Đối với các quốc gia trên thế giới, việc đổi mới hay cải cách giáo dục luôn luôn là yêu cầu thường xuyên, bức thiết nếu không muốn bị tụt hậu trong cuộc chạy đua cho sự phát triển đang diễn ra ngày càng gay gắt. Lịch sử đã chứng minh rằng: Không có một sự tiến bộ và thành đạt của quốc gia nào mà lại tách rời ra khỏi sự tiến bộ và thành đạt của quốc gia đó trong lĩnh vực giáo dục. Ở đâu coi nhẹ giáo dục hoặc không có đủ tri thức và khả năng để làm giáo dục một cách có hiệu quả thì ở đó xem như đã an bài và điều đó còn tồi tệ hơn sự phá sản.Việt Nam mặc dù vẫn là một nước đang phát triển, nhưng chúng ta không thể không tính đến tìm một lối đi tiến nhanh vào nền kinh tế tri thức theo cách của mình, và để đào tạo được nguồn nhân lực tri thức này, điều quan trọng đặt ra vẫn là hệ thống giáo dục phải đảm bảo tốt nhất. Tuy nhiên, với sự bùng nổ quy mô đào tạo cũng như sự gia tăng nhanh chóng về số lượng của các cơ sở giáo dục nên dẫn đến việc quản lý và sự chu cấp về tài chính gây nhiều khó khăn cho Chính phủ. Hoàn thiện cơ chế tăng cường giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính cho các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc hệ thống giáo dục sẽ là nền tảng cho sự nghiệp phát triển của ngành giáo dục cũng như sự phát triển chung của đất nước. Trường Cao đẳng Kinh tế Công nghiệp Hà Nội là trường công lập trực thuộc Bộ Công Thương, tiền thân là trường Trung cấp nghiệp vụ Bộ Công Nghiệp Nặng được thành lập năm 1961 và được nâng cấp thành trường Cao đẳng Kinh tế Công nghiệp Hà Nội theo quyết định số : 1206QĐBGDĐT năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo Dục và Đào tạo. Trải qua 50 năm xây dựng và trưởng thành Nhà trường luôn giữ vững nhiệm vụ chủ yếu là đào tạo cán bộ nghiệp vụ kinh tế; và công chức ngành công nghiệp nay là ngành công thương. Kể từ khi thành lập, trường đã không ngừng phấn đấu nhằm đa dạng hoá và mở rộng quy mô đào tạo, nâng cao chất lượng và uy tín của nhà trường, cho đến nay Nhà trường đã đào tạo được hơn 100 nghìn lượt cán bộ quản lý Kinh tế cho ngành và xã hội và nâng cao thu nhập cho cán bộ công nhân viên. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động về công tác quản lý tài chính và nhiệm vụ đào tạo của Nhà trường còn tồn tại một số hạn chế do những nguyên nhân chủ quan và khách quan. Vì vậy, để nâng cao chất lượng đào tạo, phát huy được tính năng động, tự chủ, nâng cao vị thế và khả năng cạnh tranh của Nhà trường thì trong những năm tới vấn đề nâng cao hiệu quả quản lý tài chính là rất cần thiết. Vì những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “ Nghiên cứu một số giải pháp nâng cao hiệu quả việc áp dụng cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu cho trường Cao đẳng kinh tế công nghiệp Hà Nội”
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đối với các quốc gia trên thế giới, việc đổi mới hay cải cách giáo dục luônluôn là yêu cầu thường xuyên, bức thiết nếu không muốn bị tụt hậu trong cuộc chạyđua cho sự phát triển đang diễn ra ngày càng gay gắt Lịch sử đã chứng minh rằng:Không có một sự tiến bộ và thành đạt của quốc gia nào mà lại tách rời ra khỏi sựtiến bộ và thành đạt của quốc gia đó trong lĩnh vực giáo dục Ở đâu coi nhẹ giáo dụchoặc không có đủ tri thức và khả năng để làm giáo dục một cách có hiệu quả thì ở
đó xem như đã an bài và điều đó còn tồi tệ hơn sự phá sản
Việt Nam mặc dù vẫn là một nước đang phát triển, nhưng chúng ta không thểkhông tính đến tìm một lối đi tiến nhanh vào nền kinh tế tri thức theo cách củamình, và để đào tạo được nguồn nhân lực tri thức này, điều quan trọng đặt ra vẫn là
hệ thống giáo dục phải đảm bảo tốt nhất
Tuy nhiên, với sự bùng nổ quy mô đào tạo cũng như sự gia tăng nhanh chóng
về số lượng của các cơ sở giáo dục nên dẫn đến việc quản lý và sự chu cấp về tàichính gây nhiều khó khăn cho Chính phủ Hoàn thiện cơ chế tăng cường giao quyền
tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính cho các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc hệthống giáo dục sẽ là nền tảng cho sự nghiệp phát triển của ngành giáo dục cũng như
sự phát triển chung của đất nước
Trường Cao đẳng Kinh tế Công nghiệp Hà Nội là trường công lập trực thuộc
Bộ Công Thương, tiền thân là trường Trung cấp nghiệp vụ Bộ Công Nghiệp Nặngđược thành lập năm 1961 và được nâng cấp thành trường Cao đẳng Kinh tế Côngnghiệp Hà Nội theo quyết định số : 1206/QĐ-BGDĐT năm 2006 của Bộ trưởng BộGiáo Dục và Đào tạo Trải qua 50 năm xây dựng và trưởng thành Nhà trường luôngiữ vững nhiệm vụ chủ yếu là đào tạo cán bộ nghiệp vụ kinh tế; và công chức ngànhcông nghiệp nay là ngành công thương Kể từ khi thành lập, trường đã không ngừngphấn đấu nhằm đa dạng hoá và mở rộng quy mô đào tạo, nâng cao chất lượng và uytín của nhà trường, cho đến nay Nhà trường đã đào tạo được hơn 100 nghìn lượt
Trang 2cán bộ quản lý Kinh tế cho ngành và xã hội và nâng cao thu nhập cho cán bộ côngnhân viên
Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động về công tác quản lý tài chính và nhiệm
vụ đào tạo của Nhà trường còn tồn tại một số hạn chế do những nguyên nhân chủquan và khách quan Vì vậy, để nâng cao chất lượng đào tạo, phát huy được tínhnăng động, tự chủ, nâng cao vị thế và khả năng cạnh tranh của Nhà trường thì trongnhững năm tới vấn đề nâng cao hiệu quả quản lý tài chính là rất cần thiết Vì những
lý do trên, tác giả chọn đề tài: “ Nghiên cứu một số giải pháp nâng cao hiệu quả việc áp dụng cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu cho trường Cao đẳng kinh tế công nghiệp Hà Nội”
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở tình hình thực tiễn của Nhà trường, đề xuất một số giải pháp cócăn cứ khoa học và phù hợp với thực tiễn, nâng cao hiệu quả tài chính của trườngCao đẳng kinh tế công nghiệp Hà Nội nhằm góp phần xây dựng Trường ngày càngphát triển trong cơ chế thị trường
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1- Đối tượng nghiên cứu: Tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chínhtrong đơn vị sự nghiệp có thu
3.2- Phạm vi nghiên cứu: Kết quả của nghị định 43/2006/NĐ-CP và hoạtđộng tài chính của trường Cao đẳng kinh tế công nghiệp Hà Nội giai đoạn 2007 –
2011 để đưa ra những giải pháp phù hợp, hiệu quả trong thời gian tới
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính trong đơn vị
Trang 3Sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống, trong đó sử dụng những phươngpháp sau:
- Phương pháp thu thập tài liệu liên quan, phân tích thống kê
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp sử dụng đồ thị, bảng biểu
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Hệ thống hóa lý luận cơ bản về cơ chế tự chủ, tự chịutrách nhiệm về tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu nói chung và các trường đạihọc, cao đẳng nói riêng
- Ý nghĩa thực tiễn: Đánh giá và đề xuất các giải pháp hoàn thiện ở trườngCao đẳng kinh tế công nghiệp Hà Nội Là tài liệu tham khảo cho trường Cao đẳngkinh tế công nghiệp Hà Nội và các trường khác thuộc Bộ công thương
7 Kết cấu của luận văn
Chương 1: Tổng quan về hiệu quả cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu.
1.1 Tổng quan lý thuyết về hiệu quả cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chínhtrong đơn vị sự nghiệp có thu nói chung và các trường đại học, cao đẳng nói riêng1.2 Thực trạng hiệu quả việc áp dụng cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tàichính trong các trường đại học, cao đẳng công lập ở Việt Nam và một số nước trênthế giới
1.3 Các công trình, luận văn, luận án đã công bố có liên quan đến đề tài
Chương 2: Phân tích hiệu quả việc áp dụng cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính với trường Cao đẳng kinh tế công nghiệp Hà Nội giai đoạn 2010-2012
2.1 Giới thiệu chung về trường Cao đẳng kinh tế công nghiệp Hà Nội
2.2 Thực trạng việc áp dụng cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính vớitrường Cao đẳng kinh tế công nghiệp Hà Nội
2.3 Đánh giá chung về việc áp dụng cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chínhvới trường Cao đẳng kinh tế công nghiệp Hà Nội
Trang 4Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả việc áp dụng cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu cho trường Cao đẳng kinh tế công nghiệp Hà Nội
3.1 Định hướng đổi mới cơ chế tài chính trong trường Cao đẳng kinh tế côngnghiệp Hà Nội giai đoạn 2013- 2015
3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm
về tài chính cho trường Cao đẳng kinh tế công nghiệp Hà Nội
Trang 5CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CƠ CHẾ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM VỀ TÀI CHÍNH TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU 1.1 Tổng quan lý luận về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu nói chung và các trường đại học, cao đẳng nói riêng
1.1.1 Những vấn đề lý luận về đơn vị sự nghiệp có thu
1.1.1.1 Khái niệm, vai trò và đặc điểm của đơn vị sự nghiệp có thu
b Vai trò của đơn vị sự nghiệp trong nền kinh tế:
Hoạt động của các đơn vị sự nghiệp là một bộ phận của nền kinh tế và có vịtrí quan trọng đặc biệt trong nền kinh tế quốc dân Hiện nay cả nước có khoảng25.631 đơn vị sự nghiệp, trong đó có 845 đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạtđộng, 10.431 đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động và 14.355đơn vị sự nghiệp do NSNN đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động Trong thời gian qua,các đơn vị sự nghiệp công ở Trung ương và Địa phương đã có nhiều đóng góp cho
sự ổn định và phát triển kinh tế xã hội của đất nước Thể hiện:
- Cung cấp các dịch vụ công về giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục, thể thao cóchất lượng cao cho xã hội, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân, góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân
- Thực hiện các nhiệm vụ chính trị được giao như: đào tạo và cung cấpnguồn nhân lực có trình độ và chất lượng, khám chữa bệnh, bảo vệ sức khỏe nhân
Trang 6dân, nghiên cứu và ứng dụng các kết quả khoa học, công nghệ, cung ứng các sảnphẩm văn hóa và nghệ thuật phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
- Đối với từng lĩnh vực hoạt động sự nghiệp, các đơn vị sự nghiệp công đều
có vai trò chủ đạo trong việc tham gia đề xuất và thực hiện các đề án, chương trìnhlớn phục vụ phát triển kinh tế xã hội của đất nước
- Thông qua hoạt động thu phí, lệ phí theo quy định của Nhà nước đã gópphần tăng cường nguồn lực cùng với NSNN đẩy mạnh đa dạng hóa và xã hội hóanguồn lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội Thực hiện chủ chương xã hội hóa hoạtđộng sự nghiệp của Nhà nước, trong thời gian qua các đơn vị sự nghiệp ở tất cả cáclĩnh vực đã tích cực mở rộng các loại hình, phương thức hoạt động, một mặt đápứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân Đồng thời thu hút sự đóng góp của nhândân đầu tư cho sự phát triển hoạt động sự nghiệp của xã hội
c Đặc điểm hoạt động của các đơn vị sự nghiệp có thu
Đơn vị sự nghiệp có thu là các đơn vị sự nghiệp, do vậy đặc điểm hoạt độngtrước hết giống với các đơn vị sự nghiệp nói chung đồng thời cũng có những đặcđiểm riêng của một đơn vị hoạt động có thu, ảnh hưởng quyết định đến cơ chế quản
lý tài chính của đơn vị Các đặc điểm đó là:
+ Do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thành lập;
+ Hoạt động theo nhiệm vụ chính trị, chuyên môn được giao, không vì mục
đích lợi nhuận;
+ Do khả năng hạn hẹp của ngân sách Nhà nước, không thể đảm bảo tất
cả các khoản chi của các ĐVSNCT, đáp ứng nhu cầu xã hội Nhà nước cho phépcác ĐVSNCT được thu một số loại phí, lệ phí;
+ Các đơn vị sự nghiệp có thu được tổ chức sản xuất kinh doanh, cung cấp
dịch vụ phù hợp với lĩnh vực hoạt động chuyên môn của mình;
+ Đơn vị sự nghiệp có thu chịu sự quản lý trực tiếp của cơ quan chủ quản
(Bộ, Ngành, Ủy ban nhân dân Tỉnh, Thành phố) Đồng thời chịu sự quản lý về mặtchuyên môn của các Bộ, ngành, chức năng quản lý Nhà nước về lĩnh vực hoạt động
sự nghiệp và chính quyền địa phương nơi đơn vị đóng trụ sở
Trang 7+ Có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng, tổ chức bộ máy kếtoán theo quy định của Luật kế toán.
1.1.1.2 Phân loại đơn vị sự nghiệp có thu
Nhà nước có một hệ thống các đơn vị sự nghiệp có thu rất lớn Vì vậy, đểđảm bảo quản lý thống nhất và có hiệu quả hoạt động của các đơn vị này, người tatiến hành phân loại đơn vị sự nghiệp có thu như sau:
a Theo đối tượng quản lý:
Đơn vị sự nghiệp có thu trực thuộc cơ quan hành chính Nhà nước như cácCục, Bộ, cơ quan ngang bộ: Những đơn vị này hoạt động theo các quy định của Nhànước và của Cục, Bộ chủ quản, nên có tính linh hoạt và chủ động khá cao
Đơn vị sự nghiệp có thu trực thuộc một doanh nghiệp Nhà nước; là nhữngđơn vị thực hiện những chức năng, nhiệm vụ mà doanh nghiệp này giao cho Tínhlinh hoạt của đơn vị sự nghiệp này không cao vì không chỉ phụ thuộc vào quy địnhcủa Chính phủ mà còn phải tuân theo các quy chế hoạt động của doanh nghiệp
Đơn vị sự nghiệp có thu trực thuộc một tổ chức do Nhà nước cấp giấy phéphoạt động
b Theo phạm vi hoạt động:
Đơn vị sự nghiệp có thu ở Trung ương: các đơn vị này là các cơ quan trựcthuộc Cục, Bộ, cơ quan ngang Bộ, chịu sự quản lý trực tiếp của các Bộ cơ quan chủquản
Đơn vị sự nghiệp có thu ở địa phương: các đơn vị này chịu sự quản lý trựctiếp của chính quyền địa phương (các Ủy ban nhân dân)
Phân loại đơn vị sự nghiệp có thu dựa trên căn cứ xác định mức kinh phí Nhànước cấp để đảm bảo cho hoạt động thường xuyên hàng năm của đơn vị ổn địnhtrong 3 năm của thời kỳ phân loại
Trang 8Mức tự đảm bảo chi Tổng số nguồn thu sự nghiệp
phí hoạt động thường = x 100% (1.1)thường xuyên (%) Tổng số chi hoạt động thường xuyên
Tổng số nguồn thu sự nghiệp và tổng số chi hoạt động thường xuyên tínhtheo dự toán thu, chi của năm đầu thời kỳ ổn định
Dựa vào tiêu thức phân loại này, căn cứ vào mức độ tự đảm bảo chi phí hoạtđộng thường xuyên, đơn vị sự nghiệp có thu gồm:
Đơn vị có nguồn thu tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên(gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo chi phí hoạt động): là đơn vị sự nghiệp cómức tự đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên xác định theo công thức (1.1),bằng hoặc lớn hơn 100%
Đơn vị có nguồn thu tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thường xuyên,phần còn lại được ngân sách Nhà nước cấp (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự đảm bảomột phần chi phí hoạt động): là đơn vị sự nghiệp có mức độ tự đảm bảo chi phí hoạtđộng thường xuyên xác định theo công thức (1.1) từ trên 10% đến dưới 100%
1.1.2 Những vấn đề lý luận chung về các trường đại học, cao đẳng công lập
1.1.2.1 Khái niệm và mục tiêu của giáo dục đại học và cao đẳng
a Khái niệm
Giáo dục đại học, cao đẳng bao gồm:
- Đào tạo trình độ cao đẳng được thực hiện từ hai đến ba năm học tùy theongành nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặcbằng tốt nghiệp trung cấp; từ một năm rưỡi đến hai năm học đối với người có bằngtốt nghiệp trung cấp cùng chuyên ngành;
- Đào tạo trình độ đại học được thực hiện từ bốn đến sáu năm học tùy theongành nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặcbằng tốt nghiệp trung cấp; từ hai năm rưỡi đến bốn năm học đối với người có bằngtốt nghiệp trung cấp cùng chuyên ngành; từ một năm rưỡi đến hai năm học đối vớingười có bằng tốt nghiệp cao đẳng cùng chuyên ngành;
Trang 9- Đào tạo trình độ thạc sĩ được thực hiện từ một đến hai năm học đối vớingười có bằng tốt nghiệp đại học;
- Đào tạo trình độ tiến sĩ được thực hiện trong bốn năm học đối với người cóbằng tốt nghiệp đại học, từ hai đến ba năm học đối với người có bằng thạc sĩ Trongtrường hợp đặc biệt, thời gian đào tạo trình độ tiến sĩ có thể được kéo dài theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
Trường đại học, cao đẳng công lập do Nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng
cơ sở vật chất, đảm bảo kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên;
b Mục tiêu của giáo dục đại học, cao đẳng
- Mục tiêu của giáo dục đại học, cao đẳng là đào tạo người học có phẩm chấtchính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hànhnghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu xâydựng và bảo vệ Tổ quốc
- Đào tạo trình độ cao đẳng giúp sinh viên có kiến thức chuyên môn và kỹnăng thực hành cơ bản để giải quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyênngành được đào tạo
- Đào tạo trình độ đại học giúp sinh viên nắm vững kiến thức chuyên môn và
có kỹ năng thực hành thành thạo, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giảiquyết những vấn đề thuộc chuyên ngành đào tạo
- Đào tạo trình độ thạc sĩ giúp học viên nắm vững lý thuyết, có trình độ cao
về thực hành, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và có năng lực phát hiện, giảiquyết những vấn đề thuộc chuyên ngành đào tạo
- Đào tạo trình độ tiến sĩ giúp nghiên cứu sinh có trình độ cao về lý thuyết vàthực hành, có năng lực nghiên cứu độc lập, sáng tạo, phát hiện và giải quyết nhữngvấn đề mới về khoa học, công nghệ, hướng dẫn nghiên cứu khoa học và hoạt động chuyên môn
1.1.2.2 Quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của trường đại học, cao đẳng
Trang 10Trường đại học, cao đẳng được quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm theo quyđịnh của Nhà nước và theo điều lệ Nhà trường trong các hoạt động sau:
- Xây dựng chương trình, giáo trình, kế hoạch giảng dạy, học tập đối vớingành nghề được phép đào tạo;
- Xây dựng chỉ tiêu tuyển sinh, tổ chức tuyển sinh, tổ chức quá trình đào tạo,công nhận tốt nghiệp và cấp văn bằng;
- Tổ chức bộ máy nhà trường; tuyển dụng, quản lý, sử dụng, đãi ngộ nhàgiáo, cán bộ, nhân viên;
- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực;
- Hợp tác với các tổ chức kinh tế, giáo dục, văn hoá, thể dục, thể thao, y tế,nghiên cứu khoa học trong nước và nước ngoài theo quy định của Chính phủ
1.1.2.3 Nguyên tắc tổ chức hoạt động của trường đại học, cao đẳng
Xã hội hóa nhà trường làm cho giáo dục và đào tạo đáp ứng những nhu cầurất khác nhau, rất phong phú, rất đa dạng, nhiều kiểu, nhiều vẻ của xã hội, của từngvùng, từng khu vực, từng địa phương Xã hội hóa trường học sẽ làm cho nhà trườngkhông còn là một thể chế dập khuôn, cứng nhắc, biệt lập, khép kín với bên ngoài
Hệ thống nhà trường về nguyên tắc phải là hệ thống mở, các tính chất và nguyên tắccủa nó phải đa dạng Trường đại học phải gắn liền với xã hội, thâm nhập vào cácquá trình đang diễn ra trong xã hội, thâm nhập vào các quá trình đang diễn ra trong
xã hội và thu hút nhiều nguồn lực khác nhau trong xã hội tham gia xây dựng và pháttriển Nhà trường
Dân chủ hóa trong các trường đại học, cao đẳng nhằm phát huy tối đa nănglực sáng tạo của tập thể Nhà trường và cá nhân vào việc tổ chức, quản lý giảng dạy
và giáo dục và sự phát triển trường đại học Dân chủ hóa trường đại học sẽ biến tất
cả các thành viên trong Nhà trường thành những chủ thể của quá trình giáo dục,biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, biến quá trình quản lý thành quátrình tự quản lý Dân chủ hóa trường đại học sẽ giải phóng cả thầy lẫn trò và ngườiquản lý khỏi sự ràng buộc, không ép bởi một thể chế đơn điệu cứng nhắc, mở rachân trời rộng lớn cho người lao động sáng tạo Mạnh dạn phân cấp cho từng bộ
Trang 11phận trong hệ thống tổ chức Nhà trường Phát huy tính tự chủ của từng tập thể, từng
cá nhân, thực hiện trách nhiệm đi đôi với quyền lợi, khen thưởng đi đôi với kỷ luật,
bổ nhiệm đi đôi với bãi nhiệm, đó là những yếu tố then chốt trong quản lý nhằmkhai thác hết năng suất của mọi thành viên và mọi tập thể Nhà trường
Nhân văn hóa trong trường đại học, cao đẳng là một yếu tố quan trọng củachiến lược con người mà rất nhiều nước trên thế giới hiện rất quan tâm Tư tưởngchủ đạo của quá trình giáo dục và đào tạo là sự phát triển của người học Yếu tốthen chốt trong tư tưởng đó là tôn trọng nhân cách, phẩm giá người học, tôn trọng
cá tính, những nhu cầu và hứng thú cá nhân của người học Nhân văn hóa trongtrường đại học đảm bảo tôn trọng và kế thừa những di sản văn hóa quý báu của dântộc và thế giới Nhân văn hóa trong trường đại học đòi hỏi phải giáo dục thẩm mỹ,giáo dục thể chất, chăm lo sức khỏe đời sống vật chất và tinh thần của người dạy vàngười học trong trường
Một vấn đề đặc biệt quan tâm nữa trong hoạt động đào tạo của trường đạihọc là chăm lo đội ngũ giảng viên – lực lượng tri thức, những người vun đắp chocác thế hệ tương lai của đất nước Trong điều kiện khoa học, kỹ thuật phát triểnnhanh chóng, muốn hiện đại hóa giáo dục và đào tạo trước hết phải hiện đại hóathầy giáo, cô giáo, đặc biệt là đội ngũ thầy cô giáo các trường đại học, cao đẳng,phải có chế độ luân phiên đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ kiến thức và nghiệp
vụ sư phạm cho họ
1.1.3 Cơ chế tài chính của đơn vị sự nghiệp sự nghiệp có thu nói chung và các trường đại học, cao đẳng nói riêng
1.1.3.1 Khái niệm cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính
Theo từ điển Thuật ngữ kinh tế học, cơ chế tài chính là “tổng thể các biệnpháp, hình thức tổ chức quản lý quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồntài chính trong nền kinh tế quốc dân Cơ chế tài chính phải phù hợp và thích ứng với
cơ chế quản lý kinh tế của từng giai đoạn phát triển xã hội [75 tr120-121]
Trang 12Do đó, cơ chế tài chính cho giáo dục đào tạo là tổng thể các biện pháp, cáchình thức tổ chức quản lý quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn tàichính cho hoạt động giáo dục đào tạo.
Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính trong các đơn vị sự nghiệpthực chất là cơ chế tài chính mà ở đó quyền định đoạt các vấn đề tài chính của đơn
vị gắn trách nhiệm thực thi quyền đó được đề cao
Đơn vị sự nghiệp có thu là những đơn vị quản lý và cung cấp các dịch vụcông cho xã hội do Nhà nước thành lập, đặt dưới sự quản lý của Nhà nước nênquyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm về tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thumang những đặc điểm riêng, cụ thể:
Tự chủ về tài chính là sự chủ động về việc đảm bảo và quản lý sử dụng cácnguồn kinh phí phục vụ cho các hoạt động của đơn vị sự nghiệp có thu Quyền tựchủ về tài chính nếu được thực hiện sẽ không tách rời việc đảm bảo các yêu cầuchính đáng của người học, ĐVSNCT tự chịu trách nhiệm trước xã hội và đất nước.Quyền tự chủ về tài chính sẽ quyết định tự chịu trách nhiệm về tài chính củaĐVSNCT, tự chịu trách nhiệm về tài chính thể hiện trên 3 phương diện:
- Trách nhiệm với người học, với xã hội:
Là trách nhiệm đảm bảo chất lượng cam kết, trách nhiệm sử dụng hiệu quả,minh bạch kinh phí đóng góp của người học và xã hội cầu người học Khi ngườihọc và người sử dụng lao động đều có quyền tự do lựa chọn, các trường không thểđào tạo không đáp ứng nhu cầu của xã hội, không thể thu mức học phí không tươngxứng với chất lượng đào tạo người học mong đợi
- Trách nhiệm với Nhà nước:
Là trách nhiệm đảm bảo mọi hoạt động của Nhà trường, theo sứ mạng đãcông bố, trong khuôn khổ của pháp luật, trách nhiệm sử dụng kinh phí đầu tư củaNhà nước một cách hiệu quả và minh bạch, trách nhiệm báo cáo và chịu sự giám sátcủa các cơ quan quản lý Nhà nước
- Trách nhiệm đối với chính đơn vị của mình
Trang 13Là trách nhiệm phát triển đơn vị một cách bền vững, giữ vững và nâng cao
uy tín của đơn vị vì quyền lợi của tập thể của đội ngũ cán bộ viên chức
1.1.3.2 Mục tiêu thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu
Xây dựng và áp dụng cơ chế tài chính mới nhằm quản lý hiệu quả, phát triểntài chính vững mạnh, đảm bảo điều kiện tốt thực hiện tốt các giải pháp nâng caochất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học
Trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho đơn vị sự nghiệp trong việc tổchức công việc, sắp xếp lại bộ máy, sử dụng lao động và nguồn lực tài chính đểhoàn thành nhiệm vụ được giao
Thực hiện chủ trương xã hội hoá trong việc cung cấp dịch vụ, huy động sựđóng góp của cộng đồng, từng bước giảm dần bao cấp từ ngân sách Nhà nước
Thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với đơn vị sự nghiệp, Nhànước vẫn quan tâm đầu tư để hoạt động sự nghiệp ngày càng phát triển
1.1.3.3 Tầm quan trọng của cơ chế tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu nói chung và các trường đại học, cao đẳng nói riêng.
a Tầm quan trọng của cơ chế tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu
Trong điều kiện kinh tế thị trường, yêu cầu về chất lượng dịch vụ công vàhiệu quả hoạt động của đơn vị sự nghiệp là những vấn đề còn mang tính phức tạphơn nữa bên cạnh nguồn thu từ ngân sách Nhà nước cấp, các đơn vị này còn cónguồn thu chi trả của dân cư, các nguồn do đơn vị tự tìm kiếm, khai thác Cơ chếquản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu không những góp phần giảm bớt cáckhoản chi sự nghiệp của ngân sách Nhà nước cấp, mà còn khuyến khích cung cấpcác dịch vụ chất lượng cao cho xã hội với chi phí tiết kiệm
Việc quản lý, sử dụng nguồn tài chính của các đơn vị sự nghiệp liên quanđến hiệu quả kinh tế xã hội và chi tiêu đóng góp của nhân dân Do đó nếu có cơ chếquản lý tài chính hợp lý sẽ góp phần hạn chế, ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực,tham nhũng trong khai thác và sử dụng nguồn lực tài chính công, đồng thời nângcao hiệu quả sử dụng các nguồn tài chính của đất nước
Trang 14b Tầm quan trọng của cơ chế tài chính trong các trường đại học, cao đẳng
Thứ nhất, đảm bảo nguồn tài chính giúp các trường đại học thực hiện đổi mới đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên cho Nhà trường, từ đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo.
Đội ngũ giảng viên đủ về số lượng và có chất lượng là nhân tố quan trọngquyết định chất lượng đào tạo của một trường đại học Nếu các trường đại học đảmbảo nguồn tài chính để trang trải tiền lương tối thiểu cho giáo viên và điều kiện làmviệc, cơ sở vật chất và cơ hội học tập, thăng tiến về mặt chuyên môn thì khi đógiảng viên mới toàn tâm, toàn ý cho công tác giảng dạy nghiên cứu, từ đó góp phầnnâng cao chất lượng đào tạo
Thứ hai, đảm bảo nguồn tài chính trong các trường đại học góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Cơ chế tài chính không những tạo điều kiện cho hoạt động giáo dục đào tạo trongcác trường đại học phát triển, mà còn có ý nghĩa đảm bảo cho lĩnh vực này hoạt độngđúng hướng, đúng mục tiêu ý đồ của nhà cầm quyền Nói cách khác, cơ chế tài chính làbiện pháp vĩ mô để nhà nước điều tiết hoạt động giáo dục đào tạo
Thứ ba, đảm bảo nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên, tạo cơ hội cho sinh viên từng bước tiếp cận thực tiễn, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo trong Nhà trường
Nhờ có nguồn tài chính cho KH&CN, đội ngũ giáo viên có điều kiện thamgia vào hoạt động nghiên cứu khoa học Do đó, qua tham gia nghiên cứu khoa học,đội ngũ giáo viên trong trường đại học có điều kiện rèn luyện trong cả môi trườngnghiên cứu lý thuyết và thực tiễn sản xuất kinh doanh Tạo động lực để các nhàkhoa học không ngừng sáng tạo trong nghiên cứu, nâng cao năng lực nghiên cứu vàchất lượng đào tạo của đội ngũ giáo viên Nhà Trường
- Thông qua tham gia vào hoạt động nghiên cứu, sinh viên tìm hiểu sâu hơnnhững kiến thức được tiếp thu trong quá trình học tập, từng bước ứng dụng vào thựctiễn, từ đó chất lượng đào tạo được nâng cao
Trang 15Thứ tư, góp phần huy động nguồn lực vật chất và tài chính vào phát triển các trường đại học.
Qua hoạt động nghiên cứu, các trường đại học có được nguồn tài chính vàvật chất được đầu tư từ xã hội, Nhà nước, các doanh nghiệp và cá nhân trong nướccũng như các tổ chức quốc tế Từ đó, hoạt động nghiên cứu khoa học trong cáctrường đại học góp phần vào việc phát triển Nhà trường
Cuối cùng, cơ chế tài chính góp phần xây dựng mối quan hệ hữu cơ giữa các
đơn vị sự nghiệp có thu với toàn xã hội, các đơn vị sản xuất kinh doanh, gắn lý luậnvới thực tiễn, gắn học với hành
1.1.3.4 Nội dung cơ bản của cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính
* Nguồn tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu
Ngân sách Nhà nước cấp:
+ Kinh phí bảo đảm hoạt động thường xuyên để thực hiện chức năng, nhiệm
vụ của đơn vị tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động (sau khi đã cân đối nguồn thu
sự nghiệp), được cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp giao, trong phạm vi dự toánđược cấp có thẩm quyền giao;
+ Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ (đối với đơn vịkhông phải là tổ chức khoa học và công nghệ);
+ Kinh phí thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ, viên chức;
Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp:
+ Phần được để lại từ số thu phí, lệ phí thuộc ngân sách Nhà nước theo quyđịnh của pháp luật;
Trang 16+ Nguồn vốn liên doanh, liên kết của các tổ chức, cá nhân trong và ngoàinước theo quy định của pháp luật.
Hình 1.1: Nguồn thu của đơn vị sự nghiệp có thu
* Nội dung chi của đơn vị sự nghiệp có thu
- Chi thường xuyên:
+ Chi hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao; + Chi phục vụ cho việc thực hiện công việc, dịch vụ thu phí, lệ phí;
+ Chi cho các hoạt động dịch vụ
- Chi không thường xuyên, gồm:
+ Chi thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ;
+ Chi thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ, viên chức;
+ Chi đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cốđịnh thực hiện các dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
+ Chi cho các hoạt động liên doanh, liên kết;
Hình 1.2: Nguồn chi của đơn vị sự nghiệp có thu
Ngân sách nhà nước cấp
Nguồn thu
Thu từ hoạt động sự nghiệp
Chi thường xuyên
Nguồn chi
Chi không thường xuyên
Trang 17Tự chủ về sử dụng nguồn tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu
Căn cứ vào nhiệm vụ được giao và khả năng nguồn tài chính, đối với cáckhoản chi thường xuyên [Quy định tại khoản 1 Điều 15] Nghị định này, Thủ trưởngđơn vị được quyết định một số mức chi quản lý, chi hoạt động nghiệp vụ cao hoặcthấp hơn mức chi do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định
Tiền lương, tiền công và thu nhập của đơn vị sự nghiệp có thu
- Tiền lương, tiền công :
+ Đối với những hoạt động để thực hiện chức năng, nhiệm vụ Nhà nướcgiao, chi phí tiền lương, tiền công cho cán bộ, viên chức và người lao động (gọi tắt
là người lao động), đơn vị tính theo lương cấp bậc, chức vụ do Nhà nước quy định;
+ Đối với đơn vị tự bảo đảm chi phí hoạt động, được quyết định tổng mứcthu nhập trong năm cho người lao động, sau khi đã thực hiện trích lập quỹ phát triểnhoạt động sự nghiệp [quy định tại điểm a khoản 1 Điều 19 Nghị định này];
Việc chi trả thu nhập cho người lao động trong đơn vị được thực hiện theonguyên tắc: người nào có hiệu suất công tác cao, đóng góp nhiều cho việc tăng thu,tiết kiệm chi được trả nhiều hơn Thủ trưởng đơn vị chi trả thu nhập theo quy chếchi tiêu nội bộ của đơn vị
Hàng năm sau khi trang trải các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộpkhác theo quy định, phần chênh lệch thu lớn hơn chi (nếu có), đơn vị được sử dụngtheo trình tự như sau:
a) Đối với đơn vị tự bảo đảm chi phí hoạt động:
- Trích tối thiểu 25% để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp;
- Trả thu nhập tăng thêm cho người lao động;
- Trích lập Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ dự phòng ổn định thu nhập.Đối với 2 Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi, mức trích tối đa không quá 3 thángtiền lương, tiền công và thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện trong năm
Mức trả thu nhập tăng thêm, trích lập các quỹ do Thủ trưởng đơn vị sựnghiệp quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị
b) Đối với đơn vị tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động:
Trang 18- Trích tối thiểu 25% để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp;
- Trả thu nhập tăng thêm cho người lao động theo quy định tại điểm b khoản
2 Điều 18 Nghị định này;
- Trích lập Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ dự phòng ổn định thu nhập.Đối với 2 Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi mức trích tối đa không quá 3 tháng tiềnlương, tiền công và thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện trong năm
Trường hợp chênh lệch thu lớn hơn chi trong năm, bằng hoặc nhỏ hơn mộtlần quỹ tiền lương cấp bậc, chức vụ trong năm, đơn vị được sử dụng để trả thu nhậptăng thêm cho người lao động, trích lập 4 quỹ: Quỹ dự phòng ổn định thu nhập,Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, trong đó; đốivới 2 Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi mức trích tối đa không quá 3 tháng tiềnlương, tiền công và thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện trong năm
1.2 Thực trạng hiệu quả việc áp dụng cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm
về tài chính trong các trường đại học, cao đẳng công lập ở Việt Nam
1.2.1 Tình hình triển khai thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính tại đơn vị sự nghiệp có thu ở Việt Nam
Triển khai nghị định 43/2006/NĐ-CP, các Bộ và cơ quan Trung ương đãgiao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính cho 741 đơn vị trực thuộc; trong
đó có 208 đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo chi phí hoạt động; 461 đơn vị sự nghiệp tựđảm bảo một phần chi phí hoạt động và 72 đơn vị do NSNN bảo đảm toàn bộ chiphí hoạt động
Các địa phương đã giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính cho24.890 đơn vị sự nghiệp trực thuộc, trong đó: 637 đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo chiphí hoạt động; 9.970 đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động và14.283 đơn vị sự nghiệp do NSNN đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động [Nguồn: báocáo của Bộ Tài chính 2011]
Để đánh giá kết quả thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn
vị sự nghiệp có thu ta tìm hiểu tình hình thực hiện và kết quả đạt được tại các đơn
vị sự nghiệp có thu của thành phố Hà Nội như sau:
Trang 19Theo báo cáo sơ kết đánh giá kết quả thực hiện nghị định số 43/2006/NĐ-CPcủa Sở Tài chính [Nguồn: Webside của Sở Tài chính] giai đoạn 2009-2012, 100%đơn vị sự nghiệp công lập của thành phố đã được giao quyền tự chủ về tài chính, cụ thể:
Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo: là lĩnh vực sự nghiệp có tỷ lệ % số đơn
vị thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính trên tổng số đơn vị sự nghiệpđược giao quyền tự của thành phố cao nhất (1578/1905 đơn vị tương đương 82,8%).Toàn thành phố có 05 đơn vị thuộc lĩnh vực này hoàn toàn tự đảm bảo kinh phí, 786đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động, 787 đơn vị sự nghiệpngân sách đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động
Trong lĩnh vực y tế có 103 đơn vị được giao quyền tự chủ: trong đó có 02đơn vị tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên, 51 đơn vị sự nghiệp tựđảm bảo một phần chi phí hoạt động, 50 đơn vị ngân sách đảm bảo toàn bộ
Trong lĩnh vực khác (thương mại, dịch vụ ) là lĩnh vực có tỷ lệ các đơn vị
sự nghiệp công lập tự đảm bảo hoàn toàn chi phí hoạt động cao nhất: 27 đơn vị trêntổng số 117 đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động chiếm 23%
Thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính các đơn vị đã chủđộng được nguồn tài chính, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả, khai thác các nguồn thu
đa dạng nhờ đó tăng thu nhập cho cán bộ, công nhân viên Tổng thu nhập tăng thêmcủa các đơn vị sự nghiệp toàn thành phố là 155.162 triệu đồng, đạt tỷ lệ 10,95% sovới tổng quỹ lương (1.416.747 triệu đồng)
Trên cơ sở quy chế chi tiêu nội bộ, thủ trưởng các đơn vị được tự quyết địnhmức chi quản lý, chi nghiệp vụ một cách linh hoạt theo quy định của nhà nước tùytheo nội dung và hiệu quả công việc trong phạm vi nguồn tài chính được sử dụng.Đặc biệt đối với các đơn vị tự đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động được tự chủtrong chi tiêu, không phụ thuộc vào các định mức quy định của nhà nước
Như vậy, thực hiện cơ chế tự chủ về tài chính các đơn vị sự nghiệp có thucủa thành phố Hà Nội đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao trên mọi lĩnh vực Giáodục và Đào tạo, Dạy nghề, Y tế, Văn hóa – Thông tin, Thể dục thể thao và lĩnh vực
Trang 20khác Số thu sự nghiệp, số kinh phí tiết kiệm trong năm, thu nhập bình quân đầungười đều tăng trong khi tổ chức biên chế được tinh gọn.
Một số kết quả đạt được
Các ĐVSNCT khi được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính
đã phát huy được quyền tự chủ, chủ động khai thác các nguồn thu sự nghiệp, mởrộng và đa dạng hóa các loại hình cung ứng dịch vụ, chủ động sử dụng các nguồnkinh phí theo yêu cầu hoạt động của đơn vị, đảm bảo chi tiêu có hiệu quả, tiết kiệmtrên cơ sở quy chế chi tiêu nội bộ do đơn vị xây dựng
Thu nhập của cán bộ viên chức được nâng lên Ngoài việc đảm bảo tiềnlương cơ bản theo ngạch bậc do Nhà nước quy định, các đơn vị đều đã có nguồn đểtăng thu nhập cho người lao động tuy còn ở mức độ khác nhau tùy theo khả năngthu và tiết kiệm chi của đơn vị Từng bước giải quyết khó khăn về đời sống chongười lao động và khuyến khích người lao động nâng cao tinh thần trách nhiệm, gắn
bó với công việc
Thủ trưởng đơn vị được quyết định mức chi quản lý, nghiệp vụ cao hơn mứcchi Nhà nước quy định trong phạm vi nguồn thu được sử dụng
Những kết quả đạt được nêu trên đã góp phần khẳng định việc giao quyền tựchủ tài chính cho ĐVSNCT là một cơ chế đúng đắn, phù hợp với yêu cầu cải cáchtài chính công, phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đơn vị, nâng cao chấtlượng phục vụ nhân dân, cung cấp các dịch vụ ngày càng phong phú, đa dạng cho
xã hội, cải thiện từng bước thu nhập cho người lao động
Những tồn tại, khó khăn, vướng mắc:
Thứ nhất, việc xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ chưa đúng quy định và thực
hiện quy chế chi tiêu nội bộ chưa đúng với hướng dẫn tại Thông tư số BTC ngày 09/8/2006 của Bộ Tài chính Cụ thể là:
71/2006/TT-Quy định cước điện thoại di động, điện thoại nhà riêng cao hơn mức quyđịnh của nhà nước, hoặc không quy định mức cước điện thoại mà thanh toán theothực tế phát sinh không đúng quy định
Trang 21Quản lý sử dụng các quỹ còn tình trạng chưa xây dựng mức trích lập quỹkhen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ dự phòng ổn định thu nhập và quỹ phát triển hoạtđộng sự nghiệp Chưa quy định cụ thể về đối tượng chi, mức chi.
Tại các đơn vị đều chưa xây dựng tiêu chí để đánh giá mức độ hoàn thànhnhiệm vụ được giao như khối lượng công việc hoàn thành trong năm, chất lượngcông việc hoàn thành… nên việc chi trả thu nhập tăng thêm trong năm đều tính theo
hệ số chức vụ cấp bậc công tác và bình bầu A,B,C…
Nhiều khoản chi thường xuyên phát sinh nhưng chưa được qui định cụ thểtrong qui chế chi tiêu nội bộ mà thực hiện theo quyết định của thủ trưởng đơn vị,dẫn tới hạn chế về tính công khai, dân chủ trong quá trình quản lý tài chính
Thứ hai, việc lập và giao dự toán chưa sát với thực tế: vẫn còn một số đơn
vị sự nghiệp chưa xác định rõ cơ cấu nguồn thu và khả năng tự bảo đảm chi thườngxuyên, để làm cơ sở xác định chính xác mức hỗ trợ của NSNN Bên cạnh đó, một sốđơn vị lập dự toán thu, chi NSNN vẫn mang theo tâm lý khi lập dự toán thu chưaphản ánh hết các nguồn thu, hoặc lập dự toán với số thu thấp hơn số thực thu nămtrước, nội dung chi cao hơn để được tăng hỗ trợ từ NSNN
Thứ ba, việc xác định sai loại hình đơn vị sự nghiệp, dẫn đến cấp kinh phí
không chính xác: do các đơn vị sự nghiệp lập dự toán không sát và cơ quan chủ
quản chưa thẩm tra, đánh giá đầy đủ, nên đã xác định sai loại hình đơn vị sự nghiệp
để thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính
Đơn vị đã tự chủ toàn bộ chi phí hoạt động, nhưng cơ quan chủ quản vẫn chophép áp dụng cơ chế tài chính của đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo một phần chi phíhoạt động thường xuyên Việc đơn vị xác định không đúng loại hình tự chủ dẫn đếnNSNN hàng năm vẫn phải cấp bù kinh phí hoạt động thường xuyên (Ví dụ có đơn
vị từ năm 2009 đến năm 2011, tỷ lệ tự đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyênnăm 2009 là 144%, năm 2010 là 166%, năm 2011 là 146%, nhưng vẫn được NSNNcấp bổ sung kinh phí: năm 2009 là 431 triệu đồng, năm 2010 là 200 triệu đồng )
Thứ tư, quản lý các hoạt động dịch vụ còn nhiều sai sót, thiếu hướng dẫn:
Hoạt động dịch vụ của các đơn vị sự nghiệp cũng đã đóng góp một phần đáng kể
Trang 22nguồn thu cho đơn vị, tăng thu nhập cho cán bộ công nhân viên song việc quản lýhoạt động dịch vụ tại các đơn vị cũng còn nhiều tồn tại như: chưa hướng dẫn giá thudịch vụ, phân phối việc liên kết với các tổ chức cá nhân có máy móc thiết bị (tại cácbệnh viện thuộc Bộ Y tế) hạch toán thiếu, không kịp thời doanh thu, chi phí dẫn tớithực hiện nghĩa vụ với NSNN không đầy đủ, thiếu thuế GTGT, thiếu thuế TNDN
Thứ năm, việc xác định quỹ tiền lương và thu nhập tăng thêm: một số đơn
vị, vừa đồng thời thực hiện các dự án, nhiệm vụ Nhà nước giao, vừa thực hiện hoạtđộng kinh doanh dịch vụ, nên không thể tách bạch rõ về quỹ tiền lương, chi phíquản lý, các khoản chi phí chung Nhiều đơn vị đã không xây dựng đơn giá tiềnlương, thực hiện hạch toán quĩ tiền lương của hoạt động dịch vụ mà thường ký cáchợp đồng thuê khoán chuyên môn, trả tiền công theo các hợp đồng vụ việc; Nhưvậy thực chất đã ẩn cả thu nhập tăng thêm, thậm chí là các khoản chi phúc lợi, lễtết vào trong chi phí trước thuế TNDN, đã dẫn tới giảm số thuế TNDN phải nộpNSNN và không thể hạch toán được chênh lệch thu-chi, không có nguồn để tríchquỹ theo đúng quy định
Qui chế chi tiêu nội bộ qui định cụ thể mức chi tiền lương tăng thêm, dẫn tớihàng tháng đã quyết toán chi tiền lương tăng thêm vào chi thường xuyên, trước khixác định chênh lệch thu chi Do không xác định được chênh lệch thu - chi trước khitrả tiền lương tăng thêm, trích lập các qũy, nên không đánh giá được kết quả tăngthu, tiết kiệm chi của các đơn vị; tiền lương tăng thêm và chi khen thưởng, phúc lợichưa trở thành động lực khuyến khích tăng thu, tiết kiệm chi
Cuối cùng, về cơ chế chính sách theo lĩnh vực còn nhiều bất cập và hạn chế:
* Trong lĩnh vực Giáo dục, Đào tạo:
Về chính sách học phí: Với khung học phí như hiện nay, để tăng thu, nhiềuđơn vị đã qui định các khoản thu thêm không có quy định của cấp có thẩm quyền.Khung thu học phí đào tạo không chính qui chưa bao quát hết các loại hình đào tạo,
về học phí đào tạo các hệ không chính qui cần được nghiên cứu, sửa lại theo hướng:
cụ thể hoá thêm các loại hình đào tạo, xác định lại khung học phí phù hợp, mức cụthể do các đơn vị đào tạo tự quyết định
Trang 23Về chính sách lệ phí: Việc tuyển sinh hệ chính quy: các đơn vị thu đúng mứcqui định, nhưng cũng không đủ chi nên đã sử dụng các nguồn thu sự nghiệp hoặcNSNN cấp để bù đắp chi; Việc tuyển sinh sau đại học: nhiều đơn vị đã thu lệ phítuyển sinh cao hơn qui định, do số lượng thí sinh dự thi ít nên số thu được không đủchi; Việc tuyển sinh các hệ không chính qui: hầu hết các đơn vị đều thu cao hơn quiđịnh mới đủ chi do phải tuyển sinh nhiều đợt, số thi sinh tham dự thi ít Từ bất cập
đó, cần phải được nghiên cứu sửa đổi lại chính sách lệ phí theo hướng: bổ sungthêm qui định về mức thu lệ phí tuyển sinh các hệ đào tạo không chính qui, mức thu
lệ phí của các hệ tuyển sinh nên qui định theo khung, mức cụ thể do các trường tựqui định cho phù hợp với tình hình thực tế theo nguyên tắc tự cân đối thu - chi
* Lĩnh vực Tài nguyên và Môi trường:
Theo quy định hiện hành, dự án khi lập và phê duyệt dự toán, đơn giá tiềnlương không tính chi phí khấu hao TSCĐ, máy móc thiết bị vì các máy móc, trangthiết bị là do NSNN đã đầu tư và trang bị cho các đơn vị Tuy nhiên, trong xu thếcải cách tài chính công hiện nay, NSNN sẽ giảm dần, tiến tới không cấp kinh phímua sắm trang thiết bị, tài sản cho các đơn vị này, vì vậy việc không tính chi phíkhấu hao máy móc, thiết bị, tài sản vào đơn giá thì về lâu dài các đơn vị sẽ không cónguồn để tiếp tục tái đầu tư phát triển các hoạt động sự nghiệp
* Lĩnh vực Thông tin và Truyền thông:
Các cơ quan có thẩm quyền chưa có văn bản hướng dẫn về việc thu lệ
phí cấp giấy phép nhập khẩu đối với loại thiết bị thu phát sóng vô tuyến điện, nênđơn vị đã không thực hiện thu phí cấp giấy phép nhập khẩu thiết bị này chưa có quyđịnh về việc quản lý thu, chi đối với hoạt động duy trì, khai thác hệ thống trungchuyển lưu lượng Internet quốc gia
Tỷ lệ phí, lệ phí do cơ quan có thẩm quyền ban hành, cho phép đơn vị được
để lại số thu lớn hơn nhu cầu chi thực tế của đơn vị, là không hợp lý và công bằng
Ví dụ có đơn vị tỷ lệ phí, lệ phí được để lại cao (90%), thực tế chi phí hoạt độnghàng năm thấp; cụ thể: năm 2006 số chi hoạt động chỉ bằng 18,66% số thu, năm
Trang 242007 là 30,68%; năm 2008 là 32,63% và năm 2009 là 34,12% do được để lạinhiều, nên đơn vị đã chi tiền lương tăng thêm rất cao.
Một số nguyên nhân:
- Công tác tuyên truyền, triển khai cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm ở một
số Bộ, ngành, đơn vị chưa được quan tâm đúng mức, vì vậy một bộ phận cán bộchưa nhận thức sâu sắc, đầy đủ dẫn đến chưa thực hiện đúng tinh thần Nghị định số43/2006/NĐ-CP
- Cơ chế quản lý và phương thức hoạt động của các đơn vị cung cấp dịch vụ
sự nghiệp công lập chưa được đổi mới đồng bộ dẫn đến chất lượng và hiệu quảcung ứng các dịch vụ sự nghiệp chưa tương xứng
- Các Bộ quản lý ngành, lĩnh vực chưa thực sự quan tâm việc trao quyền tựchủ tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế nên chậmhướng dẫn
- Một số Bộ, cơ quan Trung ương và địa phương chưa có biện pháp đôn đốc,kiểm tra thường xuyên các đơn vị triển khai thực hiện theo quy định của Nghị định
số 43/2006/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính; một số địa phươngchưa thực sự quan tâm chỉ đạo công tác triển khai thực hiện giao quyền tự chủ, tựchịu trách nhiệm đối với đơn vị sự nghiệp Một bộ phận cán bộ, viên chức, ngườilao động đơn vị sự nghiệp công lập nhận thức chưa đầy đủ về nội dung, mục đích vàyêu cầu về thực hiện giao quyền tự chủ đối với đơn vị sự nghiệp, vẫn còn mangnặng tâm lý ỷ lại, trông chờ bao cấp của nhà nước, e ngại khi thay đổi cơ chế quản lý
1.2.2 Thực trạng hiệu quả việc áp dụng cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm
về tài chính trong các trường đại học và cao đẳng
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thực hiện giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm
về tài chính cho 54 đơn vị theo công văn số 2971/BTC-HCSN ngày 14/3/2008 vềviệc phân bổ dự toán NSNN (đợt II) và giao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị
sự nghiệp, gồm:
- 08 đơn vị được giao tự đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên
- 35 đơn vị được giao tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thường xuyên
Trang 25- 09 đơn vị là đơn vị do NSNN đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động
[Nguồn: Báo cáo của Bộ Giáo dục – Đào tạo năm 2012]
* Về xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ
Triển khai thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/04//2006 củaChính phủ và Thông tư hướng dẫn số 71/2006/TT-BTC ngày 9/8/2006 của Bộ Tàichính, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo 54 đơn vị được giao quyền tự chủ, tự chịutrách nhiệm về tài chính tổ chức xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ theo quy định đểquản lý và sử dụng kinh phí hoạt động thường xuyên, công khai trong đơn vị Kếtquả thực hiện đến nay đã có 54/54 đơn vị đã xây dựng, ban hành quy chế chi tiêunội bộ
Một số kết quả đạt được:
Thực hiện giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính cho 54 đơn vịtrực thuộc Bộ, kết quả đạt được rất thuận lợi về quản lý và sử dụng so với cơ chếtrước đây, cụ thể là:
Thủ tục hành chính giảm thiểu đáng kể các thủ tục xác nhận và phê duyệt chitiêu cụ thể của Bộ với đơn vị, góp phần cải cách hành chính trong quản lý, khôngcòn tình trạng chờ đợi cấp trên phê duyệt, các đơn vị phải chịu trách nhiệm về quyếtđịnh nội dung, chi tiêu cụ thể, tự đào tạo đội ngũ cán bộ và nâng cao năng lực trongcông tác quản lý
Nhiều đơn vị đã có nhiều đổi mới trong hoạt động để mở rộng nguồn thu, cảithiện thu nhập, tăng thu nhập cho người lao động, trích lập các quỹ khen thưởng,phúc lợi chăm lo cho người lao động
Nhiều đơn vị đã tự chủ động cân đối tài chính cho hoạt động, nhưng chi tiêurất tiết kiệm so với chế độ cho phép, đối với đơn vị tự đảm bảo một phần chi phíhoạt động thường xuyên, được quyết định tổng mức thu nhập trong năm cho ngườilao động không quá 3 tháng lương cấp bậc, chức vụ do Nhà nước quy định
Nguồn thu sự nghiệp của các đơn vị trực thuộc Bộ, tăng hơn so với các nămtrước do Nhà nước có sự điều chỉnh về mức thu học phí, lệ phí tuyển sinh, điều này
đã phần nào giảm bớt khó khăn về kinh phí cho các trường trong điều kiện hơn 10
Trang 26năm thực hiện theo khung học phí thực hiện theo Quyết định số 70/1998/QĐ-TTgcủa Thủ tướng Chính phủ Cụ thể: Ngày 21/8/2009 Thủ tướng Chính phủ ban hànhQuyết định số 1310/QĐ-TTg điều chỉnh khung học phí đối với cơ sở giáo dục nghềnghiệp và giáo dục đại học công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân năm học2009-2010; Ngày 14/5/2010 Chính phủ ban hành Nghị định số 49/2010/NĐ-CP quyđịnh về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phíđối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010-2011 đếnnăm học 2014-2015; Ngày 11/2/2010 Liên Bộ Tài chính và Bộ Giáo dục và Đào tạo
đã ban hành Thông tư liên tịch số 21/2010/TTLT-BTC-BGDĐT quy định chế độ
thu và sử dụng phí dự thi, dự tuyển (lệ phí tuyển sinh) đại học và trung cấp chuyên nghiệp.
Những tồn tại, khó khăn, vướng mắc:
Nghị định 43 quy định quyền tự chủ tài chính, song cơ chế khuyến khích cácđơn vị tăng thu, thực hiện tiết kiệm chi tiêu hàng năm còn vướng mắc, cụ thể là:
Để có tích lũy vốn đủ lớn cho việc xây dựng mới cơ sở vật chất đầu tư dàihạn phát triển đơn vị, các đơn vị tập trung trích lập quỹ phát triển hoạt động sựnghiệp, thể hiện trên sổ sách kế toán, tuy nhiên theo cách xác định của Nghị định43/2006/NĐ-CP là số chênh lệch thu lớn hơn chi, do đó các cơ quan thanh tra, kiểmtra lại cho là khoản kinh phí chưa chi tiêu, ảnh hưởng đến việc xem xét bổ sungnguồn kinh phí để thực hiện cải cách tiền lương hàng năm, hỗ trợ của ngân sáchNhà nước hàng năm đối với đơn vị
Chưa có cơ chế cụ thể qui định việc huy động vốn của cán bộ, công chức,viên chức và vay vốn của các tổ chức tín dụng cho các hoạt động dịch vụ để khuyếnkhích các đơn vị chủ động giải quyết việc thiếu phòng học, cơ sở vật chất, kinh phíxây dựng hàng năm được cấp hạn chế đáp ứng phát triển của đơn vị, tạo điều kiện
để các đơn vị thực hiện đa dạng hóa và mở thêm loại hình, chương trình đào tạo liêndoanh, liên kết giữa các cơ sở đào tạo, đáp ứng nhu cầu xã hội và với các cơ sở giáodục ngoài nước và các dịch vụ phục vụ học sinh, sinh viên
Nghị định 43 mới chỉ dừng ở giao quyền tự chủ song không có tiêu chí,hướng dẫn về đánh giá hoạt động tài chính có thực sự hiệu quả, chi phí có phù hợp
Trang 27với xã hội và thu nhập của người lao động đã thỏa đáng chưa Do đó các trườngthực hiện rất khác nhau, đặc biệt là về thu nhập, trích các quỹ.
Việc xác định chênh lệch thu-chi tại thời điểm kết thúc năm tài chính 31/12
là bất cập đối với các cơ sở trường học Do đặc thù của ngành giáo dục là hoạt độnggiảng dạy, đào tạo theo năm học (từ tháng 9 năm trước đến tháng 6 năm sau), do đó tại thời điểm 31/12 sẽ luôn còn dư một khoản kinh phí từ nguồn thu học phí của học
kỳ I của năm học (thường kết thúc vào tháng 1 hoặc tháng 2 của năm sau), khoản kinh phí này còn phải đảm bảo cho hoạt động giảng dạy, đào tạo từ 1 đến 2 tháng nữa và một phần chi phí để thanh toán cho số giờ giảng vượt so với giờ chuẩn của giáo viên thường được xác định vào cuối năm học (khoảng tháng 10 hàng năm)
Như vậy số chênh lệch thu chi tại thời điểm 31/12, đối với cơ sở trường họcchưa phản ánh đúng được kết quả của 1 chu kỳ tài chính cho năm học Số dư kinhphí từ nguồn học phí tại thời điểm 31/12 này thường bị cơ quan kiểm toán, báo chínhận xét là số thu học phí còn thừa không chi hết, Đối với các loại hình đào tạokhông chính quy còn bị cơ quan thuế coi là số thu nhập chịu thuế
Nghị định 43 mới chỉ quy định về tự chủ đối với các nội dung chi, về mứcthu (như thu học phí, lệ phí tuyển sinh) thì vẫn phải thực hiện theo quy định chungđối với các trường công lập, do đó đối với các trường tự đảm bảo chi phí hoạt độngthường xuyên gặp khó khăn về tổng nguồn kinh phí để hoạt động, khi không đượcnhà nước hỗ trợ kinh phí hoạt động thường xuyên mà mức thu học phí thì phải thựchiện giống như các trường có ngân sách nhà nước hỗ trợ chi hoạt động thường xuyên
Thu nhập của người lao động chưa được cải thiện so với nhiều ngành nghềkhác trong xã hội, bình quân thu nhập chung tăng dưới 1 lần so với lương nhà nướcquy định Mặc dù mức học phí đã được Nhà nước điều chỉnh theo Nghị định số49/2010/NĐ-CP của Chính phủ, tuy nhiên việc xác định cơ chế thu, quyết định thuđang còn là vấn đề đối với các trường
Về hạch toán tiền chi trả thu nhập tăng thêm chưa được quy định rõ nên nhiều đơn vị lúng túng Có đơn vị chi trả thu nhập tăng thêm cho người lao động
Trang 28tính trực tiếp vào chi phí hoạt động, có đơn vị trả thu nhập tăng thêm sau khi xác định chênh lệch thu chi Do chưa có hướng dẫn hạch toán trả thu nhập tăng thêm.
Nhiều đơn vị lúng túng trong việc xây dựng các tiêu chí để trả thu nhập tăng thêm cho người lao động theo hiệu quả công việc dẫn đến hầu hết trả theo mức bìnhquân, chưa khuyến khích được người lao động trong công việc
1.2.3 Hiệu quả việc thực hiện nghị định 43/2006/NĐ-CP tại một số trường đại học, cao đẳng cụ thể
Để đánh giá kết quả thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chínhcủa các đơn vị sự nghiệp có thu ta tìm hiểu kết quả đạt được tại một số trường đạihọc, cao đẳng
Triển khai thực hiện nghị định 43, Trường đại học Huế đã giao quyền tự chủ,
tự chịu trách nhiệm về tài chính cho 20 đơn vị trực thuộc Các đơn vị trực thuộc đã
tổ chức thực hiện nhiệm vụ giao theo đúng kế hoạch Chỉ tiêu thực hiện thu chiNSNN, thu sự nghiệp tại đơn vị theo dự toán đã phê duyệt Tự cân đối nguồn thu sựnghiệp để giải quyết những nhiệm vụ phát sinh Tuy nhiên đơn vị không có đủnguồn đáp ứng nhu cầu cải cách tiền lương hàng năm theo các Nghị định số28/2010/NĐ-CP, 33/2009/NĐ-CP và các nghị định đã ban hành trước đó Căn cứvào dự toán đề nghị Nhà nước đã cấp bù ngân sách để giải quyết một phần tiềnlương tăng thêm do thực hiện nghị định 118/NĐ-CP, nghị định 94/NĐ-CP và nghịđịnh 33/NĐ-CP Tổng tiền lương được bù trong năm 2009 là : 10.734,6 triệu đồng,năm 2010 làL: 18.678,6 triệu đồng
Tất cả các đơn vị đã xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị mình phù hợp với nghị định số 43/2006/NĐ-CP Đồng thời sau mỗi năm thực hiện, đơn vị đãchủ động điều chỉnh, bổ sung quy chế chi tiêu nội bộ cho phù hợp thực tế hơn
Các giải pháp thực hiện quy chế chi tiêu nội bộ: chính quyền, tổ chức côngđoàn phối hợp chặt chẽ trong quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện quy chế chitiêu nội bộ của đơn vị Quá trình thực hiện còn có sự giám sát của cán bộ viên chứctại đơn vị
Trang 29Đại học Huế đã hướng dẫn, kiểm tra và phê duyệt quy chế chi tiêu nội bộ củacác đơn vị trực thuộc, không ban hành quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị dự toán cấp II.
Các đơn vị trực thuộc đại học Huế đã tổ chức thực hiện tốt việc thực hiện tựchủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính nhằm không ngừng tăng hiệu quả và tiết kiệmtrong quản lý, sử dụng tài chính, tài sản như sau: Huy động vốn tăng nguồn thubằng tận thu học phí từ người học; mở rộng hợp tác quốc tế bằng các dự án, chươngtrình nghiên cứu từ nguồn tài trợ của các tổ chức nước ngoài
Về thu nhập tăng thêm: số đơn vị có hệ số tăng thu nhập dưới 1 lần: 19; có
hệ số tăng thu nhập từ 1-2 lần là 1
Nhà trường đã có các biện pháp thực hành tiết kiệm và tăng thu: tiết kiệm triệt để các khoản chi phí điện nước, sử dụng văn phòng phẩm, sử dụng xăng dầu ô
tô và các khoản chi tiêu hành chính khác
Trong quá trình thực hiện, trường đại học Huế còn gặp rất nhiều khó khăn dongân sách Nhà nước và nguồn thu tại đơn vị không đủ đáp ứng các nhu cầu thựchiện nhiệm vụ Trong thực tế, NSNN giao ổn định trong 3 năm, nguồn thu của đơn
vị năm sau tăng không đáng kể so với năm trước Trong khi đó lại phải thực hiệnchi phí phát sinh do thực hiện chế độ cải cách tiền lương mới, tăng thêm hàng nămtheo lộ trình cải cách tiền lương của Chính phủ
Trang 30Bảng 1.1: Báo cáo tổng kết thực hiện nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày
25/4/2006 của Chính phủ từ năm 2009 đến năm 2011
tính
TH năm 2009
TH năm 2010
TH năm 2011
I
Tổng biên chế, lao động của
đơn vị được giao quyền tự chủ
Về tiết kiệm kinh phí hoạt động
Số kinh phí tiết kiệm được Triệu đồng
Về số thu sự nghiệp Triệu đồng
Số tăng thu so với năm trước Triệu đồng 6.889 7.233 7.312
Về thu nhập tăng thêm Triệu đồng
Thu nhập bình quân của người Triệu đồng 757 798 802
Trang 31Thu sự nghiệp năm sau cao hơn năm trước do mở rộng các hoạt động liêndoanh, liên kết với các đối tác, tự chủ trong việc thành lập các Trung tâm, Công tynhằm chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật áp dụng vào thực tiễn.
Trường đã chủ động tiết kiệm chi,tạo nguồn chi trả thu nhập tăng thêm từ200.000 đ một hệ số năm 2005 lên 250.000 đồng một hệ số năm 2007, và 300.000đồng một hệ số năm 2008, 2009, 2010 Đồng thời, Trường đã tạo nguồn kinh phí dựphòng để cải cách tiền lương khi Nhà nước có quyết định nâng mức lương tối thiểu
Thực hiện “Chương trình đổi mới cơ chế tài chính đối với các cơ quan hànhchính Nhà nước và đơn vị sự nghiệp công giai đoạn 2004-2010” của Thủ tướngChính phủ, trường đại học Nông nghiệp Hà Nội đã thực hiện chế độ tự chủ, tự chịutrách nhiệm về tài chính theo nghị đinh 43/2006/NĐ-CP như sau:
Xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, quy chế quản lý nguồn thu, quy định về sửdụng xe ôtô, xăng dầu…
Chủ động sắp xếp các nguồn kinh phí đề hoàn thành các nhiệm vụ được giao.Chi trả thu nhập tăng thêm cho người lao động từ chênh lệch thu, chi Đơn vị
có hệ số tăng thu nhập dưới 1
Nhà trường đã đề ra một số biện pháp tiết kiệm để tăng thu như sau: Giaokhoán kinh phí hoạt động đào tạo về cho các khoa trong toàn trường để các đơn vị
đó chủ động trong chi tiêu, kinh phí khoán sau khi yêu cầu đơn vị tiết kiệm 10% đểthực hiện bù đắp tăng lương cho cán bộ khi nhà nước tăng lương tối thiểu chung;Ban hành quy định về quản lý ôtô, xăng dầu nhằm thực hiện chi một cách tiết kiệm
và có hiệu quả; Mở rộng quy mô các loại hình đào tạo và các cấp đào tạo để tăngnguồn thu từ các loại hình này; Chủ động mở rộng các loại hình dịch vụ chuyển
Trang 32giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, hoạt động nghiên cứu khoa học, tận thu các nguồnlực hiện có để tăng thu nhập
Trong những năm tới Trường đại học Nông Nghiệp Hà Nội đề nghị Bộ Giáodục và Đào tạo mở rộng giao quyền tự chủ cho các trường về các nguồn kinh phíkhác như: nghiên cứu khoa học, kinh phí đào tạo lại cán bộ, kinh phí đào tạo lưuhọc sinh Lào, Campuchia
Trang 33Bảng 1.2: Báo cáo tổng kết thực hiện nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006
của Chính phủ từ năm 2009 đến năm 2011.
Thực hiện năm 2009
Thực hiện năm 2010
Thực hiện năm 2011
vụ trong năm của các đơn
vị được giao tự chủ tài
Tổng thu nhập tăng thêm
Về huy động vốn Triệu đồng
Số vốn huy động được Triệu đồng
Huy động của CBVC Triệu đồng
Vay vốn của các tổ chức Triệu đồng
Trang 34tín dụng
Về tiết kiệm kinh phí hoạt
động thường xuyên Triệu đồng
Số kinh phí tiết kiệm
Về số thu sự nghiệp Triệu đồng
Số tăng thu so với năm
Về thu nhập tăng thêm Triệu đồng
Thu nhập bình quân của
[Theo tài liệu: Báo cáo của trường đại học Nông Nghiệp Hà Nội]
d Nguyên nhân của những tồn tại, vướng mắc trong việc triển khai thực hiện
cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính ở các trường đại học, cao đẳng
Trước hết là do sự thiếu hợp lý trong chính sách và cơ chế tài chính hiện nay,các trường đại học công lập đứng trước nguy cơ không đủ kinh phí chi trả chonhững hoạt động thường xuyên, chưa nói tới việc tái đầu tư để giữ vững và nângcao chất lượng
Thứ nhất, từ nhiều năm qua kinh phí đầu tư cho đào tạo từ ngân sách nhànước và từ học phí tính trên đầu sinh viên sụt giảm giá trị thực nhiều lần
Mức lương cơ bản của cán bộ, giảng viên từ 180.000 đ năm 2000 tăng lên730.000 năm 2010 (tăng 4,05 lần ), chi điện nước tăng 2-3 lần, giá cả các loại công
cụ dụng cụ , vật tư thí nghiệm, văn phòng phẩm tăng đáng kể, tất cả các khoản tăngnày đều do trường tự cân đối chi trả, trong khi đó mức học phí chỉ tăng từ 180.000(QĐ 70/1998/QĐ-TTg) lên 240.000đ năm 2010 (tăng 1,25 lần ) đã thực sự trở lênlạc hậu và không bù đắp được phần thiếu hụt trong chi phí đào tạo, trong khi đókinh phí chi thường xuyên từ ngân sách Nhà nước dành cho các trường đại học hầunhư không tăng (tỷ lệ tăng chỉ bù đắp cho tỷ lệ trượt giá)
Trang 35Do vậy, các trường buộc phải cắt giảm kinh phí dành cho bảo đảm và nângcao chất lượng đào tạo (đổi mới chương trình đào tạo, giáo trình, phương phápgiảng dạy, xây và sửa chữa phòng học, phòng thí nghiệm, hệ thống thông tin, thưviện…) Hơn nữa các trường còn gặp khó khăn trong việc tuyển dụng và giữ cán bộ,giảng viên giỏi bởi thu nhập của cán bộ, giảng viên quá thấp so với trình độ và mặtbằng xã hội
Thứ hai, các trường đại học thiếu quyền chủ động trong việc huy động và sửdụng các nguồn kinh phí khác từ xã hội
Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với các trường đại họccông lập theo quy định tại Nghị định 43/2006/NĐ-CP chưa làm rõ trách nhiệm chia
sẻ kinh phí đào tạo giữa Nhà nước và người học, còn mang nặng tính bình quân,chưa gắn với tiêu chí đảm bảo chất lượng
Thứ ba, thực hiện tự chủ tài chính theo quy định tại Nghị định 43 các trườngmới chủ yếu tập trung xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ làm căn cứ cho việc hạchtoán tài chính tại đơn vị Các định mức cụ thể và cơ chế quản lý đầu tư phát triển,quản lý chi phát triển sự nghiệp vẫn thực hiện theo văn bản pháp luật hiện hành, nênthực chất quyền tự chủ về tài chính của các trường chưa được trao đầy đủ
Thứ tư, quy định khung học phí hiện nay thiếu bình đẳng, ngăn cản năng lựccạnh tranh của các trường đại học công lập
Trong hệ thống giáo dục có các trường tư thục và đặc biệt là các trường cóvốn đầu tư nước ngoài, thì không thể phủ nhận thực tế đang tồn tại một thị trườnggiáo dục Một thị trường giáo dục có định hướng đúng đắn, có cơ chế cạnh tranhlành mạnh không những phù hợp với quy luật tự nhiên, phù hợp với xu thế của thờiđại mà còn là một điều kiện tiên quyết cho sự phát triển của nền giáo dục Nhưngvới việc đưa ra quy định về khung học phí đối với các trường công lập, thì trườngđại học công lập có uy tín truyền thống sẽ không còn cơ hội để đững vững Việcquy định khung học phí có thể cần thiết đối với đa số các trường đại học công lậptrong giai đoạn hiện nay, nhưng không thể phù hợp với toàn bộ hệ thống đại họccông lập
Trang 36Nghị quyết số 35/2009/QH12 của Quốc hội khóa 12 chủ trương, định hướngđổi mới một số cơ chế tài chính trong giáo dục và đào tạo từ năm 2010 -2011 đếnnăm học 2014-2015 một lần nữa đã khẳng định vai trò chủ chốt của Nhà nước trongviệc cung cấp kinh phí cho giáo dục và nhấn mạnh chủ trương đổi mới chính sáchhọc phí Tuy nhiên những định hướng đưa ra mới giúp các trường đại học giảm bớtkhó khăn nhưng chưa thể tạo ra bước chuyển biến đáng kể tới năm 2015 Trong khingân sách nhà nước cho giáo dục không thể tăng nhiều thì lộ trình tăng học phí quyđịnh tại nghị định 49/2010/NĐ-CP, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển để giữvững và nâng cao chất lượng đào tạo, nhất là đối với các ngành kỹ thuật.
Ví dụ, dựa trên cơ sở những quy chuẩn về giảng viên/sinh viên, yêu cầuchuẩn trình độ giảng viên, một số điều kiện tối thiểu đảm bảo chất lượng đào tạo vàđịnh hướng phát triển đến năm 2015, tính toán kinh phí đào tạo cho một ngành kỹthuật trình độ đại học (cử nhân kỹ thuật) được tóm tắt trong bảng dưới đây:
Trang 37Bảng 1.3: Dự toán kinh phí cho một ngành đào tạo đại học dựa trên khung học phí
(Đơn vị tính: triệu đồng, ước tính cho quy mô 180 SV/năm x 4 năm học = 720 SV)
Tăng trung bình hàng năm 7% theo
1 Lương, bảo hiểm , khen
tăng TB/năm: 10% Mức lương TB/năm của
4 Điện nước, điện thoại,
mạng thông tin, chi khác 400 804
Trang 38Toàn bộ nguồn thu phục vụ đào tạo ngay cả khi áp dụng mức tối đa theokhung học phí quy định tại Nghị định 49/2010/NĐ-CP của Chính phủ cũng không
đủ cân đối cho chi thường xuyên phục vụ đào tạo
Khoản chi cơ sở vật chất trực tiếp, phục vụ đào tạo (Thiết bị, vật tư thínghiệm, thực hành, chương trình, giáo trình, thư viện, sửa chữa phòng học…) tuy
đã chiếm 20 -25 % tổng chi thường xuyên, nhưng đối với ngành kỹ thuật vẫn là quáthấp, chỉ đủ để giữ chất lượng đào tạo không đi xuống so với hiện nay (nếu không
có trượt giá trong vòng mấy năm tới)
Khoản chi nhân lực chiếm phần lớn chi thường xuyên, mặc dù vậy mứclương trung bình cho một giảng viên là quá thấp (3,3 triệu đồng/tháng trong năm
2010 và khoảng 5,2 triệu đồng/ tháng vào năm 2015) so với trình độ và mức độđóng góp theo mặt bằng xã hội Mức lương như vậy thì chắc chắn tới năm 2015phần lớn giảng viên giỏi sẽ phải chuyển nghề hoặc chạy sang các trường tư thục haycác trường đầu tư nước ngoài
Việc nghiên cứu, xây dựng các văn bản quy định tiêu chí đánh giá mức độhoàn thành và chất lượng hoạt động sự nghiệp của các đơn vị khi được giao quyền
tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính chưa được thực hiện, nên đã hạn chế việcchi trả thu nhập theo mức độ hoàn thành công việc; chi trả thu nhập ở một số đơn vịvẫn mang tính cào bằng hoặc bình quân
1.3 Kinh nghiệm quản lý tài chính các đơn vị sự nghiệp có thu ở một số nước trên thế giới.
Thế kỷ XXI là thế kỷ của tri thức, của thông tin Thách thức mới về nhu cầunguồn nhân lực đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của kỷ nguyên kinh tế tri thức đã tạonên làn sóng đổi mới, cải cách giáo dục – đặc biệt là giáo dục đại học trên toàn thếgiới Để thực hiện cuộc cải cách này, sự đổi mới cơ chế tài chính góp phần quantrọng Có thể thấy điều đó qua hoạt động quản lý tài chính của một số trường đạihọc ở Hoa Kỳ, cũng như các nước Tây Âu và Đông Á
Tại Hoa Kỳ, từ nhiều thập kỷ trước đã có các chương trình đào tạo tài năng
trong trường đại học, hướng tới đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn hơn
Trang 39hẳn so với số đông sinh viên được đào tạo đại trà Sản phẩm của các chương trìnhnày là nguồn nhân lực tài năng về quản lý, về khoa học công nghệ, về kinh doanh Hiện tại Hoa kỳ có hơn 3.600 trường đại học và cao đẳng, không chỉ đào tạo nguồnnhân lực cho Hoa Kỳ mà cho cả thế giới.
Trên lĩnh vực đào tạo tài năng khoa học – công nghệ, Hoa kỳ đưa ra chươngtrình BEST (Building Engineering and Science Talent) với mục tiêu thu hút nhữngngười trẻ tuổi giỏi nhất vào các hoạt động khoa học công nghệ thay thế cho nhữngngười lớn tuổi, mở rộng quy mô nguồn nhân lực khoa học công nghệ tài năng.Chương trình này được sự hỗ trợ to lớn của nguồn đầu tư vào hệ thống hạ tầng cơ
sở khoa học công nghệ và hoạt động R&D Thống kê một số năm trong thập niênđầu thế kỷ XXI cho thấy Hoa Kỳ đầu tư khoảng 2,8% GDP cho khoa học công nghệ(con số này được coi là đứng đầu thế giới).Tại Châu Âu, để thu ngắn khoảng cáchtụt hậu so với Hoa Kỳ về đội ngũ nhân lực có chất lượng cao, nhiều quốc gia nhưĐức, Pháp đã đẩy mạnh cải cách giáo dục đại học
Tại Đức, Chính phủ trao quyền tự chủ cho các trường công và trường tư,
nhất là cho phép các trường tư mở rộng phạm vi hoạt động của mình trong việctuyển chọn và đào tạo nguồn nhân lực tài năng Các trường có thể tuyển chọn 30%
số sinh viên xuất sắc để đào tạo theo chương trình chất lượng cao
Ở Châu Á, vấn đề đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng đượcquan tâm đặc biệt trong bối cảnh phát triển kinh tế xã hội mạnh mẽ của khu vực Cóthể thấy rõ điều đó qua các quốc gia như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc
Tại Nhật Bản, là một trong ba trung tâm kinh tế - tài chính của thế giới,
nhưng hệ thống giáo dục nói chung và giáo dục đại học của nước này không đượcđánh giá cao như Hoa kỳ và một số nước phương Tây Từ thực trạng đó, những nămgần đây Chính phủ Nhật Bản đã trao quyền tự chủ cho các trường đại học, đồng thờikhuyến khích các đại học tư thục (như trường đại học Keio, Waseda, ) tham giađào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
Tại Hàn Quốc, từ năm 2004 Chính phủ đã đề ra các nguyên tắc cải cách đào
tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở các trường đại học Trong đó, hai nguyên tắc
Trang 40cơ bản là: (1) giao quyền tự chủ cho các trường đại học, trực tiếp lựa chọn và xâydựng chương trình đào tạo, huy động nguồn vốn đầu tư, hợp tác với nước ngoài; (2)tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các trường đại học để nâng cao chấtlượng đào tạo và dịch vụ giáo dục Một dự án đào tạo tài năng mang tên “Dự ánchất xám Hàn Quốc 2005-2012” cũng đã được triển khai với mục tiêu tăng cườngchất lượng nghiên cứu – giảng dạy để Hàn Quốc có ít nhất 15 trường đại học nằmtrong danh sách những đại học hàng đầu thế giới Đồng thời, Hàn Quốc còn bắt đầutiến hành “Dự án Ngôi sao đại học” nhằm thu hút, tuyển dụng khoảng 50 “Giáo sư-Ngôi sao” giảng dạy các chương trình tài năng, chuẩn bị cho Hàn Quốc có nhữngứng cử viên giải thưởng Nobel trong 10 năm tới.
1.4 Tổng quan về các công trình, luận án, luận văn về vấn đề nghiên cứu
Những năm gần đây cũng đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề tựchủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính trong các đơn vị sự nghiệp có thu nói chung
và các trường đại học, cao đẳng nói riêng Các công trình đã được nghiên cứu:
Lê Thị Khánh Trang (2007), Luận văn thạc sĩ kinh tế, Hoàn thiện cơ chếquản lý tài chính tại trường đại học Quốc gia Hà Nội ;
Nguyễn Văn Năm (2008), Luận văn thạc sĩ kinh tế, Hoàn thiện quản lý tàichính theo hướng tự chủ trong trường Đại học Phòng cháy, chữa cháy trong giaiđoạn hiện nay;
Nguyễn Thị Bích Thủy (2009), Luận văn thạc sĩ kinh tế, Nghiên cứu một sốgiải pháp đảm bảo tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với các đơn vị sựnghiệp công lập- áp dụng cho trường Cao đẳng nghề công nghiệp Việt Bắc – TKV;
Đào Thu Hà (2011), Luận văn thạc sĩ kinh tế, Nghiên cứu hoàn thiện cơ chế
tự chủ tài chính tại trường đại học Công nghiệp Hà Nội;
Mai Thị Thắm (2011), Luận văn thạc sĩ kinh tế, Nghiên cứu các giải pháptăng cường quản lý chi ngân sách tại trường Cao đẳng và Xây dựng Công nghiệpQuảng Ninh