1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

MỘT số yếu tố tác ĐỘNG đến HIỆU QUẢ VIỆC xây DỰNG mô HÌNH xã PHƯỜNG PHÙ hợp với TRẺ EM (QUA KHẢO sát tại 2 xã AN lão và HƯNG CÔNG, HUYỆN BÌNH lục, TỈNH hà n

91 465 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- LÊ THỊ LAN ANH MỘT SỐ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ VIỆC XÂY DỰNG MÔ HÌNH “XÃ, PHƯỜNG PHÙ HỢP VỚI TRẺ EM

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LÊ THỊ LAN ANH

MỘT SỐ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN

HIỆU QUẢ VIỆC XÂY DỰNG MÔ HÌNH

“XÃ, PHƯỜNG PHÙ HỢP VỚI TRẺ EM”

(Qua khảo sát tại 2 xã An Lão và Hưng Công, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI HỌC

Hà Nội, 2009

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LÊ THỊ LAN ANH

MỘT SỐ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ VIỆC XÂY DỰNG MÔ HÌNH

“XÃ, PHƯỜNG PHÙ HỢP VỚI TRẺ EM”

(Qua khảo sát tại 2 xã An Lão và Hưng Công, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam)

Chuyên ngành: XÃ HỘI HỌC

MÃ SỐ: 60 31 30

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Đặng Cảnh Khanh

Hà Nội, 2009

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 8

5 Giả thuyết nghiên cứu và sơ đồ tương quan giữa các biến số 9

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 13

1 Từ quan điểm xây dựng “Một thế giới phù hợp với trẻ em” của

Liên Hiệp Quốc đến việc xây dựng mô hình “Xã, phường phù hợp

với trẻ em” ở Việt Nam

3 Một số lý thuyết và quan điểm của các nhà xã hội học được vận

dụng trong đề tài nghiên cứu

Trang 4

2 Thực trạng và một số yếu tố tác động đến việc xây dựng “Xã, phường phù hợp với trẻ em”

27

2.1 Thực trạng công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em và việc xây dựng “Xã, phường phù hợp với trẻ em” tại hai xã An Lão và Hưng Công

27

2.2 Một số yếu tố tác động đến hiệu quả việc xây dựng mô hình

“Xã, phường phù hợp với trẻ em”

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, nhân loại đã và đang bước vào nền kinh tế tri thức, một trong những đặc điểm quan trọng nhất của nền kinh tế tri thức là tập trung đầu tư phát triển con người, trong đó xác định rõ đầu tư cho con người là sự đầu tư có hiệu quả nhất Đầu tư cho con người, hướng đến con người cũng chính là mục tiêu của Đảng và Nhà nước Việt Nam, đó vừa được coi là động lực, vừa là mục tiêu của

sự phát triển Khi các chính sách của Việt Nam coi con người là động lực của sự phát triển, điều đó cũng có nghĩa là tạo mọi điều kiện để phát huy hết tiềm năng cho mỗi cá nhân nói riêng và con người nói chung hướng đến sự phát triển toàn diện Khi con người được phát huy hết vai trò là động lực, họ sẽ tạo ra nguồn của cải to lớn, tạo ra sự phát triển kinh tế Mặt khác, khi kinh tế phát triển, thì con người cũng có điều kiện được chăm sóc tốt hơn, phát triển ở tầm cao hơn Như vậy, con người lại trở thành mục tiêu của sự phát triển, mọi sự nỗ lực, cố gắng của con người đều hướng đến mục tiêu cho chính con người Vì vậy, đầu tư cho con người là hết sức quan trọng

Đầu tư cho con người đòi hỏi một quá trình lâu dài, bền bỉ và kéo dài trong suốt cuộc đời mỗi con người, dù con người đó ở bất kỳ lứa tuổi nào, trong bất kỳ giai đoạn nào hay thuộc bất kỳ dân tộc, giới tính nào Tuy nhiên, giai đoạn đầu tiên của cuộc đời là giai đoạn cần đến sự đầu tư nhiều nhất, con người có khỏe mạnh về thể chất, có kiến thức, trình độ, học vấn, văn hóa, nhân cách và một tâm hồn phong phú hay không đều phụ thuộc vào giai đoạn đầu tiên đó

Nhiều nghiên cứu khoa học và thực tế cuộc sống đã chỉ ra rằng nếu ở giai đoạn đầu đời, con người có được sự đầu tư bài bản, toàn diện và khoa học, thì đây là tiền đề quan trọng để các giai đoạn sau con người có cơ hội và điều kiện phát triển tốt hơn Do đó, các chính sách đầu tư cho con người hiệu quả nhất là đầu tư trong giai đoạn đầu tiên Những chính sách đầu tư cho thế hệ trẻ đòi hỏi có tính chiến lược, toàn diện, không chắp vá, bị động Tình hình kinh tế có thể biến

Trang 6

đổi nhưng đầu tư cho con người, đặc biệt là thế hệ trẻ phải có chiến lược lớn và không thể thay đổi

Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã đầu tư rất nhiều cho trẻ em,

Ủy ban Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em (nay là Cục trẻ em thuộc Bộ Lao động Thương Binh và Xã hội) đã được thành lập và làm nhiệm vụ quản lý Nhà nước về công tác trẻ em Đến nay, mặc dù đã thay đối tên gọi nhiều lần, nhưng

về bản chất là không thay đổi, vẫn luôn hướng đến mục tiêu cao nhất là đầu tư, phát triển, chăm sóc cho trẻ em Thời gian qua, những chính sách và nỗ lực của Việt Nam trong chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em nói chung, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nói riêng đã đạt được nhiều kết trong các vấn đề cụ thể như: dinh dưỡng và sức khỏe, y tế và giáo dục, đạo đức, lối sống và nhân cách, Bản thân Liên Hiệp Quốc cũng đã đánh giá rất cao những thành quả mà Việt Nam đã đạt được

Tuy nhiên, sự đầu tư, phát triển trẻ em mang tính chiến lược không chỉ dừng lại ở những vấn đề chi tiết, cụ thể mà còn phải hướng đến một tầm cơ bản hơn, đó là xây dựng môi trường xã hội để trẻ em lớn lên có đủ điều kiện phát triển tốt nhất, như sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” Sự “trồng người”, đòi hỏi những vấn đề rất cơ bản: đất đai - không gian văn hóa, môi trường xã hội

để trẻ phát triển Điều đó có nghĩa là để phát triển trẻ em, chúng ta không thể chỉ dừng lại ở việc chăm sóc, giáo dục mà phải xây dựng một môi trường xã hội, một không gian văn hóa xung quanh để trẻ có cơ hội được sinh ra, lớn lên, trưởng thành và được nuôi dưỡng trong cái nôi vững chắc, nhân ái đó

Trong các thập kỷ gần đây, những đòi hỏi về khía cạnh xây dựng môi trường sống phù hợp với trẻ em đã được Liên Hiệp Quốc đề cập và khẳng định rõ trong Tuyên bố của Liên Hiệp Quốc về Quyền trẻ em (1959), Công ước Quốc tế quyền Trẻ em (CRC - được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 20 tháng 11 năm 1989) Trong các văn bản quan trọng này, Liên Hiệp Quốc đã đưa

ra hệ thống các tiêu chí mang tính căn bản, chiến lược rất cần thiết để xây dựng

Trang 7

một môi trường sống mà bất kỳ trẻ em nào cũng có cơ hội và điều kiện phát triển tốt nhất

Ở Việt Nam, công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em thời gian gần đây đã hướng đến việc tạo cho trẻ em có điều kiện sống, học tập và phát triển tốt nhất Đây được coi là bước chuyển biến quan trọng đối với công tác chăm sóc, giáo dục trẻ em Chuyển từ những chăm sóc mang tính trải rộng theo chiều ngang sang những chăm sóc mang tính chiến lược, tổng thể và căn bản theo chiều sâu bao gồm: bảo vệ trẻ em, chăm sóc trẻ em, giáo dục trẻ em, tạo điều kiện để trẻ được vui chơi, giải trí và được tham gia các hoạt động xã hội trong một môi trường sống thuận lợi nhất Đó cũng chính là bốn tiêu chuẩn cụ thể nhất, trọng điểm nhất được các nhà khoa học, các nhà quản lý đưa ra nhằm hướng toàn bộ xã hội vào mục tiêu xây dựng một môi trường sống tốt đẹp nhất cho sự phát triển của trẻ em

Bộ tiêu chuẩn “Xã phường phù hợp với trẻ em” sau một thời gian nghiên cứu, thẩm định được Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban dân số gia đình và trẻ em

(nay là Vụ trẻ em) ra quyết định ban hành ngày 01/6/2004 với tên gọi “Hướng

dẫn Tiêu chuẩn xã/phường phù hợp với trẻ em”1 nhằm hướng tới việc thực hiện cam kết của Nhà nước Việt Nam với Liên Hiệp Quốc về thực hiện xây dựng

“Một thế giới phù hợp với trẻ em” “Xã, phường, thị trấn phù hợp với trẻ em là

xã, phường, thị trấn có môi trường sống an toàn, thân thiện với trẻ em mà ở đó tất

cả trẻ em đều có sự khởi đầu tốt đẹp nhất trong cuộc sống, được hưởng các quyền

cơ bản của mình (quyền được sống, quyền được phát triển, quyền được bảo vệ và quyền được tham gia) và có cơ hội phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ và nhân cách.”2

Sau khi xây dựng bộ tiêu chuẩn, Vụ trẻ em (thuộc Ủy ban dân số gia đình

và trẻ em) đã tiến hành triển khai thử nghiệm ở một số địa bàn trong cả nước Theo quy định, các tỉnh, thành phố nào đạt được các tiêu chí đề ra trong bộ tiêu chuẩn sẽ được cấp Bằng công nhận xã phường phù hợp với trẻ em Trên thực tế,

Trang 8

việc xây dựng mô hình “Xã, phường phù hợp với trẻ em” đã bước đầu thu được những kết quả nhất định nhưng cũng cho thấy rất nhiều khó khăn hạn chế Điều

đó đòi hỏi phải có sự nghiên cứu, phân tích, đánh giá để mô hình này có thể được triển khai một cách hiệu quả trên bình diện rộng lớn hơn

Nhiệm vụ của luận văn “Một số yếu tố tác động đến hiệu quả việc xây dựng mô hình xã phường phù hợp với trẻ em” là tập trung nghiên cứu quá trình xây dựng “Xã, phường phù hợp với trẻ em” tại hai xã An Lão, Hưng Công (huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam), trên cơ sở đó, xem xét, đánh giá việc xây dựng

bộ tiêu chuẩn này những mặt tốt hay chưa tốt, có tích cực đối với sự nghiệp chăm sóc, giáo dục trẻ em hay không, từ đó có những đóng góp nhằm chuẩn hóa, hướng tới hoàn thiện bộ tiêu chuẩn để có thể áp dụng sâu rộng đến tất cả các vùng/miền trong cả nước

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Việc nghiên cứu về mục tiêu, chiến lược phát triển trẻ em ở tầm vĩ mô nói chung và các chương trình, kế hoạch phát triển trẻ ở cấp độ vi mô nói riêng đã và đang được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm dưới nhiều góc độ khác nhau

Trẻ em là thế hệ tương lai của đất nước, là một bộ phận quan trọng trong mục tiêu và chiến lược phát triển con người của Đảng và Nhà nước ta, vì vậy, đầu tư phát triển cho trẻ em chính là sự đầu tư cho tương lai quốc gia, dân tộc

Trên thế giới, nhiều chính sách, chương trình hành động về trẻ em đã và

đang được xây dựng như: Tuyên bố của Hội Quốc liên về quyền trẻ em (1924), Tuyên bố của Liên hiệp quốc (LHQ) về Quyền trẻ em (1959), Công ước Quốc tế quyền Trẻ em (CRC) được Đại hội đồng LHQ thông qua ngày 20 tháng 11 năm

1989, Nghị định không bắt buộc của Công ước LHQ về quyền trẻ em về việc sử dụng trẻ em tham gia quân sự, Nghị định không bắt buộc của công ước Liên Hiệp Quốc về quyền trẻ em về buôn bán mại dâm Trong đó, Công ước quốc tế về quyền trẻ em là một trong những văn bản được nhiều quốc gia trên thế giới ký cam kết thực hiện Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á và nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước này vào năm 1990 Từ đó đến nay, Việt Nam đã từng

Trang 9

bước đưa các vấn đề về trẻ em vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn 2006-2010, đây là văn kiện quan trọng tạo khung pháp lý cho các Bộ, ngành xây dựng kế hoạch hành động riêng của mình đến năm 2010

Nỗ lực hành động và phấn đấu để có môi trường phát triển tốt nhất cho trẻ

em luôn là một chặng đường rất dài và rất động Những giá trị ở hiện đang phù hợp trong giai đoạn này nhưng có thể dễ dàng trở nên lạc hậu sau một vài thập kỷ tới Chính vì thế, ở khắp nơi trên thế giới, các chính sách, chương trình hành động luôn có sự chỉnh sửa, bổ sung sao cho phù hợp nhất với từng giai đoạn, từng lứa tuổi và đặc thù văn hóa, kinh tế của mỗi quốc gia

Ở Việt Nam, Sự nghiệp đổi mới đất nước từ Đại hội Đảng VI năm 1986

đã mang lại những kết quả đáng khích lệ, một mặt khiến cho kinh tế tăng trưởng, thu nhập bình quân tăng, đời sống nhân dân được cải thiện; mặt khác, nó còn là động lực thúc đẩy sự phát triển giao lưu văn hóa xã hội Chúng ta cũng đã quan tâm nhiều hơn đến các chính sách xã hội, đến việc coi con người với tính cách vừa là nguồn lực, lại vừa là mục tiêu của công cuộc phát triển đất nước

Công tác chăm sóc, giáo dục trẻ em cũng dành được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước Với quan điểm trẻ em là chủ nhân tương lai của đất nước, vấn đề trẻ em hiện nay nhận được sự quan tâm của rất nhiều các cơ quan hữu quan nhằm mục đích tạo điều kiện để các em có thể phát triển toàn diện, được sống trong tình yêu thương và được hưởng mọi quyền trẻ em Có thể nói đầu tư cho công tác chăm lo giáo dục trẻ em là đầu tư cho tương lai, tạo cơ sở, điều kiện cho các em học tập, vui chơi lành mạnh chính là một hướng đầu tư hiệu quả cho sự phát triển nước nhà trong một tương lai xa, mang tính lâu dài và bền vững

Ngày 12/8/1991, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đã được Quốc hội Việt Nam thông qua và chính thức có hiệu lực thi hành Có thể nói, Luật bảo

vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em chính là cơ sở pháp lý quan trọng nhất cho việc

triển khai và thực thi các phúc lợi cho trẻ em

Nghiên cứu về trẻ em trong những năm qua cũng nhận được sự quan tâm,

vào cuộc của nhiều cơ quan, đơn vị Có thể nói, có rất nhiều học giả, tổ chức

Trang 10

trong và ngoài nước dày công cho mảng nghiên cứu này Trong phạm vi có hạn, luận văn chỉ xin điểm qua một số những công trình nghiên cứu tiêu biểu, cung cấp cho chúng ta những nền tảng, những hiểu biết cần thiết khi tiếp cận nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến việc xây dựng mô hình “Xã, phường phù hợp với trẻ em”

Viết về gia đình và vấn đề xã hội hóa trẻ em, trong cuốn sách “Gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới”, (Nxb Khoa học xã hội, 2002) tác

giả Lê Thi đã phân tích và khẳng định rằng: “Gia đình là thiết chế giáo dục cơ sở, trung tâm đào tạo đầu tiên giúp đứa trẻ tập sự đi vào cuộc sống Gia đình chuẩn

bị cho trẻ có thể phát triển đầy đủ tiềm lực của nó và đóng vai trò hữu ích trong

xã hội khi đến tuổi trưởng thành” (sđd, tr.3) Tác giả cũng phân tích những biến động của gia đình ngày nay cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ Việc xã hội hóa trẻ em không chỉ dừng lại ở việc truyền đạt những giá trị văn hóa truyền thống, bên cạnh đó, trẻ cũng cần phải học cách thích nghi với những chuẩn mức

và giá trị văn hóa đang biến động từng ngày Do vậy, tác giả khẳng định quá trình xã hội hóa trẻ em có sự ảnh hưởng đầu tiên và quan trọng từ phía gia đình

Tác giả Đặng Cảnh Khanh với cuốn sách “Gia đình, trẻ em và sự kế thừa các giá trị truyền thống”, Nxb Lao động Xã hội, Hà Nội, 2003 và bài viết “Vai trò của gia đình trong việc giáo dục các giá trị truyền thống” đăng trong cuốn

Thế hệ trẻ Việt Nam – Nghiên cứu lý luận và thực tiễn đã đi sâu nghiên cứu vị trí,

vai trò của gia đình, những mối quan hệ trong gia đình, sự biến đổi của gia đình dưới tác động của sự thay đổi các điều kiện kinh tế, xã hội Nghiên cứu khẳng định vai trò to lớn của gia đình đối với việc giáo dục thanh thiếu niên và trẻ em trong giai đoạn hiện nay Đồng thời cũng chỉ ra một số vấn đề trong gia đình và những giải pháp tăng cường vai trò của gia đình đối với việc giáo dục, chăm sóc

và bảo vệ thế hệ trẻ Tuy nhiên, nghiên cứu của tác giả Đặng Cảnh Khanh và Lê Thi chủ yếu hướng tới vai trò của gia đình đối với thế hệ trẻ chứ chưa thực sự quan tâm cụ thể đến vấn đề tạo ra một môi trường an toàn, lành mạnh cho trẻ em phát triển toàn diện – một vấn đề đã và đang được quan tâm trong sự nghiệp trồng người – đặc biệt là trẻ em, thế hệ tương lai của đất nước

Trang 11

Đề tài “Khảo sát thực trạng và nhận thức về các hình thức xâm hại trẻ

em tại một số địa phương của Việt Nam” (đề tài được thực hiện bởi sự phối hợp

giữa Viện Khoa học Dân số, Gia đình và Trẻ em và Tổ chức Plan tại Việt Nam

do ông Nguyễn Đức Mạnh làm chủ nhiệm năm 2006 Đây là kết quả hợp tác giữa Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em với Tổ chức Plan trong khuôn khổ dự

án thực hiện Chiến lược Bảo vệ trẻ em Việt Nam giai đoạn 2005-2010) cũng quan tâm nghiên cứu về các hình thức xâm hại đến trẻ em Kết quả nghiên cứu, điều tra, khảo sát tại 5 tỉnh: Hà Nội, Bắc Giang, Phú Thọ, Thái Nguyên và Quảng Bình đã xác định sự tồn tại của các hình thức xâm hại trẻ em hiện hữu trong thực tiễn với nhiều dạng khác nhau: hình thức xâm hại thân thể và tinh thần, hình thức xâm hại tình dục trẻ em, hình thức sao nhãng trẻ em, hình thức bóc lột sức lao động trẻ em Đồng thời, qua đó cũng khẳng định các hình thức xâm hại trẻ em như trên đã trực tiếp đe dọa đến sự an toàn trong môi trường sống của trẻ

Đề tài “Phân tích nhu cầu và khả năng tiếp cận các dịch vụ bảo vệ, chăm sóc và giáo dục của nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại một

số địa phương ở Việt Nam” (nằm trong khuôn khổ hợp tác giữa Ủy ban Dân số

Gia đình và Trẻ em và Tổ chức Plan tại Việt Nam) do TS Nguyễn Đức Mạnh làm chủ nhiệm cũng quan tâm, nghiên cứu về thực trạng trong tiếp cận các lĩnh vực giáo dục, chăm sóc sức khỏe, văn hóa và tinh thần của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng thực trạng chưa được công bằng đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trong việc tiếp cận các lĩnh vực trên

Cũng trong khuôn khổ hợp tác như trên, tháng 3 năm 2007, đề tài “Khảo sát thực trạng và nhận thức của trẻ em, cộng đồng về tai nạn thương tích trẻ em” đã được thực hiện Ông Nguyễn Đức Mạnh và nhóm tác giả đã mô tả thực

trạng và các nguyên nhân dẫn đến tai nạn thương tích trẻ em tại vùng dự án Kết quả nghiên cứu cho thấy trẻ em bị các loại tai nạn thương tích từ nhẹ đến nặng chiếm tỷ lệ rất cao, tới 87,2% Trong đó, một số loại hình tai nạn thương tích phổ biến (chiếm tỷ lệ từ 32 – 70%) như: bị vấp ngã; bị chảy máu do vật sắc nhọn đâm phải; bị động vật cào cắn, đốt; bị bỏng; bị hóc sặc ở miệng Một số loại tai nạn

Trang 12

thương tích khác có tỷ lệ không cao (từ 10 – 30%) nhưng rất nguy hiểm đến tính mạng trẻ em như: bị chết đuối hụt, bị điện giật, bị ngã từ trên cao, bị bom mìn nổ, tai nạn giao thông Báo cáo cũng chỉ ra một số nguyên nhân, khuyến nghị đối với trẻ em, gia đình, cộng đồng, nhà trường và các ngành đoàn thể địa phương trọng việc nâng cao nhận thức, hạn chế các tai nạn thương tích cho trẻ, tạo điều kiện cho trẻ có được môi trường sống an toàn

Ngoài ra, còn có nhiều công trình khác cũng đề cập đến trẻ em như: Ngô

Huy Đức (2003), “Ngân sách cho giáo dục hòa nhập của trẻ khuyết tật”, Nxb Đại học Sư phạm; Viện Khoa học Dân số, Gia đình và Trẻ em và Tổ chức cứu trợ trẻ em Thụy Điển (2004), “Báo cáo kết quả khảo sát thực trạng trừng phạt thân thể và tinh thần trẻ em tại Việt Nam”; Reina Michaelson (2004), “Báo cáo: Lạm dụng trẻ em ở Việt Nam”; Nxb Chính trị quốc gia (2004) “Trừng phạt thân thể trẻ em, điều này có thực sự cần thiết”; Lê Thi (1997), “Vai trò của gia đình trong việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam”, (Nxb Phụ

Nữ, Hà Nội) v.v Tuy nhiên, những nghiên cứu này thường tập trung vào một vấn đề riêng biệt chứ chưa quan tâm nhiều đến việc xây dựng một môi trường xã hội, cộng đồng, gia đình và nhà trường an toàn, lành mạnh cho sự phát triển của

trẻ em Do vậy, đề tài nghiên cứu “Một số yếu tố tác động đến hiệu quả việc xây dựng mô hình “Xã, phường phù hợp với trẻ em” được thực hiện với hi vọng bổ

sung thêm một phần vào khoảng trống trên và đóng góp thêm một nghiên cứu nữa trong lộ trình xây dựng một môi trường sống phù hợp với trẻ em Nó cũng có thể làm phong phú hơn phần nào mảng nghiên cứu về trẻ em đã và đang có sức hấp dẫn đối với nhiều nhà nghiên cứu hiện nay

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu thực tiễn công tác xây dựng mô hình “Xã, phường phù hợp với trẻ em” hiện nay, phân tích những mặt thành công và hạn chế của việc xây dựng này Trên cơ sở đó, đề xuất các ý kiến nhằm hoàn thiện hơn nội dung và phương thức xây dựng “Xã, phường phù hợp với trẻ em”

Trang 13

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu, điều tra việc xây dựng mô hình xã phường phù hợp với trẻ

em tại hai xã An Lão và Hưng Công, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam, qua đó nêu

lên những nhận xét cụ thể về việc thực hiện các chỉ tiêu cơ bản về Tiêu chuẩn xã,

phường phù hợp với trẻ em, cung cấp thêm những thông tin thực tiễn đáp ứng

nhu cầu nhận thức một cách chính xác hơn về việc triển khai thực hiện mô hình

“Tiêu chuẩn xã phường phù hợp với trẻ em” trong thực tế

Đề xuất những ý kiến về việc điều chỉnh bộ tiêu chuẩn và giải pháp thực hiện cho phù hợp với tình hình hiện nay

4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu một số yếu tố tác động đến hiệu quả việc xây dựng mô hình

“Xã, phường phù hợp với trẻ em”

Phạm vi địa lí: Do thời gian và kinh phí hạn chế, tác giả chỉ tiến hành

nghiên cứu tại hai xã An Lão và Hưng Công thuộc huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam (một xã có báo cáo đã thực hiện được 24/28 chỉ tiêu, một xã thực hiện dưới 24 chỉ tiêu1

Trang 14

Luận văn tập trung phân tích những nội dung của bản tiêu chuẩn “Xã, phường phù hợp với trẻ em” được vận dụng vào quá trình áp dụng trong thực tế của công tác chăm sóc, giáo dục trẻ em của hai xã An Lão, Hưng Công (Nội dung, cách thức của bản tiêu chuẩn được vận dụng như thế nào)

Tập trung phát triển rõ những yếu tố, những bài hoc kinh nghiệm tác động đến sự thành công, hạn chế của việc xây dựng “Xã, phường phù hợp với trẻ em”

Đề xuất những ý kiến và hoàn thiện những nội dung, những quy chuẩn của

bộ tiêu chuẩn để việc xây dựng xã phường phù hợp với trẻ em có thể tiến hành có hiệu quả và phù hợp với nhiều vùng miền trong cả nước

Nội dung các tiêu chuẩn “Xã, phường phù hợp với trẻ em” có 28 chỉ tiêu bao quát nội dung rộng và được xếp đặt trong 4 tiêu chuẩn1 cơ bản Trong khuôn khổ của luận văn, tác giả chỉ lựa chọn tiêu chuẩn 1 và tiêu chuẩn 2

Tiêu chuẩn 1: Môi trường xã hội phù hợp với trẻ em Tiêu chuẩn 2: Môi trường gia đình bảo đảm bảo để trẻ em phát triển toàn diện

5 Giả thuyết nghiên cứu và sơ đồ tương quan giữa các biến số

5.1 Giả thuyết nghiên cứu

Việc xây dựng mô hình “Xã, phường phù hợp với trẻ em” là một ý tưởng tốt nhưng triển khai trong điều kiện thực tế Việt Nam còn rất nhiều khó khăn

Những tiêu chuẩn xây dựng “Xã, phường phù hợp với trẻ em” trong thực

tế cần phải được sửa chữa, hoàn thiện, bổ sung, hoàn chỉnh

Mặc dù có những khó khăn như vậy, nhưng việc triển khai mạnh mẽ mô hình “Xã, phường phù hợp với trẻ em” sẽ tạo điều kiện thuận lợi tốt và cơ bản cho công tác giáo dục, chăm sóc và bảo vệ trẻ em

1 4 tiêu chuẩn đó là: (1) Môi trường xã hội phù hợp với trẻ em, (2) Môi trường gia đình đảm bảo để trẻ em phát triển toàn diện, (3) Mọi trẻ em đều được hưởng các quyền cơ bản, (4) Bảo vệ chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

Trang 15

5.2 Khung lý thuyết

6 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận

Sử dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa

duy vật lịch sử cùng với những quan điểm, tư tưởng của Hồ Chí Minh về công

tác chăm sóc, giáo dục trẻ em

Gia đình – yếu tố bên

+ Nền kinh tế thị trường

+ Sự giao lưu, hội nhập quốc tế

Các yếu tố bên ngoài

+ Nhà trường + Cộng đồng và tổ chức đoàn thể địa phương

+ Phương tiện truyền thông đại chúng

Trang 16

Vận dụng một số lý thuyết về tư tưởng của một số nhà xã hội học trong nghiên cứu về gia đình và trẻ em

Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện tốt mục đích, yêu cầu đặt ra, Luận văn dụng phương pháp phân tích các số liệu thống kê cơ bản kết hợp với cách tiếp cận cụ thể, đa chiều,

đa đối tượng

Cách tiếp cận cụ thể là tiếp cận từng đối tượng khảo sát trên nguyên tắc của phương pháp nghiên cứu tham dự thông qua phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm

và tọa đàm Phương pháp này có khả năng cung cấp những thông tin chính xác,

cụ thể và trực tiếp, không phải qua một khâu trung gian nào Trong đó, số lượng phỏng vấn sâu là 28 và 12 cuộc thảo luận nhóm, tọa đàm

Cách tiếp cận đa phương, đa chiều là cách tiếp cận bằng nhiều phương pháp Trong đó, phương pháp phân tích xã hội học là chủ đạo Ngoài ra, Luận văn cũng coi trọng phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu từ các nguồn sẵn có như: báo cáo của địa phương, cơ sở, các dự án, công trình, đề tài nghiên cứu khoa học có liên quan

Tiếp cận đa đối tượng là cách tiếp cận có khả năng đưa đến một kết quả toàn diện, sâu sắc và khách quan về các vấn đề khảo sát Đa đối tượng ở đây là từ trẻ em, bố mẹ, ông bà, anh chị trong gia đình, những người có uy tín trong cộng đồng và cán bộ Đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể, xã hội, cán bộ chuyên trách và cộng tác viên dân số, gia đình và trẻ em

Phương pháp thực chứng

Đây là phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp các nguồn tin, tư liệu,

số liệu thứ cấp Nó bao gồm các báo cáo có liên quan của Nhà nước, các Bộ, Ngành ở trung ương; báo cáo của địa phương, cơ sở; báo cáo của các dự án, các công trình, đề tài nghiên cứu khoa học Ở đây có thể dùng phương pháp thống kê, phân tích, so sánh giữa 2 xã nằm trong địa bàn khảo sát của luận văn

Phương pháp phân tích, so sánh

Do nhiều điều kiện khác nhau nên địa bàn khảo sát chỉ là 2 xã An Lão, Hưng Công của huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam Nhưng để tìm ra những yếu tố tác

Trang 17

động đến hiệu quả của việc xây dựng mô hình “Xã, phường phù hợp với trẻ em”, tác giả đã lựa chọn 1 xã đảm bảo 24 tiêu chí, 1 xã đạt dưới 18 tiêu chí trong bộ tiêu chuẩn xây dựng “Xã, phường phù hợp với trẻ em”

7 Kết cấu luận văn

Phần mở đầu

Phần nội dung

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

1.Từ quan điểm xây dựng môi trường sống phù hợp với trẻ em của Liên hiệp quốc đến việc xây dựng mô hình “Xã, phường phù hợp với trẻ em” ở Việt Nam

1.1 Quan điểm của Liên hiệp quốc về xây dựng “Một thế giới phù hợp với trẻ em”

1.2 Việt Nam và việc xây dựng mô hình “Xã phường phù hợp với trẻ em”

2 Một số khái niệm công cụ liên quan đến đề tài

3 Một số lý thuyết và quan điểm của các nhà xã hội học được vận dụng trong đề tài nghiên cứu

Chương 2: Thực trạng và một số yếu tố tác động đến việc xây dựng mô hình

“Xã, phường phù hợp với trẻ em”

1 Điều kiện kinh tế, xã hội của hai xã An Lão và Hưng Công

2 Thực trạng và một số yếu tố tác động đến việc xây dựng mô hình “Xã, phường phù hợp với trẻ em”

2.1 Thực trạng công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em và việc xây dựng

“Xã, phường phù hợp với trẻ em” tại hai xã An Lão và Hưng Công

2.1 Một số yếu tố tác động đến hiệu quả việc xây dựng mô hình “Xã, phường phù hợp với trẻ em”

3 Hiệu quả

Chương 3: Giải pháp

Phần kết luận, khuyến nghị

Trang 18

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1 Từ quan điểm xây dựng “Một thế giới phù hợp với trẻ em” của Liên hiệp quốc đến việc xây dựng mô hình “Xã, phường phù hợp với trẻ em” ở Việt Nam

1.1 Quan điểm của Liên hiệp quốc về xây dựng “Một thế giới phù hợp với trẻ em”

Công ước Liên hiệp quốc về quyền trẻ em là văn bản pháp luật quốc tế đầy đủ nhất về trẻ em được đại đa số các quốc gia phê chuẩn, ký và thừa nhận Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở Châu Á và thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước này

Vào những năm cuối của thế kỷ hai mươi, phong trào xây dựng một thế giới phù hợp với trẻ em đã được phát động ở nhiều nơi trên thế giới và ngày càng được thúc đẩy trong bối cảnh toàn cầu hóa để đảm bảo cho mỗi quốc gia, mỗi cộng đồng và gia đình sự phát triển bền vững, xóa đói giảm nghèo và ngăn chặn

1 Vụ trẻ em (2004), Tài liệu hướng dẫn xây dựng Xã phường phù hợp với trẻ em, tr.3

Trang 19

Các nguyên tắc1 sau được nêu trong bản Tuyên bố “Một thế giới phù hợp với trẻ em”:

1) Đặt trẻ em lên trên hết Trong mọi công việc của chúng ta, quyền lợi tốt nhất của trẻ em phải luôn được đặt lên hàng đầu

2) Xóa bỏ đói nghèo: đầu tư cho trẻ em Phá bỏ vòng đói nghèo trong vòng một thế hệ, cùng nhau hợp lực đoàn kết với niềm tin tưởng rằng đầu tư vào trẻ em và thực hiện các quyền của các em là những cách xóa bỏ đói nghèo hiệu quả nhất

3) Không được đặt vấn đề trẻ em đằng sau mọi việc Mỗi trẻ em trai hay gái sinh ra đều có quyền bình đẳng Tất cả các hình thức phân biệt đối xử có ảnh hưởng đến trẻ em đều phải chấm dứt

4) Chăm sóc cho mọi trẻ em Trẻ em phải được khởi đầu bằng cuộc sống tốt đẹp nhất Sự sống còn, bảo vệ và phát triển về sức khỏe và dinh dưỡng của trẻ

em là những nền tảng cơ bản nhất cho sự phát triển của con người Tạo điều kiện cho các em có cuộc sống vật chất khỏe mạnh, tinh thần sảng khoái, tình cảm đảm bảo, có khả năng về xã hội và học tập

5) Giáo dục cho mọi trẻ em Tất cả trẻ em trai và gái đều phải được tiếp cận và hoàn thành giáo dục tiểu học miễn phí, bắt buộc và có chất lượng tốt

6) Ngăn chặn sự xâm hại và bóc lột trẻ em Trẻ em phải được bảo vệ khỏi bất kỳ hành động nào xâm hại, bóc lột, lạm dụng và phân biệt Phải có những hành động ngay tức khắc để loại trừ các hình thức lao động tồi tệ nhất ở trẻ em

7) Bảo vệ trẻ em khỏi các cuộc chiến tranh Trẻ em phải được bảo vệ để tránh khỏi những sự khủng khiếp của các cuộc xung đột vũ trang

8) Chiến đấu chống lại HIV/AIDS Trẻ em và các gia đình phải được bảo

vệ để tránh sự lây nhiễm căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS

9) Lắng nghe ý kiến trẻ em và đảm bảo sự tham gia của các em Trẻ em

và vị thành niên là những công dân đầy tiềm năng có khả năng xây dựng một tương lai tốt đẹp cho tất cả mọi người Chúng ta phải tôn trọng các quyền của

1

Vụ trẻ em (2004), Tài liệu hướng dẫn xây dựng Xã phường phù hợp với trẻ em, tr.4

Trang 20

trẻ em được tự bày tỏ và tham gia vào các quyết định có ảnh hưởng đến chính các em theo lứa tuổi và sự khôn lớn

10) Bảo vệ trái đất cho trẻ em Môi trường tự nhiên với sự đa dạng của cuộc sống, các nguồn lực và vẻ đẹp sẽ đẩy mạnh chất lượng cuộc sống con người cho các thế hệ hiện tại và tương lai Chúng ta sẽ tọ mọi điều kiện để bảo vệ trẻ

em và giảm thiểu ảnh hưởng của thiên tai và sự xuống cấp của môi trường tới các em

Những nguyên tắc mà Liên hiệp quốc đưa ra cho chúng ta thấy “Một thế giới phù hợp với trẻ em”, một cộng đồng bạn hữu với trẻ em hay xã phường phù hợp với trẻ em đều có nghĩa là phải xây dựng một môi trường sống phù hợp với tất cả mọi người trong cả hiện tại và tương lai

Công ước quốc tế về quyền trẻ em cũng nêu rất rõ về trách nhiệm của cộng đồng, cơ sở trong việc thực hiện quyền trẻ em và hỗ trợ gia đình, cha mẹ chăm sóc, giáo dục, bảo vệ trẻ em

Điều 18 của Công ước quy định: Các quốc gia thành viên phải dành sự giúp đỡ thích hợp cho cha mẹ và người giám hộ pháp lý trong việc thực hiện trách nhiệm nuôi nấng trẻ em và phải đảm bảo sự phát triển những cơ quan, cơ sở

và dịch vụ cho việc chăm sóc trẻ

Điều 27 nêu rõ: Các quốc gia thành viên công nhận quyền của mọi trẻ em được có mức sống đủ để phát triển về thể chát, trí tuệ, tinh thần, đạo đức và xã hội

1.2 Việt Nam và việc xây dựng mô hình “Xã phường phù hợp với trẻ em”

Quan điểm của Liên hiệp quốc trong Tuyên bố “Một thế giới phù hợp với trẻ em” đã thể hiện được sự khái quát hóa, sự kỳ vọng trong việc xây dựng môi trường tốt đẹp phù hợp với trẻ em, đồng thời cũng là phù hợp với tất cả mọi người, mọi thời đại Trên cơ sở quan điểm hết sức nhân văn và tiến bộ đó, Việt Nam cũng đã thể hiện sự tán thành, ủng hộ không chỉ bằng việc ký cam kết tại Đại hội đồng Liên hiệp quốc mà hơn thế nữa, những Tuyên bố của Liên hiệp

Trang 21

quốc còn được Việt Nam thể hiện trong các chính sách quốc gia và được chi tiết

hóa thành các tiêu chí trong việc xây dựng “Xã, phường phù hợp với trẻ em”

Thời gian qua, Việt Nam luôn được biết đến là một trong những quốc gia

đi đầu trong cam kết thực hiện quyền trẻ em và thực tế đã có nhiều chính sách cập nhật cũng như nỗ lực đầu tư để cải thiện cuộc sống của trẻ em, hướng tới mục tiêu đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài vì sự phát triển bền vững của đất nước Tỷ lệ trẻ em được chăm sóc sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật; được đi học để không mù chữ, được phổ cập tiểu học và tiến tới phổ cập trung học cơ sở; được tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí ở trường học, cộng đồng và gia đình, được tiếp cận nhiều nguồn thông tin đa dạng, phong phú thông qua các kênh thông tin khác nhau; được bảo vệ trước các nguy cơ bị lạm dụng, bị xúc phạm, bị

bóc lột và bị xâm hại

Tiêu chuẩn “Xã phường phù hợp với trẻ em” gồm 4 tiêu chuẩn với 28 chỉ tiêu đã cố gắng chi tiết hóa các nội dung trong Tuyên bố “Một thế giới phù hợp với trẻ em” của Liên hiệp quốc, đồng thời có sự linh hoạt sao cho hài hòa với đặc điểm riêng của các vùng miền khác nhau ở Việt Nam Điều này một lần nữa khẳng định nỗ lực của Việt Nam trong việc thực hiện các cam kết với Liên hiệp quốc, đồng thời cũng thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước trong

công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em

Tuy nhiên, từ mô hình lý thuyết đến việc vận dụng nó là cả một quãng đường dài, cần phải có sự nghiên cứu, đánh giá, thẩm định và sửa đổi để mô hình ngày một hoàn thiện và sát hợp với thực tế hơn

2 Một số khái niệm liên quan đến đề tài

2.1 Trẻ em

Quan điểm và cách hiểu về trẻ em ở các quốc gia trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay còn nhiều điểm chưa được thống nhất, trong đó sự khác biệt tập trung chủ yếu ở việc quy định độ tuổi trẻ em

Tại điều 1, Công ước của Liên hiệp quốc về quyền trẻ em năm 1989 quy

định rằng: Trong phạm vi của Công ước này, trẻ em có nghĩa là mọi người dưới

Trang 22

18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em có quy định tuổi thành niên

Điều 119: (1) Người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18

tuổi Nơi có sử dụng người lao động chưa thành niên phải lập sổ theo dõi riêng,

ghi đầy đủ họ tên, ngày sinh, công việc đang làm, kết quả những lần kiểm tra sức khoẻ định kỳ và xuất trình khi thanh tra viên lao động yêu cầu (2) Nghiêm cấm lạm dụng sức lao động của người chưa thành niên

Điều 120: Cấm nhận trẻ em chưa đủ 15 tuổi vào làm việc, trừ một số nghề

và công việc do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định Đối với ngành nghề và công việc được nhận trẻ em chưa đủ 15 tuổi vào làm việc, học nghề, tập nghề thì việc nhận và sử dụng những trẻ em này phải có sự đồng ý và theo dõi của cha mẹ hoặc người đỡ đầu

Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em tại điều 1 nêu rõ: Trẻ em trong

Luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi

Độ tuổi trẻ em quy định trong các văn bản luật chưa có sự thống nhất, tuy nhiên trong luận văn này, tác giả tham chiếu theo Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em, vì vậy, đối tượng trẻ em được nhắc đến trong luận văn này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi

2.2 Khái niệm “Xã, phường phù hợp với trẻ em”

“Xã, phường phù hợp với trẻ em” là tên gọi của một bộ tiêu chuẩn (gồm 4 tiêu chuẩn và 28 chỉ tiêu) hướng dẫn việc xây dựng xã, phường phù hợp với sự phát triển của trẻ em; đây cũng đồng thời là những cụ thể hóa cam kết của Việt Nam với Đại hội đồng Liên hiệp quốc trong việc xây dựng “Một thế giới phù hợp với trẻ em”

Trang 23

3 Một số lý thuyết và quan điểm của các nhà xã hội học được vận dụng trong đề tài nghiên cứu

3.1 Lý thuyết nhóm

Lý thuyết nhóm được Georg Simmel – một trong những nhà xã hội học đầu tiên đặt vấn đề nghiên cứu xã hội từ khía cạnh nhóm Ông cho rằng, sự liên kết và phân giải của nhóm là hình thức đa dạng nhất của tương tác xã hội Nó tạo nên nền tảng cơ bản của cơ cấu xã hội

Simmel cho rằng, khi liên kết nhóm dựa trên những tiêu chuẩn hợp lý, các

cá nhân có thể thuộc về nhiều nhóm khác nhau Chẳng hạn, Simmel đã quan sát con người hiện đại được liên kết với dòng dõi gia đình của mình, gia đình lại liên tục được chia nhỏ và mở rộng Mỗi nhóm này lại có những đặc điểm riêng tùy thuộc vào từng giai đoạn lịch sử xã hội cụ thể, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, dân tộc hay địa bàn cư trú Ngoài ra, mỗi người cũng lại có thể thuộc về các loại nhóm khác nhau: nhóm nghề nghiệp, nhóm xã hội nhân văn và số lượng hầu như không có giới hạn Hơn nữa, họ có thể xác định mình như là một thành viên của một tầng lớp xã hội và một đơn vị trong cấu trúc xã hội Cuối cùng, mỗi người chính là công dân của mỗi thành phố, mỗi quốc gia, khu vực và dân tộc Trên cơ sở đó, Simmel đã đi đến kết luận như sau: Đây chính là sự phong phú, đa dạng của các nhóm cấu trúc xã hội Trong đó, sẽ có những nhóm được hợp nhất, những nhóm bị phân giải tùy theo sự vận động, biến đổi của xã hội, nhận thức và hành vi của cá nhân Tuy nhiên, chính sự vận động và biến đổi của các nhóm cũng tạo điều kiện để một nhóm khác xuất hiện Đây chính là trọng tâm cơ bản của liên kết cá nhân, nó giúp mỗi người có thể tham gia, lựa chọn nhóm này hay nhóm khác

Vận dụng lý thuyết nhóm vào nghiên cứu này, trẻ em ở đây với tư cách là một nhóm trong xã hội, nhóm này chịu tác động của nhóm khác và môi trường

xung quanh Sự tồn tại của nhóm này chịu ảnh hưởng, tác động của môi trường

xung quanh Khi trẻ được sống trong môi trường có nhiều nhóm tốt, hoạt động

tích cực như: gia đình, nhà trường, cộng đồng thì trẻ em cũng có điều kiện để học tập, phát triển tốt và ngược lại Khi các nhóm xung quanh có những biểu

Trang 24

hiện tiêu cực, hoặc ít có sự đầu tư, quan tâm đến nhóm trẻ em, thì cơ hội, điều kiện để trẻ phát triển cũng bị hạn chế

3.2 Lý thuyết về xã hội hóa

Xã hội hoá là một quá trình tất yếu đối với sự trưởng thành của con người, phát triển cùng với con người trong suốt cuộc đời Con người không tồn tại như những sinh vật đơn lẻ mà là con người xã hội Sống cùng với đồng loại trong môi trường xã hội là bản chất của con người, quyết định sự sống còn của họ Không

có sự gắn kết với những người khác, chia sẻ bằng cách này hay cách khác sự phân công công việc, những thành quả của lao động, những sáng tạo trong văn hoá, con người không thể tồn tại được Trong suốt cuộc hành trình đầy gian truân

và trắc trở của cuộc đời, con người luôn sống dựa vào cộng đồng, học hỏi những kiến thức từ cộng đồng và ngược lại, có bổn phận đóng góp sức lực và trí tuệ để phát triển cộng đồng

Kết luận của các luận thuyết xã hội hoá cũng như trong thực tế cuộc sống cho thấy, không một cá nhân cụ thể nào có thể trở thành con người thực thụ nếu không có được những hiểu biết, kiến thức và kinh nghiệm từ cuộc sống xã hội

Xã hội hoá cá nhân là cách thức để con người sinh học trở thành con người xã

hội, trở thành con người với tính chất là một “sinh vật xã hội” Bởi vậy có thể coi

xã hội hoá là một quá trình tương tác xã hội kéo dài trong suốt cuộc đời, qua đó

cá nhân học hỏi, tiếp thu và phát triển được những kiến thức chung của cuộc sống xã hội, nâng cao khả năng sống của mình trong xã hội

Mặt khác, với những đặc trưng mang tính sinh học của tuổi tác, mỗi giai đoạn của cuộc đời lại có những đặc trưng và đòi hỏi riêng về xã hội hoá Những nhu cầu và phương thức xã hội hoá của trẻ em hoàn toàn không giống như những nhu cầu và phương thức xã hội hoá của người lớn Sự khác biệt khách quan này

là cơ sở để các nhà xã hội học phân biệt các giai đoạn trong quá trình xã hội hoá

cá nhân

Trẻ em và xã hội hoá: Xã hội hoá ở trẻ em là giai đoạn đầu tiên, giai đoạn

xuất phát của cuộc hành trình vào cộng đồng xã hội trong suốt cuộc đời một con

Trang 25

người Nếu để trở thành một con người thực thụ, một đứa trẻ sơ sinh trước tiên cần phải biết lẫy, biết bò rồi sau đó mới có thể đứng thẳng và đi lại được trong nhà, thì để bước vào cộng đồng xã hội, nó cũng phải trải qua những giai đoạn tương tự như vậy

Trước hết, đứa trẻ cần phải biết rằng chúng sống không phải đơn lẻ mà là luôn bên cạnh những người khác, trong những mối quan hệ với những người khác Trong mối quan hệ xã hội đầu tiên đó, mà gần gũi nhất là quan hệ với cha

mẹ, ông bà, anh em, chúng cũng cần phải tập làm quen với những quy chuẩn ứng

xử đầu tiên, từ cách xưng hô nhằm khẳng định vị thế và vai trò của mình đến việc thực thi các lợi ích và chức phận gắn liền với vị thế và vai trò ấy Trẻ hư hay trẻ ngoan là tuỳ thuộc vào việc chúng nhận thức như thế nào về vấn đề này

Ngày nay, các nhà xã hội học, tâm lý học và giáo dục học đang cố gắng đưa ra những mô hình phát triển xã hội hoá ở trẻ em, lấy đó làm những chuẩn mực để định hướng cho việc chăm sóc, giáo dục trẻ em Các mô hình xã hội hoá này đã được nhiều nhà khoa học cụ thể hoá thành những mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể, có thể được áp dụng đối với từng lứa tuổi và từng nhóm trẻ khác nhau Họ cũng cố gắng xác định rõ những nội dung và phạm vi ứng dụng khác nhau của những mô hình trên trong thực tiễn Chẳng hạn, về mặt sinh học thì cần phải làm

gì, cần phải có các chế độ dinh dưỡng và cải thiện điều kiện sống ra sao để nâng cao các chỉ số về thể lực và trí lực ở trẻ Về mặt tri thức thì cần phải xã hội hoá đến đâu, nâng cao nhận thức cho các em tới mức độ nào, việc nuôi dưỡng và phát triển các tài năng bẩm sinh ra sao

Trong bối cảnh này, rất nhiều nhà khoa học đã nhấn mạnh tới tầm quan trọng phải nuôi dạy ở các em các phương thức ứng xử và xử lý đúng đắn những mối quan hệ trong gia đình và cộng đồng, nhận thức rõ về quyền và bổn phận của mình trong xã hội Điều này là hoàn toàn đúng đắn và cũng phù hợp với những điều mà cha ông chúng ta trước đây đã nói, trẻ em đi học, trước hết là để “ học làm người” Học làm người chính là khía cạnh quan trọng nhất trong giai đoạn xã hội hoá ở trẻ em

Trang 26

Nhà xã hội học Mỹ, John Watson đã viết: “Hãy cho tôi một chục đứa trẻ

sơ sinh khoẻ mạnh, tôi đảm bảo sẽ dạy dỗ chúng nên người Tôi có thể chọn ngẫu nhiên một em và huấn luyện thành một chuyên gia ở bất kỳ lĩnh vực nào, có thể

là bác sĩ, luật sư, hoạ sĩ, trưởng nhóm kinh doanh và thậm chí một kẻ ăn mày, một gã trộm cắp mà không cần phải biết đến tài năng, năng lực, thiên hướng, nghề nghiệp hay dòng dõi tiên tổ của chúng như thế nào”1

Với tính chất quan trọng như trên, xã hội hoá là quá trình giúp con người hình thành nhân cách, xây dựng những khuôn mẫu hành vi trong các mối quan hệ

xã hội Bởi vậy nó là vô cùng quan trọng đối với sự phát triển cá nhân Cá nhân

có thể trở thành những người tốt, có phẩm chất và nhân cách khi cá nhân đó có điều kiện thực hiện tốt quá trình xã hội hoá Cá nhân không được chăm sóc, giáo dục trong môi trường xã hội lành mạnh, tức là không có điều kiện để xã hội hoá bản thân, cá nhân đó có thể sẽ trở thành người xấu, bị tách khỏi các chuẩn mực của xã hội

Đối với trẻ em, xã hội hoá không chỉ là sự học hỏi và hội nhập của cá nhân vào xã hội mà còn là một quá trình kế thừa và sáng tạo các khuôn mẫu văn hoá của các thế hệ trong suốt lịch sử Vì vậy, việc tạo cho trẻ có một môi trường sống xung quanh tốt, môi trường xã hội phù hợp để trẻ có điều kiện học tập, sinh hoạt, vui chơi, giải trí và phát triển là rất quan trọng Như vậy, xã hội hoá với trẻ em nói riêng và với các lứa tuổi khác nhau nói chung là công việc vượt ra khỏi giới hạn cuộc đời của mỗi cá nhân và trở thành vấn đề khách quan của xã hội, tạo thành dòng chảy kế tiếp nhau về văn hoá giữa các thế hệ từ quá khứ qua hiện tại

và đi tới tương lai

Vận dụng lý thuyết xã hội hóa vào nghiên cứu này cho thấy, xã hội hóa vừa mang tính tất yếu, khách quan, vừa mang tính chủ quan thông qua các hoạt động chủ động của con người và xã hội Ở đây, con người, trong đó có trẻ em vừa là chủ thể, vừa là khách thể của quá trình xã hội hóa Với tư cách là chủ thể của sự phát triển xã hội, con người có thể thông qua các hoạt động có chủ đích của mình, thông qua sự vận hành của các thiết chế xã hội, đẩy mạnh các quá trình

1 Trích lại từ John J Macionis Sociology Eighth Edition Prentice Hall 2001 114p

Trang 27

xã hội hóa cá nhân, thu hẹp dần phạm vi của các hoạt động tự phát, mở rộng các hoạt động tự do và tự giác, hướng hành vi của cá nhân tới việc xây dựng và hoàn thiện một xã hội ngày càng tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người

3.3 Lý thuyết tương tác biểu trưng:

Thuyết tương tác biểu trưng ra đời gắn liền với tư tưởng của các nhà Xã hội học Mỹ: George Herbert Mead (27.2.1863 – 26.4.1931), C.H.Cooley (1863-1929), H.Blumer (1900-1987) và E.Goffman (1922-1982); trong đó G.Mead được biết đến trong vai trò là người sáng lập của lý thuyết này Tên gọi “Tương tác biểu trưng„ (Symbolic Interactionism) do Blumer đưa ra vào năm 1937

Thuyết tương tác biểu trưng đặc biệt nhấn mạnh đến khía cạnh tâm lý của

cá nhân khi thực hiện các tương tác xã hội, nhưng không vì thế mà nó thiếu đi tính văn hóa, xã hội Ngược lại, theo lý thuyết này, chúng ta cần đặt mình vào người khác để đưa ra hành động thích hợp của mình, như một phản ứng đáp trả lại hành động của người khác Điều đó khiến cho hành động của chúng ta dường như khách quan hơn, vì nó được nhìn nhận dưới con mắt của người khác Một khía cạnh khác, hành vi đáp trả của chúng ta phụ thuộc vào địa vị của chúng ta trong mối tương quan với người khác Do đó, lý thuyết này nói lên nhiều điều về

cá nhân và mối quan hệ của cá nhân đó, chứ không phải chỉ đơn giản một hành vi đáp lời theo kiểu “có kích thích có phản ứng„ như lý thuyết hành vi trong tâm lý học đề cập Và công cụ để chúng ta thực hiện tương tác – các biểu trưng mang ý nghĩa – lại thuộc về văn hóa Đó chính là điều mà Mead và các cộng sự của ông thể hiện trong lý thuyết này

Biểu trưng có ý nghĩa và ra đời trong quá trình tương tác xã hội của con người Ban đầu, giá trị biểu trưng chưa có ý nghĩa và chưa định hình, nhưng chính sự tương tác giữa các thành viên trong xã hội đã thúc đẩy quá trình thống nhất hóa các biểu trưng và đem lại ý nghĩa cho nó Dựa trên các biểu trưng có ý nghĩa đó, quá trình tương tác của con người trở nên thuận lợi hơn Khi giá trị biểu trưng ra đời và được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Thông qua quá trình xã hội hóa, chúng được biết đến qua ý nghĩa của ngôn ngữ, điệu bộ, cử

chỉ, nét mặt Ví như, chúng ta biết gật đầu có nghĩa là đồng ý, chúng ta biết nói

Trang 28

không có nghĩa là từ chối Tất cả những điều này chỉ có được khi chúng ta được

sống và được hoàn thiện nhân cách trong xã hội loài người Thực tế đã chứng minh những em bé được thú vật nuôi dưỡng đã không thể có những cách ứng xử giống như con người, ngược lại, nó mang nhiều hành động bản năng của con vật

Có thể nói, các ý nghĩa biểu trưng xuất hiện trong mỗi chúng ta – những cái tôi

xã hội – như là kết quả của quá trình xã hội hóa, dựa trên những ý nghĩa biểu

trưng mà chúng ta có thể hiểu và lựa chọn hành động phù hợp

Tác dụng của ý nghĩa biểu trưng

Khi Mead cho chúng ta biết các ý nghĩa biểu trưng chỉ xuất hiện trên cơ sở quá trình tương tác xã hội của con người, và một biểu trưng chỉ trở nên có ý nghĩa khi nó gợi lên trong chúng ta những phản ứng tương tự nhau, có nghĩa là Mead đã khẳng định biểu trưng có ý nghĩa, vai trò quyết định trong các mối quan

hệ nảy sinh trong xã hội

Các ý nghĩa biểu trưng là công cụ biểu đạt suy nghĩ, tình cảm, thái độ của chúng ta trước hành động của người khác, nhóm khác hoặc trước các sự kiện, hiện tượng xã hội Đứng trước một sự kiện xã hội nào đó, chúng ta luôn phải cấn nhắc, phản ứng ra sao cho phù hợp nhằm đạt tới hiệu quả hành động

Quá trình lĩnh hội các ý nghĩa biểu trưng của cá nhân

Không phải ngẫu nhiên mà các ý nghĩa biểu trưng xuất hiện và trở thành phương tiện giúp con người thực hiện các tương tác xã hội và các hành động xã hội Ngược lại, nó là hệ quả của quá trình tương tác lâu dài giữa các cá nhân trong xã hội Hệ thống các biểu trưng có ý nghĩa được trao truyền từ thế hệ trước đến thế hệ sau qua quá trình xã hội hóa cá nhân

Quá trình xã hội hóa cá nhân là một quá trình hoàn thiện nhân cách bao

gồm 2 phần: cái tôi chủ động (I – sự trả lời của bàn thân đối với quan điểm, thái

độ của người khác) và cái tôi bị động (Me – Tập hợp thái độ, quan điểm của người khác mà một cá nhân thực hiện được) Mead định nghĩa Me như là tập quán, thói quen cá nhân, còn I là sự trả lời mang tính mới lạ của cá nhân đối với

những người khác trong xã hội Điều đó cho thấy mối quan hệ mật thiết giữa cá

nhân và xã hội, nó cũng cho thấy mối quan hệ biện chứng giữa I và Me

Trang 29

Có thể gọi lý thuyết tương tác của Mead là lý thuyết tương tác ba ngôi với

một ý nghĩa nữa là trong mối quan hẹ ví người khác, mỗi cá nhân đều xuất hiện

dưới ba hình thái, ba ngôi là: tôi (I), bản thân (Me) và tự mình (Self) Một cách tương ứng, Mead cho rằng cấu trúc của cái tôi gồm ít nhất hai thành phần: một là cái tôi chủ thể (I) và hai là cái tôi khách thể (Me) mà ông còn gọi là hai pha, hai

mặt của cấu trúc xã hội ở cáp vi mô – cấp cá nhân Mead cho rằng, thái độ của

người khác tạo thành tôi – khách thể (Me) mà con người với tư cách là tôi – chủ

thể tương tác với nó1

Mead cũng cho rằng, trong quá trình phát triển của cá nhân đến một lứa

tuổi nhất định mới hình thành cấu trúc hai pha của cái tôi, đến một giai đoạn nhất

định cá nhân mới có khả năng tự nhân đôi – tức là tách được mình ra khỏi chính bản thân mình để nhìn nhận, phân tích và đánh giá về bản thân mình Thông qua

cơ chế bắt chước, giao tiếp, đóng vai trò các trò chơi lúc còn nhỏ và trong quá trình tiếp xúc, trao đổi, tương tác với người khác lúc lớn lên mà hình thành cấu

trúc kép, cấu trúc ba ngôi của cái tôi Nhờ các cơ chế này, con người nhập tâm,

thâu tóm được cái xã hội và trở thành một thành viên của nhóm,cộng đồng và xã hội2

Quan điểm của Mead cho thấy sự tiếp nối mang tính logic trong các giai đoạn hình thành, biến đổi và phát triển của con người nói chung và nhân cách con người nói riêng Các giai đoạn phát triển của con người có mối quan hệ biện chứng, giao thoa lẫn nhau tạo nên tính đa dạng trong hành động cảu các cá nhân

xã hội Trong luận văn này, lý thuyết tương tác biểu trưng của Mead được vận dụng dưới góc độ đó: sự hình thành, biến đổi, tiếp biến và phát triển các giá trị biểu trưng xã hội của trẻ em cũng trải qua những gia đoạn và tầng nấc như thế Như vậy, khi trẻ được tiếp cận, sinh sống và trưởng thành trong những môi trường nhân văn, xã hội, sinh thái thuận lợi, nó sẽ trở thành nền tảng căn bản để trẻ phát triển một cách toàn diện

1 Lê Ngọc Hùng, Lịch sử và lý thuyết xã hội học, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2008, tr 332

2 Lê Ngọc Hùng, Lịch sử và lý thuyết xã hội học, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2008, tr 334

Trang 30

Sơ đồ lý thuyết AGIL của Parsons

Parsons nổi tiếng trong giới xã hội học về sơ đồ lý thuyết hệ thống xã hội viết tắt là AGIL Theo Parsons, hệ thống xã hội được cấu thành từ bốn tiểu hệ thống, tương ứng với bốn loại nhu cầu, chức năng cơ bản của hệ thống xã hội Sơ

đồ AGIL được mô tả như sau:

Lược giản Sơ đồ lý thuyết AGIL của Parsons

Tiểu hệ thống thích ứng (A): có chức năng cung cấp các phương tiện,

nguồn lực và năng lượng để thực hiện các mục đích đã được xác định Trong hệ thống xã hội, đây chính là tiểu hệ thống kinh tế Nền kinh tế, các doanh nghiệp

và các quá trình kinh tế được tổ chức để thực hiện chức năng thích ứng của xã hội đối với môi trường khan hiếm các nguồn lực và đang biến đổi không ngừng

Tiểu hệ thống hướng đích (G): đóng vai trò xác định các mục tiêu và định

hướng cho toàn bộ hệ thống vào việc thực hiện mục đích đã được xác định G chính là hệ thống chính trị với các tổ chức, đảng phái và các cơ quan chính quyền trung ương và chính quyền địa phương cùng nhiều đơn vị và cơ quan quyền lực khác

Tiểu hệ thống liên kết (I): thực hiện chức năng gắn kết các cá nhân, các

nhóm và tổ chức xã hội, đồng thời kiểm soát xã hội thông qua gián sát, kiểm tra, điều chỉnh, trừng phạt để giải quyết các quan hệ mâu thuẫn, xung đột nhằm tạo nên sự ổn định, sự đoàn kết và trật tự xã hội Tiểu hệ thống liên kết gồm có các

cơ quan pháp luật, cơ quan hành chính và bộ máy an ninh

Tiểu hệ thống bảo tồn (L): để ổn định trật tự xã hội, tiểu hệ thống này thực

hiện chức năng kích thích, động viên các cá nhân và nhóm xã hội, đồng thời đảm nhiệm chức năng quản lý và bảo trì các khuôn mẫu hành vi, ứng xử của các thành

A – Thích ứng

I – Liên kết

L – Duy trì khuôn mẫu lặn

Trang 31

viên Tiểu hệ thống L bao gồm gia đình, nhà trường, tổ chức văn hóa, tông giáo, khoa học, nghệ thuật1

Từ những phân tích trong sơ đồ AGIL của Parsons cho thấy, hệ thống xã hội có sự phân công chức năng, nhiệm rõ ràng đối với từng bộ phận, từng tiểu hệ thống nhất định để tạo nên một chỉnh thể thống nhất – là xã hội Sự phát triển của trẻ em là sự tổng hợp của nhiều yếu tố tương tác: gia đình, nhà trường, cộng đồng, xã hội…, vì vậy, trong luận văn này, lý thuyết của Parsons được vận dụng

để giải thích và lý giải việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, vị trí, vai trò của từng ban, ngành, đoàn thể, tổ chức và gia đình đối với hệ thống chính trị cấp cơ

sở trong việc phân vai thực hiện việc xây dựng “Xã, phường phù hợp với trẻ em” – xây dựng một thế giới phù hợp với trẻ em

1 Lê Ngọc Hùng, Lịch sử và lý thuyết xã hội học, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2008, tr 236-237

Trang 32

Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC XÂY DỰNG MÔ HÌNH “XÃ, PHƯỜNG PHÙ HỢP VỚI TRẺ EM”

1 Điều kiện kinh tế, xã hội của hai xã An Lão, Hưng Công

1.1 An Lão 1

Xã An Lão là một xã nằm cách xa trung tâm tỉnh Hà Nam và huyện Bình Lục, có vị trí địa lý giáp ba huyện: phía Đông giáp xã Tân Khánh huyện Vụ Bản, phía Tây giáp xã Yên Trung huyện Ý Yên, phía Nam và Bắc giáp các xã của huyện Bình Lục Tổng diện tích tự nhiên của là 16 km2, mật độ dân số khoảng

750 người/km2, người dân sống chủ yếu bằng sản xuất nông nghiệp, ngoài ra, trong những ngày nông nhàn, ở An Lão vẫn duy trì nghề thủ công truyền thống

để tăng thêm thu nhập như: nghề làm sừng mỹ nghệ, thêu ren xuất khẩu Thu nhập bình quân đầu người 760 kg thóc/người/năm Dân số là 11.927 người

Xã An Lão có 4 trường học quốc lập ở 3 cấp: 1 trường mầm non, 2 trường tiểu học và 1 trường trung học cơ sở; trong đó có Trường mầm non An Lão, Tiểu học An Lão A và Trung học cơ sở An Lão đã đạt chuẩn quốc gia Ngoài ra, ở mỗi thôn đều có 1 cơ sở tư nhân trông trẻ từ 6 tháng đến 5 tuổi

Trạm y tế xã An Lão có không gian thoáng mát, có vườn thuốc nam và quầy thuốc nam phục vụ các hoạt động khám chữa bệnh tại chỗ cho nhân dân trong xã Đội ngũ y bác sỹ ở trạm đều đã qua đào tạo chuyên môn từ sơ cấp trở lên, đều là người địa phương nên tâm huyết và gắn bó với nghề Tuy nhiên, cơ sở vật chất của Trạm y tế còn nhiều hạn chế: 2 khu nhà được xây dựng từ cuối những năm 90 nên nay đã xuống cấp, tường ẩm thấp, mái nhiều chỗ bị dột, rêu mốc ; trang thiết bị y tế được cấp phát đã lâu nên nhiều loại bị huen rỉ hoặc vẫn

có thể sử dụng nhưng trong tình trạng liên tục phải khắc phục sự cố, gây khó khăn cho công tác khám, chữa bệnh

Điểm bưu điện văn hóa của xã An Lão có 2 tủ sách với khoảng gần 70 đầu sách và 4 loại báo Nội dung của những loại sách này xoay quanh công tác

1 UBND xã An Lão, Hồ sơ đề nghị xét công nhận “Xã, phường phù hợp với trẻ em” năm 2007, tr 1, 2

Trang 33

khuyến nông, hướng dẫn kỹ thuật trồng cây, chăn nuôi, chăm sóc sức khỏe cho người già , chỉ có một vài đầu sách dành cho trẻ em

1.2 Hưng Công 1

Hưng Công là một trong những xã đồng chiêm chũng của huyện Bình Lục, phía Bắc có sông Châu Giang tiếp giáp huyện Lý Nhân, phía Nam giáp xã Bối Cầu, phía Tây giáp xã Đồng Du và phía Đông giáp với xã Ngọc Lũ Là một

xã thuần nông, Hưng Công có diện tích hành chính là 5 km2, diện tích đất trồng lúa và hoa màu là 552,5 ha Toàn xã có 6867 người, trong đó trẻ em dưới 16 tuổi

là 1203 cháu, 20 trẻ khuyết tật và 20 trẻ mồ côi Toàn xã có 1956 hộ, trong đó số

hộ nghèo theo tiêu chí hộ nghèo năm 2006 là 148 - chiếm 0,8%/ tổng số hộ

Toàn xã có 9 thôn xóm, các công trình trường học, trạm y tế được kiên cố hóa, hơn 90% đường làng, ngõ xóm đã được bê tông hóa sạch đẹp Hưng Công

có 1 trường Trung học cơ sở, 1 trường Tiểu học và 3 khu nhà trẻ mẫu giáo tập trung Trường Tiểu học đạt chuẩn quốc gia tháng 2/2002, trạm y tế được công nhận là trạm chuẩn quốc gia tháng 8/2005

Điểm bưu điện văn hóa xã Hưng Công đã được xây dựng, chức năng hoạt động của điểm bưu điện chỉ dừng lại là nơi chuyển phát thư tín, điện thoại công cộng chứ chưa thực sự phục vụ được nhu cầu đọc sách trong nhân dân nói chung

và trẻ em nói riêng

Về kinh tế: cả An Lão và Hưng Công đều có sự tăng trưởng hàng năm Tuy nhiên, điều kiện kinh tế của An Lão có tiềm năng phát triển mạnh hơn vì An Lão có nghề phụ phát triển và hệ thống đường giao thông nối với huyện lộ và tỉnh lộ tốt hơn Đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, nhận thức của cán

bộ và nhân dân ngày càng được nâng cao, các hoạt động xã hội, văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao vì thế cũng được quan tâm

1 UBND xã Hưng Công, Hồ sơ đề nghị xét công nhận “Xã, phường phù hợp với trẻ em” năm 2007, tr 5,

6

Trang 34

2 Thực trạng và một số yếu tố tác động đến việc xây dựng “Xã, phường phù hợp với trẻ em”

“Xã, phường phù hợp với trẻ em” bao gồm 4 tiêu chuẩn và 28 chỉ tiêu Trong luận văn này, tác giả tập trung vào tiêu chuẩn 1 và tiêu chuẩn 2 với 13 chỉ tiêu Trong đó, tiêu chuẩn 1 hướng đến việc xây dựng môi trường xã hội phù hợp

với trẻ em Các chỉ tiêu trong tiêu chuẩn 1 gồm: (1) Cấp ủy đảng, chính quyền cam kết thực hiện công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; (2) Các ban,

ngành, đoàn thể tích cực tham gia công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em;

(3) Cơ sở y tế đạt chuẩn quốc gia và thực hiện có hiệu quả công tác chăm sóc sức

khỏe ban đầu; (4) Cơ sở giáo dục đạt chuẩn quốc gia và bảo đảm chất lượng giáo dục; (5) Có ít nhất một điểm vui chơi, giải trí đạt chuẩn quy định và có phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao; (6) Hệ thống đường giao thông thuận tiện, bảo đảm an toàn; (7) Đường làng, ngõ xóm, phố phường, nơi công cộng

sạch sẽ

Các chỉ tiêu trong tiêu chuẩn 2 hướng đến việc xây dựng môi trường bảo

đảm để trẻ em phát triển toàn diện, cụ thể như: (8) Nhiều hộ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa: (9) Các thành viên trong gia đình có kiến thức, kỹ năng

về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em: (10) Gia đình cam kết bảo đảm an toàn cho trẻ em; (11) Nhiều hộ gia đình được sử dụng nước sạch; (12) Nhiều hộ gia đình có hố xí hợp vệ sinh; (13) Nhiều hộ gia đình tham gia hoạt động xã hội từ

thiện

Thực trạng việc xây dựng “Xã, phường phù hợp với trẻ em” ở hai xã An Lão, Hưng Công của huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam cũng xoay quanh và hướng đến các chỉ tiêu trên Đặc thù ở mỗi địa phương khác nhau, vì vậy, mỗi nơi có những cách thức tiến hành và triển khai riêng

2.1 Thực trạng công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em và việc xây dựng “Xã, phường phù hợp với trẻ em” tại hai xã An Lão và Hưng Công

2.1.1 Hoạt động của chính quyền địa phương

Trang 35

Xây dựng “Xã, phường phù hợp với trẻ em” là sự kết hợp giữa tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp ủy, sự quản lý của cấp chính quyền cơ sở với xây dựng và mở rộng phong trào xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Vì vậy, vai trò đối với cấp ủy, chính quyền xã, phường là hết sức cần thiết

Cũng như nhiều địa phương khác trong cả nước, công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em vốn là một trong nhiều hoạt động thường niên tại hai xã

An Lão, Hưng Công Qua khảo sát thực tế cho thấy, mức độ quan tâm, chăm sóc

và đầu tư cho trẻ em ở mỗi xã một khác tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội của từng địa phương Từ khi có quyết định 03/QĐ-DSGĐTE ngày 1/6/2004 của

Bộ trưởng Chủ nhiệm Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em (nay là Bộ Lao động Thương binh và Xã hội – Vụ trẻ em phụ trách chuyên môn) lãnh đạo hai xã về cơ bản đã có sự nhất trí cao với tinh thần của quyết định, đồng thời nhiều hoạt động

đã được tổ chức nhằm triển khai các hoạt động của bộ tiêu chuẩn tại địa phương

Các hoạt động cụ thể của lãnh đạo chính quyền hai xã An Lão và Hưng Công được thể hiện qua các nghị quyết, chương trình, kế hoạch nhằm chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện tốt việc xây dựng “Xã, phường phù hợp với trẻ em” An Lão, Hưng Công thuộc huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam – một tỉnh được đánh giá

là đơn vị tích cực, sát sao trong việc chỉ đạo các quận/huyện, phường/xã cũng như hướng dẫn chi tiết cơ sở thực hiện theo các tiêu chí đề ra Đây chính là nền tảng thuận lợi để các địa phương tiến hành triển khai, tổ chức các hoạt động liên quan đến việc xây dựng “Xã, phường phù hợp với trẻ em”

Tại An Lão - xã có báo cáo đạt 24/28 chỉ tiêu (mức khá) của bộ tiêu chuẩn, Đảng ủy và chính quyền địa phương đã ban hành hơn 60 văn bản, nghị quyết, kế hoạch, báo cáo, bảng biểu, mẫu biểu liên quan đến việc xây dựng “Xã, phường phù hợp với trẻ em” Trao đổi với chúng tôi, đại diện lãnh đạo địa phương cho biết:

Trang 36

“Bên cạnh các kế hoạch thường niên như: Kế hoạch tổ chức Tết nguyên đán, kế hoạch hoạt động hè, kế hoạch tổ chức vui chơi Tết Trung thu… chính quyền địa phương còn chủ động xây dựng các nội dung chỉ đạo dành riêng cho chương trình “Xã, phường phù hợp với trẻ em” như: kế hoạch đẩy mạnh các hoạt động phấn đấu xây dựng “Xã, phường phù hợp với trẻ em” ngày 10/1/2007; Bản đăng ký xây dựng XPPHTE giữa UBND xã và tỉnh Hà Nam ngày 15/1/2007; Cam kết giữa từng hộ gia đình với chính quyền xã trong việc tạo điều kiện thuận lợinhất cho con em mình trong học tập, vui chơi giải trí và tham gia các hoạt động sinh hoạt văn hóa cộng đồng Do đó mà phong trào tạo được sự đồng thuận

và thống nhất cao từ lãnh đạo Đảng và chính quyền địa phương đến toàn thể nhân dân trong xã” (Nam; 48 tuổi; Đảng ủy viên xã An Lão)

“Xã An Lão chúng tôi vốn có nghề mỹ nghệ sừng, đan thêu ren xuất khẩu,

vì vậy, với các đối tượng đặc thù là trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em nghèo…, lãnh đạo địa phương cũng có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp đào tạo nghề và tạo việc làm phù hợp với sức lao động cho các em Chính sách xã hội hóa này được nhiều chủ doanh nghiệp trong xã nhiệt tình ủng hộ, do

đó nhiều trẻ em có hoàn cảnh khó khăn đã được đào tạo nghề miễn phí như: trẻ

em các gia đình chính sách, trẻ em nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em khuyết tật… Sau khi học nghề, các em được tiếp nhận vào làm việc tại chính doanh nghiệp và cơ sở sản xuất đó với những công việc nhẹ nhàng, phù hợp với lứa tuổi và sức lao động của các em Đây là một hoạt động có ý nghĩa nhân đạo

và an sinh xã hội mà An Lão chúng tôi đã làm tốt trong nhiều năm qua Bởi vậy

mà nhiều trẻ em trong các gia đình khó khăn có cơ hội được học tập, vui chơi mà không phải bỏ học giữa chừng” (Nữ; 37 tuổi; Cán bộ Dân số - Gia đình và Trẻ

em xã An Lão)

Với Hưng Công – một xã vùng chiêm trũng, không có nghề phụ, điều kiện kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, tuy nhiên, công tác chỉ đạo, điều hành, hướng dẫn xây dựng “Xã, phường phù hợp với trẻ em” cũng có một số thuận lợi Trước

Trang 37

tiên là sự nhất trí, ủng hộ cao của đội ngũ lãnh đạo Đảng, chính quyền địa phương, các ngành đoàn thể trong xã, vì vậy, nội dung xây dựng “Xã, phường phù hợp với trẻ em” đã được đưa vào Nghị quyết của Đảng ủy và chương trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương

“Đảng ủy xã Hưng Công tổ chức hội nghị quán triệt kế hoạch, triển khai nghiên

cứu nội dung xây dựng chuẩn “Xã, phường phù hợp với trẻ em”

Hội nghị tiến hành thảo luận, phân tích tình hình thực tiễn của địa phương và những tiêu chí trong nội dung xây dựng chuẩn “Xã, phường phù hợp với trẻ em” Hội nghị đi đến thống nhất đề ra Nghị quyết xây dựng chuẩn “Xã, phường phù hợp với trẻ em” Biểu quyết 13/13 = 100%

Ban chấp hành Đảng ủy giao cho UBND xã xây dựng kế hoạch triển khai tổ chức thực hiện

Ban thường vụ Đảng ủy trực tiếp chỉ đạo, hướng tới mục tiêu thực hiện thắng lợi việc xây dựng chuẩn “Xã, phường phù hợp với trẻ em” (Đảng ủy xã Hưng

Công, Trích Nghị quyết về việc xây dựng chuẩn “Xã, phường phù hợp với trẻ

em”, ngày 25/12/2006)

“Điều 1: Hội đồng nhân dân xã đã thảo luận và nhất trí đề nghị của Ban Dân số

- Gia đình và Trẻ em về việc xây dựng “Xã, phường phù hợp với trẻ em”

Điều 2: Giao cho UBND xã và Ban Dân số - Gia đình và Trẻ em lập kế hoạch triển khai tổ chức thực hiện Nghị quyết” (Hội đồng nhân dân xã Hưng Công,

Trích Nghị quyết về việc xây dựng “Xã, phường phù hợp với trẻ em”, ngày

28/12/2006)

Không chỉ dừng lại ở việc ban hành các nghị quyết, kế hoạch chỉ đạo; lãnh đạo hai xã An Lão, Hưng Công cũng thường xuyên tiến hành các hoạt động kiểm tra thông qua các kế hoạch phối hợp giữa chính quyền địa phương với các ngành đoàn thể

Tuy nhiên, có một khó khăn chung đối với cả hai xã, đó là kinh phí dành cho công tác này Trước khi có quyết định số 03/2004/QĐ-DSGĐ&TE, hàng

Trang 38

năm, các xã vẫn có những hoạt động hướng đến công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em bằng nguồn ngân sách theo quy định Từ năm 2004 đến nay, các địa phương vẫn chưa có nguồn kinh phí riêng dành cho việc xây dựng “Xã, phường phù hợp với trẻ em” Vì vậy, các xã vẫn chủ yếu sử dụng nguồn ngân sách hàng năm để chi cho các hoạt động chăm sóc trẻ em (theo định mức chung

từ trước khi có chương trình này) Tổng chi cho hoạt động này ở Hưng Công chỉ khiêm tốn trong khoảng 13 triệu/năm Trong khi đó, tại An Lão, kinh phí đầu tư cho việc xây dựng “Xã, phường phù hợp với trẻ em” tương đối tốt: 30 triệu đồng trong năm 2006, 35 triệu đồng năm 2007 và năm 2008 là gần 40 triệu đồng Tìm hiểu về vấn đề này, chúng tôi được biết, An Lão có sự đa dạng về nguồn lực tài chính, đặc biệt là sự đóng góp từ cộng đồng

“Để bổ sung vào ngân sách đầu tư các hoạt động cho trẻ em, hàng năm An Lão tiến hành vận động nhân dân đóng góp 1.000đ/hộ/năm, cán bộ công chức đóng góp một ngày lương/năm Bên cạnh đó, chúng tôi còn vận động sự ủng hộ của các doanh nghiệp, các nhà tài trợ trên địa bàn xã thông qua các quà tặng bằng

đồ chơi, bằng tiền, bằng sách vở cho các đối tượng trẻ em trên địa bàn trong từng dịp nhất định Đặc biệt, nhiều hộ làm ăn xa, mỗi khi về thăm quê cũng ủng

hộ trực tiếp các hoạt động từ 300.000 – 500.000đ, đây là những nguồn lực rất quan trọng góp phần cùng địa phương làm tăng thêm sự phong phú cho đời sống tinh thần của trẻ Vì vậy, vào các dịp Tết Nguyên đán, Tết thiếu nhi 1-6, rằm Trung thu…, các hoạt động vui chơi, giải trí cho trẻ em ở An Lão khá sôi nổi và thu hút được nhiều trẻ em tham gia” (Nữ, 37 tuổi, Cán bộ Dân số - Gia đình và

Trang 39

Bên cạnh nguồn kinh phí như trên, An Lão và Hưng Công là những địa phương có khả năng tự huy động vốn trong nhân dân để xây dựng các thiết chế văn hóa như: trường học, nhà văn hóa, sân vận động, đường làng ngõ xóm Đó là kết quả của sự cố gắng, nỗ lực, đoàn kết một lòng giữa chính quyền địa phương

và nhân dân, nhưng lãnh đạo địa phương còn rất băn khoăn rằng, số tiền đó có được liệt kê vào tổng kinh phí phục vụ hoạt động chăm sóc trẻ em hay không ? Bởi, đó là những công trình công cộng rất cần thiết trong việc phục vụ các hoạt động vui chơi, giải trí của trẻ em

Sự thống nhất về công tác chỉ đạo của An Lão và Hưng Công còn được thể hiện trong quyết định kiện toàn Ban chỉ đạo xây dựng “Xã, phường phù hợp với trẻ em” Ban chỉ đạo có sự tham gia của các đồng chí từ Chủ tịch UBND xã, trưởng các ban, ngành đoàn thể, trưởng trạm y tế, hiệu trưởng các trường… với

13 – 14 thành viên

Những hoạt động tích cực trong công tác chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện việc xây dựng “Xã, phường phù hợp với trẻ em” ở An Lão và Hưng Công đều được đội ngũ lãnh đạo khẳng định kết quả tốt Khi đến cộng đồng, trao đổi với những người dân địa phương, chúng tôi được biết thêm:

“Đúng là thời gian gần đây, địa phương có sự quan tâm hơn đến các hoạt động

dành cho trẻ em như: xây trường học mới; sửa chữa, tôn tạo khu vui chơi; tuyên truyền trên loa phát thanh các nội dung về trẻ em… nhưng nếu chỉ dừng lại ở như thế thì trẻ em vẫn còn rất nhiều thiệt thòi Các địa điểm vui chơi có nhưng thiếu người tổ chức hoạt động cho trẻ; tuyên truyền trên loa phát thanh, phát tờ rơi, sách mỏng cũng nhiều nhưng không phải người dân nào cũng có thời gian

để nghe, để đọc và không phải ai cũng hiểu hết trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với trẻ em Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ làm công tác dân số, gia đình

và trẻ em lại kiêm nhiệm nhiều việc, chế độ đãi ngộ kém, trình độ hạn chế nên cũng ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả thực chất của các hoạt động dành cho trẻ

em Chúng tôi không đòi hỏi nhiều, vì trong điều kiện của địa phượng còn nhiều khó khăn, chúng tôi sẵn sàng chia sẻ và thông cảm, nhưng nói thực, khoảng cách

Trang 40

từ báo cáo đến việc làm cách nhau xa lắm, chỉ thấy thương cảm cho trẻ em nghèo mà thôi (Nam, 71 tuổi, hưu trí, xã An Lão)

“Nhiều năm qua các hoạt động dành cho trẻ em ở đây vốn đã rất ít Chúng tôi mong rằng, trong thời gian tới có nhiều cơ chế tốt hơn, lãnh đạo địa phương và các ngành đoàn thể quan tâm hơn đến việc tổ chức các hoạt động sinh hoạt văn hóa, tinh thần cho trẻ em, để trẻ em có thêm nhiều cơ hội được vui chơi, được trải nghiệm và thể hiện mình trong các hoạt động thực tiễn phong phú Đặc biệt, trẻ em rất cần được tuyên truyền để hiểu rõ về quyền, bổn phận và trách nhiệm của mình Muốn làm được điều này, chúng tôi chỉ hi vọng vào lãnh đạo địa phương, chứ người dân chúng tôi có mấy ai có điều kiện, có cơ hội để dạy cho con mình tiếp cận những kiến thức đó.” (Nữ, 42 tuổi, người dân xã Hưng Công)

Như vậy, mặc dù tiêu chuẩn “Xã, phường phù hợp với trẻ em” mới được ban hành nhưng khi xuống đến địa phương đã nhận được sự đồng thuận của lãnh đạo Đảng, chính quyền ở đây Điều này chứng tỏ lãnh đạo các địa phương đã nhận thức khá đầy đủ về việc xây dựng “Xã, phường phù hợp với trẻ em” là rất cần thiết đối với sự phát triển của trẻ em nói riêng và cộng đồng dân cư nói chung Tuy nhiên, để các hoạt động do lãnh đạo địa phương phát động nhận được

sự ủng hộ của người dân, đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của nhân dân hơn nữa thì các hoạt động phải được nâng tầm cao hơn, đi vào thực chất hơn và thực sự phục vụ lợi ích của trẻ em hơn

2.1.2 Hoạt động của các ngành đoàn thể

Trước khi có kế hoạch xây dựng “Xã, phường phù hợp với trẻ em”, hàng năm, các ngành đoàn thể ở địa phương vẫn có những hoạt động định kỳ hướng đến việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Những hoạt động thường niên của các ngành đoàn thể dành cho trẻ em là: tặng quà cho trẻ em nghèo nhân các ngày

lễ, tết, ngày kỷ niệm; tặng học bổng cho trẻ em học giỏi vượt khó; thăm hỏi, động viên trẻ em trong các gia đình chính sách; phối kết hợp với Ban Dân số - Gia đình và Trẻ em của xã trong các hoạt động hè

Ngày đăng: 25/02/2018, 10:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w