Theo GS Phan Huy Lê: “Truyền thống là tập hợp những tư tưởng tình cảm, những thói quen trong tư duy, lối sống và ứng xử của một cộng đồng người nhất định được hình thành trong lịch sử và trở nên ổn định, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác”. Tôn sư trọng đạo: “Tôn sư” là tôn trọng, kính trọng thầy dạy “nhất tự vi sư, bán tự vi sư” một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy, tôn vinh người thầy, nghề dạy học. “Trọng đạo” trước hết là đạo đức, đạo làm con, đạo làm trò, nói rộng hơn là trọng đạo lí làm người. Truyền thống tôn sư trọng đạo đã thấm sâu vào nhận thức, tình cảm, trở thành những hành vi của người Việt Nam qua các thế hệ. Trước hết, để thể hiện lòng kính trọng, biết ơn công lao của người thầy giáo, tôn vinh người thầy trong việc rèn luyện, giáo dục nhân cách cho các thế hệ học trò để họ trở thành người tốt, người có ích cho xã hội. Vì thế mà cha ông ta thường nói “không thầy đố mày làm nên”. Mặt khác xã hội tôn vinh thầy giáo ở vị trí cao trong xã hội, bởi thầy giáo không chỉ tiêu biểu cho tri thức mà thầy giáo còn là người giàu lòng nhân ái, sống mẫu mực, đạo đức trong sáng. Có thể nói cái tâm cái trí của người thầy giáo là tấm gương sáng của con người trong mọi thời kì lịch sử. Bàn về truyền thống tôn sư trọng đạo của nước ta chính là bàn về những tư tưởng tình cảm, thói quen trong tư duy và ứng xử của cộng đồng người Việt trong tiến trình lịch sử của nền giáo dục Việt Nam. Để làm sáng tỏ vấn đề này, nhất thiết chúng ta phải men theo những chặng đường khác nhau của lịch sử giáo dục Việt Nam.
Trang 1TRUYỀN THỐNG TÔN SƯ TRỌNG ĐẠO CỦA NGƯỜI VIỆT NAM
Theo GS Phan Huy Lê: “Truyền thống là tập hợp những tư tưởng tình cảm, những thói quen trong tư duy, lối sống và ứng xử của một cộng đồng người nhất định được hình thành trong lịch sử và trở nên ổn định, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác” Tôn sư trọng đạo: “Tôn sư” là tôn trọng, kính trọng thầy dạy “nhất tự vi sư, bán tự vi sư” một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy, tôn vinh người thầy, nghề dạy học “Trọng đạo” trước hết là đạo đức, đạo làm con, đạo làm trò, nói rộng hơn là trọng đạo lí làm người Truyền thống tôn sư trọng đạo đã thấm sâu vào nhận thức, tình cảm, trở thành những hành vi của người Việt Nam qua các thế hệ Trước hết, để thể hiện lòng kính trọng, biết ơn công lao của người thầy giáo, tôn vinh người thầy trong việc rèn luyện, giáo dục nhân cách cho các thế hệ học trò để họ trở thành người tốt, người có ích cho xã hội Vì thế mà cha ông ta thường nói “không thầy đố mày làm nên” Mặt khác xã hội tôn vinh thầy giáo ở vị trí cao trong xã hội, bởi thầy giáo không chỉ tiêu biểu cho tri thức mà thầy giáo còn là người giàu lòng nhân ái, sống mẫu mực, đạo đức trong sáng Có thể nói cái tâm cái trí của người thầy giáo là tấm gương sáng của con người trong mọi thời kì lịch sử Bàn về truyền thống tôn sư trọng đạo của nước
ta chính là bàn về những tư tưởng tình cảm, thói quen trong tư duy và ứng xử của cộng đồng người Việt trong tiến trình lịch sử của nền giáo dục Việt Nam Để làm sáng tỏ vấn đề này, nhất thiết chúng ta phải men theo những chặng đường khác nhau của lịch sử giáo dục Việt Nam
* Nền giáo dục Việt Nam thời phong kiến
Thời phong kiến, nước ta chịu ảnh hưởng rất nhiều từ nền văn hóa Trung Quốc Nền giáo dục nước ta cơ bản rập khuôn Trung Quốc Đạo học lấy chữ nho làm
Trang 2trọng và được kính trọng gọi là chữ Thánh hiền, lấy đạo lý Khổng Mạnh làm kim chỉ nam; lấy Tứ Thư, Ngũ Kinh làm kinh điển Trong tiến trình lịch sử, đạo học thời phong kiến cũng có nhiều biến đổi, song vẫn không thoát ly hoàn toàn những nguyên tắc cơ bản trên1
Người xưa đặc biệt chú trọng đến nhân cách con người, do vậy đạo học thời phong kiến lấy chữ “Lễ” làm trọng, sau đó mới đến chữ “Văn” Điều này cũng nằm trong thuật trị quốc của các triều đại phong kiến Lễ giáo phong kiến đặt ra
nó có một cái lợi rất lớn, đó là giữ cho xã hội “thăng bằng” trong tam cương, ngũ thường…Xét trong quan hệ thầy trò thì có tam kính (quân, sư, phụ) Bên cạnh những luật lệ bất thành văn ấy, nhà nước còn đề ra những điều luật bảo vệ danh
dự, tính mạng của người thấy, như điều 489 luật Hồng Đức có ghi: “Học trò mà đánh, lăng mạ thầy thì xử nặng tội hơn đánh và lăng mạ dân thường ba bậc Đánh chết thầy phải tội chém” Người thầy được đặt vào vị trí xứng đáng trong
xã hội Những điều luật thành văn và bất thành văn ấy dần dần ăn sâu vào nếp nghĩ, thái độ ứng xử, cũng như việc làm của mỗi thành viên trong xã hội, để rồi theo năm tháng nó kết tinh lại tạo thành truyền thống hiếu học - tôn sư trọng đạo của dân tộc Việt Nam2
Truyền thống tôn sư trọng đạo của nước ta đã được truyền qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau Song, phải thừa nhận rằng đạo học thời phong kiến đã ăn sâu vào tiềm thức người Việt Nam và có khả năng tác động, chi phối đạo học thời sau này (kể cả tương lai) Và trong nền giáo dục phong kiến ấy, đã để lại cho chúng ta nhiều tấm gương sáng về thầy và trò Nhân cách cao cả, tinh thần học tập của họ luôn là bài học cho hậu thế mà điển hình phải kể đến nhà giáo Chu Văn An - ngôi sao sáng của nền giáo dục đời Trần hay còn được nhắc tới như
người thầy đầu tiên của nền giáo dục Việt Nam
1 Hứa Văn Ân (1998), Truyền thống tôn sư trọng đạo, NXB Trẻ, trg.8
2 Hứa Văn Ân (1998), Truyền thống tôn sư trọng đạo, NXB Trẻ, trg.13
Trang 3Sinh ngày 25/8/1292, tại Quang Liệt, Thanh Trì, Hà Nội, mất ngày 26/11/1370.
Là một con người tài năng xuất chúng, từ thuở nhỏ thầy đã được biết đến là một người thông minh, tài giỏi và và là một thần đồng của nước Nam Thầy Chu Văn
An là một con người kỳ lạ, con đường tiến thân của thầy khác hẳn những người đương thời, thầy chỉ mở lớp dạy học ở nhà và không tham gia khoa cử, những học trò của thầy thuộc mọi tầng lớp và đều được thầy đối xử như nhau Trong số những học trò của thầy, nhiều người về sau đều thành công trên con đường khoa
cử, trong số đó có Phạm Sư Mạnh, Lê Quát Từ sự thành công của những người học trò, tiếng tăm của thầy đã được mọi người biết đến.
Năm 1325, thầy Chu Văn An được vua Trần Minh Tông mời thầy vào cung dạy cho thái tử, trong thời gian làm việc ở Quốc tử giám, thầy đã soạn ra một bộ sách giáo khoa giảng dạy về Nho giáo do chính người Việt soạn có tên “Tứ thư thuyết ước” Là một con người tiết tháo, không cúi đầu trước gian thần lộng quyền hại dân hại nước, thầy dâng “thất trảm sớ” để chém 7 tên gian thần nhưng không được Trần Dụ Tông chuẩn tấu.
Trước chính sự rối ren, gian thần lộng quyền, vua không nghe lời can gián của bậc tôi trung Thầy Chu Văn An cởi mũ áo, từ quan ở ẩn, trong thời gian này thầy đã làm nhiều bài thơ nói lên tâm sự của mình Dù ở ẩn nhưng học trò của thầy vẫn lui tới thăm thầy, chuyện kể “Phạm Sư Mạnh, Lê Quát, dù làm quan cao chức lớn, khi đến thăm thầy vẫn cúi đầu lạy dưới giường và không dám ngồi chung chiếu trò chuyện với thầy Thấy thầy nghèo túng, có người kín đáo để lụa
là, châu báu ngầm tặng thầy, khi biết được thầy sai tiểu đồng đen tặng lại cho người nghèo khổ khác” 3
* Nền giáo dục Việt Nam từ 1858 – 1945
Đặc điểm nổi bật nhất của nền giáo dục nước ta giai đoạn này là việc nhà nước dùng tiếng Pháp và chữ quốc ngữ làm ngôn ngữ chính thống trong viêc dạy học
3 Thùy Linh- Việt Trinh (2012), Nhà Giáo Việt Nam Qua Các Thời Kỳ, NXB Dân Trí, NXB Hà Nội, tr15.
Trang 4và thi cử Chữ nho không còn giữ địa vị độc tôn sau hơn 9 thế kỷ ngự trị nền giáo dục Việt Nam
Mặc dù chịu nhiều chính sách cai trị của thực dân Pháp, nhưng nhà nước phong kiến Việt Nam từ Tự Đức về sau vẫn tổ chức được những kì thi theo lệ chung của các triều đại trước Tuy nhiên cảnh trường thi, cảnh quan trường không còn được trang nghiêm như trước Chữ nho ngày càng bị bỏ rơi, nhà nho tâm huyết
đa số mang tâm trạng kẻ thất sủng Có trong thể nói giáo dục từ thời Tự Đức về sau là một bước lùi trong tiến trình lịch sử của mô hình giáo dục phong kiến Việt Nam
Chính sách giáo dục của thực dân Pháp đã làm thay đổi hẳn bộ mặt nền giáo dục
cổ truyền Sự thay đổi cơ cấu tổ chức, nội dung giảng dạy của chính quyền thực dân đã gây một phản ứng khá mạnh mẽ trong lớp nhà nho Nền học cũ bị bãi bỏ, chữ thánh hiền ngày càng mai một, nho sĩ đương thời vừa có cái hụt hẫng, vừa mang tâm lý bị xúc phạm Họ căm ghét thực dân, căm ghét nền học mới, xem nó như cái học của phường cướp nước Trong khi đó lại có rất nhiều nho sĩ chí sĩ hăm hở đi theo con đường Duy Tân và đề xướng lối học mới, trực tiếp chống lại thứ giáo dục lạc hậu thời phong kiến lẫn thứ giáo dục nô dịch của bọn thực dân
Họ đã tập hợp nhau lại thành những tổ chức rầm rộ vận động cải cách giáo dục
từ Nam chí Bắc Trong lịch sử giáo dục nước nhà, họ là những chiến sĩ tiền phong vận động cải cách toàn bộ nền giáo dục nước ta
Có thể thấy, dưới tác động của chính sách đô hộ trong lĩnh vực giáo dục từ thực dân Pháp, một bộ phận nho sĩ vẫn đứng lên đấu tranh vì tấm lòng yêu nước kiên trung Họ vừa là những người thầy trên mặt trận giáo dục, vừa là chiến sĩ trong
sự nghiệp chống ngoại xâm, giành độc lập cho dân tộc Trong giai đoạn này, có thể kể đến những người thầy tiêu biểu như: Thầy Phan Bội Châu, thầy Phan
Trang 5Ngọc Hiển, thầy giáo Nguyễn Đình Chiểu - một người thầy, một nhà yêu nước tiêu biểu.
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) là một nhà thơ, nhà văn hóa cận đại của Việt Nam Sinh tại làng Tân Khánh, phủ Tân Bình, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định Tuổi thiến niên, ông đã chứng kiến cảnh loạn lạc của đất nước, đặc biệt là cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi tại Gia Định Năm 1843, ông đỗ Tú tài, năm
1847, ông ra Huế học để chờ khoa thi 1849 Nhưng chưa kịp thi thì mẹ ông mất
và ông phải về chịu tang mẹ, trên đường về vì găp nhiều trắc trở và khóc thương
mẹ nên ông bị mù đôi mắt, đến năm 1851, ông mở trường dạy học và làm thuốc.Cuộc đời ông gắn liền với những áng văn thơ phản ánh hiện thực xã hội lúc bấy giờ và cũng là thể hiện tấm lòng yêu nước của ông Người đời sau có nhận xét về ông như sau “So với các trước tác của các nhà văn cùng thời, Nguyễn Đình Chiểu đã có một thái độ tích cực hơn, vì dân vì nước hơn Tuy không đứng vào hàng ngũ cầm khí giới, nhưng ông rất có cảm tình với họ, chia
sẻ với họ cái hờn mất nước, lòng căm ghét quân địch và bọn hợp tác ”.
* Nền giáo dục Việt Nam từ 1945 đến nay
Cách mạng Tháng Tám thành công, đưa nhân dân lên vị trí người làm chủ đất nước Dựa trên tư tưởng đặc biệt chú ý tới giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chỉ chưa đầy một tuần sau khi tuyên bố Việt Nam độc lập, ngày 8-9-1945, Chính phủ đã ra 3 sắc lệnh về phát triển bình dân học vụ, nhằm giúp cho dân ta thoát nạn mù chữ
Tuy kháng chiến nhưng hệ thống trường học từ khu đến tỉnh phát triển rất mạnh Đây là bước tiến dài so với thời gian trước Cách mạng Tháng Tám Những năm
1950, Chính phủ đã mở các trường đại học như Đại học Y khoa ở Việt Bắc, Đại học Sư phạm ở Thanh Hóa và Nam Ninh (Trung Quốc); Cao đẳng Giao thông ở Thanh Hóa, đào tạo cán bộ có trình độ cao phục vụ chiến trường, phục vụ dân
Trang 6sinh Bên cạnh đó, một lực lượng không nhỏ cán bộ được đào tạo tại nước ngoài để trở thành những đội ngũ cốt cán của nước nhà sau này
Nhờ phát triển hệ thống giáo dục như vậy nên đã đáp ứng được một phần nhân lực có trình độ, phục vụ trong các binh chủng Quân đội nhân dân Việt Nam; nhất
là những binh chủng cần có trình độ học vấn tốt, như pháo binh, tên lửa, phòng không, không quân, các ngành công nghiệp, cũng như các ngành khác để thực hiện khẩu hiệu “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”
Sau ngày thống nhất đất nước, tuy gặp nhiều khó khăn nhưng với quyết tâm và tinh thần trách nhiệm cao, ngành giáo dục đã từng bước hoàn thiện và dần dần phát triển để trở thành một điểm tựa trong sự phát triển của đất nước Trong giai đoạn này có rất nhiều tấm gương nhà giáo ưu tú đã cống hiến cả tâm huyết của
mình trong sự phát triển của ngành giáo dục Điển hình phải kể đến Thầy Trần Quốc Vượng- nhà giáo ưu tú, một nhà sử học chân chính
Sinh 12/12/1934, tại tỉnh Hải Dương Mất năm 2005 Thầy là một nhà giáo ưu
tú, một sử gia chân chính và mẫu mực
Sinh ra trong một gia đình có nhiều người sớm giác ngộ và đi theo cách mạng, theo kháng chiến, theo Đảng Ngay từ nhỏ, ông đã sống trong một gia đình “có học” với bầu không khí “chỉ có học” Niềm đam mê văn sử của ông, lòng thành tâm với lịch sử văn hóa Việt Nam cũng khởi nguồn từ truyền thống yêu nước, hiếu học, ham học của gia đình.
Từ giữa những năm 1956, sau khi tốt nghiêp thủ khoa ngành Sử-Địa, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, ông trở thành thầy giáo của Khoa Lịch sử, Trường Đại học Tổng Hợp Hà Nội Suốt cuộc đời, GS Trần Quốc Vượng gắn bó thủy chung, dốc một lòng, trông một đạo cho Khoa Lịch sử của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội nay là trường ĐH KHXH-NV ĐHQGHN.
Trong sự nghiệp đào tạo, GS là người góp phần xây dựng Bộ môn Khảo cổ học,
có công xây dựng Trung tâm Nghiên cứu liên văn hóa-lịch sử, bộ môn văn hóa
Trang 7du lịch, bộ môn lịch sử văn hóa việt nam và môn địa lý nhân văn…… Ông là một trong những người khơi mở và đi đầu trong hướng tiếp cận liên ngành và đa ngành trong nghiên cứu các ngành sử học, văn hóa GS được Đảng và Nhà nước phong tặng các huân chương cao quý: Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì, huân chương lao động hạng Nhất…… và nhiều huy chương khác như Huy chương vì thế hệ trẻ, huy chương vì sự nghiệp giáo dục, huy chương vì sự nghiệp khoa học-công nghệ…
GS Trần Quốc Vượng còn được giới nghiên cứu khoa học xã hội-nhân văn khu vực ĐNA và thế giới đánh giá cao bởi những đóng hóp và ý tưởng khoa học mới
lạ, độc và sắc của mình ở bất kỳ lĩnh vực nào mà ông quan tâm Ông tham gia chủ trì và đồng chủ trì nhiều hội thảo khoa học trong nước và quốc tế, nhiều công trình khoa học của ông đã được công bố ở nước ngoài
* Ngày nhà giáo Việt Nam 20 - 11
Mùa xuân năm 1953, Đoàn Việt Nam do Thứ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Nguyễn Khánh Toàn làm trưởng đoàn dự Hội nghị quan trọng kết nạp Công đoàn giáo dục của một số nước vào tổ chức FISE tại Viên (Thủ đô nước Áo), trong đó có Công đoàn Giáo dục Việt Nam
Từ ngày 26 đến 30/8/1957, tại Thủ đô Vacsava, Hội nghị FISE có 57 nước tham
dự, trong đó có Công đoàn giáo dục Việt Nam, quyết định lấy ngày 20/11 làm ngày Quốc tế Hiến chương các nhà giáo
Lần đầu tiên ngày "Quốc tế Hiến chương các nhà giáo" được tổ chức trên toàn miền Bắc nước ta vào ngày 20/11/1958 Những năm sau đó, ngày lễ 20/11 còn được tổ chức tại các vùng giải phóng ở miền Nam
Khi Việt Nam thống nhất, với ý nghĩa tích cực của ngày 20/11, theo nguyện vọng của giáo giới cả nước, kiến nghị của Đại hội Công đoàn Giáo dục Việt Nam lần thứ VIII (tháng 4/1982) và Bộ Giáo dục, Bộ Đại học và Trung học
Trang 8chuyên nghiệp, Tổng Cục dạy nghề, Ủy ban Bảo vệ bà mẹ trẻ em…, Hội đồng
Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Quyết định số 167/HĐBT, ngày 26/9/1982 quyết định sẽ lấy ngày 20/11 hàng năm là Ngày Nhà giáo Việt Nam Ngày 20/11/1982, lễ kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam đầu tiên được tiến hành trọng thể trong cả nước Từ đó đến nay, đây là ngày truyền thống của ngành giáo dục để tôn vinh những người làm công tác trồng người Ngày Nhà giáo Việt Nam (hay ngày Hiến chương Nhà giáo Việt Nam) được tổ chức hằng năm vào ngày 20/11 không chỉ là dịp để Ngành Giáo dục tôn vinh những người hoạt động trong ngành, học trò thể hiện lòng thành kính “tôn sư trọng đạo” mà còn là dịp
để xã hội tôn kính, tri ân những người đã, đang gắn bó với nghề dạy học - “Nghề cao quý nhất trong các nghề cao quý, nghề sáng tạo nhất trong các nghề sáng tạo” Đó là việc làm cần thiết không những phù hợp với tinh thần của “ Bản hiến chương các nhà giáo” do Liên hiệp các Công đoàn giáo dục Quốc tế xây dựng và thông qua tại Hội nghị Quốc tế các nhà giáo ở Vacxava năm 1946, mà còn phù hợp với truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt nam - một dân tộc có hàng nghìn năm Văn hiến và truyền thống hiếu học “ Tôn sư, trọng đạo”