1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

NHỮNG tư TƯỞNG cơ bản TRONG học THUYẾT KIÊM át của mặc tử và ý NGHĨA của CHÚNG TRONG xây DỰNG đạo đức mới của NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY

89 467 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ PHẠM LAN ANH NHỮNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN TRONG HỌC THUYẾT “KIÊM ÁI” CỦA MẶC TỬ VÀ Ý NGHĨA CỦA CHÚNG TRONG XÂ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

PHẠM LAN ANH

NHỮNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN TRONG HỌC THUYẾT “KIÊM ÁI” CỦA MẶC TỬ VÀ Ý NGHĨA CỦA CHÚNG TRONG XÂY DỰNG

ĐẠO ĐỨC MỚI CỦA NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Trang 2

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 MẶC TỬ VÀ HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA HỌC THUYẾT “KIÊM ÁI” 7

1.1 Thân thế, sự nghiệp của Mặc Tử 7

1.1.1 Giải nghĩa chữ “Mặc” trong Triết học Trung Hoa cổ đại 7

1.1.2 Thân thế sự nghiệp của Mặc Tử 8

1.2 Hoàn cảnh ra đời của học thuyết “Kiêm ái” 21

Chương 2 NHỮNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN TRONG HỌC THUYẾT “KIÊM ÁI” - GIÁ TRỊ , HẠN CHẾ VÀ Ý NGHĨA CỦA CHÚNG 31

2.1 Nội dung chủ yếu của học thuyết “kiêm ái” 31

2.1.1 Kiêm ái là yêu thương tất cả mọi người không phân biệt đẳng cấp, sang hèn 31

2.1.2 Mối quan hệ giữa “kiêm” với “lợi” 33

2.1.3 Sự thể hiện của “kiêm ái” trong đời sống chính trị và sinh hoạt thường ngày 37

2.2 Những mặt tích cực và hạn chế của học thuyết “kiêm ái” 54

2.2.1 Mặt tích cực 54

2.2.2 Mặt hạn chế 57

2.3 Ý nghĩa của học thuyết “kiêm ái” trong việc xây dựng đạo đức mới của con người Việt Nam hiện nay 61

2.3.1 Một vài nét về thực trạng đạo đức Việt Nam hiện nay 61

2.3.2 Ý nghĩa của “kiêm ái” trong việc xây dựng đạo đức mới của người Việt Nam hiện nay 70

KẾT LUẬN 81

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Loài người ngày càng nhận thức rõ sự phát triển của một đất nước không chỉ là phát triển kinh tế, khoa học, công nghệ Sự giàu có vật chất, phương tiện tiêu dùng, kỹ thuật chỉ mới là những điều kiện quan trọng, thực hiện lý tưởng sống cao đẹp nhất của con người là cuộc sống văn minh, hạnh phúc Đáp ứng cuộc sống văn minh, hạnh phúc gồm nhiều yếu tố trong đó văn hóa đạo đức chiếm một vị trí quan trọng Người ta cũng thấy được rằng, văn hóa không chỉ là yếu tố phát sinh, song song tồn tại với cuộc sống, mà nó nằm ngay trong cuộc sống, là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội

Lịch sử cho thấy, không một nền văn hóa nào phát triển được nếu nó đứng cô lập, tách rời với các nền văn hóa khác Như chúng ta đã thấy vào thời

cổ đại, nhiều tộc người da đỏ châu Mỹ và da đen Nam Phi đã đạt được trình

độ phát triển cao nhưng do bị ngăn cách bởi các đại dương và sa mạc cho nên các nền văn minh ấy bị suy thoái dần dần Trong thời cận đại thì Trung Hoa thi hành “chính sách bế quan tỏa cảng” tự ru ngủ mình bằng hào quang của quá khứ và đã dẫn đến tình trạng trì trệ Còn Nhật Bản thì chủ trương mở của, tiếp thu khoa học kỹ thuật tiên tiến của phương Tây với nền tảng văn hóa, đạo

lý truyền thống dân tộc, nên đã phát triển nhanh Việt Nam là một trong những quốc gia trên thế giới, vì vậy chúng ta đã nhận thức ra được việc phát triển kinh tế như thế nào cho phù hợp với xu hướng của thế giới trong giai đoạn hiện nay Đồng thời đánh giá về kết quả thu được cho nền văn hóa nước nhà, nhất là về văn hóa đạo đức khi gia nhập vào nền kinh tế thị trường toàn cầu Thêm vào đó, thấy được sự giao lưu, hòa trộn giữa các nền văn hóa khác nhau của nhân loại

Hiện nay, khi mà đất nước chúng ta đang tiến hành mở cửa hội nhập với các quốc gia trên thế giới, ngoài việc tiếp thu được các thành tựu khoa học

Trang 4

tiên tiến cùng với những trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, thì chúng ta còn chịu ảnh hưởng lớn về mặt đời sống xã hội, mà cụ thể là mặt đạo đức Nền đạo đức Việt Nam chịu sự tác động của kinh tế thị trường có nhiều điểm tích cực nhưng đồng thời nó cũng làm nảy sinh một số hiện tượng tiêu cực, gây mất ổn định trong đời sống đạo đức của người dân trong các tỉnh thành khắp cả nước

Nền kinh tế mở mang tới cho con người cách sống năng động, linh hoạt trong việc xử lý mọi tình huống xảy ra trong cuộc sống hàng ngày Nhưng đồng thời nó đã làm cho con người sống thực dụng hơn, mối quan hệ tình cảm tốt đẹp giữa người với người giờ đây bị chi phối bởi tiền bạc, địa vị, lợi ích cá nhân, những giá trị truyền thống của cha ông giờ đây đã bị phai nhạt đi trong lối sống của tầng lớp trẻ Những biểu hiện này chính là mầm mống cho một quan niệm sống thực dụng nếu chúng ta không có biện pháp kịp thời ngăn chặn thì có thể dẫn tới việc mất cân bằng xã hội, mất đi niềm tin của giới trẻ vào xã hội tương lai, làm cho họ không có được nền tảng vững chắc để chuẩn

bị cho công cuộc xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh

Chính vì thế, trong khi Việt Nam đang nổ lực hết mình để vươn lên sánh vai cùng bạn bè năm châu về mọi mặt: kinh tế, xã hội, văn hóa, thì vấn

đề đạo đức mới được rất nhiều người quan tâm Đảng và nhà nước ta trong các chính sách của mình cũng thể hiện sự quan tâm sâu sắc tới vấn đề này Việc xây dựng đời sống đạo đức mới cho người dân phải lấy những tư tưởng truyền thống làm nền tảng như tư tưởng Nho gia, Mặc gia, đạo Phật, đạo Thiên Chúa v.v… Ở mỗi học thuyết, tôn giáo chúng ta đều chọn lọc lấy những giá trị đạo đức tốt đẹp, phù hợp với cuộc sống của con người trong giai đoạn hiện nay, sau khi đã gạt bỏ đi tính chất duy tâm thần bí của những tư tưởng ấy và có sự cải biến phù hợp

Nghiên cứu tư tưởng của Mặc Tử ở nhiều khía cạnh khác nhau như

“Phi công”, “Thượng đồng”, “Thượng hiền”, “Tiết dụng”, “Phi nhạc”, “Tiết

Trang 5

táng” với những nội dung có thể vận dụng vào việc xây dựng đời sống đạo đức mới của người Việt Nam hiện nay, đặc biệt là học thuyết “kiêm ái” Đây

là một tư tưởng về việc xây dựng khối đại đoàn kết nhằm đưa xã hội đi lên xuất phát từ tình yêu thương giữa con người với con người, không phân biệt sang hèn “kiêm ái là yêu thương con người”, là sự gắn bó lợi ích giữa con người với nhau trong xã hội Để đi tới xây dựng một xã hội đại đồng, con người sống với nhau chan hòa, tình cảm

Hiện nay, chúng ta đang phải chứng kiến sự suy đồi về đạo đức của một bộ phận người trong xã hội, nhất là tầng lớp thanh thiếu niên Đạo đức suy thoái làm cho mối quan hệ giữa người với người bị cách biệt, sự thương cảm giữa những con người với nhau bị phai nhạt đi ngay cả trong gia đình - nơi mà tình cảm con người gắn bó nhất Thế nên cần phải có biện pháp tích cực để khắc phục những hạn chế, tiêu cực trên Với lý do này tôi đi đến việc

lựa chọn đề tài nghiên cứu là: “Những tư tưởng cơ bản trong học thuyết

“Kiêm ái” của Mặc Tử và ý nghĩa của chúng trong xây dựng đạo đức của người Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ Triết học của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Tư tưởng của Mặc Tử đã được nhiều nhà khoa học quan tâm và đi sâu vào nghiên cứu với nhiều công trình và khai thác dưới nhiều góc độ khác nhau Có thể nêu lên một số công trình tiêu biểu như: PGS TS Đoàn Đức Hiếu, "Lịch sử triết học phương Đông" (Huế, 2002); Phùng Hữu Lan, "Đại cương triết học sử Trung Quốc" (Vạn Hạnh, Sài Gòn, 1968, Bản dịch của Nguyễn Văn Dương); Hồ Thích, "Trung Quốc triết học sử" (Khai Trí, Sài Gòn, 1969, Bản dịch của Huỳnh Minh Đức) Các tác phẩm này, nêu lên một cách tóm tắt thân thế sự nghiệp và những nội dung cơ bản nhất trong tư tưởng triết học của Mặc Tử

PTS Vũ Tình, "Đạo đức học phương Đông cổ đại" (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998) Tác phẩm này tác giả đã trình bày đạo đức

Trang 6

của xã hội và đạo đức trong sinh hoạt đời thường xuất phát từ luận điểm

“kiêm ái” của Mặc Tử

Cao Xuân Huy, "Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu" (Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1995) Thảo đường cư sĩ Trần Văn Hải Minh, "Bách gia chư tử" (Hội Nghiên cứu và Giảng dạy văn học Thành phố Hồ Chí Minh, 1991) Trần Đình Hượu, "Các bài giảng về tư tưởng phương Đông" (Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002) GS La Quốc Việt, "Tu dưỡng đạo đức tư tưởng" (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003) Nguyễn Gia Phu, Nguyễn Huy Quý, "Lịch sử Trung Quốc" (Nhà xuất bản Giáo dục, 2001) PGS TS Doãn Chính (chủ biên), "Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc" (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002) GS

TS Nguyễn Hữu Vui (chủ biên), "Lịch sử triết học" (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002) Các tác giả trên trình bày khái quát các phạm trù trong tư tưởng triết học của Mặc Tử một cách sơ lược

Vũ Văn Gầu, "Kiêm ái nhân sinh - triết lý độc đáo của Mặc Tử" (Tạp chí Triết học, số 5, tháng 5 - 2003, tr.36-41) Trong bài báo này tác giả nghiên cứu rút ra cái hay trong tư tưởng của Mặc Tử ở học thuyết “kiêm ái”, cụ thể ở đây là tình yêu thương giữa những con người trong xã hội với nhau Tác giả còn chỉ ra hoàn cảnh ra đời của học thuyết

Các công trình nghiên cứu trên đi sâu vào tìm hiểu tư tưởng của Mặc

Tử ở một số phương diện như các phạm trù cơ bản: “phi công”, “thượng đồng”, “thượng hiền” Tuy nhiên các tác giả trên chưa đi vào nghiên cứu phạm trù "kiêm ái" với tư cách là một học thuyết quan trọng về đạo đức trong

xã hội

Tác giả luận văn kế thừa các công trình nghiên cứu trước, đồng thời vận dụng những giá trị tích cực của học thuyết "kiêm ái" vào thực tiễn xây dựng đạo đức mới của người Việt Nam hiện nay

Trang 7

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích của đề tài: Phân tích những tư tưởng cơ bản trong học

thuyết “kiêm ái” của Mặc Tử Từ đó nêu lên được những nội dung cơ bản của học thuyết ý nghĩa của chúng đối với việc xây dựng đạo đức mới ở Việt Nam hiện nay

* Nhiệm vụ của đề tài:

+ Phân tích thân thế và sự nghiệp của Mặc Tử, cũng như hoàn cảnh ra

đời của học thuyết “kiêm ái”

+ Phân tích những tư tưởng cơ bản trong học thuyết “kiêm ái” của Mặc

Tử cùng với sự đóng góp và hạn chế của nó

+ Ý nghĩa của tư tưởng “kiêm ái” đối với việc xây dựng đạo đức mới ở Việt Nam hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu: Học thuyết “kiêm ái” và sự thể hiện của nó

qua các phạm trù khác nhau trong tư tưởng của Mặc Tử

* Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu các tài liệu bàn về Mặc

Tử và học thuyết “kiêm ái”

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp chủ yếu được sử dụng trong quá trình nghiên cứu là phương pháp biện chứng duy vật, với tính cách là phương pháp luận chung nhất Trên cơ sở đó tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp thống nhất giữa lịch sử và lôgic, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh đối chiếu để thực hiện tốt mục đích và nhiệm vụ của luận văn

6 Dự kiến đóng góp của đề tài

- Nêu lên những giá trị và hạn chế của Mặc Tử, nhất là học thuyết

“kiêm ái”

Trang 8

- Chỉ ra ý nghĩa của học thuyết “kiêm ái” đối với việc xây dựng lối sống đạo đức của người Việt Nam hiện nay

- Làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm tới vấn đề này

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được kết cấu thành 2 chương, 5 tiết:

Chương 1: Mặc Tử và hoàn cảnh ra đời của học thuyết “kiêm ái” Chương 2: Những tư tưởng cơ bản trong học thuyết “kiêm ái” - giá trị,

hạn chế và ý nghĩa của chúng

Trang 9

Chương 1 MẶC TỬ VÀ HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA HỌC THUYẾT “KIÊM ÁI”

1.1 Thân thế, sự nghiệp của Mặc Tử

1.1.1 Giải nghĩa chữ “Mặc” trong Triết học Trung Hoa cổ đại

Trong lịch sử tư tưởng triết học Trung Hoa cổ đại vào cuối thời Xuân Thu - Chiến Quốc đã xuất hiện một trường phái triết học lớn, cùng với Nho gia, Đạo gia chia nhau thống trị đời sống tinh thần ở Trung Hoa thời kỳ này,

đó là trường phái triết học Mặc gia Sự ảnh hưởng to lớn của triết học Mặc gia

đã khiến Mạnh Tử phải lo lắng thốt lên rằng: “Lời của Dương Chu, Mặc Địch tràn lan thiên hạ Những kẻ nói đạo trong thiên hạ thời nay không theo họ Dương thì theo họ Mặc” [4, tr.262] Người sáng lập ra trường phái triết học Mặc gia với học thuyết “Kiêm ái” nổi tiếng là kẻ thù của Khổng giáo, đó là Mặc Địch Sau khi Mặc Tử mất học thuyết này được bảo vệ và phát triển bởi các triết gia hậu Mặc vào thế kỷ thứ IV - III trước công nguyên, với tư tưởng nổi bật nhất về lôgic và nhận thức luận trên cơ sở duy vật của họ

Khi nghiên cứu về Mặc Tử chúng ta phải hiểu được nghĩa của từ “Mặc” trong triết học Trung Hoa cổ đại là gì? Hiểu được nó, sẽ giúp chúng ta có được một cách nhìn toàn diện hơn về trường phái Mặc gia

Theo rất nhiều sách viết về trường phái này thì họ nhìn chung đều cho rằng Mặc Tử họ Mặc, tên là Địch Đến cuối đời nhà Thanh, Giang Tuyền có giải thích đại khái như sau: “đời xưa các học phái của Chu Tử gồm có chín dòng ai truyền lại học thống của mình thì đều xưng là nhà, là gia Vậy chữ gia

là trỏ vào học phái, chứ không phải trỏ vào dòng họ Cho nên về thời trước nhà Tần, chữ Mặc gia là trỏ vào học phái, không phải trỏ vào dòng họ của tác giả Đây là lệ chung của chín nhà, theo Hán Chí có nói rõ, như Nho gia, Đạo gia, Danh gia, Âm dương gia, Tung Hoành gia, Nông gia, Tạp gia” [38, tr.305] Bởi vậy Giang Tuyền đi đến kết luận: “Cổ chi sở vị Mặc gia, phi tính

Trang 10

thị chi xưng, nãi học thuật chi xưng giả” [38, tr.305], có nghĩa là xưa kia người ta gọi “Mặc”, không phải gọi họ tên người, mà là nói về mặt học thuật của trường phái đó mà thôi

“Mặc” còn có nghĩa là đen, như Mạnh Tử nói “diện thâm mặc”, tức là mặt đen xì Vậy “Mặc” có nghĩa là mặc đồ đen Mặc Tử lấy sự cực khổ làm đức hạnh, cho nên mệnh danh học thuật của mình là Mặc

Hơn nữa, chữ Mặc còn là để gọi một tội hình khắc vào mặt và thoa mực đen đi Và theo Chu Lễ thì kẻ phạm tội khinh hình thường bị sa vào hạng nô

lệ làm công việc khổ nhục Như vậy, mới biết được rằng “Mặc” là hình đồ biến thành, là nô dịch Mặc gia sinh hoạt kham khổ, lấy sự khổ hạnh để thi hành điều nhân nghĩa, xác lập đạo đức cho bản thân, từ đó đề ra đạo đức cho

Như vậy, theo Giang Tuyền, chữ “Mặc” không phải là tên là dòng họ

mà nó là tên gọi một học thuật Qua thuật ngữ này chúng ta thấy được phần nào cái tinh thần của Mặc học, đó là thứ tinh thần đại diện cho nguyện vọng của tầng lớp nhân dân cần lao bị nô dịch chống lại chủ trương phục hưng chế

độ phong kiến, bênh vực quyền lợi quý tộc đề đòi về xã hội nguyên thủy sơ khai với mọi thứ đều là của công, mọi người phải làm lụng, ai làm nhiều ăn nhiều, ai làm ít ăn ít của thời vua Vũ nhà Hạ

1.1.2 Thân thế sự nghiệp của Mặc Tử

Mặc Tử là người sáng lập ra Mặc gia và ông đã được một học giả nhận xét “là một nhân vật kỳ dị nhất của Trung Hoa, kỳ dị từ tên gọi đến tư tưởng

Trang 11

và đời sống, kỳ dị đến nỗi gần đây người Trung Hoa ngờ rằng ông có dòng máu Ấn Độ hoặc Ả Rập chứ không thể là con cháu của Phục Hy và Thần Nông được” [21, tr.7] Lời nhận xét này dựa trên cơ sở nghiên cứu về Mặc

Tử, nghiên cứu này cho thấy họ Mặc là một họ cực kỳ hiếm hoi ở Trung Quốc

và đồng thời tư tưởng mà Mặc gia đề xuất rất mới lạ, khác biệt rất nhiều so với các luồng tư tưởng đang tồn tại trong xã hội thời bấy giờ

Về cuộc đời và sự nghiệp của Mặc Tử người ta có nhiều cách lý giải khác nhau Một số học giả căn cứ vào “Hán Thư”, “Nghệ Văn Chí” của Ban

Cố (32 - 95) cho rằng, Mặc Tử là người nước Tống, ở miền Đông, tỉnh Hà Nam và miền Tây tỉnh Sơn Đông bây giờ Một số khác như Tôn Di Nhượng (Đời Thanh) và Hồ Thích lại cho rằng ông là người nước Lỗ, cùng quê với Khổng Tử, quan điểm này dựa vào Hoài Nam Tử trong sách “Hoài Nam yếu lược” Lại có người cho rằng Mặc Tử là người nước Sở Để trả lời xem luận điểm nào là phù hợp thì trong sách “Mặc Tử”, chương “Công - Thâu” có chép: “thầy Mặc Tử ra về, qua nước Tống”; chương “Quý - Nghĩa” có chép:

“thầy Mặc Tử đi phương Nam, chơi ở nước Sở” Sách “Lã Thị Xuân Thu”, chương “Ái Loại” có chép: “Công Thâu Ban muốn đánh nước Tống cho nước

Sở, Mặc Tử biết chuyện đó, từ nước Lỗ ra đi” Gần đây viện hàn lâm khoa học Trung Quốc đã xác định có thể nói Mặc Tử là người nước Lỗ

Về vấn đề niên đại của Mặc Tử cũng là một vấn đề tốn khá nhiều giấy mực của các nhà nghiên cứu mà đến nay vẫn chưa ngã ngũ Theo Hồ Thích: Mặc Tử “sinh vào khoảng giữa những năm 20 và 30 đời Chu Kính Vương (Tức là từ năm 500 đến năm 490 trước công nguyên), chết vào khoảng giữa những năm nguyên niên và năm thứ 10 đời Chu Uy - Liệt Vương (Tức là những năm 425 đến năm 416 trước công nguyên) Mặc Tử ra đời vào khi Khổng Tử 50, 60 tuổi” [35, tr.167]

Theo công trình khảo cứu của Lương Hán Siêu thì: “Mặc sinh vào khoảng những năm 468 đến 459 trước công nguyên Đại thể vào khoảng hơn

Trang 12

10 năm sau khi Khổng Tử chết ( Khổng Tử chết năm 479 trước công nguyên) Mặc Tử chết vào khoảng đời Chu An Vương (Tức là vào khoảng những năm

390 đến 382 trước công nguyên) tức độ hơn 10 năm trước ngày sinh của Mạnh Tử (Mạnh Tử sinh năm 372 trước công nguyên)

Tiền Mục lại cho rằng, Mặc Tử sinh năm 479 trước công nguyên, chậm lắm cũng không ngoài 10 năm; chết năm 394, chậm lắm cũng không ngoài 10 năm Trương Quý Đồng lại cho rằng, Mặc Tử sinh năm 480 và chết năm 400 trước công nguyên

Mỗi luận thuyết trên đây cũng có những dẫn chứng riêng để chứng minh tính đúng đắn của mình Nhưng ở các luận thuyết ấy đều có một điểm chung đó

là cùng cho rằng Mặc Tử sinh vào khoảng giữa thời Khổng Tử và Mạnh Tử, nói một cách khác tức là vào khoảng giữa thời Xuân Thu - Chiến Quốc giao nhau Điều đó có căn cứ để biết được năm sinh, năm mất của Mặc Tử

Về tính giai cấp của Mặc Tử, thì trong các sách cổ chép rất ít về lúc sinh thời của ông, cho nên cũng có phần không tìm ra được rõ ràng Tư Mã Thiên cho rằng Mặc Tử làm đại phu nước Tống, Lương Khải Siêu lại cho rằng: “xem trong sách gốc, thì không có vết tích gì là Mặc Tử đã làm quan nước Tống” Thuyết này có thể đúng Sách “Trang Tử”, chương “Thiên hạ” cho rằng “Mặc Tử lấy việc giữ thân khổ hạnh là điều quan trọng nhất” Chuyện Mặc Tử không hề làm quan có lẽ đúng sự thật Chính Mặc Tử cũng thường nói: “không thi hành được đạo thì không hưởng lộc nhà vua; không nghe thấy điều nghĩa thì không ở với triều đình nhà vua” Khác với Trang Tử, Mặc Tử không chủ trương tuyệt đối không tham gia chính trị, mà lấy việc có thể hay không thể thực hành tư tưởng của mình làm điều kiện có hay không tham gia chính trị Tinh thần này của Mặc Tử khác rất nhiều so với giai cấp thống trị đương thời Chính “việc sang chơi nước Sở”, “đi sứ sang nước Vệ”,

“đi cứu nước Tống” là quá trình Mặc Tử tiến hành thực thi các chủ thuyết của mình Tư tưởng của ông khác hẳn với với tư tưởng của tầng lớp lãnh chúa

Trang 13

phong kiến và bọn địa chủ mới lên và dường như một phần nào đó nó phản ánh tình hình tư tưởng và yêu cầu của nông dân thời đó

Tuy nhiên có một điều chúng ta phải hiểu rõ đó là Mặc Tử có thể không phải xuất thân từ tầng lớp nông dân Mặc dù, thời kỳ này đã có những nông dân tự cày lấy ruộng của mình, họ cũng đã có cơ hội để học hành, nhưng chưa lấy việc học hành coi như là một việc làm thường xuyên Theo sách

“Hoài Nam Tử yếu lược” chép thì: “Hồi nhỏ Mặc Tử có học lấy nghiệp của nhà Nho, chịu nhận học thuật của Khổng Tử, nhưng lại cho rằng cái lễ của đạo Nho quá phiền nhiễu mà không vui lòng, việc tống táng phiền phức quá chỉ tốn của và làm nghèo dân, việc tang phục lâu quá chỉ kéo dài sự đau buồn của người sống và có hại cho công việc” Sách “Hoài Nam Tử yếu lược” tuy

có thể là do người đời Tây Hán làm ra, những lời trong ấy cũng không thể hoàn toàn căn cứ được Nhưng chúng ta đọc sách Mặc Tử thì lại thấy rõ ràng

là Mặc Tử có một công trình học tập và tu dưỡng rất sâu rộng và có một lập luận rất chặt chẽ Điều đó, tuy không thể tách rời đời sống thực tế mà có được, nhưng cũng không thể không đưa vào một công phu tu dưỡng lý luận Theo Lã Trấn Vũ việc xuất thân của Mặc Tử có thể dính líu với gia thế của tầng lớp địa chủ mới đã bị sa sút hoặc gia thế của một nhà đời trước là nông dân tự do đã chuyển thành một nhà sản xuất nhỏ độc lập, nhất là thuyết sau có

vẻ đúng hơn cho nên trong hệ thống tư tưởng của Mặc Tử có phản ánh đôi chút ý thức tư tưởng của bọn địa chủ mới Hồi đó bọn địa chủ mới mà bị sa sút thì rất có thể bị giáng xuống hàng nông dân Học thuyết của Mặc Tử có thể phản ánh một số những yêu cầu của nông dân có lẽ cũng vì thế

Mặc Tử rất giỏi biện luận, “tài biện luận này là một trong những nguyên nhân làm cho học trò của ông rất đông Tuy họ thuộc hạ tầng xã hội nhưng họ có tổ chức rất chặt chẽ” [19, tr.446] Mặc Tử đã đào tạo được một đội ngũ học trò có đức hạnh và lòng quả cảm cao độ Sách “Hoài Nam Tử” chép rằng: “Mặc Tử có một trăm tám mươi người phục dịch, đều có thể khiến

Trang 14

nhảy vào lửa, đạp chân lên lưỡi dao, chết mà không quay gót” Chính từ tư tưởng và hành động nghĩa hiệp cao cả của Mặc Tử, nên người công kích Mặc gia nhiều nhất như Mạnh Tử cũng phải thốt lên rằng: “họ Mặc kiêm ái đến mòn trán lỏng gót, cái gì lợi cho thiên hạ thì làm” [5, tr.86] Trong cuộc đời của mình Mặc Tử đã dắt học trò của mình bôn ba nhiều nước Ông đã từng ở Tống, Vệ, Sở, Tề và cũng đã tiếp kiến với vua các nước này Ông cũng đã đề

cử rất nhiều học trò ra làm quan để cùng ông thực thi học thuyết của mình mà một trong những nội dung của nó là chống chiến tranh xâm lược Điều này làm cho cuộc đời của Mặc Tử là cuộc đời của con người lo việc cho thiên hạ

Hễ nghe nói một nước nào chuẩn bị tấn công nước khác thì dù xa xôi tới đâu ông cũng gấp rút đi tới khuyên ngăn Có lần ông đã đi suốt mười ngày đêm không nghỉ để từ Lỗ tới Sở khi biết tin Sở chuẩn bị đánh Tống; đi đến nỗi quần rách, giày lòi cả chân ra ngoài mà vẫn cố đi cho kịp Tương truyền rằng Công Thâu Ban chế giúp nước Sở một cái thang máy để đánh thành đã xong định đem đi đánh nước Tống Trước mặt vua Tống, Mặc Tử cùng Công Thâu Ban biểu diễn khí giới công thủ của đôi bên Mặc Tử cởi thắt lưng đánh thành, lấy đũa nhỏ làm khí giới Công Thâu Ban chín lần đặt máy phá thành, Mặc Tử chín lần đều cự được Máy phá thành Công Thấu Ban đã dùng hết, sức giữ thành của Mặc Tử còn thừa Công Thâu Ban bèn nói: “Ta biết cách đánh ngươi Ta không nói” Mặc Tử cũng nói: “Ta biết cách ngươi đánh làm sao Ta không nói” Vua Sở nghe xong câu nói này, hiểu hết ý nghĩa của nó bèn từ bỏ ý định đánh Tống Sau đó, Công Thâu Ban cũng bị tài trí của Mặc

Tử thuyết phục mà thốt lên rằng: “Khi tôi chưa được tiếp ông, tôi muốn chiếm nước Tống Sau khi gặp ông thì dù có người mang nước Tống đến tặng tôi mà

có ẩn một chút gì bất nghĩa tôi cũng không thèm” [5, tr.85] Mặc Tử cũng đáp lại: “Nói như thế, dường như là tôi đã mang cả nước Tống mà tặng cho ông rồi vậy Nếu như ông cố gắng thi hành điều nghĩa, tôi sẽ mang cả thiên hạ mà

Trang 15

giữa hai nước trong thế giới hiện tại Ngày nay, nếu có chiến tranh thì trước tiên hai nước đem vũ khí ra đối chọi với nhau, bên nào có thực lực hơn sẽ được phân định rõ ràng không cần sự đổ máu

Với lòng bác ái vị tha, Mặc Tử đã bôn ba giữa các nước, khẩn thiết kêu gọi “kiêm ái phi công” Nhưng vì chủ trương “kiêm ái phi công” của ông nghịch lại với chính sách “Binh nông” (nuôi quân ở dân) của vua chúa các nước đương thời, cho nên đã gặp nhiều trở ngại, khó thực hiện được Chẳng hạn khi Mặc Tử sang nước Sở, dâng tác phẩm của mình cho Sở Huệ Vương Vua Sở tuy khen sách viết rất hay, nhưng chẳng thực hành theo lời khuyên của Mặc Tử mà chỉ ngỏ ý “vinh dưỡng hiền nhân” (trọng đãi kẻ hiền sĩ) Thấy vậy, Mặc Tử liền tạ từ rằng: “Địch văn hiền nhân tiến, đạo bất hành, bất thụ

kỳ thưởng; nghĩa bất thính, bất xử kỳ triều, khất kim thư vị dụng, thỉnh toại hành dĩ” (nghĩa là: Địch này nghe nói, khi hiền sĩ đã đem lời tiến dâng mà đạo chẳng hành, thì nào dám nhận phần thưởng; khi nghĩa chẳng được nghe theo, thì không thể cộng sự tại triều đình, mãi đến nay, sách của tôi chưa được áp dụng, thì xin lui thôi)

Khổng Tử cùng Mạnh Tử, trước sau đều có dẫn nhóm học trò đi chu du liệt quốc, nghiễm nhiên thành một tập đoàn sĩ nhân, dựa vào lớp người quyền thế trên thượng tầng xã hội, để hoạt động chính trị, không làm cũng có ăn Trái lại, Mặc Tử cùng môn đệ nhà Mặc, vẫn sống tự túc với nghề lao động thợ thuyền, bằng tinh thần khắc khổ, trong khi phải đi tuyên truyền, vận động thuyết “kiêm ái phi công” Cho nên Mặc Tử rất ác cảm với hàng Nho sĩ Có lần Mặc Tử đến nước Vệ, mục kích người Vệ sống theo lối xa sỉ, rất cảm khái

mà nói với quan Đại phu nước Vệ rằng: “Vệ là một nước nhỏ, lại nằm giữa hai nước lớn Tề và Tấn, chẳng khác nào nhà nghèo sống trong xóm nhà giàu, rồi học theo thói xa hoa, ngoài khả năng của mình, thì tránh sao cho khỏi sẽ mất nước sớm”

Trang 16

Biết rằng vua quan các nước đều vì quyền lợi riêng tư, chẳng ai chịu thi hành chính sách “phi công” của mình nên Mặc Tử và những tín đồ theo Mặc học, tự tổ chức lấy đoàn thể xã hội để tuyên truyền giáo lý của mình Những lời khuyên ngăn và truyền giáo của Mặc Tử có khi được chấp nhận nhưng nhiều khi bị người đời bỏ ngoài tai, nhưng chưa bao giờ Mặc Tử tỏ ý chán nản hay nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi, mà ông bôn ba thực hiện ý tưởng của mình cho đến khi chết Thật khó có thể tưởng tượng nỗi thời đại đó lại có một người chịu khổ như thế vì thiên hạ Ngay cả người Trung Quốc cũng phải kêu lên rằng: “Thử hỏi trong lịch sử Trung Hoa còn có người thứ hai nào ma đỉnh phỏng chủng lợi thiên hạ vi chi như Mặc Tử nữa hay không?” [35, tr.306]

Bàn tới Mặc Tử và các học trò của ông, chúng ta nhận thấy rằng họ khác với những người du hiệp trong xã hội thời ấy (Du hiệp: là những chuyên gia về việc binh nhưng bị mất địa vị chức tước để phân tán trong dân gian và mưu sinh bằng cách giúp việc cho những ai có điều kiện dùng đến họ) Ở hai điểm sau: trước hết, nếu các du hiệp thường đều sẵn sàng nhận bất kỳ cuộc chiến đấu nào, miễn là họ được trả công, họ được các vua chư hầu trọng dụng, thì trái lại, Mặc Tử và các môn nhân đều triệt để chống lại các cuộc chiến tranh xâm lăng và do đó họ chỉ chịu đánh nhau trong trường hợp phòng vệ chính đáng Điều thứ hai là, nếu bọn du hiệp thường chỉ biết có luật lệ luân lý của nghề họ, thì Mặc Tử cố đào sâu luân lý ấy và cố biện giải cho luân lý ấy Cho nên, mặc dầu cơ sở khởi phát của Mặc Tử là cơ sở của du hiệp, nhưng Mặc Tử đã trở thành người sáng lập một học phái triết học mới Phái Mặc học

có tổ chức hết sức chặt chẽ, dưới sự chỉ huy của người đứng đầu gọi là “cự tử” Đoàn thể Mặc giả do Mặc Tử lãnh đạo lúc đó, được chứng minh là hội đủ các điều kiện sau:

- Đang lúc Mặc Tử là “cự tử”, chỉ trong một thời gian ngắn, đã động viên được 300 tín đồ, sang giúp Tống, sẵn sàng chống quân Sở

Trang 17

- Sau ngày Mặc Tử mất, “cự tử” kế nhiệm là Mạnh Thắng, cũng đã từng chỉ huy một nhóm tín đồ, giúp Dương Thành Quân bảo vệ phong ấp, trong một trận kịch liệt đã hi sinh đến 183 người

- Cao Thạch Tử là môn sinh của Mặc Tử, làm quan tại nước Vệ, hưởng lộc rất hậu, nhưng vì chính kiến nêu ra không được vua Vệ chấp nhận nên từ quan trở về với đời sống cơ hàn

- Mặc Tử từng cử học trò là Thắng Trác, làm việc dưới quyền của Hạn

Tử Ngưu Sau đó vì Ngưu đã ba lần xuất quân đánh Lỗ, Thắng Trác đều tham

dự, đó là hành động trái ngược với chủ trương “kiêm ái phi công”, nên bị Mặc

Tử đuổi ra khỏi hội đoàn Mặc giả

Tính kiên định đối với những tín điều của mình, tính kỷ luật nghiêm khắc đối với đoàn thể, tinh thần thực thế khắc khổ bản thân, không tiếc hi sinh thân mình, tất cả cho đấu tranh cách mạng, về sau đều vẫn được lưu truyền mãi trong dòng máu nông dân Trung Quốc và dân tộc Trung Hoa, đó là truyền thống tốt đẹp của dân tộc Trung Hoa

Về vấn đề trước tác của Mặc Tử: về tập sách “Mặc Tử”, xưa nay tranh luận đã nhiều Có người cho rằng những phần “Kinh thượng, hạ”; “Kinh thuyết thượng, hạ”; “Đại Tiểu Thủ” là không phải của Mặc Tử, phần còn lại

do chính tay Mặc Tử viết Có người cho rằng những phần sáu chương “Kinh thượng, hạ”; “Kinh thuyết thượng, hạ”; “Đại Tiểu Thủ” đều là “Kinh Mặc Tử”, phần còn lại là những “Lời bàn về Mặc Tử” Lại có người cho rằng kể từ chương “Thân sĩ” trở xuống bảy chương là do người đời sau viết thêm vào Hai chương “Thân sĩ”, “Tu thân” thì văn chương bay bướm gần như văn Tuân

Tử, đều là lời lẽ của các nhà Nho Năm chương: “Sở nhiễm”, “Pháp nghi”,

“Thất hoạn”, “Từ quá”, “Tam biện” đều là do người sau học “Mặc Tử” mà viết ra: chương “Sở nhiễm” thì lấy tinh thần của chương “Thượng hiền”; chương “Pháp nghi” thì lấy tinh thần của chương “Thiên chí”, “Thượng đồng”; hai chương “Thất hoạn”, “Từ quá” thì lấy tinh thần ở chương “Tiết

Trang 18

dụng”, “Tiết táng”; chương “Tam biện” thì lấy tinh thần ở chương “Phi nhạc” Cũng có người cho rằng chương “Sở nhiễm” là do những người bỏ đạo Mặc

về với đạo Nho làm ra Gần đây lại có người cho rằng chương “Thiên chí” cũng không phải là ý tứ của Mặc Tử Tất cả những điều đó đều không phải xuất phát từ một lập trường khoa học nghiêm chỉnh, từ một ý thức giai cấp đã biểu hiện qua tài liệu nhận định, và chỉ là biện luận trên hình thức cấu tạo của văn, cho nên trước sau họ vẫn không thể có được một kết cấu rõ rệt nào Các chương trong tập sách “Mặc Tử” ngày nay có thể biểu hiện là một dòng phái triết học đồng nhất, đồng thời biểu hiện thành một hình thái ý thức giai cấp xã hội đồng nhất Tuy nhiên các chương trong tập sách “Mặc Tử” không phải do một tay Mặc Tử viết ra, đó là sự thực Tác phẩm ấy, một mặt có chỗ có thể do học trò của Mặc Tử ghi chép lại và cũng có thể toàn trước tác của Mặc Tử đều

do sự ghi chép như vậy tập hợp Về phần này cũng có thể là do những người đời sau theo phái Mặc Tử sưu tầm lại Một mặt có thể do phái Mặc học đời sau biên tập vào, bởi vì giữa tác phẩm, những câu văn ở các chương không những có cách viết, lối hành văn khác nhau mà còn có sự khác nhau về phần ý thức giai cấp xã hội, thấy rõ sự khác nhau về thời gian Song về điểm này đối với chúng ta không quan trọng lắm, vì chúng ta nghiên cứu học thuyết của Mặc Tử như là một hình thái ý thức giai cấp của thời đó

Theo tác phẩm “Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc” do PGS TS Doãn Chính chủ biên thì các nhà nghiên cứu cho rằng cuốn “Mặc Tử” gồm 53 thiên Đây là cuốn sách ghi lại những lời dạy và trước tác của Mặc Địch cũng như của các học trò ông Trong đó, các thiên như “Thiên chí” (ba thiên),

“Minh quỷ” (một thiên), “Thượng đồng” (ba thiên), “Thượng hiền” (ba thiên),

“Kiêm ái” (ba thiên), “Phi nho” (một thiên), “Phi công” (ba thiên), “Phi nhạc” (một thiên), “Phi mệnh” (ba thiên), “Tiết táng” (một thiên), “Tiết dụng” (hai thiên) đều là những thiên diễn đạt chính tư tưởng của Mặc Tử Năm thiên khác như “Canh quế”, “Quý nghĩa”, “Công mệnh”, “Lỗ vấn”, “Công Thâu

Trang 19

Ban” là do những người của phái Mặc gia ghi lại những lời nói và hành động của Mặc Tử mà làm ra Các thiên “Kinh thượng và hạ”, “Kinh thuyết thượng

và hạ”, “Đại thủ”, “Tiểu thủ” với nội dung lý luận học và lôgic học đặc sắc là của hậu Mặc còn các thiên khác không quan trọng lắm và đều do người đời sau thêm vào

Với những tư tưởng trong học thuyết của Mặc Tử nhiều nhà nghiên cứu lịch sử tư tưởng Trung Quốc đã so sánh học thuyết của ông với tư tưởng từ bi, bác ái của Phật giáo và Kitô giáo Thậm chí với học thuyết “kiêm ái” và chủ nghĩa công lợi, người ta còn cho rằng Mặc Tử là người đầu tiên có ý tưởng về thế giới đại đồng Cùng với Nho gia và Đạo gia, học thuyết của Mặc Tử đã thịnh hành và ảnh hưởng một thời ở Trung Quốc

Khi nghiên cứu thân thế, sự nghiệp của Mặc Tử chúng ta không thể bỏ qua việc tìm hiểu thế giới quan của ông Vì đó là cơ sở nền tảng để xây dựng lên toàn bộ hệ thống triết học Mặc gia

Thế giới quan của Mặc Tử cơ bản là duy tâm và hữu thần Trong quan điểm về thế giới, cả ông và Khổng Tử đều tin có một lực lượng với quyền năng tối cao chi phối vũ trụ vạn vật, đó là Trời Theo Khổng Tử “đạo trời”,

“thiên lý” là lẽ tự nhiên, lưu hành khắp vũ trụ, định phép sống cho vạn vật như là sức mạnh tuyệt đối Con người là kết tinh của trời đất nên luôn chịu sự chi phối của “đạo trời” không ai cưỡng lại được Vì vậy, Khổng Tử cho rằng con người ta phải biết mệnh, sợ mệnh, thuận mệnh và đợi mệnh Mặc Tử đã bài bác lại học thuyết “thiên mệnh” đó của Khổng Tử Nhưng ông lại đưa ra một thế giới quan mang tính chất tôn giáo, thần bí, coi ý chí của trời là nguyên tắc tối cao của hành vi con người, đồng thời cho rằng sự biến hóa của hiện tượng tự nhiên cũng bị ý chí của trời chi phối Trời tạo ra muôn vật, nuôi dưỡng muôn loài Trời xoay vần bốn mùa, sinh ra các tiết, tạo ra hoa lá cỏ cây, động vật và con người Trời là một đấng linh thiêng tối cao có ý chí, có nhân cách, quyền uy như gia trưởng trong nhà, như quốc quân một nước Do

Trang 20

vây, ý chí của trời là khuôn phép cho tất cả mọi người noi theo, là phép tắc cho

kẻ thống trị thực hiện việc chính trị của mình Không những thế, ý chí của trời còn là nguyên tắc, chuẩn mực để nhận biết mọi sự đúng sai, thiện ác, tốt xấu của con người và thể chế xã hội Nếu thuận theo ý trời, làm điều thiện, điều tốt

sẽ được trời khen thưởng Ngược lại, nếu làm sai ý trời gây ra điều ác sẽ bị trời trừng phạt Bởi vậy, trời mới khiến cho sang thì làm đến thiên tử, giàu thì có cả thiên hạ, cơ nghiệp để lại cho con cháu muôn đời Ông cho rằng “ý trời quy định là muốn người ta cùng thương yêu nhau, làm lợi cho nhau mà chẳng muốn người ta cùng ghét nhau, làm hại nhau” và trời đem cái ý muốn ấy giao cho thánh nhân trị thiên hạ, đặt tên là “thượng đồng” (trên dưới đồng lòng) Tin vào trời, coi trời có ý chí và là vị chúa tể tối cao trong vũ trụ, nên Mặc Tử cũng tin

có quỷ thần Quỷ thần cũng là một thế lực đầy quyền uy, linh thiêng, công minh chính trực, luôn giám sát mọi việc làm của con người Ông nhân cách hóa quỷ thần, quỷ thần “có thể thưởng kẻ hiền mà phạt kẻ dữ” Đây là cơ sở cho thuyết “kiêm ái” (thương yêu lẫn nhau) của ông Mặc Tử cũng cho rằng, mọi người đều có quyền lợi như nhau đối với việc thờ cúng quỷ thần, bình đẳng trước quyền lợi về tín ngưỡng tôn giáo, đó là sự phản ánh nhu cầu đòi quyền bình đẳng xã hội của giai tầng mà ông đại biểu

Tuy Mặc Tử sùng bái trời và quỷ thần, nhưng ông lại chống lại thuyết định mệnh Ông cho rằng, mọi thành bại, họa phúc của con người đều là kết quả do hành vi của con người gây nên, là tại sức người chưa đủ, lực người chưa mạnh, tuyệt nhiên không phải là do số mệnh như Nho gia quan niệm Theo ông, nếu con người ta cố gắng hết sức làm những điều ích lợi cho người khác thì có thể làm cho đời sống của mình được đầy đủ, ấm no, ngược lại nếu không ra sức làm việc sẽ bị nghèo đói Đây là một bước tiến bộ trong triết học của Mặc Tử, nó đề cao sự nỗ lực của con người trong đời sống nhưng khi đem nguyện vọng thoát khỏi nghèo khổ của muôn dân gửi gắm vào ý chí của trời và quỷ thần, dùng quyền uy của trời và quỷ thần tác động đến bọn thống

Trang 21

trị trên mặt đất, cải thiện đời sống nhân dân, thì ông đã rơi vào vũng bùn lầy của chủ nghĩa ảo tưởng, duy tâm tôn giáo thần bí Đó là một bước lùi trong tư tưởng triết học của ông Có thể nói, dưới một hình thức khác, thuận ý trời của Mặc Tử cũng là mục đích luận vậy

Cùng với Nho gia và Đạo gia, học thuyết của Mặc Tử đã thịnh hành và ảnh hưởng một thời ở Trung Quốc Vào thời Chiến quốc Mặc gia nổi tiếng ngang hàng với Nho gia Tuy nhiên giữa hai người sáng lập hai học phái này

là Mặc Tử và Khổng Tử luôn luôn tồn tại sự đối lập không chỉ về tư tưởng, chủ trương, phương pháp mà còn đối lập nhau cả về nền tảng giai cấp xã hội Khổng Tử đề cao “thiên mệnh” ưa chuộng những chế độ cổ truyền như thi, thư, lễ, nhạc Ông chủ trương giáo hóa con người bằng các quy tắc đạo đức cơ bản như nhân, nghĩa, lễ, trí, tín và theo những nghi lễ tôn giáo của chế độ phụ quyền Thì ngược lại, Mặc Tử lại đưa ra chủ trương “phi nhạc”, “tiết dụng”,

“tiết táng” nhằm chống lại những nghi lễ rườm rà, sự xa hoa không có lợi cho dân, cho nước của Nho gia, không tin vào mệnh trời Nếu Khổng Tử chủ trương không đánh đuổi kẻ bại binh, không bắn kẻ trốn chạy, chấp nhận có chiến tranh Mặc Tử lại chủ trương “phi công”, phản đối chiến tranh và vẫn giết những kẻ bạo loạn trừ hại cho thiên hạ Nếu Khổng Tử chủ trương không

ở địa vị chính quyền thì không được mưu tính việc chính trị, không được bàn tính chuyện gì về quốc gia đại sự, phải trung thành với vua tuyệt đối Mặc Tử thì cho rằng không kể người ở tầng lớp nào trong xã hội, nếu có tài thì đều được bàn chính sự, khi phụng sự nhà vua phải hết sức trung thành nhưng nếu vua có sai lầm thì có thể đứng ra can gián

Về phương pháp, nếu Nho gia chỉ nói “là thế” thì Mặc Tử muốn biết

“tại sao?” Nho gia chỉ muốn nêu lên một cái mẫu lý tưởng thật cao làm tấm gương cho đời, thì Mặc Tử bất cứ việc gì cũng đều hỏi “để làm gì?”, phải có công dụng nhất định Bởi vậy, khi bàn về lợi ích của thuyết “kiêm ái”, Mặc

Trang 22

Tử đã khẳng khái nói: “Dùng mà không được, đến như ta đây cũng bị công kích Và khi nào lại có cái phải mà không dùng được?” [5, tr.88]

Sự khác nhau giữa Khổng Tử và Mặc Tử thực chất là sự khác nhau về địa vị, lợi ích giai cấp xã hội quy định Nếu như Khổng Tử là nhà quý tộc và các nhà Nho thường xuất thân từ tầng lớp trên của xã hội, thì Mặc Tử vốn xuất thân từ kỹ nghệ tinh thông hay bậc du hiệp, đại biểu cho lợi ích của tầng lớp tiểu tư hữu, phu dịch, võ sĩ lớp dưới của xã hội, nên ít nhiều gần gũi với quần chúng lao động Chính vì vậy, các quan điểm và chuẩn mực đạo đức cảu Nho gia đã trở thành đối tượng phê phán mạnh mẽ của Mặc Địch

Cần nói thêm rằng, thời Mặc Tử sống, Lão giáo cũng phát triển rất mạnh Do vậy quan điểm của Mặc Tử không chỉ đối lập với Nho gia mà còn đối lập với tư tưởng tự nhiên chủ nghĩa, “vô vi” phóng túng của Đạo gia Nếu Lão Tử nói “Trời đất bất nhân, coi vạn vật như loài chó rơm”, thì Mặc Tử cho rằng: “Trời yêu cả thiên hạ, làm lợi cho cả muôn vật tỉ mỉ như cái múp sợi lông” [5, tr.88] Nếu Dương Chu chủ trương “trọng kỷ, quý sinh, vị ngã”, thì Mặc Tử đối lại là “kiêm ái”, “thượng đồng”, “thượng hiền”

Mạnh Tử từng phê phán rất nghiêm khắc, cả Dương Chu lẫn Mặc Địch rằng: “Dương Chu, Mặc Địch chi ngôn dinh thiên hạ… Dương thị vị ngã, thị

vô quân giã; Mặc thị kiêm ái, thị vô phụ giã; vô quân vô phụ, thị cầm thú giã” (dịch là: nay thuyết của Dương Chu cùng với Mặc Địch lan tràn khắp thiên hạ… Họ Dương chủ trương vị kỷ, ấy là không có chúa; họ Mặc chủ trương kiêm ái, đó là không có cha; kẻ không chúa không cha, là loài cầm thú vậy) Tuân Tử cũng có lời phê phán tương tự, cho rằng thuyết của Mặc Tử làm đảo lộn luân thường, mà thoáng nghe như là có lý, rất dễ mê hoặc người đời Tuân

Tử vốn chủ trương “túc dục”, cho nên chê Mặc Tử khuyên người ta thắt lưng buộc bụng, chỉ làm cho người đời sống trong cảnh nghèo khó và buồn tẻ thôi Cũng vì vậy mà Mặc học đã đi vào mạt vận từ thời Tây Hán Tuy nhiên, tinh thần nghĩa hiệp của những người theo Mặc học, đã bén rễ ăn sâu vào hạ tầng

Trang 23

xã hội và tiếp tục phát huy Tinh thần nghĩa hiệp đó là thái độ công bằng, lập trường ngay thẳng, hết lòng bênh vực cho tầng lớp bình dân và giữ gìn chính nghĩa cho xã hội, bằng lời nói và hành động hào hiệp, coi thường tính mạng vì hai chữ “chính nghĩa” Tinh thần nghĩa hiệp ấy được kết hợp với ý thức dân tộc, đã phát huy công dụng về mặt chính trị xã hội lớn lao, như “hội Bạch Liên” đã trỗi dậy vào cuối thời nhà Nguyên Mông Cổ, cũng như Thanh Bang

và Hồng Bang hoạt động mạnh mẽ vào cuối thời nhà Minh Truy nguyên ra, những tổ chức đó đều bắt nguồn từ tinh thần nghĩa hiệp của tập đoàn dân sự,

mà Mặc Tử là người sáng lập đầu tiên

Tư tưởng trung tâm của Mặc Tử - “kiêm ái” sẽ là công cụ hữu hiệu nhất

để chống lại đạo đức Nho gia Vậy tư tưởng này ra đời như thế nào?

1.2 Hoàn cảnh ra đời của học thuyết “Kiêm ái”

* Về kinh tế - xã hội

Tư tưởng triết học Trung Quốc cổ đại phát triển rực rở nhất là lúc xã hội Trung Quốc bước vào thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc, thời kỳ tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ và chế độ phong kiến sơ kỳ đang lên

Chế độ chiếm hữu nô lệ ở Trung Quốc đã tồn tại và phát triển từ triều đại nhà Hạ, qua nhà Thương, đến cuối thời Tây Chu thì bắt đầu bước vào giai đoạn khủng hoảng và ngày càng đi tới suy tàn Xã hội Trung Quốc trải qua một thời kỳ giao thời, từ chế độ tông tộc chuyển sang chế độ gia trưởng, giá trị tư tưởng, đạo đức của xã hội cũ bị băng hoại, nhưng giá trị tư tưởng, đạo đức mới còn manh nha và đang trên con đường xác lập Sự biến đổi toàn diện

về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa thời kỳ này đã tạo ra tiền đề giải phóng

tư tưởng con người thoát khỏi sự chi phối của thế giới quan thần thoại, tôn giáo, thần bí truyền thống, ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình phát triển của tư tưởng triết học

Thời Tây Chu, khi nhà Chu còn thịnh, chế độ tông pháp và trật tự lễ nghi nhà Chu còn được duy trì Từ thời Chu Lệ Vương đến Chu U Vương,

Trang 24

mâu thuẫn nội bộ nhà Chu ngày càng trở nên gay gắt Hơn nữa, do phải thường xuyên tiến hành các cuộc chiến tranh đàn áp sự nổi dậy của chư hầu

và chống lại sự xâm lăng của các bộ lạc khác, thêm vào đó là hạn hán liên tiếp xảy ra, nạn đói lan tràn làm cho nhà Chu nhanh chóng suy vong Vị trí, quyền lợi của các tầng lớp, giai cấp trong xã hội bị đảo lộn

Năm 771 trước công nguyên Chu Bình Vương lên ngôi đưa xã hội Trung Quốc bước vào thời kỳ đặc biệt, đó là thời kỳ Xuân Thu Ở thời kỳ này, nền kinh tế Trung Quốc đang chuyển từ thời đại đồ đồng sang thời đại đồ sắt Việc dùng bò kéo cày đã trở thành phổ biến Phát minh mới về kỹ thuật khai thác và sử dụng đồ sắt đã đem lại những tiến bộ mới trong việc cải tiến công

cụ và kỹ thuật sản xuất nông nghiệp Thời kỳ này hệ thống thủy lợi đã trải khắp khu vực Trường Giang Diện tích đất đai canh tác nhờ đó mà được mở rộng Kỹ thuật trồng trọt cũng được cải tiến tạo điều kiện tăng năng suất trong lao động nông nghiệp Từ đó người ta thấy không cần thiết phải chia lại ruộng đất công theo định kỳ căn cứ vào đất tốt đất xấu như trước kia nữa Giờ đây công xã giao hẳn đất công cho từng hộ gia đình nông nô cày cấy trong thời hạn lâu dài Vì vậy, nông dân có thể dùng phương pháp lưu canh hay luân canh để tăng năng suất cây trồng Mặt khác, nhờ công cụ sản xuất bằng sắt phát triển và thủy lợi mở mang, ruộng đất do nông nô vỡ hoang biến thành ruộng tư ngày một nhiều Bọn quý tộc có quyền thế cũng chiếm dần ruộng của công xã làm ruộng tư Chế độ “tỉnh điền”dần tan rã Sau đó chế độ tư hữu ruộng đất còn được pháp luật nhà nước thừa nhận và bảo vệ Khi chế độ tư hữu ruộng đất phát triển, số lượng ruộng đất của nông dân sở hữu không bằng nhau, nhà nước đã bỏ hình thức thu thuế cũ mà thi hành chế độ thu thuế đánh vào từng mẫu ruộng (gọi là thuế sơ mẫu) và cùng với nó thi hành chế độ quân

sự mới

Do đồ sắt phát triển cùng với việc mở rộng quan hệ trao đổi sản phẩm lao động, sự phân công trong sản xuất thủ công nghiệp cũng đã đạt tới mức

Trang 25

chuyên nghiệp cao hơn, thúc đẩy một loạt các ngành nghề thủ công nghiệp phát triển, như nghề luyện kim, nghề rèn, nghề đúc v.v… Thương nghiệp lúc này cũng đã phát triển hơn trước Tiền tệ đã xuất hiện Trong xã hội đã hình thành một tầng lớp thương nhân giàu có và ngày càng có thế lực gây nhiều ảnh hưởng đối với chính trị đương thời Chính việc xuất hiện tầng lớp này đã tạo ra sự thay đổi trong cơ cấu giai cấp xã hội Từ tầng lớp này dần dần xuất hiện một loại quý tộc mới với thế lực ngày càng mạnh, tìm cách leo lên tranh giành quyền lực với tầng lớp quý tộc cũ

* Về chính trị

Nếu như thời Tây Chu chế độ tông pháp, “phong hầu kiến địa” vừa có

ý nghĩa ràng buộc về kinh tế, vừa có ý nghĩa về chính trị, ràng buộc về huyết thống, có tác dụng tích cực làm cho nhà Chu giữ được một thời gian dài hưng thịnh thì đến thời Xuân Thu, chế độ tông pháp nhà Chu không còn được tôn trọng, đầu mối các quan hệ về kinh tế, chính trị, quân sự giữa thiên tử và các nước chư hầu ngày càng lỏng lẻo, huyết thống ngày càng xa, trật tự lễ nghĩa nhà Chu không còn được tôn trọng như trước Thiên tử nhà Chu hầu như không còn quyền uy gì với các nước chư hầu

Thời Xuân Thu các lãnh chúa tăng cường bóc lột nhân dân lao động Người dân ngoài việc phải đi chiến trận thực hiện các cuộc chinh phạt của các tập đoàn quý tộc còn phải chịu sưu thuế, phu phen, lao dịch nặng nề Thiên tai thường xuyên xảy ra, nạn trộm cướp nổi lên khắp nơi làm cho đời sống nhân dân ngày càng thêm khốn khổ Dân lưu vong khắp nơi, ruộng đồng thì bị bỏ hoang nhiều nơi

Việc các nước gây chiến tranh thôn tính lẫn nhau cũng như các lãnh chúa bóc lột tàn khốc dân chúng không chỉ dẫn tới sự diệt vong của hàng loạt các nước chư hầu nhỏ mà còn phá hoại lễ nghĩa nhà Chu, phá hoại trật tự triều hội, triều cống, chinh phạt giữa các nước làm cho mâu thuẫn xã hội ngày càng

Trang 26

gay gắt và sự rối loạn trong xã hội ngày càng tăng Có thể tóm tắt mấy mâu thuẫn chính nổi lên trong thời kỳ này là:

- Mâu thuẫn giữa tầng lớp mới lên có tư hữu tài sản, có địa vị kinh tế trong xã hội mà không được tham gia chính quyền với giai cấp quý tộc thị tộc

cũ của nhà Chu đang nắm chính quyền

- Mâu thuẫn giữa tầng lớp sản xuất nhỏ, thợ thủ công, thương nhân với giai cấp quý tộc thị tộc nhà Chu

- Trong bản thân giai cấp quý tộc thị tộc Chu có một bộ phận tách ra, chuyển hóa lên thành giai tầng mới, một mặt họ muốn bảo lưu nhà Chu, một mặt họ cũng không hài lòng với trật tự cũ của nó Họ muốn cải tiến nó bằng con đường cải lương, cải cách

- Tầng lớp tiểu quý tộc thị tộc, một mặt họ đang bị tầng lớp mới lên tấn công về chính trị và kinh tế, mặt khác họ cũng có mâu thuẫn với tầng lớp đại quý tộc thị tộc đang nắm chính quyền

- Mâu thuẫn nông dân công xã thuộc các tộc bị người Chu nô dịch với nhà Chu và tầng lớp mới lên đang ra sức bóc lột, tận dụng sức lao động của họ

Đó là những mâu thuẫn của thời kỳ lịch sử đang đòi hỏi giải thể chế độ

nô lệ thị tộc, tiến vào xã hội phong kiến, đòi hỏi giải thể nhà nước của chế độ gia trưởng, xây dựng nhà nước của giai cấp quốc dân, giải phóng lực lượng sản xuất, mở đường cho xã hội phát triển

Xã hội đang có những bước chuyển mình dữ dội, kinh tế phát triển, tầng lớp dân tự do xuất hiện, đặc biệt là sự ra đời của các thành thị tự do phồn vinh và thành quả đạt được trên lĩnh vực khoa học tự nhiên là nguồn động lực quan trọng cho sự phát triển có tính chất đột biến của tư tưởng thời kỳ này Trong nước xuất hiện những trung tâm, những tụ điểm mà ở đó “kẻ sĩ bàn ngang” hay “bàn việc nước” Nhìn chung, họ đều đứng trên lập trường giai cấp mình, tầng lớp mình mà phê phán trật tự xã hội cũ, xây dựng xã hội tương lai và tranh luận, phê phán, đả kích lẫn nhau Lịch sử gọi thời kỳ này là thời

Trang 27

kỳ “bách gia chư tử” (trăm nhà trăm thầy), “bách gia tranh minh” (trăm nhà đua tiếng)

Chính trong quá trình “tranh minh” đó đã cho ra đời những nhà tư tưởng vĩ đại, hình thành nên những hệ thống triết học khá hoàn chỉnh, mở đầu cho lịch sử tư tưởng Trung Quốc có ngôn ngữ và ý nghĩa chặt chẽ

Học thuyết triết học “kiêm ái” của Mặc Tử đã ra đời trong hoàn cảnh

đó, nó phản ánh một phần những tư tưởng, những tình cảnh và những yêu cầu của tầng lớp nông dân bị bóc lột, thống trị nặng nề trong xã hội

* Phân biệt hai khái niệm “kiêm” và “biệt” trong quan điểm của Mặc Tử

Trong sách “Mặc Tử” có ba thiên bàn về “kiêm ái” (kiêm ái thượng, trung, hạ) Trung tâm giáo lý của Mặc Tử chính là ở điểm thực hành tương ái, công lợi Kể từ Mạnh Tử cao tiếng phê bình và công kích Mặc Địch với kết luận: “Mặc Tử kiêm ái mòn trán lỏng gót, cái gì lợi cho thiên hạ thì làm” Câu nói tuy để công kích mà thật ra đã hóa thành câu tán dương Người về sau khi nhắc tới Mặc Tử là nhắc tới học thuyết “kiêm ái” của ông

Theo Mặc Tử những kẻ chia rẽ nhau, làm thiệt hại cho nhau thuộc phái

“biệt” “Biệt” là bậy Đã là bậy thì phải có cái thay vào Nếu chê mà không thay thì cũng như lấy nước cứu nước, lấy lửa cứu lửa mà thôi Cái thay “biệt”

là “kiêm” “Kiêm” bao gồm những kẻ yêu thương nhau, “kiêm” là tốt

Ngô Tất Tố giải thích: “kiêm” tức là gồm, trái lại với “biệt” là rẽ “Ái” tức là yêu, trái lại với “ố” là ghét, chỉ về tấm lòng thương mến lẫn nhau của loài người “Kiêm ái” là yêu hết mọi người

Để so sánh và xác minh ý nghĩa của “kiêm” khác với “biệt”, Mặc Tử có

ví dụ sau: “Có hai kẻ sĩ, một kẻ chuyên giữ thuyết “biệt”, một kẻ chuyên giữ thuyết “kiêm” Kẻ sĩ phái “biệt” nói: “Ta há có thể ví thân bạn như thân ta, coi đấng thân của bạn như đấng thân của ta?” Và rồi thì kẻ đó thấy bạn đói không cho ăn, rét không cho mặc, ốm đau không thăm nuôi, chết không chôn cất

Trang 28

Kẻ sĩ phái “kiêm” nói: “Ta nghe nói làm kẻ cao sĩ ở thiên hạ, ắt ví thân bạn như thân mình, ví đấng thân của ban như đấng thân của mình, như thế mới là kẻ cao sĩ” Và rồi kẻ đó thấy bạn đói thì chia ăn, rét thì chia mặc, ốm đau thì thăm nuôi, chết thì chôn cất

Bây giờ lại có người sắp sửa phải mặc áo giáp, đội mũ trụ ra chốn chiến trường, sống thác chưa hay, hoặc vì việc vua quan sắp sửa phải đi sứ các nước

Ba, Việt, Tề, Hinh, tới nơi hay không tới nơi chưa biết Trong hai kẻ sĩ trên đây, người ấy sẽ đem cha mẹ, vợ con mà gửi vào nhà kẻ sĩ nào?

Có hai ông vua, một ông chuyên giữ thuyết “kiêm”, một ông chuyên giữ thuyết “biệt”

Ông vua phái “biệt” nói: “Ta đâu có thể ví thân muôn dân như thân ta? Cái đó không phải là tính tự nhiên của thiên hạ Người ta sống ở trên đất không bao lâu, ví như ngựa tứ qua lỗ nẻ vậy” Và ông ta thấy dân nào đói không cho

ăn, rét không cho mặc, ốm đau không thăm nuôi, chết không chôn cất

Ông vua “kiêm” nói: “Ta nghe đấng minh quân trong thiên hạ thì trước phải vì thân muôn dân, sau mới đến thân mình như thế mới là minh quân trong thiên hạ” Và rồi ông ta thấy dân đói thì cho ăn, rét thì mặc, đau ốm thì thăm nuôi, chết thì chôn cất

Mặc Tử quyết là dẫu kẻ ngu phu, không phải phái “kiêm” cũng gửi cha

mẹ, vợ con vào nhà kẻ sĩ phái “kiêm”, dẫu kẻ ngu phu, ngu phụ không phải dân của vua “kiêm” cũng phải đi theo vua “kiêm”, rồi kết luận: đó là người ta nói thì chê bai phái “kiêm” nhưng khi kén chọn thì vẫn muốn lấy phái “kiêm”,

ấy là lời nói việc làm phản nhau” [24, tr.97]

Vậy với hai nguyên tắc “kiêm” và “biệt” lấy gì để xác định nguyên tắc nào đúng, nguyên tắc nào sai ? Mặc Tử đã đưa ra phép “tam biểu” làm quy tắc, chuẩn mực để xác định sự đúng sai, lợi hại của “kiêm” và “biệt” Với phép “tam biểu” Mặc Tử đã có sự đóng góp lớn trong việc phát triển lý luận

về nhận thức ở Trung Quốc cổ đại

Trang 29

“Tam biểu” là gì? Mặc Tử giải thích: “nói phải dựng mẫu Nói không

có mẫu ví như ở trên bàn xoay mà nói sớm tối, phải trái, lợi hại khác nhau như thế nào không thể biết được Cho nên khi nói ắt phải có tam biểu - Ngôn tất lập nghi… Cố ngôn tất tam biểu” [5, tr.98] Nói một cách khái quát “biểu” chính là khuôn mẫu, phép tắc, chuẩn mực để người ta suy nghĩ, ngôn luận và hành động Với phép “tam biểu”, Mặc Tử chủ trương rằng muốn ngôn luận và

tư tưởng chính xác phải căn cứ vào ba biểu là “gốc”, “nguyên” và “dụng”

“Gốc ở đâu? Thưa trên thì lấy gốc ở chí trời và việc của các thánh vương xưa Nguyên là ở chỗ nào? Thưa thì dò xét trước sự thật tai mắt trăm

họ Dụng ở chỗ nào? Thưa là đưa ra làm việc hành chính xem có lợi cho nhà nước trăm họ hay không? [5, tr.98]

Cụ thể hơn là, biểu thứ nhất, gốc ở việc thánh vương đời xưa, Mặc Tử

có ý phản đối những kẻ bảo thủ phục cổ, hơi một chút là đem Tam Hoàng Ngũ Đế để chứng minh, tuyệt nhiên không suy xét gì hết, cũng như hậu Nho lấy Tử viết làm chứng cứ, tuyệt nhiên không có ý tứ gì riêng hay cố tìm để suy luận cả Mặc Tử không phản đối tòng cổ, nhưng mà phải tòng cái hay của

cổ nhân

Biểu thứ hai, xét theo sự thực trước tai mắt trăm họ Tai mắt là thuộc về tri thức kinh nghiệm, giác quan rất thô sơ, chỉ cho ta những chứng cứ về cái gì hiển hiện, cụ thể, hữu hình Còn những vật vô hình như quỷ thần, số mệnh thì làm sao có thể căn cứ vào kinh nghiệm cảm giác được Đây là nhược điểm của chủ trương thực nghiệm bên ngoài của phép luận chứng thứ hai là

“nguyên” vậy “Ngã sở dĩ tri mệnh chi hữu dữ vô giả, dĩ chúng nhân nhĩ mục chi tình tri hữu dữ vô Hữu chi văn, hữu kiến chi, vị chi hữu Mạc chi văn, mạc chi kiến, vị chi vô Nhiên hồ bất thường khảo chi bách tính chi tình, tự cổ

dĩ cập kim, sinh dân dĩ lai giả, diệc thường kiến mệnh chi vật, văn mệnh chi thanh giả hồ? Tắc vị thường hữu dã” (có nghĩa là: ta sở dĩ biết mệnh có hay không là xét sự thực trước mắt tai mọi người mà biết là có hay không Có

Trang 30

nghe thấy, có nhìn thấy thì bảo là có, chẳng nhìn thấy, chẳng nghe thấy thì bảo là không Ta từng xét về sự thực của trăm họ, từ xưa đến nay, có dân sinh hoạt đến bây giờ có ai từng thấy cái vật số mệnh chưa? Nghe tiếng của số mệnh chưa? Hẳn là chưa từng có vậy) [38, tr.321-322]

Đến biểu thứ ba, tuy là ưu điểm của Mặc Tử đối với thời đại nhưng cũng không khỏi có nhiều điều hạn chế Đây là biểu nói về dụng Mặc Tử cho rằng cái gì đem ra ứng dụng mà không mang lại lợi ích cho dân thì xếp vào loại vô giá trị Ở đây chúng ta nhận thấy được hạn chế của Mặc Tử đó là ở ý nghĩa của chữ lợi Có lợi chung, cũng có lợi riêng, có lợi trước mắt, cũng có lợi về lâu dài Từ xưa đến nay bao nhiêu nhà đề xướng ra chân lý, bao nhiêu nhà phát minh ít ra đã thấy được cái lợi của sự phát minh của mình ngay trong đời mình

Trong “tam biểu‟ thì biểu thứ nhất và biểu thứ hai có khi thay đổi vị trí cho nhau Duy chỉ có biểu thứ ba luôn luôn là cuối cùng Do đó, có thể Mặc

Tử rất chú trọng đến việc ứng dụng thực tế

Như thế, “tam biểu” chính là quy tắc hướng dẫn nhận thức và hành động của con người Để nhận thức, phân biệt phải trái, lợi hại người ta trước tiên phải lấy chí trời quỷ và việc làm của thánh vương xưa làm gốc Trong quá trình nhận thức, việc tổng kết, khái quát và kế thừa những kinh nghiệm của các thế hệ đã qua là điều hết sức quan trọng Tuy nhiên, trong tư tưởng về phép “tam biểu” chúng ta nhận thấy Mặc Tử đặc biệt coi trọng tác dụng của kinh nghiệm cảm giác Ông cho rằng cái gì lỗ tai, con mắt không cảm thấy là không có Căn cứ vào những quan điểm ấy ông bác bỏ tư tưởng định mệnh luận Vì ông xuất phát từ chỗ coi trọng kinh nghiệm cảm quan và bằng chứng xác thực khách quan nên học thuyết của ông có những nhân tố duy vật chủ nghĩa Nhưng do ông quá đề cao cảm giác, đồng thời coi thường tính khách quan của nội dung kinh nghiệm cảm giác, cho rằng sự hồi tưởng của con người cũng là cảm giác đúng đắn và lấy đó để chứng minh là có quỷ thần, nên

Trang 31

ông lại quay về với chủ nghĩa duy tâm và rơi vào chủ nghĩa kinh nghiệm cực đoan hạn hẹp

Theo “tam biểu” và lấy công lợi làm căn cứ, tiêu chuẩn cao nhất để xem xét, thẩm định giá trị, công dụng của “kiêm” và “biệt”, Mặc Tử đã khẳng định “kiêm” là đúng, là mang lợi cho dân, cho nước; “biệt” là trái, là gieo tai họa lớn cho thiên hạ Ông lập luận: “người nhân làm việc ắt vụ lấy điều lợi trừ điều hại cho thiên hạ Những điều hại cho thiên hạ thời nay, điều nào lớn hơn cả? Như nước lớn đánh nước nhỏ, nhà lớn cướp nhà nhỏ, mạnh lấn yếu, đông hiếp ít, láu lừa ngu, sang khinh hèn, đó là những điều lớn cho thiên hạ… Hãy tìm nguồn gốc của những điều hại ấy bởi đâu mà ra? Có phải bởi ghét người, làm hại người là “kiêm” hay “biệt”? Ắt phải nói là “biệt” Thế thì những kẻ gieo “biệt” quả là hại lớn cho thiên hạ chăng? Cho nên “biệt” là trái vậy” [5, tr.100]

“Kẻ cho người ắt là sai phải có gì thay vào…”, cho nên ta nói “kiêm để thay biệt” Nhưng “kiêm” có thể thay “biệt” vì cớ gì ? Trả lời rằng, nếu đã coi nước người như nước mình thì có còn ai đem nước mình đánh nước đánh nước người nữa không, vì người cũng như mình Nếu coi đô người như đô mình thì còn ai đi đánh chiếm đô người, vì người cũng như mình Nếu coi nhà người cũng như nhà mình thì còn có ai đi làm loạn nhà người nữa không, vì người cũng như mình Nay các nước, các đô không chiếm nhau, các nhà, các người không gây nhau thì đó là cái lợi cho thiên hạ “Hãy thử truy nguyên những điều ích lợi ở đâu mà ra Có phải ở sự ghét nhau, làm hại người mà ra chăng? Ắt rằng không phải Ắt rằng do sự yêu người, làm lợi cho người mà ra… Những kẻ yêu người, làm lợi cho người là phái Biệt hay là Kiêm? Ắt rằng phái Kiêm Thế thì những kẻ gồm chung mọi người quả đã sinh ra lợi lớn cho thiên hạ vậy” [38, tr.338]

Như vậy ở đây Mặc Tử đã chỉ rõ việc “Biệt là sai Kiêm là đúng” và trong cuộc sống phải “Lấy Kiêm làm chính” Để chứng minh cho quan điểm

Trang 32

này của mình Mặc Tử đã đưa ra những dẫn chứng xác đáng từ những điều mắt thấy tai nghe của dân chúng; từ những việc làm, hành động của các bậc tiên vương

Từ tư tưởng về “Kiêm” và “Biệt” trong đạo đức Mặc Tử còn quy nó về mặt xã hội để từ đó phân biệt tốt xấu Ông quy xã hội xấu là một xã hội do hạng “Biệt sĩ”, “Biệt quân” chi phối và quy xã hội tốt thành xã hội do dạng

“Kiêm sĩ”, “Kiêm quân” chi phối Ở đây, Mặc Tử dám dùng danh từ “Biệt quân”, việc đó cũng cùng có tinh thần như việc Khuất Nguyên dùng danh từ

“úng quân” để phê phán giai cấp thống trị; Và Mặc Tử lại còn dũng cảm hơn nữa khi ông không những lột trần mâu thuẫn hiện thực lịch sử, mà còn phân biệt giai cấp người “biệt” và giai cấp người “kiêm” trong xã hội loài người thời đó; người “biệt” trên thực tế là quý tộc thị tộc, người “kiêm” trên thực tế

là dân chúng; cái gọi là “dùng kiêm thay cho biệt”, tức là biểu hiện sự thịnh suy của giai cấp xã hội Trong “nguyên lý kinh tế học”, Ri-các-đô đã chia loài người ra thành ba giai cấp lớn, việc đó được Mác thừa nhận là có giá trị khoa học, Mặc Tử ở trong một thời đại khác cũng đã có một sáng kiến tương tự như vậy

Trang 33

Chương 2 NHỮNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN TRONG HỌC THUYẾT “KIÊM ÁI” -

GIÁ TRỊ , HẠN CHẾ VÀ Ý NGHĨA CỦA CHÚNG

2.1 Nội dung chủ yếu của học thuyết “kiêm ái”

Thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc, những người phát ngôn cho giai cấp thống trị phong kiến họ dùng những hình thức biểu hiện lý luận của mình rất khác nhau nhưng tựu chung lại đều muốn bảo vệ chế độ phong kiến với sự phân biệt đẳng cấp trong xã hội Xuất phát từ lợi ích giai cấp nông dân và những người hèn kém trong xã hội, Mặc Tử đã lên tiếng chống lại những quan điểm trên và đặc biệt bài trừ chế độ phân biệt đẳng cấp đang tồn tại Để làm được điều này ông đã đề ra học thuyết “kiêm ái” Đây là nội dung chính trong tư tưởng triết học của Mặc Tử, nó là gốc, là điểm xuất phát để từ đó ông xây dựng lên hệ thống triết học của mình Vậy “kiêm ái” là gì ? Chúng ta hãy

đi vào tìm hiểu những khía cạnh cơ bản của phạm trù này

2.1.1 Kiêm ái là yêu thương tất cả mọi người không phân biệt đẳng cấp, sang hèn

Ở chương 1 chúng ta đã phân biệt được hai khái niệm “kiêm” và “biệt” Theo Mặc Tử con người phải kiêm ái, vì “trời muốn con người yêu thương nhau, làm lợi cho nhau chứ không muốn con người ghét nhau, làm hại nhau” (Thiên dục chi nhân tương ái, tương lợi; nhi bất dục nhân tương ố, tương tặc dã) Bởi vậy, kiêm ái thì xã hội thái bình ngược lại thì xã hội sẽ hỗn loạn

“Ái” là “nhân”, “kiêm” là “nghĩa”, “kiêm ái” là “nhân nghĩa” Cho nên khi thực hiện được cái đức căn bản ấy sẽ làm cho đạo đức luân lý xã hội trở nên tốt đẹp và người ta có thể đạt được tất cả những phẩm chất đạo đức khác như huệ, trung, từ, hiếu, kính đễ…, người người no đủ, nhà nhà hạnh phúc, quốc gia yên lành, thiên hạ bình trị Mặc Tử viết: “Nếu thiên hạ cùng yêu thương nhau, ai ai cũng yêu người như yêu thân mình thì còn kẻ bất hiếu nữa

Trang 34

chăng? Coi cha mẹ và vua như thân mình thì còn kẻ bất hiếu, bất trung nữa chăng? Coi anh em và bề tôi như thân mình, ghét làm những điều bất từ, bất hiếu thì sự bất từ, bất hiếu sẽ không còn nữa Còn có trộm giặc nữa chăng? Đã coi nhà người như nhà mình thì ai ăn trộm? Đã coi thân người như thân mình thì còn ai làm giặc? Cho nên trộm, giặc sẽ không còn nữa Còn đại phu làm loạn nhau, chư hầu đánh nhau nữa chăng? Đã coi nhà người như nhà mình thì còn ai làm loạn? Đã coi nước người như nước mình thì còn ai đánh lẫn nhau nữa? Cho nên cái nạn đại phu làm loạn lẫn nhau, chư hầu đánh lẫn nhau sẽ không còn nữa Nếu như thiên hạ đã gồm yêu nhau, nước nọ nước kia không còn đánh lẫn nhau, nhà nọ nhà kia không còn loạn lẫn nhau, trộm giặc không

có, vua tôi, cha con đều hiếu từ, như thế thì thiên hạ trị” [5, tr.101-102]

Như vậy, qua đây chúng ta nhận thấy trong tư tưởng của Mặc Tử “kiêm ái” cụ thể là gì ? Tuy nhiên, “kiêm ái” đối với ông không chỉ là mọi người yêu thương những người thân với mình, gần với mình, mà nó còn có một bước phát triển cao hơn Do chỗ trong xã hội có sự khác nhau về thứ bậc sang hèn, giàu nghèo nên “kiêm ái” ở đây phải là “thương yêu rộng khắp, không kể thân

sơ, không phân biệt thứ bậc”, chỉ lấy tình yêu thương của con người để đối đãi với nhau Ông viết: “Thương yêu người phải yêu cho rộng khắp rồi mới cho là thương yêu người, không thương yêu người thì không rộng khắp”;

“Thân với họ hàng thì sẽ riêng biệt, yêu cái riêng tư thì sẽ phải hiểm ác với mọi người Dân thì đông đảo mà chỉ nhắm vào cái riêng biệt và hiểm ác thì dân sẽ loạn” [45, tr.136]

Quan điểm yêu thương tất cả mọi người trong xã hội của Mặc Tử đã vô tình chống đối lại một cách gay gắt so với các tư tưởng đương thời, đặc biệt là Nho giáo của Khổng Tử Nếu như Khổng Tử coi “nhân” là đạo sống của con người, hết lòng hết dạ thành tâm thật ý, suy lòng mình ra lòng người, cái gì mình không muốn thì đừng đem thi hành cho người khác, nhưng lại có sự phân biệt luân loại thứ bậc, “thương yêu người thân, quý trọng người sang”

Trang 35

Thì với Mặc Tử, nhân nghĩa hay “kiêm ái” lại là yêu thương tất cả mọi người như nhau không phân biệt trên dưới, thân sơ, quý tiện

“Kiêm ái” của Mặc Tử ở đây có nét giống với “bác ái” của Thiên chúa giáo, “từ bi” của Phật giáo… Đó là điều hướng tới con người, vì con người Mặc dù nó vẫn còn mang đậm tính chất duy tâm

2.1.2 Mối quan hệ giữa “kiêm” với “lợi”

“Kiêm ái” là cái quyết định bộ mặt đạo đức của xã hội Song cái gì là tiêu chí để xem xét xã hội ấy có thực sự “kiêm ái” hay không ? Theo Mặc Tử

đó là “lợi” Kiêm ái là vì lợi Khi nào con người thực sự yêu thương nhau thì khi đó con người sẽ làm lợi cho nhau Nên kiêm ái của Mặc Tử là “kiêm tương ái, giao tương lợi” (thương yêu lẫn nhau, đem lại điều lợi cho nhau) Mặc Tử giải thích: “Ta không biết rằng: người con có hiếu muốn làm cho cha

mẹ mình sung sướng thì có muốn rằng người khác cũng yêu thương nhau và làm điều lợi cho cha mẹ họ không? Hay là lại muốn người khác ghét bỏ và làm hại cha mẹ họ? Lấy lý mà xét thì chắc là người con có hiếu ấy cũng muốn người khác thương yêu và làm điều lợi cho cha mẹ họ Như thế thì trước hết

ta phải làm thế nào để được như thế? Ta có muốn trước hết là làm điều thương yêu và có lợi cho cha mẹ người khác, rồi sau người báo đáp lại ta sẽ làm điều thương yêu và có lợi cho cha mẹ ta? Hay là ta muốn trước hết ta cứ ghét bỏ và làm hại cha mẹ người khác rồi sau người khác báo đáp lại ta cứ làm điều thương yêu và có lợi cho cha mẹ ta? Chắc hẳn là ta muốn trước hết phải làm điều thương yêu và có lợi cho cha mẹ ta vậy… Trong thơ Đại Nhã (Kinh Thi) có nói rằng: “không có lời nói nào mà không được trả lại, không

có ân đức nào mà không được báo đáp: Ném cho ta quả đào, ta sẽ báo đền lại quả mận” Điều đó có nghĩa là thương yêu người thì sẽ thấy được tình yêu thương, ghét bỏ người sẽ thấy sự ghét bỏ vậy” [45, tr.136-137]

Mặc Tử cho rằng giữa người với người chỉ có trên cơ sở “đối đãi với nhau cùng có lợi” mới có thể thực hiện được thứ tình yêu thương rộng khắp

Trang 36

không phân biệt thứ bậc của ông Nếu làm được điều này thì việc xây dựng một xã hội mới mà ở đó con người sống trên nguyên tắc bình đẳng, yêu thương nhau sớm được thực hiện

“Lợi” và “kiêm” quan hệ với nhau rất khăng khít “đem cái tai tinh, mắt sáng trông nghe cho nhau, đem cái tay chân khỏe mạnh làm lụng giúp nhau, mà

kẻ có đạo thì dạy bảo nhau Cho nên những người già nua không có vợ con thì

có kẻ hầu, người nuôi cho trọn tuổi thọ, những kẻ nhỏ yếu, mồ côi cha mẹ thì

có chỗ nương tựa cho đến khi khôn lớn Nếu cho “kiêm” là phải thì cái lợi như thế đó” [5, tr.102] Cái lợi trong tư tưởng của Mặc Tử có nét độc đáo riêng

* “Lợi” luôn được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với “nhân” và “nghĩa”

Nếu như ở Nho gia của Khổng Tử, “lợi” là cái gì đó hoàn toàn đối lập với “nhân”, “nghĩa” thì ở Mặc Tử “lợi” lại gắn bó không tách rời với hai phạm trù này

Về nhân, Mặc Tử nói “người nhân làm việc gì cũng mang lấy cái lợi, trờ cái hại cho thiên hạ Họ lấy điều sau đây làm phép tắc: Cái gì lợi cho người thì làm, không có lợi thì ngừng” (Nhân giả chi sự tất vụ hưng thiên hạ chi lợi, trừ thiên hạ chi hại: Lợi nhân hồ vi, bất lợi nhân hồ tắc chi) Mặc Tử chỉ rõ: người có đức nhân mưu tính cho thiên hạ không khác gì người con có hiếu mưu tính cho cha mẹ Người con có hiếu mưu tính cho cha mẹ ra sao? Đáp là cha mẹ nghèo thì làm cho cha mẹ giàu lên Người nhân khi mưu tính cho thiên hạ cũng phải nghĩ tới việc thiên hạ nghèo thì phải cố gắng làm cho thiên hạ giàu lên

Về nghĩa, Mặc Tử nói: “Nghĩa là cái chính đáng Tại sao biết được nghĩa là cái chính đáng? Bởi thiên hạ có lợi thì trị, vô nghĩa thì loạn Từ đó biết rằng nghĩa là cái chính đáng” (Nghĩa giả chính giả Hà dĩ tri nghĩa chi vi chính dã? Thiên hạ hữu lợi tắc trị, vô nghĩa tắc loạn Ngã dĩ thủ tri nghĩa chi

vi chính dã) Ở đây, khi Mặc Tử cho rằng thiên hạ nếu có lợi thì trị, không có nghĩa thì loạn Điều này có nghĩa ông quan niệm rằng có lợi thì thiên hạ trị,

Trang 37

vô lợi thì thiên hạ loạn Như vậy, Mặc Tử đã đồng nhất lợi với nghĩa trong tư tưởng của mình

* “Lợi” luôn được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với thiên hạ

Sách Mặc Tử kể rằng: có người khen vua các nước Kinh, Ngô ở phương Nam; vua các nước Tề, Tấn ở phương Bắc khi mới làm chư hầu thì đất không được vài trăm dặm, dân không được vài chục vạn thế mà nhờ chiếm nước người mà đất, mà dân nhiều lên gấp mấy chục lần Mặc Tử bảo: Tuy bốn nước Kinh, Ngô, Tề, Tấn được lợi nhưng cái lợi ấy không phải đạo; giống như người thầy thuốc, trị bệnh cho cả thiên hạ mà chỉ có bốn, năm người khỏi thì sao gọi là thầy thuốc biết nghề Như vậy, lợi của Mặc Tử không phải là tư lợi, nó không dành riêng cho một vài nước, một vài dân tộc

mà là cái lợi của toàn thiên hạ

Ý nghĩa, công dụng và ích lợi của “kiêm ái” do Mặc Tử đề ra thật là to lớn và thiết thực Nhưng làm thế nào để cho mọi người tin tưởng vào nó, dựa vào đó để hành động trong đời sống Bởi vì thực hiện “kiêm ái” khó chẳng khác nào như “kẹp núi Thái Sơn nhảy qua sông Hoàng Hà” Mặc Tử đã bác

bỏ lại luận điệu trên, ông cho rằng việc xách núi Thái Sơn nhảy qua sông Hoàng Hà là việc xưa nay chưa ai làm được, nhưng nếu con người biết yêu thương nhau, làm lợi cho nhau, thì đó là việc mà các đấng quân vương đời trước đã làm nhiều rồi Ngày nay cho rằng không làm được chỉ vì các đấng quân vương không thích Và từ đó Mặc Tử đưa ra tấm gương của các đấng quân vương xưa để chứng minh cho mọi người thấy “kiêm ái” được thực hành trong đời sống như thế nào Ví dụ như, vua Vũ trong mấy năm trời lo việc trị thủy, làm việc ngày đêm, vì nghĩa, đi ngang qua nhà cũng không kịp ghé thăm người thân Vua Thang trong lúc đại hạn đã cầu trời nhận mình làm vật hi sinh chuộc tội để trời tha cho dân chúng thoát khỏi hạn hán

Trong quan điểm của Mặc Tử, muốn thực hành “kiêm ái” thì trước hết những người trên phải gương mẫu đem “kiêm ái” ra làm chính trị thì kẻ dưới

Trang 38

giữ danh tiếng mà khi ông vua muốn thì dân cũng làm được, huống chi cái việc yêu thương lẫn nhau và làm lợi cho nhau Yêu người thì người yêu mình, làm lợi cho người thì người làm lợi cho mình, cái đó có khó gì đâu Chỉ vì người trên không đem “kiêm ái” ra làm chính trị, kẻ sĩ không coi đó là nết của mình, thế thôi” [5, tr.103]

Kiêm ái là cái đạo của thánh nhân, bậc quân vương, đại phu nhờ nó mà yên ổn, đời sống nhân dân nhờ nó mà no đủ Cho nên bậc quân vương không thể không xem kỹ đức “kiêm” mà thi hành nó Thi hành nó thì vua chúa ắt có lòng huệ, bề tôi ắt có lòng trung, cha mẹ ắt có lòng từ, con ắt có lòng hiếu, anh ắt có lòng thương em, em ắt có lòng kính anh… Kiêm ái là đạo của thánh nhân mà là cái lợi của muôn dân

Kiêm ái là đức cơ bản của mọi đức tính con người, là lợi lớn cho thiên

hạ Vì vậy, ngoài việc dùng quyền uy anh minh của trời và quỷ thần để thu phục mọi người yêu thương nhau, làm lợi cho nhau không phân biệt sang hèn, trên dưới Mặc Tử còn chủ trương dùng sức mạnh và thế lực của nhà nước, thể chế xã hội để thống nhất tư tưởng và hành động của mọi người trong xã hội

“Kiêm tương ái - giao thương lợi” là một tư tưởng đại đồng để lấy trí thức xây dựng cho một tôn giáo tình yêu bình đẳng, của một ý chí tối cao tuyệt đối vượt lên trên cả xã hội mà không độc đoán như một mệnh lệnh chính trị Tuy nhiên, vì quá thiên về mặt “kiêm” mà bỏ rơi mặt “biệt” cho nên Mặc Tử đã vướng phải sai lầm

Sau này phái Hậu Mặc cũng chỉ ra rằng đặc trưng cơ bản của “kiêm ái”

là gồm yêu hết thảy mọi người như nhau và lợi ích là tiêu chuẩn để xem xét ý thức và hành động của con người ta có “kiêm ái” hay không Không những thế họ còn cho rằng ngay cả những phạm trù đạo đức như: trung hiếu, chí công v.v…, cũng phải lấy mục đích làm lợi người là tiêu chuẩn trên hết Thiên “Kinh thượng” viết: “Hiếu là lợi cha mẹ; trung là lợi vua; công là lợi dân” [4, tr.285] Nhưng trước sự phê phán, công kích của các triết gia thuộc

Trang 39

Phi v.v …, và để cho học thuyết “kiêm ái” của Mặc gia phù hợp với điều kiện lịch sử xã hội mới, phái Hậu Mặc đã bổ sung và điều chỉnh thuyết “kiêm ái”, rằng: kiêm ái là gồm yêu và làm lợi cho tất cả mọi người như nhau, nhưng có

sự phân biệt thân sơ, trên dưới, gần xa, già trẻ

Kiêm ái là nền tảng đạo đức xã hội; nó được thể hiện trong đời sống chính trị thông qua các phạm trù “phi công”, “thượng hiền”, “thượng đồng”; thể hiện qua sinh hoạt đời thường thông qua các phạm trù “tiết dụng”, “phi nhạc”, “tiết táng”

2.1.3 Sự thể hiện của “kiêm ái” trong đời sống chính trị và sinh hoạt thường ngày

2.1.3.1 “Kiêm ái” trong đời sống chính trị với các phạm trù “phi công”, “thượng đồng”, “thượng hiền”

* Phi công

Đây là thiên nói về chiến tranh rất nổi tiếng của Mặc Tử Mặc Tử đã chủ trương “kiêm ái” nay lại tận mắt nhìn thấy những thảm họa chiến tranh do các nước chư hầu gây ra, Mặc Tử tỏ thái độ căm ghét chiến tranh, phản đối các cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa, đả phá, mạt sát thái độ hiếu chiến của bọn vua chúa đương thời Ông cho rằng, chính sách “nghi binh” thường dùng không phải là gốc rễ để giữ sự thái bình thịnh trị cho xã hội Khi thấy các nước giao chiến với nhau Mặc Tử luôn đem thuyết “chiến tranh luôn bất lợi cho hai bên” để giảng giải can ngăn họ Ông chỉ ra chiến tranh bất lợi vì ba

lý do:

- Một là, chiến tranh xâm lược nếu thua thì tất nhiên là bất lợi, mà nếu thắng thì lợi không đủ bù hại Vì muốn giành được chiến thắng thì phải tàn sát, đốt phá tan hoang thành địch, khi chiếm được chỉ là thành không, thành chết

- Hai là, kẻ đi xâm lược hiểu lầm rằng hễ chiếm được đất đai, mở mang thêm bờ cõi là giàu mạnh mà không biết rằng khi mình đánh người thì mình cũng lực cạn sức suy Lúc đó kẻ thứ ba đang rình mình, nếu có cơ hội sẽ đánh

Trang 40

mình Nếu không, thì chính kẻ thua sẽ nuôi thù, giữ hận, tự cường đến khi mình yếu rồi sẽ đánh lại Cứ xét lịch sử sẽ rõ, không có nước nào dùng chiến tranh mà mạnh và giữ được đất lâu

- Ba là, người là do trời sinh, là dân của trời Nay gây chiến tranh giết người, gây điều ác là trái với ý trời, trời sẽ trừng phạt

Mặc Tử cho rằng, việc nước này tấn công nước khác chỉ vì hai lý do: một là hám lợi cho riêng nước mình và hai là ham danh thắng người khác cho bản thân mình

Về lợi, Mặc Tử chỉ rõ muốn chiến tranh phải bắt dân bỏ việc ruộng đồng Bỏ một mùa, một trăm họ đói rét Khi cất quân đi thì người khỏe, ngựa mập, tên tre, cờ lông, màn trướng, giáp dày, mác nhọn nhiều không biết bao nhiêu mà kể Khi về thì quân khí hư hỏng, người, ngựa gầy còm, bệnh tật, chết chóc cũng nhiều không biết bao nhiêu mà kể Cho nên cái lợi là lợi của vua chúa chứ thần dân cả bên thắng lẫn bên thua đều bị hại Như vậy, chiến tranh

có lợi cho ít người, có hại cho nhiều người Vì vậy, cần phản đối chiến tranh

Về danh, Mặc Tử cho rằng người đời thường ham danh thắng người khác nhưng xét đến cùng, cái danh ấy chẳng dùng được vào việc gì, nó chỉ là thứ vô dụng

Như vậy, vì lợi của mình, vì danh của mình mà xâm chiếm nước khác

là bất nhân, bất nghĩa, trái với ý trời, trái với đạo làm người, nên “kiêm ái” là phải “phi công”

Mặc Tử đã đưa ra những quan điểm đầy tính biện luận về sự chết chóc trong chiến tranh, phân biệt điều nghĩa, điều bất nghĩa trong đời sống xã hội Ông đưa ra ví dụ: “Giết một người thì gọi là bất nghĩa, tất có một tội chết Nếu cứ theo đấy mà luận, thì giết mười người thì mười lần bất nghĩa nặng hơn, tất phải tội mười lần chết Giết trăm người, bất nghĩa nặng lên trăm lần, tất phải đền tội trăm cái chết Như thế người quân tử trong thiên hạ đều biết

mà chê gọi là bất nghĩa Nay điều bất nghĩa cực lớn là cướp nước thì không

Ngày đăng: 25/02/2018, 10:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w