìn thẳng vào

sự thật” [101; 11] Tiểu thuyết đương đại vừa kế thừa những giá trị thẩm mỹcủa tiểu thuyết truyền thống vừa tìm tòi, sáng tạo, mở rộng phạm vi phản ánh;thể hiện những vấn đề bức thiết của xã hội; đa dạng về nội dung và phong phú

về phương thức phản ánh Trong bối cảnh đổi mới, nhà văn có điều kiện thểhiện cá tính sáng tạo, ý thức trách nhiệm và lương tâm của người cầm bút Tínhchất mở của thể loại là xuất phát từ một yếu tố ám ảnh, gợi lên những cảm giáchiện tại gần gũi với con người và gắn với đặc trưng của tiểu thuyết là tính đathanh, phức điệu Nhà tiểu thuyết đương đại nhận thức, thể hiện mọi tầng vỉacủa đời sốngvà “miêu tả một hiện tại đang bước đi” (H Balzac) Do đó, tiểuthuyết có khả năng thu hút những thể loại khác vào mình nó và sử dụng thủpháp của các ngành nghệ thuật khác để thể hiện Nhà tiểu thuyết miêu tả quátrình phát triển tâm lý, số phận nhân vật và lựa chọn sự phát triển của cốt truyệnthông qua sự phát triển tính cách nhận vật Tác phẩm được thiết kế bằng cách tổchức mối liên hệ giữa các yếu tố, tạo dựng kết cấu nhiều tuyến, nhiều bình diện,các tuyến nhân vật đan xen nhau Ngôn ngữ tiểu thuyết đan xen giữa ngôn ngữtác giả, ngôn ngữ người kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật, tạo nên sự đa thanh,phức điệu trong tác phẩm

Tinh thần dân chủ là điều kiện để tiếng cười trào lộng hồi sinh, phát triển

và trở thành cảm hứng chủ đạo trong nhiều tiểu thuyết đương đại Đối tượngphản ánh, cách thức nhận thức và xử lý chất liệu hiện thực là những yếu tố quantrọng tạo nên cơ sở xã hội – thẩm mỹ của sự đổi mới tiểu thuyết Việt Namđương đại Từ sau 1986, đối tượng của văn học là toàn bộ hiện thực khách quantrong mối liên hệ sinh động với cuộc sống con người, “được quy định bởi khảnăng chiếm lĩnh thẩm mỹ hình thành trong quá trình thực tiễn cuộc sống vànghệ thuật, là thế giới các giá trị thẩm mỹ của hiện thực” [58; 106] Văn họcmiêu tả cái thế giới mang giá trị, cái có ý nghĩa đối với đời sống tinh thần của

Trang 40

con người, lấy con người làm điểm tựa nhìn ra thế giới Đối tượng của tiểuthuyết không phải là những cái bất biến mà luôn thay đổi theo sự phát triển lịch

sử và khả năng chiếm lĩnh của con người Việc nhận thức đối tượng trong tínhtoàn vẹn, sống động đã giúp tiểu thuyết đương đại khái quát được bản chất cuộcsống và nắm bắt được trạng thái thẩm mỹ của đời sống xã hội Có thể thấy,truyền thống thẩm mỹ của văn học trào phúng, trào lộng dân tộc là khát vọnghướng về cái đẹp mang tinh thần của con người thời đại, đối tượng của văn họctrong tiến trình đổi mới và tinh thần dân chủ là những cơ sở thẩm mỹ để vănhọc Việt Nam đương đại nói chung phát triển mạnh mẽ, thể loại tiểu thuyết nóiriêng, đặc biệt là tiểu thuyết viết theo khuynh hướng hiện thực – trào lộng

2.1.2 Bức tranh chung tiểu thuyết Việt Nam đương đại

2.1.2.1 Tiểu thuyết Việt Nam chặng đường hậu chiến (1975 – 1985)

Từ 1975 đến 1985 là chặng đường khép lại một giai đoạn văn học và phôithai một giai đoạn văn học mới Trong mười năm này, tiểu thuyết còn vận độngtheo quán tính tư duy sử thi, đề tài chiến tranh giữ vai trò chủ yếu Các tác

phẩm xuất hiện ngay sau 1975 như Nắng đồng bằng (Chu Lai), Mở rừng (Lê Lựu), Miền cháy (Nguyễn Minh Châu), Trong cơn gió lốc (Khuất Quang Thụy), Năm 75 họ đã sống như thế (Nguyễn Trí Huân) vẫn còn đậm âm hưởng ngợi

ca Từ 1978, Nguyễn Minh Châu nhận thấy đã đến lúc phải lật mở những góckhuất trong quá khứ, lí giải sâu sắc và sát thực hơn những vấn đề còn đau đáu,trăn trở Mặc dù vẫn viết về đề tài chiến tranh, song người đọc đã nhận thấycảm hứng bi tráng trong cái nhìn về chiến tranh từ cuối những năm 1970 trong

Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh), Hai người trở lại trung đoàn (Thái Bá Lợi)

Từ đầu những năm 1980, tiểu thuyết viết về chiến tranh tiếp tục có những

chuyển động mới Chiến tranh trong Họ cùng thời với những ai (Thái Bá Lợi), Cửa gió (Xuân Đức), Sao đổi ngôi (Chu Văn) được thể hiện sát thực hơn với

sự hủy diệt tàn bạo của nó trong các trận đánh, những mất mát, hi sinh, nhữngtrớ trêu, éo le của số phận con người Ở đó, có cả những điều mà tiểu thuyếttrước đó phải né tránh như sự chiêu hồi của Phó chính ủy phân khu Tám Hàn

(Đất trắng), sự hèn nhát của một sĩ quan hào hoa như Khang, của người phụ nữ nằm vùng từng là cơ sở cách mạng như Hoan (Cửa gió) Những thay đổi đó đã

dẫn đến sự thay đổi trong việc tiếp nhận của công chúng Đặc biệt là các nhà

Ngày đăng: 27/02/2018, 09:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị An (2007), “Sức ám ảnh của tín ngưỡng dân gian trong tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn”, Nghiên cứu văn học, (6), tr. 27 - 47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức ám ảnh của tín ngưỡng dân gian trong tiểu thuyết"Mẫu thượng ngàn"”, "Nghiên cứu văn học
Tác giả: Trần Thị An
Năm: 2007
2. Duyên Anh (1972), Tuổi trẻ mộng và thực (chuyên luận), Nxb Vàng Son, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuổi trẻ mộng và thực
Tác giả: Duyên Anh
Nhà XB: Nxb Vàng Son
Năm: 1972
3. Phạm Lan Anh (2005), Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái, Luận văn Thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết HồAnh Thái
Tác giả: Phạm Lan Anh
Năm: 2005
4. Phạm Tuấn Anh (2009), Sự đa dạng các sắc thái thẩm mỹ trong văn xuôi Việt Nam sau 1975, Luận án Tiến sĩ, ĐHSP Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự đa dạng các sắc thái thẩm mỹ trong văn xuôiViệt Nam sau 1975
Tác giả: Phạm Tuấn Anh
Năm: 2009
5. Vũ Tuấn Anh (1996), “Quá trình văn học đương đại nhìn từ phương diện thể loại”, Văn học, (9), tr. 28 - 36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình văn học đương đại nhìn từ phương diệnthể loại”, "Văn học
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1996
6. Lại Nguyên Ân (1984), Văn học và phê bình, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và phê bình
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1984
7. Lại Nguyên Ân (1986), “Thử nhìn lại văn xuôi mười năm qua”, Văn học, (1), tr. 14 - 25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử nhìn lại văn xuôi mười năm qua”, "Văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 1986
8. Lại Nguyên Ân (2000), “Hồ Quý Ly”, Nhà văn, (6), tr. 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Quý Ly”, "Nhà văn
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 2000
9. Lại Nguyên Ân (2003), Sống với văn học cùng thời, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sống với văn học cùng thời
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2003
10. Lại Nguyên Ân, (2003), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc giaHà Nội
Năm: 2003
11. Lê Huy Bắc (1996), “Đồng hiện trong văn xuôi”, Văn học, (6), tr, 42 - 45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng hiện trong văn xuôi”, "Văn học
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 1996
12. Lê Huy Bắc (1998) “Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”, Văn học, (9), tr. 63 - 73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”, "Vănhọc
13. Lê Huy Bắc (2006), “Cái kỳ ảo và văn học huyền ảo”, Văn học,(8), tr. 33 - 44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cái kỳ ảo và văn học huyền ảo”, "Văn học
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 2006
14. M. Bakhtin (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết (Phạm Vĩnh Cư dịch), Trường viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. Bakhtin
Năm: 1992
15. M. Bakhtin (1993), Những vấn đề thi pháp Dotxtoiepxki (Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn dịch), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Dotxtoiepxki
Tác giả: M. Bakhtin
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
16. M. Bakhtin (2006), Sáng tác của Franỗois Rabelais và văn húa dõn gian thời Trung cổ và Phục hưng (Từ Thị Loan dịch), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng tác của Franỗois Rabelais và văn húa dõn gianthời Trung cổ và Phục hưng
Tác giả: M. Bakhtin
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2006
17. Nguyễn Thị Bình (2005), “Về một hướng thử nghiệm của tiểu thuyết Việt Nam gần đây”, Nghiên cứu văn học, (11), tr. 3 - 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một hướng thử nghiệm của tiểu thuyết ViệtNam gần đây”, "Nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 2005
18. Nguyễn Thị Bình (2007), Văn xuôi Việt Nam 1975 – 1995 những đổi mới cơ ban, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam 1975 – 1995 những đổi mớicơ ban
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
19. Nguyễn Thị Bình (2007), “Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 – một cái nhìn khái quát”, Nghiên cứu văn học, (2), tr.49 - 54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 – một cái nhìnkhái quát”, "Nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 2007
20. Nguyễn Thị Bình (2008), “Cảm hứng trào lộng trong văn xuôi sau 1975”, Văn học, (3), tr. 27 - 39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm hứng trào lộng trong văn xuôi sau 1975”,"Văn học
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w