2.3 Tình hình sử dụng phân bón và nghiên cứu về tỷ lệ phân bón lúa 4.1 Ảnh hưởng của lân và kali ñến thời gian sinh trưởng của giống lúa lai TH5-1 trên hai nền ñạm khác nhau qua các gia
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
- -
ðÀO THỊ KIM LIÊN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA LÂN VÀ KALI TỚI SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG LÚA TH5-1 TRÊN HAI NỀN ðẠM THẤP VÀ TRUNG BÌNH TẠI GIA LÂM – HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: TRỒNG TRỌT
Mã số: 60.62.01 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM VĂN CƯỜNG
HÀ NỘI - 2009
Trang 2LỜI CAM đOAN
- Tôi xin cam ựoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa ựược sử dụng ựể bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam ựoan rằng, mọi sự giúp ựỡ cho việc thực hiện luận văn
ựã ựược cảm ơn và các thông tin trắch dẫn trong luận văn ựều ựược chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
đào Thị Kim Liên
Trang 3Xin cảm ơn gia ựình, ban bè và ựồng nghiệp ựã giúp ựỡ, ựộng viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp
Hà Nội, ngày tháng năm 2009
Tác giả
đào Thị Kim Liên
Trang 42.3 Tình hình sử dụng phân bón và nghiên cứu về tỷ lệ phân bón lúa
4.1 Ảnh hưởng của lân và kali ñến thời gian sinh trưởng của giống lúa
lai TH5-1 trên hai nền ñạm khác nhau qua các giai ñoạn sinh trưởng 30 4.2 Ảnh hưởng của lân và kali ñến chiều cao cây của giống lúa lai
TH5-1 trên hai nền ñạm khác nhau qua các giai ñoạn sinh trưởng 31 4.3 Ảnh hưởng của lân và kali ñến tốc ñộ tăng trưởng chiều cao cây
của giống lúa lai TH5-1 trên hai nền ñạm khác nhau qua các giai
Trang 54.4 Ảnh hưởng của lân và kali ñến số nhánh của giống lúa lai TH5-1
4.5 Ảnh hưởng của lân và kali ñến chỉ số ñộ dày lá (SLA) của giống lúa lai
TH5-1 trên hai nền ñạm khác nhau qua các giai ñoạn sinh trưởng 38
trong lá của giống lúa lai TH5-1 trên hai nền ñạm khác nhau qua
4.7 Ảnh hưởng của lân và kali ñến chỉ số diện tích lá (LAI) của giống lúa
lai TH5-1 trên hai nền ñạm khác nhau qua các giai ñoạn sinh trưởng 42
4.9 Ảnh hưởng của lân và kali ñến khả năng chống chịu sâu, bệnh
hại của giống lúa lai TH5-1 trên hai nền ñạm khác nhau qua các
4.10 Ảnh hưởng của lân và kali ñến khối lượng chất khô tích luỹ của
giống lúa lai TH5-1 trên hai nền ñạm khác nhau qua các giai
4.11 Ảnh hưởng của lân và kali ñến tốc ñộ sinh trưởng (CGR) của giống lúa
lai TH5-1 trên hai nền ñạm khác nhau qua các giai ñoạn sinh trưởng 50 4.12 Ảnh hưởng của lân và kali ñến hiệu suất quang hợp thuần (NAR)
của giống lúa lai TH5-1 trên hai nền ñạm khác nhau qua các giai
4.13 Ảnh hưởng của lân và kali ñến năng suất của giống lúa lai
4.14 Tương quan giữa năng suất hạt và một số yếu tố liên quan ở các
4.14.1 Tương quan giữa năng suất thực thu và chỉ số SPAD qua các
Trang 64.14.2 Tương quan giữa năng suất thực thu và chỉ số diện tích lá (LAI)
4.14.3 Tương quan giữa năng suất thực thu và tốc ñộ tích luỹ chất khô
4.14.4 Tương quan giữa năng suất thực thu và các yếu tố cấu thành năng suất 62
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TGST Thời gian sinh trưởng
Trang 8DANH MỤC BẢNG
4.1 Ảnh hưởng của lân và kali ñến thời gian sinh trưởng (ngày) của
giống lúa lai TH5-1 trên hai nền ñạm khác nhau qua các giai ñoạn
4.2 Ảnh hưởng của lân và kali ñến chiều cao cây của giống lúa lai
TH5-1 trên hai nền ñạm khác nhau qua các giai ñoạn sinh trưởng 32 4.3 Ảnh hưởng của lân và kali ñến tốc ñộ tăng trưởng chiều cao cây
4.4 Ảnh hưởng của lân và kali ñến số nhánh của giống lúa lai TH5-1
4.5 Ảnh hưởng của lân và kali ñến chỉ số ñộ dày lá (SLA) của giống
lúa lai TH5-1 trên hai nền ñạm khác nhau qua các giai ñoạn sinh
trong lá của giống lúa lai TH5-1 trên hai nền ñạm khác nhau qua
4.7 Ảnh hưởng của lân và kali ñến chỉ số diện tích lá (LAI) của giống
lúa lai TH5-1 trên hai nền ñạm khác nhau qua các giai ñoạn sinh
4.8 Ảnh hưởng của lân và kali ñến tỷ lệ ánh sáng giữa các tầng lá (%)
của giống lúa lai TH5-1 trên hai nền ñạm khác nhau qua các giai
4.9 Ảnh hưởng của lân và kali ñến khả năng chống chịu sâu, bệnh
hạicủa giống lúa lai TH5-1 trên hai nền ñạm khác nhau qua các
Trang 94.10 Ảnh hưởng của lân và kali ñến khối lượng chất khô tích luỹ của
giống lúa lai TH5-1 trên hai nền ñạm khác nhau qua các giai ñoạn
4.11 Ảnh hưởng của lân và kali ñến tốc ñộ sinh trưởng (CGR) của
giống lúa lai TH5-1 trên hai nền ñạm khác nhau qua các giai ñoạn sinh
4.12 Ảnh hưởng của lân và kali ñến hiệu suất quang hợp thuần (NAR)
của giống lúa lai TH5-1 trên hai nền ñạm khác nhau qua các giai
4.13 Ảnh hưởng của lân và kali ñến năng suất của giống lúa lai TH5-1
Trang 10
DANH MỤC ðỒ THỊ
4.1 Tương quan giữa năng suất thực thu và chỉ số SPAD qua các giai
4.2 Tương quan giữa năng suất thực thu và chỉ số diện tích lá (LAI)
4.3 Tương quan giữa năng suất thực thu và tốc ñộ tích luỹ chất khô
4.4 Tương quan giữa năng suất thực thu và các yếu tố cấu thành năng
Trang 11
1 MỞ ðẦU
1.1 ðặt vấn ñề
Cây lúa (Oryza satival L.) là một trong ba cây lương thực chủ yếu trên
thế giới: lúa mì, lúa nước và ngô Sản phẩm lúa gạo là nguồn cung cấp lương thực nuôi sống phần ñông dân số thế giới và có vai trò quan trọng trong công nghiệp chế biến và trong chăn nuôi
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nghề trồng lúa ở Việt Nam có nhiều thay ñổi tích cực Từ một nước thiếu ñói lương thực thường xuyên, ñến nay số lượng lúa gạo của nước ta không những ñáp ứng ñủ nhu cầu lương thực trong nước mà còn xuất khẩu
Ở Việt Nam, việc áp dụng những thành tựu về lúa lai ñã có những kết quả to lớn, năng suất lúa lai so với lúa thường tăng từ 20% trở lên (Trần Ngọc Trang, 2001)
Trong ñiều kiện canh tác hiện nay, người nông dân vẫn còn lạm dụng nhiều vào phân bón nhằm tăng năng suất Nhưng hiệu quả mà nó mang lại không cao, mặt khác còn gây hậu quả như tăng mức ñộ sâu bệnh, gây ô nhiễm môi trường, thoái hóa ñất…
Các kết quả nghiên cứu cho thấy ñạm là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng ñến sinh trưởng và năng suất của lúa (Vũ Hữu Yêm, 1995; Wada, 1996) ðặc biệt trong các giống lúa lai thì khả năng hút ñạm mạnh hơn lúa thuần ở giai ñoạn ñầu của quá trình sinh trưởng do có ưu thế lai về bộ rễ và khả năng hút ñạm (Kobayashi và cs, 1995; Yang và cs, 1999; Phạm Văn Cường và cs, 2005)
Ưu thế lai về năng suất hạt ở lúa lai F1 ñược xác ñịnh chủ yếu do số bông/khóm và số hạt/bông, trong ñó số hạt/bông là quan trọng hơn (Virmani
và cs, 1981) Do vậy việc cung cấp lượng ñạm ở thời kỳ trỗ là hết sức cần thiết
Trang 12Theo phương pháp bón ựạm truyền thống chủ yếu bón tập trung vào giai ựoạn ựẻ nhánh Tuy nhiên việc dư thừa ựạm ở giai ựoạn ựầu dẫn tới nhiều sâu bệnh và ô nhiễm môi trường đối với phương pháp không bón lót ựạm mà tập trung vào giai ựoạn ựẻ nhánh và trỗ ựã ựược kết luận có hiệu quả tại Nhật Bản ựối với lúa lai ở Việt Nam (Phạm Văn Cường và cs, 2007)
N là nguyên tố mà cây hút nhiều nhất, có vai trò trực tiếp hình thành nên năng suất cây Tuy nhiên P và K cũng góp phần quan trọng trong việc tạo
ra năng suất lúa Bón cân ựối giữa ựạm, lân và kali nhằm làm cho cây lúa hút nhiều chất dinh dưỡng, tạo ựiều kiện cho lúa sống khỏe mạnh, năng suất cao, ựồng thời tạo ựiều kiện thuận lợi cho các vi sinh vật phát triển tốt, cung cấp dinh dưỡng cần thiết cho cây lúa (Nguyễn đình Giao và cs, 2001)
Việc bón phân với tỷ lệ N:P:K hợp lý sẽ có vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả bón phân nhằm tăng năng suất, giảm sâu bệnh và ô nhiễm môi trường Chắnh vì muốn hướng ựến mục ựắch ấy, ựược sự cho phép
và giúp ựỡ của Bộ môn Cây Lương Thực Ờ Khoa Nông học Ờ Trường đại học Nông Nghiệp Hà Nội cùng với sự hướng dẫn của PGS.TS Phạm Văn Cường,
chúng tôi tiến hành thực hiện ựề tài: ỘNghiên cứu ảnh hưởng của lân và kali
tới sinh trưởng và năng suất của giống lúa TH5-1 trên hai nền ựạm thấp
và trung bình tại Gia Lâm Ờ Hà NộiỢ
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức phân bón NPK ựối với các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển, năng suất của giống lúa TH5-1 trên hai nền ựạm
60 kg N/ha và 120 kg N/ha
- Xác ựịnh tỷ lệ N:P:K thắch hợp cho giống lúa TH5-1 ựể nâng cao hiệu quả kinh tế của sản xuất lúa lai
Trang 132 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 ðặc ñiểm nông sinh học của lúa lai
2.1.1 ðặc ñiểm về sức sinh trưởng của lúa lai
Theo Phạm Văn Cường và cs (2005), sức sinh trưởng mạnh ở giai ñoạn ñầu kết hợp với thời gian sinh trưởng ngắn của lúa lai làm tăng khối lượng chất khô tích luỹ của các tổ hợp lai ngắn ngày, kết quả làm tăng năng suất hạt
Thời gian trải qua các bước phân hóa ñòng của lúa lai rút ngắn hơn lúa thuần từ 2 - 3 ngày, quá trình chín cũng rút ngắn hơn so với lúa thuần cùng trà
3 - 5 ngày ða số giống có 12 - 17 lá trên thân chính tương ứng với TGST từ
95 - 135 ngày ðường kính của lóng lúa lai to và dày hơn lúa thường và cả bố
mẹ của nó, số bó mạch nhiều nên khả năng vận chuyển nước, dinh dưỡng tốt hơn lúa thường Do ñường kính lóng to, ñặc biệt là lóng sát gốc, nên thân lúa lai cứng, lùn, khả năng chống ñổ tốt hơn lúa thường Lúa lai có khả năng sinh trưởng mạnh và sớm biểu hiện, cụ thể là trong cùng một ñiều kiện chăm bón như nhau, lá ra nhanh, nhánh ñẻ ñều ñặn ngay từ ñốt ñầu tiên và ñẻ liên tục Các nhánh ñẻ sớm lá ra nhanh, tạo cho ruộng lúa sớm dày ñặc, che khuất ánh sáng tầng dưới do vậy các nhánh ñẻ sau không có ñủ ñiều kiện thuận lợi ñể phát triển, chính vì vậy mà ruộng lúa lai thường kết thúc ñẻ sớm, dinh dưỡng
có ñiều kiện tập trung nuôi các nhánh nên bông lúa to ñều Giai ñoạn sinh trưởng sinh dưỡng và giai ñoạn sinh trưởng sinh thực của ña số các tổ hợp lai xấp xỉ nhau, sự cân ñối về thời gian của giai ñoạn sinh trưởng tạo nên sự cân ñối trong cấu trúc quần thể, là một trong những yếu tố tạo nên năng suất cao (Nguyễn Văn Hoan, 2000; Hoàng Tuyết Minh, 2002; Nguyễn Công Tạn và cs, 2002)
Trang 142.1.2 ðặc ñiểm rễ lúa lai
Do có khả năng kết hợp tốt giữa hai dòng bố và mẹ có di truyền khác nhau nên cây lai F1 có sức sống cao, biểu hiện trên hầu hết các tính trạng Khác với bộ rễ thường, bộ rễ lúa lai phát triển sớm và mạnh
Do bộ rễ phát triển mạnh làm khả năng huy ñộng chất dinh dưỡng lớn nên lúa lai cấy chay vẫn cho năng suất cao hơn lúa thuần (Quách Ngọc Ân, 1993)
Rễ lúa lai phát triển sớm và mạnh, khi có 3 lá, lúa lai ñã hình thành ñược 8 - 12 rễ (so với 6 - 8 rễ ở lúa bình thường) Rễ lúa lai hình thành cũng
có chiều dài hơn hẳn lúa thường Nhờ ñặc ñiểm này mà cây mạ lúa lai sớm hút ñược nhiều chất dinh dưỡng ñể cung cấp cho cây, giúp lúa lai ñẻ sớm và khỏe Sự phát triển mạnh mẽ của bộ rễ không chỉ thể hiện qua việc phát triển sớm và dài mà còn thể hiện qua số lượng rễ trên cây lúa và ñộ lớn của rễ Các khảo sát về rễ lúa lai ở thời kỳ bước vào giai ñoạn phân hoá ñòng ñã cho thấy:
cả số lượng, ñộ lớn, chiều dài và khối lượng bộ rễ lúa lai ñều hơn hẳn lúa thường ðặc biệt về số lượng và chiều dài rễ lúa lai vượt qua lúa thường 30 - 40% Chính vì có bộ rễ khỏe nên lúa lai có khả năng thích ứng cao, tận dụng ñược phân bón trong ñất, cây lúa có cứng cáp, ít ñổ Cần tập trung bón lượng kali và lân cao ñể phát huy tiềm năng hút dinh dưỡng của bộ rễ lúa lai (Nguyễn Văn Hoan, 2004)
Khi gặp ñiều kiện thiếu nước rễ lúa lai ăn sâu hơn rễ lúa thường nên khả năng chịu hạn tốt hơn ðường kính rễ lớn giúp cho quá trình vận chuyển nước
và dinh dưỡng thuận tiện Rễ lúa lai phát triển mạnh trong suốt quá trình sống của cây Vì vậy lúa lai có khả năng thích nghi tốt với nhiều loại ñất, tận dụng ñược phân bón trong ñất, sinh trưởng và phát triển mạnh, ít bị ñổ, sau khi thu hoạch gốc rạ có khả năng tái sinh mạnh (Nguyễn Công Tạn và cs, 2002)
Trang 152.1.3 ðặc ñiểm ñẻ nhánh của lúa lai
Lúa lai có khả năng ñẻ nhánh khoẻ, sớm, liên tục và tập trung Trong sản xuất ñại trà bình thường ñẻ khoảng 12 - 14 nhánh So với lúa thường, lúa lai có khả năng ñẻ nhánh nhiều hơn ở thời kỳ ñầu nhờ quá trình cung cấp chất dinh dưỡng tốt của bộ rễ Các nhánh ñẻ sớm thường to mập, có số lá nhiều hơn các nhánh ñẻ sau, nên bông lúa to ñều nhau xấp xỉ bông chính (Nguyễn Văn Hoan, 2004)
Lúa lai có tỷ lệ nhánh thành bông cao hơn hẳn lúa thường Các công trình nghiên cứu ở nước ta và nước ngoài (Trung Quốc, IRRI, Ấn ðộ,…) ñều cho thấy tỷ lệ nhánh thành bông của lúa lai cao hơn hẳn lúa thường Nếu ñiều khiển ñể một hạt thóc lúa lai mọc lên thành cây lúa, ñược ñẻ sớm, có 10 - 12 nhánh thì tỷ lệ thành bông ñạt 80 - 100% trong khi lúa thường chỉ ñạt 60 - 70% trong cùng ñiều kiện Nhờ ñặc ñiểm này mà hệ số sử dụng phân bón của lúa lai cao hơn lúa thường (Nguyễn Văn Hoan, 2004)
2.1.4 ðặc ñiểm về bộ lá, quang hợp và hô hấp của lúa lai
Lúa lai có diện tích lá lớn, lá thường rộng 1,5 - 1,6 cm, dài 32 - 36 cm, thịt phiến lá có 10 - 12 lớp tế bào, số bó mạch nhiều, to hơn lúa thường và dòng bố mẹ Diện tích lá lớn hơn lúa thường 1 - 1,5 lần, lá ñứng, hàm lượng diệp lục cao, ñặc biệt 3 lá trên cùng ñứng và bản lá chứa nhiều diệp lục nên có màu xanh ñậm hơn, do ñó có hoạt ñộng quang hợp mạnh hơn nhất là thời kỳ chín (Phạm Văn Cường và cs, 2004, 2005, 2007) Khả năng quang hợp của lúa lại cao song cường ñộ hô hấp thấp do khả năng tích lũy cao hơn, tạo ñiều kiện cho năng suất cao Bông lúa lai to, dài, số hạt/bông nhiều, hạt nặng, vỏ trấu mỏng, tỷ lệ gạo xát cao (72 - 73%)
2.1.5 ðặc ñiểm về ñặc tính sinh lý, sinh hóa
Quang hợp, hô hấp và tích lũy chất khô theo nghiên cứu của Donulud và cộng sự (1971), Trung tâm lúa lai Hồ Nam (1987) ñã kết luận rằng lúa lai có
Trang 16diện tích quang hợp rất lớn, hàm lượng diệp lục trên ñơn vị diện tích lá cao hơn lúa thường rất nhiều dẫn ñến hiệu suất quang hợp của lúa lai cao hơn lúa thường, nhưng cường ñộ hô hấp lại thấp hơn lúa thường (Nguyễn Thị Trâm, 2000)
Diện tích lá, quang hợp và khả năng tích lũy hydratcarbon của lúa lai cao hơn lúa thuần (Kobayashi và cs, 1995; Cuong Van Pham và cs, 2003)
Lá lúa lai so với lá lúa thuần dài và rộng hơn, lá ñòng dài 35 - 45 cm, rộng 1,5 - 2,0 cm, một số tổ hợp có lá lòng mo và rộng hơn Một số kết quả nghiên cứu cho rằng hướng lá lòng mo có thể nhận ánh sáng cả hai mặt, như vậy năng lượng mặt trời ñược hấp thụ nhiều hơn, hiệu suất quang hợp cao hơn Thịt phiến lá lúa lai F1 có 10 - 11 lớp tế bào, số lượng bó mạch nhiều hơn bố mẹ, có 14 - 13 bó mạch Chỉ số diện tích lá lớn hơn lúa thuần 1,2 - 1,5 trong suốt quá trình sinh trưởng Ba lá trên cùng ñứng, bản lá có chứa nhiều diệp lục nên có màu sắc ñậm hơn, cường ñộ quang hợp diễn ra mạnh hơn (Nguyễn Văn Hoan, 2004)
Hiệu suất chất khô tích lũy ở lúa lai có ưu thế lai hơn hẳn lúa thường (Katyal, 1978), nhờ vậy mà tổng lượng chất khô trong cây tăng nhanh (Siddiq, 1996) Kim (1985), Virmani (1981) ñã xác ñịnh con lai có ưu thế lai thực và ưu thế lai giả ñịnh ñáng tin cậy ở chỉ tiêu tích lũy chất khô và chỉ số thu hoạch (Virmani và cs, 1981; Ponnuthurai và cs, 1984; Kim, 1985)
Các ñặc tính sinh hóa của lúa lai cho thấy tốc ñộ sinh trưởng ban ñầu cao hơn lúa thường biểu hiện sớm ở thời kỳ nảy mầm ở hạt lai Sở dĩ như vậy
là do hoạt ñộng của α – amylase khác nhau và ở lúa lai cao hơn giá trị trung bình của 2 dòng bố mẹ (A, B, R) là 20% (ðại học Nông nghiệp Hồ Nam, 1977) Hàm lượng ARN ở ñầu rễ mầm cũng như ở ñầu rễ thời kỳ ñẻ nhánh, phân hóa bông và nở hoa ở lúa lai cao hơn hẳn so với bố mẹ (Nguyễn Thị Trâm, 2000)
Trang 17Lin (1984) xác ñịnh khả năng tổng hợp axit amin ở lúa lai lớn hơn so với lúa thường, hoạt ñộng tổng hợp tinh bột của con lai F1 bắt ñầu từ ngày thứ
6 của nở hoa ñến ngày thứ 26 của nở hoa cao hơn nhiều so với lúa thường (Nguyễn Thị Trâm, 2000)
Trái lại cường ñộ hô hấp của lúa lai thấp hơn lá thuần nên hiệu suất quang hợp cao hơn ñáng kể Con lai F1 cường ñộ quang hợp cao hơn bố mẹ 35%, cường ñộ hô hấp thấp hơn ñáng kể (từ 5 - 7%) ở các giai ñoạn sinh trưởng phát triển mạnh Những ruộng có năng suất cao từ 12 - 14 tấn/ha, chỉ
số diện tích lá thường ñạt 9 - 10 (Nguyễn Văn Hoan, 2004)
Hiệu suất tích lũy chất khô của lúa lai hơn hẳn lúa thuần nhờ vậy mà tổng hợp chất khô trong một cây tăng, trong ñó lượng vật chất tích lũy vào hạt tăng mạnh còn tích lũy vào các cơ quan sinh dưỡng phát triển mạnh (Nguyễn Văn Hoan, 2004)
2.1.6 ðặc ñiểm về các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất
Về năng suất lai của nhiều tổ hợp người ta ñều nhận thấy rằng con lai
có năng suất cao hơn bố mẹ 20 - 70% khi gieo cấy trên diện tích rộng Qua sản xuất nhiều năm trên vùng sinh thái khác nhau ở Trung Quốc qua kết quả
về năng suất lúa lai cho thấy lúa lai ưu việt hơn hẳn lúa lùn cải tiến tốt nhất từ
20 - 30% (Nguyễn Thị Trâm và Nguyễn Văn Hoan, 1996)
Sự biểu hiện ưu thế lai trên cơ quan sinh sản hiện nay có nhiều ý kiến khác nhau:
Chang và cs (1971), Suiui (1974) cùng nhận xét: Ưu thế lai về số bông/khóm và số hạt chắc/bông ñem lại sự tăng năng suất ở ña số giống lúa lai (Nguyễn Thị Trâm, 2000)
Theo Virmani và cs (1981, 1982) cho rằng ưu thế lai về năng suất hạt chủ yếu do số hạt/bông nhiều hơn và trọng lượng 1000 hạt nặng hơn
Trang 18Các kết quả nghiên cứu của Viện nghiên cứu lúa Quốc tế (Virmani và
cs, 1982) xác ñịnh ưu thế lai giả ñịnh về năng suất là 73%, ưu thế lai thực là 57%, ưu thế lai chuẩn là 84% Ở vụ xuân ưu thế lai chuẩn là 22% thấp hơn ở mùa khô là 12% (Virmani và cs, 1981, 1983)
Một số các tác giả khác cũng cho rằng lúa lai có ưu thế về năng suất hạt (Yoshida, 1981; Phạm Văn Cường và cs, 2003, 2004)
Ngoài ra lúa lai có số bông/khóm, số hạt/bông cao và tỷ lệ lép thấp Nhờ ñặc tính ñẻ sớm, ñẻ khỏe và tỷ lệ thành bông cao nên tính theo một hạt thóc ñược gieo cấy ra thì trong cùng một khoảng thời gian tồn tại, lúa lai tạo ñược nhiều bông hơn, bông lúa to hơn và tỷ lệ hạt lép thấp hơn so với lúa thường ðể ñạt ñược số bông cần thiết trên một khóm lúa cần căn cứ vào mật
ñộ cấy và ñặc biệt phụ thuộc vào ñộ lớn của bông Các tổ hợp lúa lai gieo cấy hiện nay ñược chia làm 3 nhóm: nhóm bông trung bình thường ñạt 130 - 140 hạt/bông, nhóm bông to: có 160 - 200 hạt/bông và loại bông rất to trên 200 hạt/bông, thường ñạt 210 - 260 hạt/bông, bông to nhất có thể ñạt trên 400 hạt/bông với tỷ lệ lép 8 - 12% Loại hình lúa lai bông to có thể cho năng suất khá cao (trên 8 tấn/ha/vụ) mà không phải bố trí có nhiều bông trên ñơn vị diện tích gieo cấy Lúa lai không có loại hình bông bé vì vậy có thể gieo cấy lúa lai với mật ñộ thấp hơn lúa thường, ruộng lúa thông thoáng song năng suất vẫn rất cao, ñạt hiệu quả kinh tế như mong muốn (Nguyễn Văn Hoan, 2004)
Nhìn chung các nhà khoa học cho rằng ưu thế lai ở năng suất hạt là sự biểu hiện tổng hợp tất cả các yếu tố cấu thành năng suất: số bông/khóm, số hạt/bông, tỷ lệ hạt chắc, khối lượng 1000 hạt …
2.2 ðặc ñiểm dinh dưỡng N, P, K của lúa lai và lúa thường
2.2.1 ðặc ñiểm dinh dưỡng ñạm của cây lúa và lúa lai
ðạm là yếu tố dinh dưỡng quan trọng, quyết ñịnh sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng ðạm là một trong những nguyên tố cơ bản của cây
Trang 19trồng, là thành phần cơ bản của axit amin, axit nucleotit và diệp lục Trong thành phần chất khô của cây có chứa từ 0,5 - 6% ñạm tổng số Hàm lượng ñạm trong lá liên quan chặt chẽ với cường ñộ quang hợp và sản sinh lượng sinh khối ðối với cây lúa thì ñạm lại càng quan trọng hơn, nó có tác dụng trong việc hình thành bộ rễ, thúc ñẩy nhanh quá trình ñẻ nhánh và sự phát triển thân lá của lúa dẫn ñến làm tăng năng suất lúa Do vậy ñạm thúc ñẩy cây sinh trưởng nhanh (chiều cao, số dảnh) và tăng kích thước lá, số hạt, tỷ lệ hạt chắc, hàm lượng protein trong hạt ðạm ảnh hưởng ñến tất cả các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lúa
Lúa là cây trồng rất mẫn cảm với việc bón ñạm Nếu giai ñoạn ñẻ nhánh thiếu ñạm sẽ làm năng suất lúa giảm do ñẻ nhánh ít, dẫn ñến số bông ít Nếu bón không ñủ ñạm sẽ làm thấp cây, ñẻ nhánh kém, phiến lá nhỏ, lá có thể biến thành màu vàng, bông ñòng nhỏ, từ ñó làm cho năng suất giảm Nhưng nếu bón thừa ñạm lại làm cho cây lúa có lá to, dài, phiến lá mỏng, dễ bị sâu bệnh, dễ lốp ñổ, ngoài ra chiều cao phát triển mạnh, nhánh vô hiệu nhiều, trỗ muộn, năng suất giảm Khi cây lúa ñược bón ñủ ñạm thì nhu cầu tất cả các dinh dưỡng khác như lân và kali ñều tăng (Lê Văn Tiềm, 1986; ðỗ Thị Thọ, 2004)
Lúa lai có ñặc tính ñẻ nhánh sớm, ñẻ nhiều và ñẻ tập trung hơn lúa thuần Do ñó yêu cầu dinh dưỡng ñạm của lúa lai nhiều hơn lúa thuần Theo Phạm Văn Cường và cs (2003, 2004, 2005), trong giai ñoạn từ ñẻ nhánh tới
ñẻ nhánh rộ, hàm lượng ñạm trong thân, lá luôn cao, sau ñó giảm dần Như vậy, cần bón tập trung ñạm mạnh vào giai ñoạn này Tuy nhiên, thời kỳ hút ñạm mạnh nhất của lúa lai là từ ñẻ nhánh rộ ñến làm ñòng Mỗi ngày lúa lai hút 3,52 kg N/ha chiếm 34,69% tổng lượng hút Tiếp ñến là giai ñoạn từ bắt ñầu ñẻ nhánh ñến ñẻ nhánh rộ, mỗi ngày cây hút 2,74 kg N/ha chiếm 26,82% tổng lượng hút
Trang 202.2.2 đặc ựiểm dinh dưỡng lân của cây lúa và lúa lai
Sau ựạm thì lân là yếu tố dinh dưỡng rất quan trọng ựối với sinh trưởng và phát triển của cây trồng, vì lân là thành phần chủ yếu của axit nucleic, là thành phần chủ yếu của nhân tế bào
Khi cây lúa ựược cung cấp lân thoả ựáng sẽ tạo ựiều kiện cho bộ rễ phát triển tốt, tăng khả năng chống hạn, tạo ựiều kiện cho sinh trưởng, phát triển, thúc ựẩy sự chắn của hạt và cuối cùng là tăng năng suất lúa (Lê Văn Tiềm, 1996)
Theo đào Thế Tuấn (1963), bón phân có ảnh hưởng ựến phẩm chất hạt giống rõ rệt, làm tăng trọng lượng 1000 hạt, tăng tỷ lệ lân trong hạt, tăng số hạt/bông và cho năng suất lúa cao hơn
Bùi Huy đáp (1980) cho rằng: lân có vai trò quan trọng ựối với quá trình tổng hợp ựường, tinh bột trong cây lúa và có ảnh hưởng rõ rệt ựến năng suất
Theo Vũ Hữu Yêm (1995), cây non rất mẫn cảm với việc thiếu lân Thiếu lân trong thời kỳ cây con cho hiệu quả rất xấu, sau này dù có bón nhiều lân thì cây cũng trỗ không ựều hoặc không thoát ựòng Do vậy, cần bón ựủ lân ngay từ giai ựoạn ựầu và bón lót phân lân là rất có hiệu quả
Dinh dưỡng lân có liên quan mật thiết với dinh dưỡng ựạm Nếu bón
ựủ lân sẽ làm tăng khả năng hút ựạm và các chất dinh dưỡng khác Cây ựược bón cân ựối N, P sẽ xanh tốt, phát triển mạnh, chắn sớm, cho năng suất cao và phẩm chất tốt
Như vậy muốn cho cây lúa sinh trưởng, phát triển và cho năng suất cao thì không những cần cung cấp ựầy ựủ ựạm mà còn cần cung cấp ựầy ựủ cả lân cho cây lúa (Tandon và Kimo, 1995; Vũ Hữu Yêm, 1995; Nguyễn Vi, 1995)
Hầu hết các thắ nghiệm trong chậu và ngoài ựồng ựều cho thấy hiệu suất sử dụng lân ở lúa lai là 10 - 12 kg thóc/kg P2O5, cao hơn so với lúa thuần chỉ ựạt 6 - 8 kg thóc/kg P2O5
Trang 212.2.3 ðặc ñiểm dinh dưỡng Kali của cây lúa và lúa lai
Kali có vai trò không kém phần quan trọng ñối với sự sinh trưởng của lúa vì kali có tác dụng xúc tiến sự di chuyển của các chất ñồng hoá trong cây Ngoài ra kali còn làm cho sự di ñộng sắt trong cây ñược tốt do ñó ảnh hưởng gián tiếp ñến quá trình hô hấp Kali cũng cần cho sự tổng hợp protit, quan hệ mật thiết với sự phân chia tế bào (Virmani và cs, 1981; Nguyễn Văn Bộ, 1995; Nguyễn Văn Luật, 2001; Nguyễn Hữu Tề, 2004)
Vai trò của kali ñối với sinh trưởng, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lúa ñã ñược nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu Nói chung, khi thiếu kali thì dẫn ñến sự quang hợp của cây bị giảm sút rõ rệt, kéo theo cường ñộ hô hấp tăng lên, làm cho sản phẩm của quá trình quang hợp trong cây bị giảm, trường hợp này ñược thể hiện rất rõ trong ñiều kiện thiếu ánh sáng ðặc biệt, vai trò của kali thể hiện rõ nhất trong thời kỳ ñầu làm ñòng Trong thời kỳ này, nếu thiếu kali sẽ làm cho gié bông thoái hoá nhiều,
số bông ít, trọng lượng 1000 hạt giảm, hạt xanh, lép lửng và bạc bụng nhiều, phẩm chất gạo bị giảm sút
Theo Nguyễn Như Hà (1999) không bón phân kali ảnh hưởng xấu ñến các yếu tố cấu thành năng suất lúa (số bông ñược tạo thành giảm 6,5 - 10%,
số hạt tạo thành thấp hơn, ñồng thời làm tăng tỷ lệ hạt lép lửng), năng suất lúa giảm rõ rệt so với bón ñủ kali
Không bón kali làm giảm tích lũy kali và ñạm trong sản phẩm thu hoạch, ñạm tích lũy nhiều trong rơm rạ không ñược vận chuyển về hạt là nguyên nhân làm giảm năng suất và chất lượng gạo (Tandon và Kimo, 1995; Nguyễn Như Hà, 1999)
Thiếu kali, lá lúa bị xém nâu, cây phát triển chậm và còi cọc, thân yếu
và dễ bị ñổ, hạt teo quắt Thiếu kali làm cây lúa dễ bị nấm bệnh, vi khuẩn Theo Nguyễn Vi (1995), với các giống lúa hiện nay, tỷ lệ hạt chắc tăng từ 30 -
Trang 2257% do bón kali và trọng lượng hạt cũng tăng từ 12 - 30%
ðối với lúa lai, từ giai ñoạn ñẻ nhánh ñến trỗ, cường ñộ hút kali tương tự lúa thuần Tuy nhiên, từ sau khi lúa trỗ thì lúa thuần hút rất ít kali, trong khi ñó lúa lai vẫn duy trì sức hút kali mạnh, mỗi ngày hút 670 g/ha, chiếm 8,7% tổng lượng hút Như vậy trong suốt quá trình sinh trưởng cường ñộ hút kali của lúa lai luôn cao ðây là ñặc ñiểm dinh dưỡng rất ñặc trưng về hút các chất dinh dưỡng của lúa lai Vì vậy ñể có năng suất cao cần coi trọng bón kali cho lúa lai
2.3 Tình hình sử dụng phân bón và nghiên cứu về tỷ lệ phân bón lúa
lai ở Việt Nam và trên thế giới
2.3.1 Tình hình sử dụng phân bón cho lúa ở Việt Nam và trên thế giới
Hiện nay Việt Nam là nước sử dụng phân bón tương ñối nhiều so với các năm trước ñây do người dân áp dụng nhiều biện pháp kỹ thuật trong thâm canh Theo Vũ Hữu Yêm (1995), Việt Nam hiện ñang là một trong 20 quốc gia sử dụng phân bón cao nhất thế giới
Bảng 2.1 Nhu cầu và cân ñối phân bón ở Việt Nam ñến năm 2020
Năm Các loại phân
Nguồn: Phòng QL ñất và phân bón, Cục Trồng trọt, Bộ NN & PTNT, 5/2007
Theo Nguyễn Văn Bộ (2003), mỗi năm nước ta sử dụng 1.202.140 tấn ñạm, 456.000 tấn lân, 402.000 tấn kali, trong ñó sản xuất lúa chiếm 62% Song do ñiều kiện khí hậu còn gặp nhiều bất lợi cho nên kỹ thuật bón phân
Trang 23chỉ mới phát huy ựược 30% hiệu quả ựối với ựạm và 50% hiệu quả ựối với lân
và kali Nhưng hiệu quả bón phân ựối với cây trồng lại tương ựối cao, do vậy
mà người dân ngày càng mạnh dạn áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất Trong tương lai, vẫn hứa hẹn sử dụng một lượng phân bón rất lớn trong sản xuất nông nghiệp, mặc dù nước ta chủ yếu vẫn phải nhập khẩu phân bón
2.3.2 Kết quả nghiên cứu về phân ựạm ựối với cây lúa
Nhu cầu ựạm của cây lúa ựã ựược nhiều nhà khoa học trên thế giới ựi sâu nghiên cứu và có nhận xét chung là: nhu cầu ựạm của cây lúa có tắnh chất liên tục từ ựầu thời kỳ sinh trưởng cho ựến lúc thu hoạch Trong suốt quá trình sinh trưởng, phát triển của cây lúa, có hai thời kỳ mà nhu cầu dinh dưỡng ựạm cao nhất ựó là thời kỳ ựẻ nhánh rộ và thời kỳ làm ựòng Ở thời kỳ
ựẻ nhánh rộ cây hút nhiều ựạm nhất (Cục khuyến nông và khuyến lâm, 1998; Nguyễn Thị Lang, 1994)
Theo Yoshida (1985), Nguyễn Hữu Tề và cs (1997): lượng ựạm cây hút ở thời kỳ ựẻ nhánh quyết ựịnh tới 74% năng suất Bón nhiều ựạm làm cây lúa ựẻ nhánh khoẻ và tập trung, tăng số bông/m2, số hạt/bông, nhưng trọng lượng nghìn hạt (P1000) ắt thay ựổi (Yosida, 1976)
Theo các tác giả đinh Văn Lữ (1978), Bùi Huy đáp (1980), đào Thế Tuấn (1980) và Nguyễn Hữu Tề (1997): thông thường cây lúa hút 70% tổng lượng ựạm là trong giai ựoạn ựẻ nhánh, ựây là thời kỳ hút ựạm có ảnh hưởng lớn ựến năng suất, 10 - 15% là hút ở giai ựoạn làm ựòng, lượng còn lại là từ giai ựoạn sau làm ựòng ựến chắn
Qua nhiều năm nghiên cứu, đào Thế Tuấn ựã ựi ựến nhận xét: cây lúa ựược bón ựạm thoả ựáng vào thời kỳ ựẻ nhánh rộ thúc ựẩy cây lúa ựẻ nhánh khoẻ và hạn chế số nhánh bị lụi ựi Ở thời kỳ ựẻ nhánh của cây lúa, ựạm có vai trò thúc ựẩy tốc ựộ ra lá, tăng tỷ lệ ựạm trong lá, tăng hàm lượng diệp lục,
Trang 24tắch luỹ chất khô và cuối cùng là tăng số nhánh ựẻ (đào Thế Tuấn, 1980)
Theo tác giả Bùi đình Dinh (1993), cây lúa cũng cần nhiều ựạm trong thời kỳ phân hoá ựòng và phát triển ựòng thành bông, tạo ra các bộ phận sinh sản Thời kỳ này quyết ựịnh cơ cấu sản lượng: số hạt/bông, trọng lượng nghìn hạt (P1000) (Nguyễn Như Hà, 2005)
Yoshida (1985) cho rằng: Ở các nước nhiệt ựới lượng các chất dinh dưỡng (N, P, K) cần ựể tạo ra một tấn thóc trung bình là: 20,5 kg N; 5,1 kg
P2O5 và 44 kg K2O Trên nền phối hợp 90 kg P2O5 Ờ 60 kg K2O hiệu suất phân ựạm và năng suất lúa tăng nhanh ở các mức bón từ 40 - 120 kg N/ha
Kết quả nghiên cứu của đinh Văn Cự tại xã Gia Xuyên - Tứ Lộc - Hải Dương cho thấy: lượng ựạm cần bón ựể ựạt 1 tấn thóc phải từ 26 - 28 kg N Kết quả này cao hơn nhiều so với dự tắnh của đào Thế Tuấn năm 1969, muốn ựạt ựược một tấn thóc cần 22,3 kg N trong vụ chiêm và 22,6 kg N trong vụ mùa (Lê Văn Tiềm, 1986)
Theo kết quả tổng kết của Mai Văn Quyền (2002), trên 60 thắ nghiệm thực tiễn khác nhau ở 40 nước có khắ hậu khác nhau cho thấy: nếu ựạt năng suất lúa 3 tấn thóc/ha, thì lúa lấy ựi hết 50 kg N, 26 kg P2O5, 80 kg K2O, 10
kg Ca, 6 kg Mg, 5 kg S và nếu ruộng lúa ựạt năng suất ựến 6 tấn/ha thì lượng dinh dưỡng cây lúa lấy ựi là 100 kg N, 50 kg P2O5, 160 kg K2O, 19 kg Ca, 12
kg Mg, 10 kg S Như vậy, trung bình cứ tạo 1 tấn thóc, cây lúa lấy ựi hết 17
Trang 25gấp 10 lần cho nên vai trò của ñạm làm tăng tích luỹ chất khô (Nguyễn Thị Lẫm, 1994)
Nếu bón ñạm với liều lượng cao thì hiệu suất cao nhất là bón vào lúc lúa ñẻ nhánh và sau ñó giảm dần Với liều lượng bón ñạm thấp thì bón vào lúc lúa ñẻ nhánh và trước trỗ 10 ngày có hiệu quả cao (Yoshida, 1985)
Năm 1973, Xiniura và Chiba có kết quả thí nghiệm bón ñạm theo 9 cách tương ứng với các giai ñoạn sinh trưởng, phát triển Mỗi lần bón với 7 mức ñạm khác nhau, 2 tác giả trên ñã có những kết luận sau:
+ Hiệu suất của ñạm (kể cả rơm, rạ và thóc) cao khi lượng ñạm bón ở mức thấp
+ Có 2 ñỉnh về hiệu suất, ñỉnh ñầu tiên là xuất hiện ở thời kỳ ñẻ nhánh, ñỉnh thứ 2 xuất hiện ở 9 ñến 19 ngày trước trỗ, nếu lượng ñạm nhiều thì không có ñỉnh thứ 2 Nếu bón liều lượng ñạm thấp thì bón vào lúc 20 ngày trước trỗ, nếu bón liều lượng ñạm cao thì bón vào lúc cây lúa ñẻ nhánh
Viện Nông hoá - Thổ nhưỡng ñã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của ñất, mùa vụ và liều lượng phân ñạm bón ñến tỷ lệ ñạm cây lúa hút Không phải do bón nhiều ñạm thì tỷ lệ ñạm của lúa sử dụng nhiều Ở mức phân ñạm
80 kg N/ha, tỷ lệ sử dụng ñạm là 46,4%, so với mức ñạm này có phối hợp với phân chuồng tỷ lệ ñạm hút ñược là 47,4% Nếu tiếp tục tăng liều lượng ñạm ñến 160 kg N và 240 kg N có bón phân chuồng thì tỷ lệ ñạm mà cây lúa sử dụng cũng giảm xuống Trên ñất bạc màu so với ñất phù sa sông Hồng thì hiệu suất sử dụng ñạm của cây lúa thấp hơn Khi bón liều lượng ñạm từ 40N - 120N thì hiệu suất sử dụng phân giảm xuống, tuy lượng ñạm tuyệt ñối do lúa
sử dụng có tăng lên (Nguyễn Thị Lẫm, 1994)
Kết quả nghiên cứu sử dụng phân bón ñạm trên ñất phù sa sông Hồng của Viện Khoa học Nông Nghiệp Việt Nam ñã tổng kết các thí nghiệm 4 mức
Trang 26ñạm từ năm 1992 ñến 1994, kết quả cho thấy: phản ứng của phân ñạm ñối với lúa phụ thuộc vào thời vụ, loại ñất và giống lúa (Nguyễn Thị Lẫm, 1994)
Viện nghiên cứu lúa ñồng bằng sông Cửu Long ñã có nhiều thí nghiệm
về "Ảnh hưởng của liều lượng ñạm khác nhau ñến năng suất lúa vụ ñông xuân
và hè thu trên ñất phù sa ñồng bằng sông Cửu Long" Kết quả nghiên cứu trung bình nhiều năm, từ năm 1985 - 1994 của Viện lúa ðồng bằng sông Cửu Long ñã chứng minh rằng: trên ñất phù sa ñược bồi hàng năm có bón 60 kg
P2O5 và 30 kg K2O làm nền thì khi có bón ñạm ñã làm tăng năng suất lúa từ
15 - 48,5% trong vụ ñông xuân và vụ hè thu tăng từ 8,5 - 35,6% Hướng chung của 2 vụ ñều bón ñến mức 90 kg N có hiệu quả cao hơn cả, bón trên mức 90 kg N này năng suất lúa tăng không ñáng kể (Nguyễn Thị Lẫm, 1994)
Theo Nguyễn Thị Lẫm (1994), khi nghiên cứu về bón phân ñạm cho lúa cạn ñã kết luận: Liều lượng ñạm bón thích hợp cho các giống có nguồn gốc ñịa phương là 60 kg N/ha ðối với những giống thâm canh cao như CK136 thì lượng ñạm thích hợp từ 90 kg – 120 kg N/ha
Theo Nguyễn Như Hà (1999), ảnh hưởng của mật ñộ cấy và ảnh hưởng của liều lượng ñạm tới sinh trưởng của giống lúa ngắn ngày thâm canh cho thấy: tăng liều lượng ñạm bón ở mật ñộ cấy dày có tác dụng tăng tỷ lệ nhánh hữu hiệu
Phân ñạm ñối với lúa lai là rất quan trọng Lúa lai có bộ rễ khá phát triển, khả năng huy ñộng từ ñất rất lớn nên ngay trường hợp không bón phân, năng suất lúa lai vẫn cao hơn lúa thuần Các nhà nghiên cứu Trung Quốc ñã kết luận: cùng một mức năng suất, lúa lai hấp thu lượng ñạm và lân thấp hơn lúa thuần, ở mức năng suất 75 tạ/ha, lúa lai hấp thu ñạm thấp hơn lúa thuần 4,8%, hấp thu P2O5 cao hơn 18,2% nhưng hấp thu kali cao hơn 30% Với ruộng lúa cao sản thì lúa lai hấp thu ñạm cao hơn lúa thuần 10%, hấp thu K2O cao hơn 45% còn hấp thu P2O5 thì bằng lúa thuần (Phạm Văn Cường, 2005)
Trang 27Kết quả thí nghiệm trong chậu cho thấy: trên ñất phù sa sông Hồng, bón ñạm ñơn ñộc làm tăng năng suất lúa lai 48,7%, trong khi ñó năng suất giống lúa CR203 chỉ tăng 23,1% Với thí nghiệm ñồng ruộng, bón ñạm, lân cho lúa lai có kết quả rõ rệt Nhiều thí nghiệm trong phòng cũng như ngoài ñồng ruộng cho thấy, 1 kg N bón cho lúa lai làm tăng năng suất 9 - 18 kg thóc, so với lúa thuần thì tăng 2 - 13 kg thóc Như vậy, trên các loại ñất có vấn ñề như ñất bạc màu, ñất gley, khi các yếu tố khác chưa ñược khắc phục
về ñộ chua, lân, kali, thì vai trò của phân ñạm không phát huy ñược, nên năng suất lúa lai tăng có 17,7% trên ñất bạc màu và 11,5% trên ñất gley (Phạm Văn Cường, 2005)
Với ñất phù sa sông Hồng, bón ñạm với mức 180 kg N/ha trong vụ xuân và 150 kg N/ha trong vụ mùa cho lúa lai vẫn không làm giảm năng suất lúa Tuy nhiên, ở mức bón 120 kg N/ha làm cho hiệu quả cao hơn các mức khác (Nguyễn Thị Lẫm, 1994)
Thời kỳ bón ñạm là thời kỳ rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu lực của phân ñể làm tăng năng suất lúa Với phương pháp bón ñạm (bón tập trung vào giai ñoạn ñầu và bón nhẹ vào giai ñoạn cuối) của Việt Nam vẫn cho năng suất lúa cao, năng suất lúa tăng thêm từ 3,5 tạ/ha (Cục khuyến nông, khuyến lâm, 1998; Nguyễn Thị Lẫm, 1994; Nguyễn Văn Luật, 2001)
Liều lượng bón cho 1 ha: 8 tấn phân chuồng + 120 kg N + 90 kg P2O5+ 60 kg K2O Kết quả thời kỳ bón cho thấy rất rõ hiệu quả của phân ñạm trên ñất phù sa sông Hồng ñạt cao nhất ở thời kỳ bón lót từ 50 - 75% tổng lượng ñạm, lượng ñạm bón nuôi ñòng chỉ từ 12,5 - 25% (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 1996)
2.3.3 Kết quả nghiên cứu về phân lân ñối với cây lúa
Theo kết quả của Nagai (1959), lân ñược hút trong 42 ngày ñầu tiên sau cấy thì chuyển lên bông, có tác dụng rõ rệt ñến năng suất lúa, còn lân
Trang 28ựược hút sau ựó, phần lớn ựược ở rễ và trong rơm rạ (đào Thế Tuấn, 1963)
Kết quả nghiên cứu hiệu suất từng phần của lân ựối với việc tạo thành hạt thóc của Kamurava và Ishizaka năm 1996 cho thấy: thời kỳ lân có hiệu suất cao nhất là thời kỳ ựầu sau cấy 10 - 20 ngày (Katyal, 1978)
Tanaka có nhận xét: hiệu quả của bón phân lân cho lúa thấp hơn so với cây trồng cạn Tuy nhiên, bón lân xúc tiến quá trình sinh trưởng của cây trong thời kỳ ựầu, có thể rút ngắn thời gian sinh trưởng, ựặc biệt là những vùng lạnh thì hiệu quả ựó càng rõ Kết quả của Buba năm 1960 cho biết, lúa nước là loại cây trồng cần ắt lân, do ựó khả năng hút lân từ ựất mạnh hơn cây trồng cạn (Katyal, 1978)
Nghiên cứu của Brady, Nylec năm 1985 cho thấy, hầu hết các loại cây trồng hút không quá 10 - 13% lượng lân bón vào ựất trong năm, ựặc biệt là cây lúa, chỉ cần giữ cho lân có trong ựất khoảng 0,2 ppm hoặc thấp hơn một chút là
có thể cho năng suất tối ựa Tuy vậy, cần bón lân kết hợp với các loại phân khác như ựạm, kali mới nâng cao ựược hiệu quả của nó (Katyal, 1978)
Ở mỗi thời kỳ, lúa hút lân với lượng khác nhau, trong ựó có hai thời kỳ hút mạnh nhất là thời kỳ ựẻ nhánh và thời kỳ làm ựòng Tuy nhiên, xét về mức ựộ thì lúa hút lân mạnh nhất vào thời kỳ ựẻ nhánh (Nguyễn Văn Uyển, 1994; Trung, 1994)
Trung bình ựể tạo ra một tấn thóc, lúa hút khoảng 7,1 kg P2O5 Lân trong ựất là rất ắt, hệ số sử dụng lân của lúa lại thấp, do ựó phải bón lân với liều lượng tương ựối khá
Ở Ấn độ, bón phân lân với mức 60 kg P2O5/ha có thể tăng năng suất lúa lên trung bình 0,5 - 0,75 tấn thóc/ha Ở đài Loan, theo Lian (1989), với mức khoảng 50 - 60 kg P2O5/ha cho năng suất bội thu cao nhất (Hong và cs, 1990)
Trang 29để nâng cao hiệu quả của việc bón lân cho cây lúa ngắn ngày, trong ựiều kiện thâm canh trung bình (10 tấn phân chuồng, 90 Ờ 120 kg N/ha, 60 kg
K2O/ha) nên bón phân với lượng 80 Ờ 90 kg P2O5/ha và tập trung bón lót (Gros, 1997)
Theo nhiều tác giả cho biết, lượng phân bón cho lúa cần thay ựổi theo thời tiết, mùa vụ và từng loại ựất Trên ựa số các loại ựất, chân lúa cao sản thường bón lượng lân 60 kg P2O5/ha, riêng ựối với ựất xám bạc màu có thể bón 80 - 90 kg P2O5/ha
Theo Nguyễn Văn Bộ, Bùi đình Dinh và cs 1995, nhu cầu về lân của lúa lai không có gì khác biệt so với các giống lúa thường có cùng thời gian sinh trưởng Lúa lai với năng suất 7 tấn/ha, cây lúa hút 60 - 70 kg P2O5/ha
Năm 1996, Mai Thành Phụng và một số tác giả cho rằng, trên ựất phèn nặng, muốn trồng lúa có hiệu quả cần phải liên tục cải tạo: sử dụng nước ngọt tưới ựể rửa phèn, bón phân lân liều lượng cao trong những năm ựầu ựể tắch lũy lân Trên ựất phù sa sông Cửu Long ựược bồi hàng năm, bón lân vẫn có hiệu quả rất rõ Vụ ựông xuân bón 20 kg P2O5/ha ựã tăng năng suất ựược 20%
so với công thức không bón lân Tuy nhiên, bón thêm với liều lượng cao hơn, năng suất lúa có tăng nhưng không rõ cho nên ruộng thâm canh thường ựược bón phối hợp từ 20 - 30 kg P2O5 là ựủ Trong vụ hè thu, cây lúa có nhu cầu lượng lân cao và hiệu quả xuất hiện rõ hơn vụ xuân, bón 20 kg P2O5 thì ựã bội thu ựược 43,7%, tiếp tục bón tăng lượng lân, năng suất lúa có tăng nhưng không rõ (Lê Văn Tiềm, 1996)
Năm 1994, kết quả thắ nghiệm bón lân cho lúa của trường đại học Nông nghiệp II tại xã Thuỷ Dương - Huyện Hương Thuỷ (Thừa Thiên Huế) cho thấy: trong vụ xuân, bón lân cho lúa từ 30 - 120 kg P2O5/ha ựều làm tăng năng suất lúa từ 10 - 17% Với liều lượng bón 90 kg P2O5 là ựạt năng suất cao nhất và nếu bón hơn liều lượng 90 kg P2O5/ha thì năng suất có xu hướng
Trang 30giảm Trong vụ hè thu, với giống lúa VM1, bón supe lân hay lân nung chảy ựều làm tăng năng suất rất rõ rệt (Nguyễn Vi, 1995; Nguyễn Văn Uyển, 1994)
Tất cả các thắ nghiệm trong chậu và ngoài ựồng ựều cho thấy, hiệu suất
sử dụng lân ở lúa lai là 10 - 12 kg thóc/kg P2O5, so với lúa thuần là 6 - 8 kg thóc/kg P2O5 (Phạm Văn Cường, 2005)
2.3.4 Kết quả nghiên cứu về phân kali ựối với cây lúa
đặc ựiểm dinh dưỡng kali của cây lúa ựã ựược nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu
Yoshida (1985) cho biết, chỉ khoảng 20% tổng lượng kali cây hút là ựược vận chuyển vào hạt, lượng còn lại ựược tắch lũy trong các bộ phận khác của cây (trong rơm rạ)
Theo Matsuto, giữa việc hút ựạm và kali có một mối tương quan thuận
Tỷ lệ N/K thường là 1,26 Theo nhiều tác giả khác cho biết tỷ lệ N/K rất quan trọng, nếu cây lúa hút nhiều ựạm thì dễ thiếu kali, do ựó thường phải bón nhiều kali ở những ruộng lúa bón nhiều ựạm (Tandon và Kimo, 1995; Pan Xigan, 1990)
Theo đinh Dĩnh (1970), cây lúa hút kali tới tận cuối thời kỳ sinh trưởng Nhu cầu kali rõ nét nhất ở hai thời kỳ ựẻ nhánh và làm ựòng Thiếu kali vào thời kỳ ựẻ nhánh ảnh hưởng mạnh ựến năng suất, lúa hút kali mạnh nhất vào thời kỳ làm ựòng
Bùi đinh Dinh (1985) cho biết: tỷ lệ kali cây lúa hút trong các thời kỳ sinh trưởng tuỳ thuộc vào giống lúa, giai ựoạn từ cấy ựến ựẻ nhánh là 20,0 - 21,9%, từ phân hoá ựòng ựến trỗ là 51,8 - 61,9%, từ vào chắc ựến chắn là 16,9 - 27,7%
Theo đào Thế Tuấn (1970), lượng kali cây lúa hút và năng suất lúa có mối quan hệ thuận Vào những thập kỷ 60 - 70, hiệu lực phân kali bón cho lúa rất thấp, ở hầu hết các loại ựất ựã nghiên cứu: ở ựồng bằng sông Hồng, hiệu
Trang 31quả chỉ ñạt 0,3 - 0,8 kg thóc/1 kg kali Hiện nay, hiệu lực của phân kali bón cao hơn trước, với lúa trên ñất bạc màu, hiệu quả cao nhất ñạt 8,1 - 21,0 kg thóc/1 kg kali Trên ñất bạc màu, trữ lượng kali trong ñất ít, do vậy cần phải cung cấp phân kali từ phân bón thì lúa mới có ñủ dinh dưỡng kali, ñồng thời cây lúa cũng hút ñạm ñược dễ dàng hơn Hiệu suất của phân kali trên ñất phù
sa sông Hồng chỉ ñạt 1,0 - 2,5 kg thóc/1 kg phân kali (KCl), trong khi ñó nếu trên ñất bạc màu hay ñất cát ven biển có thể ñạt 5 - 7 kg thóc/1 kg KCl Vì vậy, trên ñất nghèo kali, bón cân ñối ñạm - kali có ý nghĩa rất quan trọng
Theo Vũ Hữu Yêm (1995), hiệu suất phân kali cao nhất trên ñất bạc màu với mức bón 30 kg K2O/ha Bón ñến 120 kg K2O/ha thì hiệu suất kali vẫn còn cho 4 - 6 kg thóc/1 kg K2O
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Như Hà (1999) cho thấy, trong ñiều kiện thâm canh cao, lúa ngắn ngày, lượng kali cây hút ñạt tới 28 - 31 kg
K2O/tấn thóc
Các nhà khoa học Trung Quốc kết luận rằng: các giống lúa lai có nhu cầu cao về kali, thậm chí còn cao hơn ñạm Ở Trung Quốc, ñể ñạt năng suất
15 tấn thóc/ha/năm thì tổng lượng kali cây lúa hút từ 405 - 521 kg K2O/ha
Kết quả nghiên cứu của trại thí nghiệm Cuban (Liên Xô cũ) cho biết,
ñể thu ñược 4 tấn thóc/ha cần bón 35 - 50 kg K2O, trung bình là 44 kg K2O/ha (Hargopal, 1988; Nguyen Van Bo và cs, 2003)
Ở Việt Nam, kết quả nghiên cứu kali bước ñầu cho thấy có nhiều ý kiến khác nhau:
Theo Trần Thúc Sơn (1995), lượng kali lúa ngắn ngày hút ñể tạo một tấn thóc trên ñất phù sa sông Hồng là 14,2 - 21,8 kg K2O/ha, còn theo Phạm Tiến Hoàng (1995) là 28,4 - 32,7 kg K2O/ha
Mặc dù có những ý kiến khác nhau về lượng hút kali của lúa, nhưng trên thực tế sản xuất thì tác hại của việc bón thừa kali vẫn chưa thấy mà chỉ thấy tác hại của việc thiếu kali Do vậy, cần cung cấp kali ñầy ñủ cho lúa ñể
Trang 32làm hạt thóc mẩy và sáng hơn, làm tăng trọng lượng nghìn hạt, từ ựó tăng năng suất và chất lượng lúa
Theo Mai Văn Quyền (2002) cho biết: trên vùng ựất xám ở đức Hoà - Long An, Viện Khoa học Nông Nghiệp miền Nam (1993) ựã thắ nghiệm với 2 giống lúa KSB 218 - 9 - 3 và giống 2B cho thấy, ở các công thức bón từ mức
30 - 120 kg K2O/ha ựều làm cho năng suất lúa cao hơn ựối chứng từ 15,8 - 32,4% với giống KSB - 218 và từ 6 - 18,7% ựối với giống 2B
Dinh dưỡng kali là một trong 3 yếu tố dinh dưỡng quan trọng với cây lúa, trước tiên là cây lúa hút kali, sau ựó hút ựạm để thu ựược 1 tấn thóc, cây lúa lấy ựi 22 - 26 kg K2O nguyên chất, tương ựương với 36,74 - 43,4 kg KCl (60% K), kali là nguyên tố ựiều khiển chất lượng tham gia vào các quá trình hình thành các hợp chất và vận chuyển các hợp chất ựó, kali còn làm tác dụng cho tế bào cây cung cấp, tăng tỷ lệ ựường, giúp vận chuyển chất dinh dưỡng nhanh chóng về hoa và tạo hạt (Bùi đình Dinh, 1993; Trần Thúc Sơn, 1995; Cục khuyến nông và khuyến lâm,1996)
Theo kết quả thắ nghiệm của IRRI tiến hành tại 3 ựiểm khác nhau trong
5 năm 1968 - 1972 cho thấy: kali có ảnh hưởng rất rõ tới năng suất lúa ở cả 2
vụ trong năm Trong ựiều kiện mùa khô, với mức 140 kg N, 60 kg P2O5 và bón 60 kg K2O/ha thì năng suất lúa ựạt 6,78 tấn/ha, cho bội thu năng suất do bón kali là 12,8kg thóc/kg K2O Trong mùa mưa, với mức 70 kg N, 60 kg
P2O5, bón 60 kg K2O/ha thì năng suất lúa ựạt 4,96 tấn/ha (Hong và cs, 1990;
Ma Guohui and Yuan Longping, 2003)
Trên ựất phù sa sông Hồng trong thâm canh lúa ngắn ngày, ựể ựạt ựược năng suất lúa hơn 5 tấn/ha ở vụ mùa và trên 6 tấn/ha ở vụ xuân, nhất thiết phải bón kali để ựạt năng suất lúa xuân 7 tấn/ha, cần bón 102 - 135 kg
K2O/ha/vụ (với mức 193 kg N/ha, 120 kg P2O5/ha) và năng suất lúa vụ mùa ựạt 6 tấn cần bón 88 - 107 kg K2O/ha/vụ (với mức 160kg N/ha/vụ, 88 kg
P2O5/ha/vụ) Hiệu suất phân kali có thể ựạt 6,2 - 7,2 kg thóc/kg K2O (Nguyễn Như Hà, 1999)
Trang 33Vai trò cân ựối ựạm và kali càng lớn khi lượng ựạm sử dụng càng cao Nếu không bón kali thì hệ số sử dụng ựạm chỉ ựạt 15 - 30%, trong khi bón kali thì hệ số này tăng lên ựến 39 - 49% Như vậy, năng suất tăng không hẳn
là do kali (bởi bón kali riêng thì không tăng năng suất) mà là kali ựiều chỉnh dinh dưỡng ựạm, làm cho cây sử dụng ựược nhiều ựạm và các dinh dưỡng khác nhiều hơn
Trong vụ xuân ở miền Bắc, nhiệt ựộ thấp, thời tiết âm u nên hiệu lực
sử dụng phân kali cao hơn, cho nên cần bón kali nhiều ở vụ này (Bùi đình Dinh, 1993)
Lúa lai sử dụng kali cao hơn ựạm, hút kali mạnh vào giai ựoạn lúa làm ựòng ựến giai ựoạn lúa trỗ hoàn toàn Thời gian lúa hút kali kéo dài hơn lúa hút ựạm và lân, lúa hút kali ựến cuối thời kỳ sinh trưởng (Nguyễn Thị Lang, 1994) Nhu cầu kali của cây lúa rõ nhất ở 2 thời kỳ: thời kỳ ựẻ nhánh và làm ựòng Nếu thời kỳ ựẻ nhánh thiếu kali thì ảnh hưởng ựến năng suất lúa Tuy nhiên, lúa hút kali nhiều nhất ở thời kỳ làm ựòng, từ cuối giai ựoạn ựẻ nhánh ựến trỗ, lúa lai hấp thu kali nhiều hơn lúa thuần Sau khi trỗ bông, lúa thuần giảm dần hút kali, trong khi lúa lai vẫn hấp thu kali mạnh (Bùi đình Dinh, 1993; Cục khuyến nông, khuyến lâm, 1996)
Kali ựược sử dụng trong nguyên sinh chất tế bào như một tác nhân kắch thắch các hoạt ựộng chuyển hóa vật chất vô cơ thành hữu cơ, ựồng thời thúc ựẩy quá trình vận chuyển sản phẩm quang hợp vận chuyển lên lá, vào hoa và hạt Sự có mặt của kali thời kỳ sau trỗ của lúa lai là một ưu thế thúc ựẩy quá trình mẩy của hạt, giúp nâng cao năng suất Lúa lai có khả năng ựồng hóa dinh dưỡng cao nhất là ựạm với kali Lượng ựạm hút thường trên 20 - 22
kg N/tấn thóc và lượng hút kali cũng tương tự Trong vụ xuân, ựể ựạt năng suất cao thì cần phải bón sớm Bón kali là yêu cầu bắt buộc với lúa lai ngay cả trên ựất giàu kali (Nguyễn Thị Lang, 1994)
Trang 343 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Vật liệu nghiên cứu
Giống lúa TH5-1 là giống lúa lai hai dòng do Viện sinh học, ðại học Nông nghiệp Hà Nội lai tạo có thời gian sinh trưởng ngắn, vụ xuân 125 - 130 ngày, vụ mùa 105 - 110 ngày
Thí nghiệm ñược tiến hành với 2 mức ñạm và mỗi mức ñạm có 4 tỷ lệ N:P:K khác nhau, cụ thể:
Hai mức ñạm:
N1 (mức ñạm thấp – 60 kg N/ha)
N2 (mức ñạm trung bình – 120 kg N/ha) Mỗi mức ñạm có 4 tỷ lệ N:P:K như sau:
T1 – N: P:K = 1:0,5:0,5
T2 – N:P:K = 1:0,5:0,75
T3 – N:P:K = 1:0,75:0,5
T4 – N:P:K = 1:0,75:0,75 Các công thức thí nghiệm: (ðơn vị: kg/ha)
Trang 353.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Bố trí thí nghiệm
- ðịa ñiểm bố trí thí nghiệm: Khu thí nghiệm Bộ môn Cây Lương Thực – Khoa Nông học – Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội
- Thời vụ bố trí thí nghiệm: Vụ mùa 2008 và vụ xuân 2009
- Thời gian bố trí thí nghiệm:
+ Vụ mùa 2008
Ngày gieo mạ: 28/6/2008 Ngày cấy: 16/7/2008 Ngày thu hoạch: 12/10/2008 + Vụ xuân 2009
Ngày gieo mạ: 14/01/2009 Ngày cấy: 13/02/2009 Ngày thu hoạch: 25/5/2009
- Thí nghiệm ñược bố trí theo thiết kế ô lớn - ô nhỏ (Split-plot) gồm 8 công thức với 3 lần nhắc lại
- Tổng số ô thí nghiệm: 3 x 8 = 24 ô
- Diện tích ô thí nghiệm: 5m x 2m = 10m2
- Diện tích thí nghiệm: 8 công thức x 3 lần lặp lại x 10m2/ ô = 240m2
Trang 36Lần 1 bón sau cấy 10 - 14 ngày: 50% N + 50% K2O Lần 2 bón thúc ñòng (khoảng 20 ngày trước khi trỗ 20% N + 50% K2O)
- Các biện pháp chăm sóc khác ñồng ñều giữa các ô thí nghiệm
DẢI BẢO VỆ
Trang 373.2.3 Các chỉ tiêu theo dõi
3.2.3.1 Các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển
Thời kỳ mạ theo dõi thời gian từ gieo ñến cấy
Thời kỳ trên ruộng cấy: theo dõi ở các giai ñoạn: 2 tuần sau cấy, ñẻ nhánh hữu hiệu, trỗ và chín sáp, mỗi ô thí nghiệm theo dõi 5 ñiểm, mỗi ñiểm
2 khóm, theo dõi các chỉ tiêu sau:
+ Thời gian sinh trưởng của cây
+ Chiều cao cây: ño từ gốc ñến múp lá hoặc múp bông cao nhất
+ Số nhánh/ khóm: ñếm tất cả các nhánh trên khóm
+ Diện tích lá (cm2): ño bằng phương pháp cân nhanh
+ Chất khô tích lũy: khối lượng chất khô ñược cân sau khi sấy ở 800C trong 48 giờ
+ Diện tích 2 lá trên cùng ñã mở hoàn toàn: ño bằng máy Ci202 của Hoa Kì
3.2.3.2 Cường ñộ ánh sáng
ðo ở 3 giai ñoạn: ñẻ nhánh hữu hiệu, trỗ và chín sáp
Mỗi ô thí nghiệm ño 5 khóm, mỗi khóm cùng lúc ño ở múp lá cao nhất
và gốc 2 lá trên cùng ñã mở hoàn toàn ðo vào những ngày có nắng, trong khoảng 10 – 12giờ
Trang 38+ Hàm lượng ñạm trong lá Những cây lấy mẫu, chọn 2 lá ñòng ñể phân tích Hàm lượng N trong lá ñược xác ñịnh bằng phương pháp phân tích Keldal
+ Hiệu suất quang hợp thuần (NAR):
P2 - P1NAR =
1/2 x (L1 + L2) x t
Trong ñó:
- P2, P1 là khối lượng chất khô của 2 lần lấy mẫu
- L1, L2 là diện tích lá ở 2 thời ñiểm lấy mẫu
- t là thời gian giữa 2 lần lấy mẫu
+ Tốc ñộ sinh trưởng của cây (CGR):
(W2 – W1) x mật ñộ
T
Trong ñó:
- W1, W2 là khối lượng chất khô của 2 lần lấy mẫu trước và sau (g chất khô)
- T là khoảng thời gian giữa 2 lần lấy mẫu trước và sau (ngày)
Trang 393.2.3.4 Tình hình sâu, bệnh hại
- Theo dõi sâu, bệnh xuất hiện ở các thời kỳ sinh trưởng của cây lúa như: sâu ñục thân, sâu cuốn lá, bệnh bạc lá Sau ñó ñánh giá theo phương pháp cho ñiểm hoặc theo tỷ lệ bị hại (%) (theo tiêu chuẩn ñánh giá cây lúa của IRRI)
3.2.3.5 Các yếu tố cấu thành năng suất
Khi chín hoàn toàn (khoảng 85% hạt chuyển vàng) mỗi ô thí nghiệm lấy 5 khóm ñể ño ñếm các chỉ tiêu sau:
+ Số bông /khóm
+ Tổng số hạt/bông
+ Tỷ lệ hạt chắc (%)
+ Khối lượng 1000 hạt (M1000) (g): mỗi ô thí nghiệm cân 2 lần, mỗi lần
500 hạt, sai khác không quá 5% thì khối lượng 1000 hạt bằng tổng khối lượng
2 lần 500 hạt ñó, cân khi ñộ ẩm hạt ñạt 14%
+ Năng suất lý thuyết (NSLT) (tạ/ha):
NSLT = A x B x C x D x 10-4 (tạ/ha) Trong ñó:
A: Số bông/khóm
B: Số hạt/bông
C: Tỷ lệ hạt chắc
D: Khối lượng 1000 hạt
10-4: Hệ số quy ñổi ra tạ/ha
+ Năng suất thực thu: năng suất thu ñược quy về ñộ ẩm hạt 14%
3.3 Phương pháp xử lí số liệu
Số liệu ñược tổng hợp và xử lí thống kê theo phương pháp phân tích phương sai (ANOVA) bằng phần mềm toán học CropStat 7.2
Trang 404 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Ảnh hưởng của lân và kali ñến thời gian sinh trưởng của giống lúa lai
TH5-1 trên hai nền ñạm khác nhau qua các giai ñoạn sinh trưởng Bảng 4.1: Ảnh hưởng của lân và kali ñến thời gian sinh trưởng (ngày) của giống lúa lai TH5-1 trên hai nền ñạm khác nhau qua các giai ñoạn
sinh trưởng
Thời
vụ Công thức
Cấy
Gieo- KTðN
Cấy- Trỗ
KTðN- KTT
Trỗ- Chín
KTT-Tổng TGST
N1(60kgN/ha)
Chú thích: KT ðN: kết thúc ñẻ nhánh, KTT: kết thúc trỗ, TGST: thời gian sinh trưởng
Các giống lúa khác nhau có thời gian sinh trưởng khác nhau Cùng một giống nhưng cấy ở mùa vụ khác nhau thì cũng cho thời gian sinh trưởng không giống nhau Ngoài ra, nó còn chịu tác ñộng của ñiều kiện ngoại cảnh, chế ñộ canh tác như phân bón, mật ñộ Vì vậy xác ñịnh thời gian sinh trưởng
là ñiều cần thiết, từ ñó xác ñịnh thời vụ cấy, chế ñộ thâm canh hợp lý nhằm mang lại năng suất và hiệu quả kinh tế cho người trồng lúa