Nguồn nhân lực luôn là một yếu tố quyết định đối với sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia nói chung và đối với sự nghiệp giáo dục nói riêng. Do đó, để thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược của sự nghiệp giáo dục chúng ta cần nhận thức một cách sâu sắc, đầy đủ những giá trị to lớn và có ý nghĩa quyết định của nhân tố con người, chủ thể của mọi sáng tạo, “nguồn tài nguyên” vô giá, vô tận của đất nước, phải có cách nghĩ, cách nhìn mới về vai trò động lực và mục tiêu của con người trong sự nghiệp giáo dục từ đó xây dựng các chương trình, kế hoạch và chiến lược phát triển nguồn lực phù hợp, phát huy tối đa nhân tố con người, tạo ra động lực mạnh mẽ cho sự nghiệp phát triển giáo dục bền vững, hiệu quả và lâu dài. Thực tế công tác xây dựng, phát triển đội ngũ nhân lực thời gian qua đã đạt được một số kết quả tích cực, vừa tăng về số lượng (năm 1986, số lượng lao động là 1,2 triệu người, hiện tại là hơn 1,7 triệu người) vừa nâng lên về chất lượng (một bộ phận lao động đã có năng lực, trình độ, nghiệp vụ đáp ứng đòi hỏi của một nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại). Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới, phát triển và hội nhập, đội ngũ nhân lực còn bộc lộ những bất cập. Điều đó được thể hiện không chỉ về kỹ năng quản lý yếu, thiếu tính nhạy bén thị trường, mà còn thể hiện ở tinh thần trách nhiệm thực thi công vụ chưa cao, một bộ phận nhân lực còn có những biểu hiện suy thoái phẩm chất, đạo đức. Nói riêng trong lĩnh vực giáo dục, đội ngũ cán bộ viên chức vẫn còn tồn tại một bộ phận không nhỏ những người không đủ trình độ chuyên môn, kỹ thuật để có thể giảng dạy và phục vụ giảng dạy. Ngày nay, chất lượng đội ngũ nhân lực có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển giáo dục. Giáo dục có được kết quả thắng lợi, đào tạo được nhiều thế hệ sinh viên sau này ra trường sẽ trở thành công dân tốt cho đất nước thì điều cơ bản phải có được đội ngũ nhân lực vững vàng về chuyên môn, thành thạo về nghiệp vụ. Vì tính cấp thiết này mà tác giả chọn đề tài “Nghiên cứu các giải pháp nâng cao chất lượng nhân lực tại Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam”.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nguồn nhân lực luôn là một yếu tố quyết định đối với sự phát triển kinh tế
-xã hội của mỗi quốc gia nói chung và đối với sự nghiệp giáo dục nói riêng Do đó,
để thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược của sự nghiệp giáo dục chúng ta cầnnhận thức một cách sâu sắc, đầy đủ những giá trị to lớn và có ý nghĩa quyết địnhcủa nhân tố con người, chủ thể của mọi sáng tạo, “nguồn tài nguyên” vô giá, vô tậncủa đất nước, phải có cách nghĩ, cách nhìn mới về vai trò động lực và mục tiêu củacon người trong sự nghiệp giáo dục từ đó xây dựng các chương trình, kế hoạch vàchiến lược phát triển nguồn lực phù hợp, phát huy tối đa nhân tố con người, tạo rađộng lực mạnh mẽ cho sự nghiệp phát triển giáo dục bền vững, hiệu quả và lâu dài
Thực tế công tác xây dựng, phát triển đội ngũ nhân lực thời gian qua đã đạtđược một số kết quả tích cực, vừa tăng về số lượng (năm 1986, số lượng lao động là1,2 triệu người, hiện tại là hơn 1,7 triệu người) vừa nâng lên về chất lượng (một bộphận lao động đã có năng lực, trình độ, nghiệp vụ đáp ứng đòi hỏi của một nền hànhchính chuyên nghiệp, hiện đại) Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới, phát triển và hộinhập, đội ngũ nhân lực còn bộc lộ những bất cập Điều đó được thể hiện không chỉ
về kỹ năng quản lý yếu, thiếu tính nhạy bén thị trường, mà còn thể hiện ở tinh thầntrách nhiệm thực thi công vụ chưa cao, một bộ phận nhân lực còn có những biểuhiện suy thoái phẩm chất, đạo đức Nói riêng trong lĩnh vực giáo dục, đội ngũ cán
bộ viên chức vẫn còn tồn tại một bộ phận không nhỏ những người không đủ trình
độ chuyên môn, kỹ thuật để có thể giảng dạy và phục vụ giảng dạy
Ngày nay, chất lượng đội ngũ nhân lực có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với
sự phát triển giáo dục Giáo dục có được kết quả thắng lợi, đào tạo được nhiều thế
hệ sinh viên sau này ra trường sẽ trở thành công dân tốt cho đất nước thì điều cơbản phải có được đội ngũ nhân lực vững vàng về chuyên môn, thành thạo về nghiệp
vụ Vì tính cấp thiết này mà tác giả chọn đề tài “Nghiên cứu các giải pháp nâng cao chất lượng nhân lực tại Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam”.
Trang 23 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là chất lượng đội ngũ nhân lực thuộc các
tổ chức đào tạo, bệnh viện, viện nghiên cứu
2007-4 Phương pháp nghiên cứu
Hệ thống phương pháp sử dụng bao gồm các phương pháp: Điều tra, khảosát, thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh để làm rõ vấn đề
- Cụ thể phương pháp điều tra: Sử dụng phương pháp phỏng vấn nhằm thuthập những thông tin cần thiết
- Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích: Từ các thông tin có được nhờphương pháp điều tra, tác giả sẽ thống kê và tổng hợp các số liệu theo từng lĩnh vực,nội dung cụ thể sau đó tiến hành phân tích những số liệu đó một cách chi tiết vàkhoa học
- Phương pháp so sánh: Từ kết quả có được tác giả tiến hành so sánh với sốliệu từ những thời kỳ trước để đưa ra nhận xét một cách chính xác vấn đề cầnnghiên cứu
Trang 35 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chất lượng nhân lực trong các đơn
vị đào tạo ngành Y tế
Chương 2: Thực trạng chất lượng nhân lực tại Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng nhân lực tại Học viện
Y Dược học cổ truyền Việt Nam
Trang 4CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC TRONG CÁC ĐƠN VỊ ĐÀO TẠO NGÀNH Y TẾ
1.1 Khái niệm nhân lực, chất lượng nhân lực
1.1.1 Khái niệm nhân lực
- Nhân lực bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức
hay xã hội (kể cả những thành viên trong ban lãnh đạo doanh nghiệp) tức là tất cảcác thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử vàgiá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp
- Khái niệm nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực là nguồn lực con người, cóquan hệ chặt chẽ với dân số, là bộ phận quan trọng nhất của dân số, trong đó vai tròtạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội Tùy theo cách tiếp cận khái niệmnguồn nhân lực có thể khác nhau, do đó, quy mô nguồn nhân lực cũng khác nhau
Với cách tiếp cận dựa vào khả năng lao động của con người: Nguồn nhân lực
là khả năng lao động của xã hội, của toàn bộ những người có cơ thể phát triển bìnhthường có khả năng lao động Trong tính toán và dự báo nguồn nhân lực của quốcgia hoặc của địa phương gồm hai bộ phận: Những người trong độ tuổi lao động cókhả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động thực tế có tham gia laođộng
Với cách tiếp cận dựa vào trạng thái hoạt động kinh tế của con người: Nguồnnhân lực gồm toàn bộ những người đang hoạt động trong các ngành kinh tế, vănhóa, xã hội…
Với cách tiếp cận dựa vào khả năng lao động của con người và giới hạn tuổilao động: Nguồn nhân lực gồm toàn bộ những người trong độ tuổi lao động, có khảnăng lao động không kể đến trạng thái có việc làm hay không Với khái niệm nàyquy mô nguồn nhân lực chính là nguồn lao động
Với cách tiếp cận dựa vào độ tuổi lao động và trạng thái không hoạt độngkinh tế: Nguồn nhân lực dự trữ gồm những người trong độ tuổi lao động nhưngchưa tham gia lao động vì những lý do khác nhau bao gồm những người làm công
Trang 5việc nhà cho chính gia đình mình (nội trợ), học sinh, sinh viên, người thất nghiệp,
bộ đội xuất ngũ, lao động hợp tác với nước ngoài đã hết hạn hợp đồng về nước,người hưởng lợi tức và những người khác ngoài các đối tượng trên
Với cách phân biệt khái niệm như trên giúp cho các nhà hoạch định chínhsách có biện pháp khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực
Nguồn nhân lực được xem xét và nghiên cứu theo số lượng và chất lượng Sốlượng nguồn nhân lực thể hiện quy mô nguồn nhân lực và tốc độ tăng nguồn nhânlực hàng năm Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấuthành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực, được biểu hiện thông qua các tiêuthức: Sức khỏe, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn lành nghề, cơ cấu đội ngũ,
…Chất lượng nguồn nhân lực do trình độ phát triển kinh tế xã hội và chính sách đầu
tư phát triển nguồn nhân lực của chính phủ quốc gia quyết định
- Vai trò của nguồn nhân lực: Theo nhà kinh tế người Anh - William Pettycho rằng lao động là cha, đất đai là mẹ của mọi của cải vật chất, C.Mác cho rằngcon người là yếu tố số một của LLSX Trong truyền thống Việt Nam xác định ''Hiền
tài là nguyên khí của quốc gia" Nhà tương lai học người Mỹ - Avill Toffer nhấn
mạnh vai trò của lao động tri thức Theo ông ta "Tiền bạc tiêu mãi cũng hết, quyềnlực rồi sẽ mất, chỉ có trí tuệ của con người thì khi sử dụng không những không mất
đi mà còn lớn lên" (Power Shift - Thăng trầm quyền lực - AvillToffer)
Thứ nhất: Nguồn nhân lực quyết định quá trình tăng trưởng và phát triển
kinh tế - xã hội Nguồn nhân lực, nguồn lao động là nhân tố quyết định việc khaithác, sử dụng, bảo vệ và tái tạo các nguồn lực khác Giữa nguồn lực con người, vốn,tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật, khoa học công nghệ… có mối quan
hệ nhân quả với nhau, nhưng trong đó nguồn nhân lực được xem là năng lực nộisinh chi phối quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia So với cácnguồn lực khác, nguồn nhân lực với yếu tố hàng đầu là trí tuệ, chất xám có ưu thếnổi bật ở chỗ nó không bị cạn kiệt nếu biết bồi dưỡng, khai thác và sử dụng hợp lý,còn các nguồn lực khác dù nhiều đến đâu cũng chỉ là yếu tố có hạn và chỉ phát huyđược tác dụng khi kết hợp với nguồn nhân lực một cách có hiệu quả Vì vậy con
Trang 6người với tư cách là nguồn nhân lực, là chủ thể sáng tạo, là yếu tố bản thân của quátrình lao động sản xuất, là trung tâm của nội lực Ngày nay một quốc gia có thểkhông giàu về tài nguyên, điều kiện thiên nhiên không mấy thuận lợi nhưng nềnkinh tế có thể tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững nếu hội đủ bốn điều kiệnsau:
Một là, quốc gia đó biết đề ra đường lối kinh tế đúng đắn
Hai là, quốc gia đó biết tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối đó
Ba là, quốc gia đó có đội ngũ công nhân kỹ thuật tay nghề cao và đông đảo.Bốn là, quốc gia đó có các nhà doanh nghiệp tài ba
Thứ hai: Nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quyết định sự thành
công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là quá trình chuyển đổi căn bản,toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, xã hội, từ sử dụng lao động thủ công
là phổ biến sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động được đào tạo cùng vớicông nghệ tiên tiến, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại nhằm tạo ranăng suất lao động xã hội cao Đối với nước ta đó là một quá trình tất yếu để pháttriển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Khi đất nước ta đang bước vàogiai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn, tiếp cận kinh tế tri thức trong điềukiện phát triển kinh tế - xã hội còn thấp, do đó yêu cầu nâng cao chất lượng nguồnnhân lực, nhất là trí lực có ý nghĩa quyết định tới sự thành công của sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và phát triển bền vững Đảng ta đã xác định phảilấy việc phát huy chất lượng nguồn nhân lực làm yếu tố cơ bản cho sự phát triểnnhanh chóng và bền vững, hiệu quả và lâu dài
Thứ ba: Nguồn nhân lực là điều kiện để rút ngắn khoảng cách tụt hậu, thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế và đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước
Thứ tư: Nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện hội nhập kinh tế quốc
tế Quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và quốc tế, nguồn nhân lực đặc biệt
là nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thứclớn
Trang 7Nhân lực của Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam báo gồm cả công chức và viên chức Tác giả xin làm rõ vài nét về công chức và viên chức:
Công chức là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào các chức danhtrong các cơ quan Nhà nước (trong đó tập trung vào các cơ quan hành chính) đểthực thi hoạt động công vụ và được hưởng lương và các khoản thu nhập từ ngânsách Nhà nước Công chức của một quốc gia thường là công dân, người có quốctịch của nước sở tại và thường nằm trong biên chế Phạm vi làm việc của công chức
là các cơ quan Nhà nước, tuy nhiên pháp luật nhiều nước quy định công chức có thểlàm việc không chỉ trong cơ quan Nhà nước Luật Cán bộ, công chức Việt Nam năm
2008 có quy định rằng: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổnhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan gồm: Đảng Cộng sản ViệtNam; Cơ quan Nhà nước; Tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấphuyện; Cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam mà không phải là sĩquan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhânquốc phòng; Cơ quan, đơn vịthuộc Công an nhân dân Việt Nam mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyênnghiệp; Trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của ĐảngCộng sản Việt Nam; Trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lậpcủa Nhà nước; Trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập củaNhà nước tổ chức chính trị – xã hội
Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làmviệc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từquỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của Pháp luật
Trang 8*) Phân biệt công chức và viên chức
- Hình thức tuyển dụng: Thi tuyển, bổ
nhiệm, có quyết định của cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền thuộc biên chế
- Hình thức tuyển dụng: Xét tuyển, ký hợp đồng làm việc
- Lương: Hưởng lương từ ngân sách
Nhà nước theo ngạch, bậc
- Lương: Một phần từ ngân sách, còn lại
là nguồn thu sự nghiệp
- Nơi làm việc: Cơ quan Nhà nước, tổ
chức công tác xã hội (Thành đoàn,
Thành ủy)
- Nơi làm việc: Đơn vị sự nghiệp và đơn
vị sự nghiệp của các tổ chức xã hội
(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ những quy định của Nhà nước)
1.1.2 Khái niệm chất lượng nhân lực
Theo Từ điển tiếng Việt thì "chất lượng" hiểu ở nghĩa chung nhất là "cái tạonên phẩm chất, giá trị của một con người, sự vật, sự việc" [36, tr.44]
Đối với một con người sống trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa:Chất lượng của cá nhân đó được hiểu là tổng hợp những phẩm chất nhất định về sứckhỏe, trí tụê khoa học, chuyên môn nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức, ý chí, niềmtin, năng lực, luôn gắn bó với tập thể, với cộng đồng và tham gia một cách tích cựcvào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước yêu cầu chất lượng nhân lực càng cao hơn - đòihỏi người có những trình độ phẩm chất theo yêu cầu như nêu ở trên thì người phảigương mẫu, đi tiên phong về lý luận và thực tiễn, chấp hành nghiêm chỉnh chủtrương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, giữ vững tiêuchuẩn và tư cách của người cán bộ
Mỗi cá nhân không tồn tại một cách biệt lập mà phải được đặt trong mộtchỉnh thể thống nhất của đội ngũ tập thể Vì vậy, quan niệm về chất lượng nhân lực
Trang 9phải được đặt trong mối quan hệ biện chứng giữa chất lượng của từng cán bộ vớichất lượng của cả đội ngũ Chất lượng của cả đội ngũ không phải là sự tập hợp giảnđơn số lượng mà là sự tổng hợp sức mạnh của toàn bộ đội ngũ Sức mạnh này bắtnguồn từ phẩm chất vốn có bên trong của mỗi nhân lực và nó được tăng lên gấp bộibởi tính thống nhất của tổ chức, của sự giáo dục, đào tạo, phân công, quản lý, của
kỷ luật
Như vậy, các yếu tố cấu thành chất lượng đội ngũ nhân lực không chỉ baogồm một mặt, một khía cạnh nào đó, mà nó bao gồm cả một hệ thống, được kết cấunhư một chỉnh thể toàn diện từ chất lượng của từng cán bộ (đây là yếu tố cơ bảnnhất, tiên quyết nhất) cho đến cơ cấu số lượng nam nữ, độ tuổi, thành phần của độingũ cùng với việc bồi dưỡng, giáo dục, phân công, quản lý kiểm tra giám sát vàthực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của đơn vị
Để nâng cao chất lượng của đội ngũ nhân lực, cần phải giải quyết tốt mốiquan hệ giữa chất lượng với số lượng nhân lực Chỉ khi nào hai mặt này quan hệ hàihòa, tác động hữu cơ với nhau thì mới tạo nên sức mạnh đồng bộ của cả đội ngũ.Trong thực tế chúng ta cần phải chống hai khuynh hướng, khuynh hướng thứ nhất làchạy theo số lượng, ít chú trọng đến chất lượng dẫn đến cán bộ nhiều về số lượngnhưng hoạt động không hiệu quả Khuynh hướng thứ hai, cầu toàn về chất lượngnhưng không quan tâm đến số lượng Khuynh hướng này là một nguyên nhân quantrọng làm cho tuổi đời bình quân của đội ngũ nhân lực ngày càng cao, hẫng hụt vềthế hệ Trong giai đoạn hiện nay thì cần hơn hết là phải coi trọng chất lượng củanhân lực trên cơ sở bảo đảm số lượng hợp lý
Từ những đặc điểm trên có thể khái niệm: Chất lượng đội ngũ nhân lực làmột hệ thống những phẩm chất, giá trị được kết cấu như một chỉnh thể toàn diệnđược thể hiện qua phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực, khảnăng hoàn thành nhiệm vụ của mỗi nhân lực và cơ cấu, số lượng, độ tuổi, thànhphần của cả đội ngũ nhân lực
Trang 101.1.3 Tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng nhân lực ngành Y tế
1.1.3.1 Khái niệm Y học cổ truyền và Y học hiện đại trong nền Y tế Việt Nam
Y học là khoa học và nghệ thuật chữa bệnh, bao gồm nhiều phương phápchăm sóc sức khỏe nhằm duy trì, hồi phục cơ thể từ việc phòng ngừa và chữa bệnh
Y học hiện đại (YHHĐ) ứng dụng các ngành khoa học sức khỏe, y sinhhọc, công nghệ y học để chuẩn đoán và chữa trị bệnh tật bằng thuốc men, phẫuthuật hoặc bằng phương pháp trị liệu khác Từ "y học" trong tiếng Anh
là "medicine" có nguồn gốc từ tiếng Latin là "ars medicina", nghĩa là "nghệ thuậtchữa bệnh"
Y học cổ truyền (YHCT) là phương pháp phòng và chữa bệnh không dùngthuốc YHCT Việt Nam có nhiều loại cây thuốc quý, nhiều bài thuốc hay và nhiềukinh nghiệm chữa bệnh trong dân gian của đồng bào các dân tộc trải qua thực tiễnhàng ngàn năm đến nay vẫn còn nguyên giá trị chữa bệnh, cứu người Đặc biệt,những bài thuốc bồi bổ cơ thể được nhiều người sử dụng, đã góp phần nâng cao thểtrạng, phát triển giống nòi người Việt Nam Hơn thế nữa, nhiều phương pháp chữabệnh không dùng thuốc như châm cứu, bấm huyệt, khí công, dưỡng sinh khôngchỉ người dân Việt Nam ưa chuộng sử dụng chữa bệnh mà người dân nhiều nướctrên thế giới cũng rất tin tưởng và ưa thích, nó trở thành phương pháp chữa bệnhđộc đáo trên thế giới Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã từng bước lồng ghépYHCT vào hệ thống Y tế quốc gia, phát huy được vai trò to lớn của YHCT Đườnglối phát triển YHCT Việt Nam đã được khẳng định nhất quán trong nhiều năm qualà: Kế thừa, phát huy, phát triển YHCT, kết hợp với YHHĐ, xây dựng nền YHCTViệt Nam khoa học dân tộc và đại chúng Hơn 60 năm qua, kiên trì thực hiện đườnglối phát triển YHCT của Chính phủ, Ngành Y tế Việt Nam đã đạt được một số thànhtựu quan trọng trên lĩnh vực YHCT Việt Nam đã xây dựng được mạng lưới côngtác YHCT từ Trung ương đến cơ sở Về hệ thống quản lý nhà nước, Bộ Y tế có Vụ
Y học cổ truyền; Sở Y tế có phòng hoặc chuyên viên theo dõi công tác YHCT Hiện
Trang 11nay, cả nước có 5 viện và bệnh viện đầu ngành về YHCT và 54 bệnh viện YHCTtuyến tỉnh/thành phố Trong các bệnh viện đa khoa tuyến Trung ương và tuyến tỉnh
đều có khoa YHCT, bệnh viện huyện có khoa YHCT hoặc có bác sỹ YHCT trong
khoa nội, trạm y tế xã, phường có bộ phận khám chữa bệnh bằng YHCT và vườncây thuốc nam Ngoài ra, còn có các cơ sở khám chữa bệnh YHCT ngoài công lậpnhư phòng chẩn trị YHCT, cơ sở điều dưỡng, phục hồi chức năng bằng YHCT, Trong hệ thống tổ chức Hội Đông y thì chúng ta có 4 cấp: Trung ương, tỉnh, huyện,
xã nhưng trong thực tế nguồn nhân lực của các cấp Hội vẫn còn mỏng, trình độchuyên môn, năng lực lãnh đạo còn nhiều hạn chế Nhìn lại chặng đường phát triểncủa Y dược học cổ truyền Việt Nam, có thể khẳng định YHCT Việt Nam có nhữngđóng góp to lớn trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân Tuy nhiên,trong xu thế phát triển chung của y học, YHCT vẫn bộc lộ một số hạn chế, tồn tạinhư chất lượng chẩn đoán, điều trị của YHCT chưa cao, nhiều bài thuốc, cây thuốcchưa được nghiên cứu rõ ràng dưới ánh sáng của khoa học YHHĐ, nên chưa thực
sự thuyết phục nhân dân sử dụng Để tiếp tục phát huy hơn nữa vai trò của YHCTtrong sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, Nhà nước ta rấtquan tâm đến phát triển YHCT Quan điểm của Đảng và Nhà nước là YHCT là một
di sản văn hóa của dân tộc, có vai trò và tiềm năng to lớn trong sự nghiệp chăm sóc,bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân, do đó Ngành Y tế chúng ta phải có tráchnhiệm tập trung kế thừa, phát triển và xây dựng nền YHCT Việt Nam khoa học, dântộc và đại chúng
1.1.3.2 Tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng nhân lực của ngành Y tế
Nghề thầy thuốc là một nghề cao quý bởi đây là nghề chữa bệnh, cứu người.Cho nên người thầy thuốc không chỉ giỏi về chuyên môn mà phải có tâm, có đứchết lòng vì người bệnh, chăm lo, quan tâm cho người bệnh như chính những ngườithân yêu trong gia đình mình Chính là thể hiện câu nói của Bác Hồ “Lương y như
từ mẫu” đã ghi vào tâm trí của mỗi cán bộ y tế Đặc thù của nghề nghiệp y tế khônggiống như những nghề nghiệp khác là nó liên quan trực tiếp tới sức khỏe của người
Trang 12bệnh Họ chịu trách nhiệm về phần xác và cả phần hồn của thân chủ Một sự chậmtrễ, thờ ơ của họ có thể làm chết người Một sự cẩu thả của họ trong lời ăn tiếng nói
có thể gây nỗi đau cho người khác Mối quan hệ giữa thầy thuốc và bệnh nhân làmột mối quan hệ đặc biệt Người bệnh đến với thầy thuốc không phải để tìm kiếmthuốc men hay những thông tin liên quan đến bệnh tật, mà còn mang theo cả nhữngnỗi băn khoăn, lo lắng, sợ hãi… Và như vậy, nhiều khi chỉ cần một câu nói, một cáinhìn, một bàn tay… của người thầy thuốc cũng đủ giải quyết vấn đề của ngườibệnh Người thầy thuốc nào khi bước vào trường y cũng với tâm nguyện vì người,
đó là một thiên hướng trong việc chọn nghiệp chứ không phải là một sự đầu tư Nghề y không thể coi là một ngành kinh doanh, một mũi nhọn kinh tế, vì nếu nhưthế người ta sẽ nghĩ đến việc khai thác tối đa lợi nhuận trên sức khỏe con người.Người thầy thuốc thường mất ăn mất ngủ trước một ca bệnh lý, thường bứt rứt ănnăn dài lâu trước một lỡ lầm đôi khi không sao tránh khỏi trong lúc hành nghề Xãhội cần tôn trọng và đánh giá đúng sự đóng góp của người thầy thuốc để giúp họsống xứng đáng với vai trò, chức năng mà xã hội đã giao phó Trong lịch sử danhnhân y học Việt Nam, có rất nhiều thầy thuốc, các bậc danh y bao giờ cũng có tâmcao, đức dày, y học tinh thông là tấm gương soi cho các thầy thuốc và cho mọingười Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác đã dạy: "Không có nghề nào nhân đạobằng nghề cứu người Không có nghề nào vô nhân đạo bằng nghề y thiếu đạo đức".Bác Hồ kính yêu là một tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng Tư tưởng củaNgười luôn coi đạo đức là gốc rễ của con người, của tài năng Với các thầy thuốc,Bác càng đặc biệt chú ý hơn về đạo đức Bác dặn: "Người bệnh phó thác tính mệnhcủa họ nơi các cô, các chú Chính phủ phó thác cho các cô, các chú việc chữa bệnhtật và giữ sức khỏe cho đồng bào Đó là một nhiệm vụ rất vẻ vang Vì vậy, cán bộcần phải thương yêu, săn sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, coi họ đauđớn cũng như mình đau đớn Lương y như từ mẫu, câu nói ấy rất đúng" Thực hiệnlời dạy của Bác Hồ kính yêu, đội ngũ cán bộ y tế từ tỉnh đến tận xã, ấp vùng sâu,vùng xa đã nỗ lực phấn đấu vượt lên mọi khó khăn gian khổ, trong hai cuộc khángchiến chống Pháp và Mỹ có nhiều cán bộ y tế đã hy sinh cho ngày độc lập
Trang 13Trong thời bình hiện nay, phát huy tính năng động sáng tạo, nghiên cứu vàứng dụng các thành tựu khoa học - kỹ thuật hiện đại, ngành tiếp tục ra sức mìnhcứu chữa, đem lại sức khỏe, hạnh phúc cho nhân dân được Đảng và chính quyềntin yêu, nhân dân quý mến Nhiều cá nhân và tập thể được nêu gương điển hìnhtiên tiến, vinh dự được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều bằng khen và huânchương cao quý Rất nhiều thầy thuốc Việt Nam gần đây nhất đã nêu cao gươngsáng cho chúng ta học tập cả về chuyên môn lẫn đức hạnh như Tôn Thất Tùng,Tôn Thất Bách, Đặng Văn Ngữ, Phạm Ngọc Thạch, Vũ Đình Tụng, Đỗ Đức Vân,Đặng Văn Chung và còn bao thầy thuốc, lương y, y sĩ, y tá, hộ lý khác tronghàng ngũ những anh hùng áo trắng đã nêu gương sáng cho đời, mà chúng takhông thể kể hết Khách quan đánh giá, nhìn chung, đội ngũ thầy thuốc nước tahiện nay vẫn giữ được y đức và có y thuật cao, ngày đêm tận tụy vì sức khỏe củanhân dân Một số thầy thuốc còn tình nguyện hiến máu cứu chữa người bệnh,không nhận thù lao của bệnh nhân, có người giúp đỡ tiền để bệnh nhân nghèochữa bệnh, có người khám bệnh cấp thuốc miễn phí cho dân.
Cuộc sống hôm nay, trong cơ chế mới bộn bề và sôi động, đặc trưng nổi bậtđang xuyên qua các quan hệ xã hội là đồng tiền có xu hướng ngự trị và khuynhđảo Từ đó, dẫn tới sự xuống cấp của đạo đức và truyền thống tốt đẹp Người tốt,
có đức thường khó giàu Thầy thuốc cũng vậy, nếu tất cả đều trở thành quan hệmua bán không tình nghĩa thì không thể nói đến đạo đức Trong cơ chế mới, nhữngthầy thuốc tài năng, đức độ vẫn có nhiều điều kiện để làm giàu Cái giàu tiền bạc
ấy bằng chính tâm và đức của thầy thuốc Sự giàu có ấy là giàu có chính đáng, xãhội và nhân dân rất trân trọng và tôn vinh Song, có một bộ phận thầy thuốc cónhững thái độ và hành vi hết sức vô cảm trước nỗi đau của người bệnh, bởi vì độnglực của những người này không hoàn toàn hướng tới việc chữa trị cho người bệnh
và đang làm "méo mó" nghề thầy thuốc cao quý, người thầy thuốc được coi như
mẹ hiền Tuy nhiên số thầy thuốc giảm sút y đức không nhiều, vì thế, không thể vìmột số "con sâu" mà đánh giá sai về những cống hiến đáng ghi nhận của đại đa sốthầy thuốc, từ đó giảm sự quan tâm đến đời sống vật chất tinh thần của những
Trang 14người thầy thuốc Các thầy thuốc giỏi, có đạo đức cao đều để lại tiếng thơm muônthuở trong nhân gian.
Vì vậy, việc nâng cao chất lượng nhân lực trong lĩnh vực y tế đóng một vaitrò hết sức quan trọng trong ngành Y nói riêng và nền kinh tế nói chung vì chấtlượng đội ngũ nhân lực ngành y tế ảnh hưởng tới toàn bộ nguồn nhân lực Ngành y
tế có bền vững thì nguồn nhân lực trong xã hội mới bền vững và phát triển
1.2 Các tiêu chí đánh giá chất lượng nhân lực ngành Y tế
1.2.1 Đặc điểm nhân lực trong các đơn vị y tế
1.2.1.1 Tính chất công việc
Nhân lực trong lĩnh vực y tế làm việc trong các bệnh viện, trạm xá, trung tâm
y tế hay các cơ sở đào tạo lĩnh vực y tế
Tính thường xuyên thể hiện ở việc tuyển dụng là không giới hạn về thờigian Khi đã được tuyển dụng vào một ngạch, chức danh, chức vụ thì một người lànhân lực trong ngành Y tế sẽ làm việc thường xuyên, liên tục, không gián đoạn vềmặt thời gian
Tính chuyên môn nghiệp vụ được thể hiện là nhân lực được xếp vào mộtcông việc cụ thể trong nhiều lĩnh vực của ngành nghề Y tế Nhân lực y tế trong cácđơn vị đào tạo ngành y tế có chức năng giảng dạy, hướng dẫn người học nghiên cứukhoa học Nhân lực y tế trong các cơ sở y tế có nhiệm vụ thăm, khám, chữa bệnhcho bệnh nhân
1.2.1.2 Con đường hình thành nhân lực y tế
Nếu nhân lực y tế là công chức thì có hai con đường hình thành công chức làthông qua tuyển dụng và bổ nhiệm Việc tuyển dụng công chức do cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền tiến hành căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêubiên chế được giao Cơ quan thực hiện việc tuyển dụng công chức bao gồm những
cơ quan được quy định tại Điều 39 Luật cán bộ, công chức Đó là: Tòa án nhân dântối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, Văn phòng Quốc hội,Văn phòng Chủ tịch nước, Bộ, các cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc chính phủ, Ủy
Trang 15ban nhân dân cấp tỉnh, cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xãhội Các cơ quan này đều tiến hành tuyển dụng công chức trong các cơ quan và cácđơn vị thuộc quyền quản lý.
Người được tuyển dụng phải là người đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quyđịnh tại Khoản 1 Điều 36 Luật cán bộ, công chức và không phải những người đượcquy định tại Khoản 2 Điều 36 Khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện người được tuyểndụng phải trải qua kỳ thi tuyển hoặc xét tuyển theo quy định của pháp luật Thituyển là một phương thức tuyển dụng công chức Trong đó hình thức, nội dung thituyển phải phù hợp với ngành, nghề, bảo đảm lựa chọn được những người có phẩmchất, trình độ và năng lực đáp ứng yêu cầu tuyển dụng Bên cạnh đó, đối với nhữngngười thỏa mãn các điều kiện tuyển dụng và cam kết tình nguyện làm việc từ 05năm trở lên ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số,vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì được tuyển dụng thông quaxét tuyển
Người được tuyển dụng vào công chức phải thực hiện chế độ tập sự theo quyđịnh của Chính phủ Hết thời gian tập sự, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị
sử dụng công chức đánh giá phẩm chất đạo đức và kết quả công việc của người đó.Nếu đạt yêu cầu thì đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý công chứcquyết định bổ nhiệm chính thức vào ngạch Bên cạnh việc bổ nhiệm vào một ngạchsau khi người được tuyển dụng hoàn thành chế độ tập sự thì bổ nhiệm còn là mộtcon đường trực tiếp hình thành công chức Đó là việc công chức được bổ nhiệm đểgiữ một chức vụ lãnh đạo, quản lý Việc bổ nhiệm công chức giữ một chức vụ lãnhđạo, quản lý phải căn cứ vào nhu cầu, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị haytiêu chuẩn, điều kiện của chức vụ lãnh đạo, quản lý Thẩm quyền, trình tự, thủ tục
bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý được thực hiện theo quy định của pháp luật
và của cơ quan có thẩm quyền Như vậy, con đường hình thành công chức y tế làtuyển dụng và bổ nhiệm Trong đó, tuyển dụng là con đường đặc thù
1.2.1.3 Nơi công tác
Trang 16Nhân lực y tế với chuyên môn chủ yếu là khám, chữa bệnh cho bênh nhânlàm việc trong các bệnh viện, trạm xá, trung tâm y tế Nhân lực y tế với chuyên mônchính là đào tạo, giảng dạy sinh viên làm việc trong các cơ sở đào tạo lĩnh vực y tế.1.2.1.4 Nguồn trả lương
Nếu nhân lực là công chức thì những người này là những người trong biênchế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước Bên cạnh đó, đối với nhân lực y tếtrong đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị sựnghiệp công lập theo quy định của pháp luật
1.2.2 Các tiêu chí đánh giá chất lượng nhân lực ngành Y tế
1.2.2.1 Về phẩm chất chính trị
Đây là tiêu chuẩn đầu tiên, là điều kiện đối với mỗi cán bộ y tế nói chung Đểtrở thành những nhà tổ chức, những người cán bộ có năng lực trước hết phải làngười có phẩm chất chính trị Phẩm chất chính trị của đội ngũ nhân lực y tế đượcbiểu hiện trước hết là sự tin tưởng tuyệt đối đối với lý tưởng cách mạng, kiên địnhvới mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, đó là con đường mà Bác Hồ và Đảng ta đãlựa chọn, kiên quyết đấu tranh bảo vệ quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luậtcủa Nhà nước, không dao động trước những khó khăn thử thách Đồng thời phải cóbiện pháp để đường lối đó đi vào thực tiễn cuộc sống của nhân dân địa phương
Nhân lực y tế có phẩm chất chính trị tốt không chỉ bằng những lời tuyên bố,hứa hẹn mà quan trọng hơn là việc nghiêm chỉnh chấp hành đường lối, chỉ thị, nghịquyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước, kỷ luật nơi làm việc Phẩm chất chínhtrị của mỗi cán bộ y tế còn biểu hiện thông qua thái độ phục vụ nhân dân, tinh thầngương mẫu trong công tác, tinh thần trách nhiệm đối với đời sống của đồng bàonhân dân tại cơ sở mình công tác Đặc biệt người cán bộ y tế phải là người khôngchạy theo cám dỗ của đồng tiền, có phẩm chất chính trị tốt phải là người luôn trăntrở trước những khó khăn của sinh viên, người bệnh, phải có quyết tâm đưa cơ sởnơi mình công tác ngày càng phát triển về mọi mặt
1.2.2.2 Về phẩm chất đạo đức
Trang 17Đây là phẩm chất rất quan trọng đối với đội ngũ nhân lực y tế, nó là cái
"gốc" của người cán bộ y tế Y đức là đạo đức của người hành nghề y tế, thể hiệncác tiêu chuẩn, nguyên tắc đạo đức được xã hội thừa nhận, nhằm điều chỉnh hành
vi, cách ứng xử của thầy thuốc với bệnh nhân và cộng đồng Y đức xác định tráchnhiệm, lương tâm, danh dự và niềm hạnh phúc của người thầy thuốc Nghề y là mộtnghề đặc biệt: Bởi vì không có nghề nào lại đi vào đời sống con người một cách sâusắc và cấp thiết như nghề y Không có nghề nào như nghề y mà một lỗi lầm hay mộtthiếu sót, dù nhỏ nhất lại có thể gây nên những tác hại lớn đến sức khoẻ và tínhmạng con người Hơn nữa, nghề Y là một nghề nhân đạo, quan hệ thiết thực đến đờisống và tính mạng con người, đến hạnh phúc của từng gia đình, liên quan chặt chẽtới tương lai, giống nòi, đến sức khoẻ và sự cường thịnh của một dân tộc và sự phồnvinh của một quốc gia
Đối tượng phục vụ của thầy thuốc là bệnh nhân, đó không phải là máy móc,công trình kiến trúc hay đường xá mà là người Một người cụ thể đang ở tình trạngbệnh tật, đau đớn cả về thể xác cũng như tinh thần, họ cần sự quan tâm, cần đượccứu chữa và giúp đỡ của thầy thuốc Sức khoẻ, sự sống của họ được giao phó chothầy thuốc Vì vậy không thể tha thứ cho sự cẩu thả, sự bàng quan và chủ nghĩahình thức ở người thầy thuốc Hiện nay, những "ta thán" từ phía bệnh nhân khôngtập trung nhiều ở chuyên môn mà là thái độ phục vụ của nhân viên y tế Người thầythuốc không được có thái độ ban ơn, lạm dụng nghề nghiệp và gây phiền hà chongười bệnh Kê đơn phải phù hợp với chẩn đoán và bảo đảm sử dụng thuốc hợp lý,
an toàn, không vì lợi ích cá nhân mà giao cho người bệnh thuốc kém phẩm chất,thuốc không đúng với yêu cầu và mức độ bệnh Khi người bệnh ra viện, phải dặn dòchu đáo, hướng dẫn họ tiếp tục điều trị, tự chăm sóc và giữ gìn sức khỏe Đối với đa
số những người làm ngành y, thì việc nâng cao y đức trước tiên là việc nâng cao taynghề, nâng cao trình độ nghiên cứu, chẩn đoán, làm chủ trang thiết bị hiện đại để cóthể nhanh chóng tìm ra nguyên nhân gây bệnh, biện pháp điều trị và cách điều trị.Cùng với đó là việc nâng cao tinh thần trách nhiệm để tận tuỵ với người bệnh Nhưvậy, điều cốt lõi nhất của y đức vẫn là sự xuất phát từ lương tâm và trách nhiệm của
Trang 18những người thầy thuốc Những người thầy thuốc có y đức thì dù trong môi trườngnào họ cũng sẽ hành động vì tình người Cho nên, việc thường xuyên giữ gìn, bảo
vệ, trau dồi y đức là điều cần thiết Bên cạnh đó, với một cơ chế làm việc khoa học,minh bạch về quyền lợi, nghĩa vụ, chắc chắn sẽ ngăn chặn được sự suy thoái y đứccủa một bộ phận y - bác sĩ Với những sinh viên y khoa, hành trang đầu tiên khibước vào nghề là lời tuyên thệ trước Tượng Hypocrate - Y tổ của thế giới và HảiThượng Lãn Ông - Y tổ của Việt Nam, “Coi nghề thầy thuốc mà họ đã chọn nhưmột con đường cứu người và giúp đời” Người thầy thuốc mới ra trường chỉ là mớibắt đầu cho y nghiệp và y đạo của mình Vì vậy cần phải rèn luyện, phấn đấu, tudưỡng nhiều hơn nữa để trở thành một người thầy thuốc chân chính, vừa có tài vừa
có đức, xứng đáng với lời dạy của chủ tịch Hồ Chí Minh “Lương y như từ mẫu”
* Những quy định về y đức (tiêu chuẩn đạo đức của người làm công tác y tế - Ban hành kèm theo quyết định 2088/ BYT – QĐ ngày 06/11/1996 của Bộ trưởng Bộ Y tế).
Khi đã tự nguyện đứng trong hàng ngũ y tế phải thực hiện những quy định sau:
1 Lương tâm và trách nhiệm cao, hết lòng yêu nghề, luôn rèn luyện nâng cao phẩmchất đạo đức của người thầy thuốc, không ngừng rèn luyện và tích cực nghiên cứukhoa học để nâng cao trình độ chuyên môn, sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn vàgian khổ, hy sinh và mất mát, tất cả vì sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ củanhân dân
2 Tôn trọng luật pháp và thực hiện nghiêm túc các quy chế chuyên môn Khôngđược sử dụng bệnh nhân làm thực nghiệm cho những phương pháp chẩn đoán, điềutrị, nghiên cứu khoa học khi chưa được phép của Bộ Y tế và sự chấp nhận của bệnhnhân
3 Tôn trọng quyền được khám bệnh, chữa bệnh của nhân dân, tôn trọng những bímật riêng tư của bệnh nhân Khi thăm khám, chăm sóc cần bảo đảm kín đáo, lịch
sự Quan tâm đến bệnh nhân trong diện chính sách ưu đãi xã hội, không được phânbiệt đối xử với bệnh nhân, không có thái độ ban ơn, lạm dụng nghề nghiệp và gâyphiền hà cho bệnh nhân Phải trung thực khi thanh toán các chi phí khám chữa bệnh
Trang 194 Tiếp xúc với bệnh nhân và gia đình họ, luôn có thái độ niềm nở, tận tình, trangphục phải chỉnh tề, sạch sẽ để tạo niềm tin cho bệnh nhân, phải giải thích tình hìnhbệnh tật cho bệnh nhân và gia đình họ hiểu để cùng hợp tác điều trị, phổ biến cho họ
về chính sách, quyền lợi và nghĩa vụ của bệnh nhân, động viên an ủi, khuyến khíchbệnh nhân điều trị, tập luyện để chóng hồi phục Trong trường hợp bệnh nhân nặnghoặc tiên lượng xấu cũng phải hết lòng cứu chữa và chăm sóc đến cùng và báo chogia đình bệnh nhân
5 Khi cấp cứu phải khẩn trương chẩn đoán, xử trí kịp thời không được đùn đẩybệnh nhân
6 Kê đơn thuốc phải phù hợp với chẩn đoán của bác sĩ và bảo đảm sử dụng thuốcmen hợp lý, an toàn, không vì lợi ích cá nhân mà giao cho bệnh nhân thuốc kémphẩm chất, thuốc không đúng với yêu cầu cho phép và không đúng với mức độ cănbệnh của bệnh nhân
7 Không được rời bỏ vị trí khi làm nhiệm vụ, theo dõi và xử lý kịp thời các diễnbiến
8 Khi bệnh nhân ra viện phải dặn dò chu đáo, hướng dẫn họ tiếp tục điều trị, tựchăm sóc và giữ gìn sức khoẻ
9 Khi bệnh nhân tử vong phải cảm thông sâu sắc, chia buồn và hướng dẫn, giúp đỡgia đình làm các thủ tục cần thiết
10 Thật thà đoàn kết, tôn trọng đồng nghiệp, kính trọng các bậc thầy, sẵn sàngtruyền thụ kiến thức, học hỏi kinh nghiệm giúp đỡ lẫn nhau
11 Khi bản thân có thiếu sót, phải tự giác nhận trách nhiệm vì mình, không đổ lỗicho đồng nghiệp, cho tuyến trước
12 Hăng hái tham gia công tác tuyên truyền giáo dục sức khỏe, phòng chống dịchbệnh, cứu chữa người bị tai nạn, ốm đau tại cộng đồng, gương mẫu thực hiện nếpsống vệ sịnh, giữ gìn môi trường trong sạch
1.2.2.3 Về trình độ năng lực
Đây là yếu tố vô cùng quan trọng trong việc đánh giá chất lượng đội ngũnhân lực trong lĩnh vực y tế Y đức bao gồm cả cái tâm lẫn cái tài của người thầy
Trang 20thuốc Giỏi mà không có tâm là không được, có tâm mà không giỏi thì chỉ làm hạibệnh nhân Y đức của thầy thuốc không chỉ đánh giá ở bề ngoài, ở thái độ phục vụtận tâm, tận tụy với bệnh nhân mà còn phải là chuyên môn Khi đã tự nguyện đứngtrong hàng ngũ y tế phải nghiêm túc thực hiện lời dạy của Bác Hồ Phải có lươngtâm và trách nhiệm cao, hết lòng yêu nghề, luôn rèn luyện nâng cao phẩm chất đạođức của thầy thuốc Không ngừng học tập và tích cực nghiên cứu khoa học để nângcao trình độ chuyên môn, sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn, gian khổ vì sự nghiệpchăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân Đã mang trên mình bộ áo trắng với sứ mệnhcao cả là mang lại sức khỏe cho người bệnh, những người làm công tác y tế phải cótrình độ chuyên môn vững vàng, nghiệp vụ thành thạo và được đào tạo một cáchkhoa học và hệ thống Trình độ năng lực không chỉ giới hạn trong cái mà bản thân
đã biết, cán bộ y tế còn được đánh giá cao trong việc luôn luôn tự học tập, trau dồikiến thức phục vụ cho công tác chữa bệnh, nghiên cứu của mình Nhân lực y tế nên
kế thừa quan điểm học tập của Hải Thượng Lãn Ông:
a) Nêu cao tinh thần khổ học: “Tìm hiểu sách vở của khắp các nhà nghiên cứu,nghiên cứu ngày đêm, mỗi khi được một câu cách ngôn của hiền triết xưa thì ghingay tại chỗ biện luận kỹ càng, luôn luôn suy nghĩ Phàm những câu chân lý ngoàilời nói, phần nhiều nảy ra trong lúc suy tưởng, nhân đó suy rộng ra, càng ngày càngtinh vi, như chiếc vòng không cùng tận…”
b) Học tập có chọn lọc: Ông đã lĩnh hội được những điều hay mới đưa vào sách Ýcủa ông muốn chắt lọc lấy những tinh hoa của các sách, những vốn quý của dângian về y học để đưa vào một bộ sách tóm gọn để tiện xem, tiện đọc…”
c) Học tập có sáng tạo: Ông nghiên cứu sách xưa, nhưng có nhiều chỗ ông khôngrập khuôn hoàn toàn như xưa
d) Học tập có phương pháp: Trong việc học tập cần phải đọc rộng, tham khảo nhiều.Khi đã có tư liệu nhiều rồi phải biết sắp xếp tóm gọn cho hệ thống thì mới tránhđược bệnh tản mát, hoặc lộn xộn mâu thuẫn nhau
đ) Học tập với tinh thần suy nghĩ độc lập: Ông thừa kế sách xưa một cách toàn tâmtoàn ý “Khi có chút thì giờ nhàn rỗi là nghiên cứu sách thuốc xưa nay, luôn luôn
Trang 21phát huy biến hoá, thâm nhập được vào tâm, thấy rõ được ở mắt thì tự nhiên ứngvào việc làm mà không sai lầm”.
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nhân lực
1.3.1 Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng
Chất lượng đội ngũ nhân lực hình thành và chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố,trong đó chủ yếu và quan trọng là thông qua đào tạo với mục đích "Làm cho trởthành người có năng lực theo tiêu chuẩn nhất định" [35, tr.45] Nhân lực y tế là mộttrong những nguồn lực, thành phần quan trọng nhất của hệ thống y tế, liên quan trựctiếp đến chất lượng chăm sóc sức khỏe, tính mạng của người bệnh và công tác bảo
vệ chăm sóc sức khỏe của nhân dân
Đào tạo đội ngũ cán bộ y tế là làm cho đội ngũ này có được những năng lựctheo những tiêu chuẩn nhất định Năng lực ở đây bao gồm trình độ về kiến thức,năng lực về hiểu biết, nhận thức sự việc, năng lực điều hành, tổ chức thực hiện, sơkết, tổng kết rút kinh nghiệm và đề xuất giải pháp để thực hiện đạt mục tiêu Mộtchương trình đào tạo đúng đắn, hợp lý sẽ mang lại hiệu quả là một đội ngũ nhân lựckhông chỉ giỏi chuyên môn, nghiệp vụ mà còn có tâm, có đức Ngược lại, chươngtrình đào tạo không phù hợp, đội ngũ thầy giáo không tận tâm với nghề sẽ đào tạo ranhững bác sỹ không có kiến thức, năng lực Nhận thức được tầm quan trọng củacông tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ y tế trong giai đoạn mới, Đảng ta coi việc đàotạo, bồi dưỡng cán bộ y tế là việc làm thường xuyên cần được ưu tiên trong sựnghiệp đổi mới theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Thực hiện chủtrương chung của Đảng trong thời gian qua, Chính phủ đã xây dựng và ban hànhnhiều văn bản quy phạm Pháp luật quan trọng nhằm đẩy mạnh hoạt động đào tạo,bồi dưỡng đội ngũ nhân lực y tế có đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu,nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới
1.3.2 Cơ chế bổ nhiệm, tuyển dụng
Nói đến cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm tức là nói đến cách thức, phương pháp
để lựa chọn và bố trí nhân lực cho đúng người, đúng việc nhằm phát huy năng lực
và sở trường của họ để đạt kết quả cao trong công tác Như vậy tuyển dụng, bổ
Trang 22nhiệm là hai khâu công việc của quá trình sử dụng công chức nhằm đạt mục đíchchung, nó vừa là những điều kiện cần thiết vừa là yêu cầu của khoa học quản lý conngười Tính khoa học thể hiện ở chỗ nó phải dựa vào cơ sở lý luận và thực tiễn củaquy luật phát triển xã hội, đường lối, nguyên tắc, phương pháp và những yếu tố tâm
lý học để đánh giá, tuyển dụng, bổ nhiệm Nếu làm tốt công tác tuyển dụng, bổnhiệm chúng ta sẽ lựa chọn được những người có đủ phẩm chất chính trị, đạo đức,
có trình độ năng lực và xếp họ vào đúng chỗ, đúng việc Việc sắp xếp đúng chỗ,đúng việc sẽ tạo điều kiện phát huy tinh thần hăng say làm việc, khuyến khích tinhthần học tập và rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn
Chính vì vậy công tác tuyển chọn, bổ nhiệm có ảnh hưởng rất lớn đối vớichất lượng nhân lực của Việt Nam nói chung và đội ngũ nhân lực y tế nói riêng
1.3.3 Chế độ chính sách
Chế độ, chính sách là công cụ điều tiết cực kỳ quan trọng trong quản lý xãhội Chế độ, chính sách tác động mạnh mẽ đến hoạt động của con người Chế độ,chính sách có thể mở đường, là động lực thúc đẩy tính tích cực, tài năng, sáng tạo,nhiệt tình, trách nhiệm của mỗi con người, nhưng cũng có thể kìm hãm hoạt độngcủa con người, làm thui chột tài năng, sáng tạo, nhiệt tình trách nhiệm của mỗi conngười Vì vậy, chế độ chính sách là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng đội ngũnhân lực Có thể nói trong tình hình hiện nay việc đổi mới cơ chế sử dụng và chínhsách đối với nhân lực là khâu có tính đột phá
Trong thời gian vừa qua Đảng, Nhà nước đã có nhiều quyết sách cho y tếnhằm khắc phục tình trạng thiếu hụt đội ngũ nhân lực và nâng cao chất lượng độingũ nhân lực để có thể đảm đương được nhiệm vụ trong thời kỳ mới Tuy nhiên, hệthống chính sách đối với đội ngũ nhân lực miền núi vẫn còn nhiều hạn chế Chế độtiền lương và phụ cấp đối với nhân lực khu vực này chưa trở thành đòn bẩy kíchthích làm việc với sự nhiệt tình hăng say Hệ thống chính sách vẫn mang tính chắp
vá không đồng bộ Chưa khuyến khích những người công tác ở cơ sở vùng sâu,vùng xa Cơ chế quản lý, việc xây dựng ban hành và tổ chức thực hiện chính sáchcòn chồng chéo, thiếu nhất quán, không đồng bộ từ quy hoạch đến đào tạo bồidưỡng, bố trí sử dụng đến cơ chế kiểm tra, giám sát Thiết nghĩ, chế độ chính sách
Trang 23cho nhân lực nơi đây có đảm bảo thì mới mang lại hiệu quả cao trong công tác củanhân lực.
1.3.4 Công tác quản lý, kiểm tra, giám sát
Kiểm tra, giám sát và quản lý là hoạt động nhằm nắm chắc thông tin, diễnbiến về tư tưởng, hoạt động của cán bộ, giúp cho cấp ủy và thủ trưởng phát hiện vấn
đề nảy sinh, kịp thời điều chỉnh và tác động, làm cho đội ngũ cán bộ công chức luônhoạt động đúng hướng, đúng nguyên tắc Qua đó để có thưởng phạt nghiêm minh,ngăn chặn cái xấu, cái tiêu cực, phát huy những nhân tố tích cực; Đồng thời nắmvững thực trạng của đội ngũ nhân lực và là cơ sở để làm tốt công tác đào tạo và sửdụng bố trí nhân lực
Trang 24CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC TẠI HỌC VIỆN Y DƯỢC HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM
2.1 Giới thiệu chung về Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam
a/ Quá trình hình thành và phát triển của Học viện Y Dược học cổ truyền Việt
Nam
Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, YHCT Việt Nam đã góp phần tạo nênbản sắc văn hóa xã hội Từ những danh y lỗi lạc như Đại y thiền sư Tuệ Tĩnh(TK14), Chu Văn An (TK14), Nguyễn Trực (TK15), Hoàng Đôn Hòa (TK16), LêĐức Vọng (TK17), Đào Công Chính (TK17), Đại y tôn Hải Thượng Lãn Ông LêHữu Trác (TK18), Nguyễn Đình Chiểu (TK19),… đến những ông lang, bà mế ởmỗi làng bản đều suốt đời vì sức khỏe cộng đồng Từ những tác phẩm nổi tiếng nhưNam Dược thần hiệu, Hồng nghĩa giác tử y thư (TK14), Châm cứu tiệp hiệp diễn ca(TK15), Dược thảo tân biên (TK15), Bảo Anh Lương Phương (TK15), Bảo sinhdiên thọ toản yếu (TK17), Nhan khoa yếu lược (TK17), Hải thượng y tông tâm lĩnh(TK18), Ngư Tiều vấn đáp y thuật (TK19),… cho đến nhưng kinh nghiệm dân giantruyền miệng về chữa bệnh, phòng bệnh bao đời nay đều là những tinh hoa y học vàvăn hóa của dân tộc
Việc kế thừa và phát huy nền YHCT dân tộc là một mục tiêu của y tế cáchmạng được Đảng, Bác Hồ kính yêu vạch ra ngay từ khi mới thành lập nước ViệtNam dân chủ cộng hòa Trong thư gửi hội nghị cán bộ y tế tháng 2 năm 1955, Chủtịch Hồ Chí Minh đã viết “Xây dựng một nền y tế thích hợp với nhu cầu của nhândân ta Y học phải dựa trên nguyên tắc: Khoa học, dân tộc và đại chúng Ông cha tangày trước có nhiều kinh nghiệm quí báu về cách chữa bệnh bằng thuốc ta, thuốcbắc Để mở rộng phạm vi y hoc, các cô các chú cũng nên chú trọng nghiên cứu vàphối hợp thuốc Đông và thuốc Tây” Xác định nhiệm vụ của nghành y tế, trong nghịquyết Đại hội đại biểu Đảng cộng sản Việt Nam toàn quốc lần thứ III (1960), đã
Trang 25ghi: “Cần kết hợp chặt chẽ giữa YHCT và YHHĐ trong công tác y tế trên các mặtphòng bệnh, chữa bệnh sản xuất thuốc men, đào tạo cán bộ và nghiên cứu khoahọc”.
Tháng 3 năm 1971, Trường Y học cổ truyền Tuệ Tĩnh được thành lập trongnhững điều kiện rất khó khăn về cơ sở vật chất cũng như nhân lực Nhưng với tâmhuyết của những lương y, nhà giáo, nhà khoa học tài năng thuộc các thế hệ nối tiếpnhau như Nguyễn Kiều, Huỳnh Liên Đoàn, Trương Việt Bình… nhà trường đã từngbước phát triển Vừa chăm lo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đào tạo, nhà trường vừatập trung nghiên cứu sưu tầm, bảo tồn các tài liệu YHCT, các phương pháp chữabệnh, các bài thuốc, vị thuốc quý hiếm
Tháng 2/2005 Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 46/NQ-TW nhấn mạnh việcphát triển nghành y dược học cổ truyền thành một ngành khoa học và sớm thành lậpHọc viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam Ngày 02/02/2005 Phó Thủ Tướng ChínhPhủ Phạm Gia Khiêm đã ký Quyết định số 30/QĐ/TTg 2005 thành lập Học viện YDược học cổ truyền Việt Nam trên cơ sở YHCT Tuệ Tĩnh Ngày 19/05/2005 Bộ Y
tế đã long trọng công bố sự ra đời của Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam một cơ sở đào tạo chuyên sâu bậc đại học đầu tiên về Y Dược học cổ truyền của đấtnước, đồng thời cử GS.TS Lê Ngọc Trọng – Thứ trưởng Bộ Y tế kiêm nhiệm Giámđốc Học viện
-Việc thành lập Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam là một sự kiện lịch
sử, một bức tiến quan trọng của 60 năm nền y tế cách mạng, một sự chuyển biến vềchất của hệ thống đào tạo nhân lực YHCT Đồng thời sự kiện trọng đại này cònđánh dấu một bước phát triển của nghành y tế Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ,chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính Phủ
Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam được Bộ Y tế giao nhiệm vụ đàotạo nhân lực, nghiên cứu khoa học, điều trị và phòng bệnh bằng YHCT Học viện YDược học cổ truyền Việt Nam đã và đang tập trung tăng cường đội ngũ cán bộgiảng dạy có tri thức, có lòng yêu nghề, có đạo đức cách mạng Mặt khác Học việncũng kịp thời triển khai đầu tư xây dựng cơ bản, trang bị các thiết bị vật tư kỹ thuật
Trang 26hiện đại, hoàn thiện cơ sở vật chất, khu làm việc, giảng đường, phòng thí nghiệm,bệnh viện thực hành, ký túc xá, các viện nghiên cứu để đảm bảo chất lượng đào tạo.
Học viện tiếp tục tăng cường khai thác các kinh nghiệm về chữa bệnh, phòngbệnh trong nhân dân, các kinh nghiệm gia truyền, kinh nghiệm thực tiễn có giá trịcao của các lương y giỏi, chú trọng việc bảo tồn các gen cây thuốc quý đang cónguy cơ mai một, tập hợp các thầy thuốc, lương y cũng như bác sỹ YHCT, đoàn kếtxây dựng và phát triển YHCT dân tộc, khai thác cùng với tìm kiếm các cây con làmthuốc; Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, hiện đại hóa công tác bào chế, phát triểncông nghiệp dược, chú trọng sản xuất thuốc cổ truyền, nghiên cứu chiết xuất, bàochế thuốc thành các dạng tiện lợi từ các bài thuốc cổ phương, các bài thuốc nghiệmphương, các vị thuốc thông dụng Kết hợp chặt chẽ YHHĐ và YHCT trong điều trị
và NCKH
Trải qua 40 năm xây dựng và phát triển, Học viện có một bề dày đào tạochuyên sâu về YHCT, đã đào tạo hàng vạn nhân lực YHCT có tay nghề cao phục vụcông tác chăm sóc sức khỏe nhân dân Việc đưa trường từ bậc trung học phát triểnthành một Học viện đứng đầu cả nước về YHCT như ngày hôm nay là một quá trìnhphấn đấu không ngừng nghỉ của một tập thể từ Ban giám đốc dến các nhân viên,công chức, sinh viên Học viện Trong 40 năm qua với tinh thần trách nhiệm cao,tinh thần đoàn kết nhất trí, Học viện đã đạt được thành tích to lớn, đào tạo cho đấtnước các thầy thuốc YHCT “vừa hồng vừa chuyên”
Học viện là cơ sở lớn nhất của cả nước đào tạo thầy thuốc YHCT Học việngồm 4 đơn vị thành viên: Hệ thống đào tạo, bệnh viện Đa khoa thực hành, việnnghiên cứu, trung tâm dịch vụ KHCN Tổng số cán bộ nhân viên Học viện là 541người bao gồm: 207 người có trình độ trên đại học, 238 người có trình độ đại học,
42 người có trình độ cao đẳng và 54 người có trình độ trung cấp
b/ Tên giao dịch
- Tên đầy đủ: Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam
- Tên giao dịch quốc tế: Vietnam Academy of Traditional Medicine
- Tên viết tắt tiếng Anh: VATM
Trang 27c/ Quản lý Nhà nước
Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam chịu sự lãnh đạo, quản lý trực tiếpcủa Bộ Y tế, chịu sự quản lý Nhà nước về giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo,chịu sự quản lý hành chính theo lãnh thổ của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Tây (cũ) nơiHọc viện đặt trụ sở và chịu sự chỉ đạo của các cơ quan chức năng khác theo quyđịnh của pháp luật
d/ Cơ cấu tổ chức và hoạt động
- Ban giám đốc
Giám đốc Học viện: Giáo sư, Tiến sĩ, giảng viên cao cấp Trương Việt BìnhPhó giám đốc Học viện: Phó giáo sư, Tiến sĩ, giảng viên cao cấp Lê LươngĐống
Phó giám đốc Học viện: Phó giáo sư, Tiến sĩ, giảng viên cao cấp NguyễnDuy Thuần
Phó giám đốc Học viện: Thạc sĩ Hà Thị Yến
- Khối đào tạo
Các Phòng chức năng: Tổ chức cán bộ, Đào tạo, Đào tạo sau đại học, Nghiêncứu khoa học, Hợp tác quốc tế, Tài chính kế toán, Hành chính quản trị, Vật tư trangthiết bị, Quản lý sinh viên, Công nghệ thông tin, Khảo thí, Truyền thông và truyềnthống, Công đoàn
Các Bộ môn khoa học: Cơ bản, Y học cơ sở, Bộ môn dược và các bộ mônchuyên khoa Y học Lâm sàng YHCT và YHHĐ
- Các loại hình đào tạo
Trang 28BS YHCT liên kết với Đại học Trung Y Dược Thiên Tân - TQ
DS Đại học liên kết với Đại học Trung Y Dược Thiên Tân - TQ
- Bệnh viện Đa khoa thực hành
Bệnh viện Tuệ Tĩnh quy mô 700 giường, được Bộ trưởng Bộ Y tế ký quyếtđịnh thành lập tháng 1/2006 Đến nay, đã triển khai được 250 giường với 23 khoalâm sàng, 6 phòng chức năng Là bệnh viện thực hành chuẩn, được trang bị nhiềuthiết bị hiện đại với đội ngũ thầy thuốc chuyên khoa sâu cả YHCT và YHHĐ trongmỗi khoa lâm sàng
- Trung tâm các dịch vụ khoa học kỹ thuật
Trung tâm thư viện gồm 7.000 đầu sách các loại trong đó có 5.000 đầu sáchchuyên ngành, 1.000 đầu sách giáo trình và SGK, 03 máy chủ, 03 đường truyền cápquang tốc độ cao, 308 máy trạm, 37 projector Là thư viện điện tử, trung tâm họcliệu hiện đại Website của Học viện khai trương tháng 8/2008 đã có trên 3.000.000lượt người truy cập, được xếp hàng đầu trên các kênh tìm kiếm và tra cứu về YDược học cổ truyền thuộc Google và Yahoo Các khối đào tạo, viện nghiên cứu,bệnh viện và các trung tâm được tin học hóa trong mọi hoạt động Trung tâm tin
Trang 29học ngoại ngữ đào tạo tin học ứng dụng và ngoại ngữ chuyên ngành Trung tâmnghiên cứu ứng dụng sản xuất đông dược đã nuôi trồng 17 ha dược liệu quý tại tỉnhHòa Bình và Quảng Ninh.
- Hợp tác quốc tế
Liên kết đào tạo BS Trung y theo chương trình tiên tiến của Trung Quốc vớihình thức du học tại chỗ Hiện có 474 lưu học sinh Học viện có 02 nhà khoa học:
01 là Phó chủ tịch, 01 là ủy viên BCH Hiệp hội đào tạo Trung y thế giới
Liên kết đào tạo thạc sĩ điều dưỡng với trường USF – Califonia, Hoa Kỳ.Được trường USF ký cam kết giúp đỡ Học viện đạt tiêu chuẩn của Hoa Kỳ về đàotạo điều dưỡng đại học và sau đại học có sự kiểm định của tổ chức kiểm định chấtlượng đào tạo Hoa Kỳ
Liên kết NCKH với trường Đại học Trung y dược Quảng Châu, Đại họcTrung y dược Thành Đô, Trung Quốc
Hợp tác nghiên cứu khoa học và điều trị bằng YHCT với Ucraina, Liên BangNga, Tây Ban Nha, Đài Loan, Thái Lan, Úc, Ấn Độ
- Hoạt động xã hội
Khám chữa bệnh từ thiện cho đồng bào nghèo ở Thanh Hóa, Yên Bái, LàoCai, Bắc Kạn, Hòa Bình, Hà Tây Chăm sóc người cao tuổi, cựu chiến binh, họcsinh phổ thông ở địa phương
Khám chữa bệnh, cấp thuốc miễn phí với chi phí 250 triệu cho xã với trên 01vạn người ở vùng bị bão lụt thuộc Nghệ An, Hà Tĩnh Đào tạo miễn phí kỹ thuậtviên xoa bóp, bấm huyệt cho trên 1000 người khiếm thị trong cả nước
Trang 30Sơ đồ cơ cấu tổ chức Học viện Y Dược học Cổ truyền Việt Nam
Ban giám hiệuCông đoàn
Các phòng ban
Ngũ quanPhương tễBào chế
Nghiên cứu UD
Tin học NN
Thư việnSau đào tạo
Đào tạoNhi
Lây
Châm cứu
Khảo thí
Tổng hợpHợp tác quốc tế
Tổ chức cán bộ
Trang 31Hình 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam
(Nguồn: Phòng truyền thống - Truyền thông)
Trang 322.1.2 Các thành tích đạt được từ khi thành lập
Trong quá trình phát triển Học viện đã tăng số cán bộ nhân viên cơ hữu từ 60người lên 541 người, hoàn thiện tổ chức bộ máy giảng dạy theo tiêu chuẩn của BộGiáo dục và Đào tạo
Về tài liệu: Biên soạn được 247 bộ giáo trình Biên soạn được 64.068 câu hỏithi test, 19.478 câu hỏi thi tự luận Đảm bảo chất lượng khách quan nhờ áp dụngkiểm tra trên máy tính
Quy mô đào tạo: Từ 700 học sinh/năm trong năm 2005 lên gần 5000 họcsinh/năm trong năm 2012 với chỉ tiêu tuyển sinh 800 đại học, 100 cao đẳng, 360trung học, 60 sau đại học hàng năm Điểm chuẩn đại học 22,5 điểm – 23 điểm
Từ 2006-2011 đào tạo 115 bác sĩ chuyên khoa cấp I, 9 bác sĩ chuyên khoacấp II, 96 thạc sĩ, 2 bác sĩ nội trú bệnh viện
Năm 2012 Học viện đã chuẩn bị xong điều kiện để đào tạo tiến sĩ YHCT,dược sĩ đại học và cử nhân điều dưỡng đại học
Đã có 101 cán bộ của Học viện được cử đi học cao cấp lý luận chính trị,nghiên cứu sinh, cao học, bác sĩ chuyên khoa I, bác sĩ chuyên khoa II
Nhà trường vinh dự được trao tặng 01 Huân chương lao động hạng nhất, 01Huân chương lao động hạng nhì, 01 Huân chương lao động hạng 3, 04 Huânchương lao động hạng 3 cho 01 tập thể và 03 cá nhân giai đoạn 2001-2005, 27 Bằngkhen của Thủ tướng Chính phủ cho 10 tập thể, 17 cá nhân, 63 Bằng khen của Bộ Y
tế cho 17 tập thể, 46 cá nhân, 03 Cờ luân lưu của Bộ Y tế và của cả Chính phủ
2.2 Đánh giá chất lượng nhân lực của Học viện Y Dược học Cổ truyền Việt Nam giai đoạn 2007-2012
2.2.1 Số lượng nhân lực tại Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam giai
đoạn 2007- 2012
2.2.1.1 Khối đào tạo
Số lượng, trình độ nhân lực Khối đào tạo được tổng hợp trong Bảng 2.1 dướiđây
Trang 33STT Bộ môn Số
lượng
Trình độ Trên
Đại học
Đại học Cao
đẳng
Trung cấp
14 Dược liêu - Hóa dược - Quản lý
Trang 34Đại học
Đại học Cao
đẳng
Trung cấp
(Nguồn: Phòng truyền thống – Truyền thông)Thống kê lại ta thấy trong khối văn phòng số lượng nhân lực có trình độ trênđại học chiếm 28%, đại học chiếm 59.3%, cao đẳng và trung cấp chiếm lần lượt là9.3% và 3.4% Với chất lượng đội ngũ nhân lực chất lượng như vậy thì hoạt độngcủa các phòng ban trong Học viện sẽ rất hiệu quả và tất yếu cả hệ thống YHCT rấtvững chắc
2.2.1.3 Viện nghiên cứu Y dược cổ truyền Tuệ Tĩnh
Số lượng, trình độ nhân lực Viện nghiên cứu Y dược cổ truyền Tuệ Tĩnh
được tổng hợp trong Bảng 2.3 dưới đây
Trang 35Bảng 2.3: Số lượng, trình độ nhân lực Viện nghiên cứu Y dược cổ truyền Tuệ Tĩnh
Trên Đại học Đại học Cao đẳng Trung cấp
(Nguồn: Phòng truyền thống – Truyền thông)
Ở viện nghiên cứu khoa Y dược ta thấy trình độ nhân lực có trình độ trên đạihọc chiếm 50%, đại học chiếm 30%, trình độ trung cấp chiếm 20%, không có nhânlực cao đẳng
2.2.1.4 Trung tâm trực thuộc
Số lượng, trình độ nhân lực của các Trung tâm trực thuộc được tổng hợp trong Bảng 2.4 dưới đây
Bảng 2.4: Số lượng, trình độ nhân lực của các Trung tâm trực thuộc
2.2.1.5 Bệnh viện Tuệ Tĩnh
Số lượng, trình độ nhân lực của Bệnh viện Tuệ Tĩnh được tổng hợp trong Bảng 2.5 dưới đây
Trang 37STT Đơn vị Số
lượng
Trình độ Trên
Đại học
Đại học Cao
đẳng
Trung cấp
10 Khoa Khí công dưỡng sinh, xoa
(Nguồn: Phòng truyền thống – Truyền thông)
Bệnh viện Tuệ Tĩnh có số lượng nhân lực trên đại học chiếm 27.3%, đại họcchiếm 33%, cao đẳng và trung cấp chiếm tỷ lệ lần lượt là 14.8%, 24.9% Với độingũ y bác sỹ chuyên môn cao đã tạo ra chất lượng tốt và bệnh viên đã được nhiềungười lựa chọn
2.2.2 Đánh giá nhân lực tại Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam
2.2.2.1 Về phẩm chất chính trị
Trang 38Trải qua những năm đổi mới, trước những diễn biến phức tạp của tình hìnhthế giới đội ngũ nhân lực trong lĩnh vực Y tế nói chung, nhân lực tại Học viện YDược học cổ truyền Việt Nam nói riêng vẫn giữ được bản lĩnh chính trị vững vàng;Luôn có thái độ học tập nâng cao trình độ và năng lực nghề nghiệp nhằm đáp ứngđòi hỏi của giai đoạn cách mạng mới cũng như yêu cầu, nhiệm vụ của công việc đặt
ra Họ là những người gần gũi với nhân dân, phát huy truyền thống cách mạng,truyền thống quê hương, có ý thức tự giác, từng bước nâng cao ý thức tổ chức kỷluật, luôn kiên định đi theo những tấm gương là các thầy thuốc của thế hệ đi trướcnhư Phạm Ngọc Thạch, Đặng Văn Ngữ, Tôn Thất Tùng, Đặng Văn Chung, TrầnHữu Tước, Đỗ Tất Lợi và thế hệ tiếp nối như Tôn Thất Bách, Lê Thế Trung, ĐặngThuỳ Trâm v.v đã để lại tấm gương sáng về y đức, cống hiến trọn đời cho sựnghiệp y học và y tế của nước nhà
b/ Nhược điểm
Đa số nhân lực tại Học viện chưa qua lớp huấn luận về lý luận chính trị, đặcbiệt là giảng viên khoa Chính trị - Mác Lênin, đối tượng rất cần nâng cao trình độ lýluận chính trị, kiến thức về kinh tế thị trường, quản lý nhà nước, pháp luật pháp chếphục vụ cho nhiệm vụ truyền đạt kiến thức cho sinh viên Nguyên nhân của mặt hạnchế này có thể do đội ngũ nhân lực Học viện chưa nhận thức rõ rệt tầm quan trọngcủa hệ thống lý luận chính trị của Đảng và Nhà nước ta, các cấp lãnh đạo cần đi đầutrong việc trau dồi và nâng cao kiến thức về chính trị để cấp dưới thực hiện theo.2.2.2.2 Về phẩm chất đạo đức
Nền kinh tế thị trường và những tác động tiêu cực của xã hội ảnh hưởngkhông nhỏ đến người thầy thuốc Hiện tượng “phong bì” phổ biến tại các bệnh viện.Những tác động tiêu cực dù ít, dù nhiều cũng đã làm xói mòn đạo đức, sự vươn lênlàm chủ tay nghề và việc chữa trị, chăm sóc người bệnh của người thầy thuốc.Người dân kêu ca nhiều về thái độ ứng xử của nhân viên y tế tại các bệnh viện hiệnnay, về tình trạng thiếu trách nhiệm, thờ ơ với người bệnh của một bộ phận nhânviên y tế Điều này làm đau lòng và tổn hại đến danh dự của bất cứ ai đã gắn bó cả
Trang 39nghề y.
Trong bối cảnh ngành Y tế đang đẩy mạnh xã hội hoá hiện nay, nhiều tháchthức mới cũng đang đặt ra với những người làm công tác y tế Hiện tượng chảy máuchất xám xảy ra ngay chính trong ngành y Nhiều bác sỹ được cử đi đào tạo, nângcao trình độ, lẽ ra về với các bệnh viện tỉnh, huyện, nơi đã cử mình đi học, thì lạitìm mọi cách chạy về các khu vực có bệnh viện lớn và thu nhập tốt hơn Ở cáctrường đại học Y, các chuyên khoa lao, tâm thần, hay cả chuyên khoa nhi là lĩnhvực mà trước đây sinh viên rất thích học, thì nay cũng trong tình trạng thiếu sinhviên trầm trọng, vì thu nhập ở những chuyên ngành này thấp hơn so với các chuyênngành khác Không ít sinh viên y khoa đã chấp nhận bỏ nghề, để làm việc bán thuốccho các công ty dược nước ngoài vì thu nhập cao hơn Tình trạng thiếu nhân lực ởtuyến dưới đã đẩy y tế tuyến trên vào tình trạng quá tải trầm trọng Điều đó khôngchỉ ảnh hưởng đến chất lượng phục vụ người bệnh, không chỉ gây bức xúc cho bệnhnhân, mà còn gây bức xúc cho chính những người thầy thuốc
a/ Ưu điểm
Đáng mừng và đáng tự hào là dù đời sống còn gặp khó khăn, trong đội ngũnhững người làm công tác y tế nói chung và đội ngũ nhân lực Học viện Y Dược học
cổ truyền Việt Nam nói riêng vẫn có một số rất lớn những người thầy miệt mài vì
sự nghiệp trồng người, cán bộ y tế cần mẫn hàng ngày, hàng giờ chăm sóc phục vụngười bệnh, cho dù phải đối mặt với nguy hiểm bởi nguy cơ lây nhiễm rất cao.Trong những vụ dịch nguy hiểm như viêm đường hô hấp cấp SARS, dịch cúm AH5N1, có những y - bác sỹ thức trắng nhiều đêm bên giường bệnh, có những thầythuốc quên ăn, quên ngủ với hy vọng sớm tìm ra căn nguyên của những căn bệnhquái ác, giành lại sự sống từ tay tử thần, lại có những y - bác sỹ hiến máu cứu bệnhnhân Nhiều bác sỹ ở lại trực dịch tại bệnh viện hơn 20 ngày không về qua gia đình.Căng thẳng, vất vả, nhưng tất cả đều tự nguyện Bởi họ hiểu rằng, sinh mạng củanhiều người đang đặt trong tay họ, và họ luôn luôn quan niệm rằng: “Thầy thuốc làngười bảo vệ sinh mạng con người, sống chết trong tay mình nắm, họa phúc trongtay mình giữ Thế thì đâu có thể kiến thức không đầy đủ, đức hạnh không trọn vẹn,