PHẦN 1. LỜI MỞ ĐẦU 1.1. TÍNH CẤP THIẾT NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI Vốn là một phạm trù kinh tế, là điều kiện tiên quyết cho bất cứ doanh nghiệp, ngành nghề kinh tế kỹ thuật, dịch vụ nào trong nền kinh tế. Để tiến hành hoạt động kinh doanh được, doanh nghiệp phải nắm giữ một lượng vốn nhất định. Số vốn này thể hiện giá trị toàn bộ tài sản và các nguồn lực của doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh. Vì vậy vốn kinh doanh có vai trò quyết định trong việc thành lập, hoạt động và phát triển của doanh nghiệp. Trong sự cạnh tranh gay gắt của thị trường, huy động được vốn mới chỉ là bước đầu, quan trọng hơn và quyết định hơn là nghệ thuật phân bố, sử dụng số vốn với hiệu quả cao nhất ảnh hưởng đến vị thế của doanh nghiệp trên thương trường bởi vậy cần phải có chiến lược bảo toàn và sử dụng hiệu quả vốn kinh doanh. Công ty Cổ phần nhựa xốp 76 chuyên sản xuất kinh doanh các sản phẩm nhựa xốp, xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị và các sản phẩm ngành nhựa xốp, in tem nhãn mác các loại, sản xuất các loại túi siêu thị bằng vải PP và vải PP không dệt…. Do có nhiều hoạt động kinh doanh lớn và đặc biệt trong nền kinh tế thị trường sôi động có nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít rủi ro như vậy thì vấn đề về bảo toàn và sử dụng hiệu quả vốn kinh doanh là một trong số những vấn đề cần được quan tâm sâu sắc. Chính vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài: “Quản trị vốn kinh doan Công ty Cổ phần nhựa xốp 76 ” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình. 1.2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Nghiên cứu lý luận chung về quản trị vốn kinh doanh để sử dụng có hiệu quả nhằm nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Đồng thời, luận văn còn nghiên cứu những lợi thế và hạn chế về sử dụng vốn kinh doanh trong hoạt động kinh doanh của công ty Cổ phần nhựa xốp 76. Trên cơ sở phân tích đánh giá thực trạng hoạt động sử dụng vốn kinh doanh của công ty Cổ phần nhựa xốp 76 mà đề ra các phương hướng và giải pháp sử dụng hiệu quả vốn kinh doanh của công ty. 1.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu của luận văn là lý luận và thực tiễn quản trị vốn kinh doanh công ty Cổ phần nhựa xốp 76. Phạm vi nghiên cứu luận văn: Luận văn đứng trên giác độ người sử dụng vốn kinh doanh để nghiên cứu nội dung quản trị vốn kinh doanh công ty Cổ phần nhựa xốp 76. Thời gian nghiên cứu từ năm 2012 cho đến năm 2016. 1.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp để tiến hành phân tích và đánh giá các mặt hoạt động của doanh nghiệp. Đồng thời tác giả cũng dùng những chỉ tiêu đánh giá mang tính định lượng để đánh giá một cách toàn diện hoạt động quản trị vốn của công ty Cổ phần nhựa xốp 76 trong thời gian qua. 1.5. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN Bằng cách phân tích thực trạng hoạt động quản trị vốn kinh doanh và những ưu điểm và nhược điểm trong quá trình đó, cùng với đánh giá và kết luận ban đầu về những vấn đề thuận lợi và khó khăn trong nền kinh tế thị trường hiện nay đối với vấn đề quản trị vốn kinh doanh công ty Cổ phần nhựa xốp 76. Điểm mới của luận văn là đưa ra những đánh giá mang tính khách quan và có những giải pháp có tính khoa học có thể áp dụng vào thực tiễn nâng cao hiệu quả quản trị vốn kinh doanh của công ty Cổ phần nhựa xốp 76. 1.6. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN Chương I; Lý luận chung về quản trị vốn kinh doanh của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường. Chương II: Phân tích thực trạng quản trị vốn kinh doanh của công ty Cổ phần nhựa xốp 76. Chương III: Các giải pháp cơ bản hoàn thiện quản trị vốn kinh doanh của công ty Cổ phần nhựa xốp 76.
Trang 11.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4 Phương pháp nghiên cứu
1.5 Đóng góp của luận văn
1.6 Kết cấu của luận văn
Phần 2 Lý luận chung về quản trị vốn kinh doanh của doanh nghiệp trong
cơ chế thị trường
2.1 Khái niệm và vai trò của vốn kinh doanh
2.1.1 Khái niệm và phân loại vốn kinh doanh2.1.2 Vai trò của vốn kinh doanh2.2 Nội dung quản trị vốn kinh doanh
2.2.1 Lập kế hoạch về vốn kinh doanh2.2.2 Các biện pháp huy động vốn kinh doanh2.2.3 Tổ chức sử dụng vốn trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.2.2.4 Giám sát và kiểm tra tình hình sử dụng vốn kinh doanh
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị vốn kinh doanh của doanh nghiệp
2.3.1 Nhân tố khách quan2.3.2 Nhân tố chủ quan
Phần 3 Phân tích thực trạng quản trị vốn kinh doanh của công ty cổ phần
nhựa xốp 76 giai đoạn 2012 – 2016
3.1 Tổng quan về công ty cổ phần nhựa xốp 76
3.1.1 Chức năng, nhiệm vụ, ngành nghề sản xuất kinh doanh và tổ chức biên
chế của Công ty cổ phần nhựa xốp 763.1.2 Kết quả sản xuất kinh doanh
1
Trang 23.1.3 Cơ cấu vốn kinh doanh, nguồn vốn kinh doanh và tình hình tài chính3.2 Đánh giá tình hình quản trị sử dụng vốn
3.2.1 Kết quả đạt được3.2.2 Hạn chế và nguyên nhân
Phần 4 Giải pháp cơ bản hoàn thiện quản trị vốn kinh doanh tại công ty cp
nhựa xốp 76 – công ty TNHH 1TV 76
4.1 Định hướng phát triển sản xuất kinh doanh, phương hướng hoàn thiện
quản trị vốn kinh doanh của công ty cổ phần nhựa xốp 76
4.2 Các giải pháp hoàn thiện quản trị vốn kinh doanh của công ty cổ phần
nhựa xốp 76
4.2.1 Giải pháp về lập kế hoạch vốn kinh doanh của công ty trong giai đoạn tới
4.2.2 Giải pháp về huy động vốn kinh doanh4.2.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí kinh doanh4.2.4 Giải pháp về bảo toàn vốn, quản lí kiểm tra giám sát hoạt động sử dụng
vốn kinh doanh
4.3 Một số kiến nghị
4.3.1 Về phía cơ quan cấp trên
4.3.2 Về phía công ty
2
Trang 3DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Kết quả sản xuất kinh doanh giai đoạn 2012 – 2016
Bảng 3.2 Cơ cấu tài sản, vốn giai đoạn 2012-2016
Bảng 3.3 Các chỉ tiêu đáng giá tình hình tài chính của công ty giai đoạn 2012
-2016
Bảng 3.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng tổng vốn giai đoạn 2012-2016
Bảng 3.5 Bảng phân tích mối quan hệ giữa các chỉ tiêu tài chính theo mô hình
Dupont
Bảng 3.6 Cơ cấu vốn cố định giai đoạn 2012-2016
Bảng 3.7 Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định giai đoạn 2012-2016
Bảng 3.8 Cơ cấu vốn lưu động giai đoạn 2012-2016
Bảng 3.9 Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động giai đoạn 2012 - 2016
Bảng 3.10 Đánh giá hiệu quả vốn chủ sở hữu giai đoạn 2012 – 2016
Bảng 3.11 Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn vay giai đoạn 2012-2016
Bảng 4.1 Lợi nhuận bình quân của công nhân viên công ty Virasimex
3
Trang 4DANH MỤC VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nghĩa tiếng việt
CUVTTB Cung ứng vật tư thiết bị
Trang 5PHẦN 1 LỜI MỞ ĐẦU1.1 TÍNH CẤP THIẾT NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Vốn là một phạm trù kinh tế, là điều kiện tiên quyết cho bất cứ doanhnghiệp, ngành nghề kinh tế kỹ thuật, dịch vụ nào trong nền kinh tế Để tiến hànhhoạt động kinh doanh được, doanh nghiệp phải nắm giữ một lượng vốn nhấtđịnh Số vốn này thể hiện giá trị toàn bộ tài sản và các nguồn lực của doanhnghiệp trong hoạt động kinh doanh Vì vậy vốn kinh doanh có vai trò quyết địnhtrong việc thành lập, hoạt động và phát triển của doanh nghiệp
Trong sự cạnh tranh gay gắt của thị trường, huy động được vốn mới chỉ làbước đầu, quan trọng hơn và quyết định hơn là nghệ thuật phân bố, sử dụng số vốnvới hiệu quả cao nhất ảnh hưởng đến vị thế của doanh nghiệp trên thương trườngbởi vậy cần phải có chiến lược bảo toàn và sử dụng hiệu quả vốn kinh doanh
Công ty Cổ phần nhựa xốp 76 chuyên sản xuất kinh doanh các sản phẩmnhựa xốp, xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị và các sản phẩm ngành nhựa xốp, intem nhãn mác các loại, sản xuất các loại túi siêu thị bằng vải PP và vải PPkhông dệt…
Do có nhiều hoạt động kinh doanh lớn và đặc biệt trong nền kinh tế thịtrường sôi động có nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít rủi ro như vậy thì vấn đề
về bảo toàn và sử dụng hiệu quả vốn kinh doanh là một trong số những vấn đề
cần được quan tâm sâu sắc Chính vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài: “Quản trị vốn kinh doan Công ty Cổ phần nhựa xốp 76 ” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu lý luận chung về quản trị vốn kinh doanh để sử dụng có hiệuquả nhằm nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.Đồng thời, luận văn còn nghiên cứu những lợi thế và hạn chế về sử dụng vốnkinh doanh trong hoạt động kinh doanh của công ty Cổ phần nhựa xốp 76 Trên
cơ sở phân tích đánh giá thực trạng hoạt động sử dụng vốn kinh doanh của công
ty Cổ phần nhựa xốp 76 mà đề ra các phương hướng và giải pháp sử dụng hiệuquả vốn kinh doanh của công ty
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là lý luận và thực tiễn quản trị vốn
Trang 6kinh doanh công ty Cổ phần nhựa xốp 76.
Phạm vi nghiên cứu luận văn: Luận văn đứng trên giác độ người sử dụng vốnkinh doanh để nghiên cứu nội dung quản trị vốn kinh doanh công ty Cổ phần nhựaxốp 76 Thời gian nghiên cứu từ năm 2012 cho đến năm 2016
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phântích, so sánh, tổng hợp để tiến hành phân tích và đánh giá các mặt hoạt động củadoanh nghiệp Đồng thời tác giả cũng dùng những chỉ tiêu đánh giá mang tínhđịnh lượng để đánh giá một cách toàn diện hoạt động quản trị vốn của công ty Cổphần nhựa xốp 76 trong thời gian qua
1.5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Bằng cách phân tích thực trạng hoạt động quản trị vốn kinh doanh vànhững ưu điểm và nhược điểm trong quá trình đó, cùng với đánh giá và kết luậnban đầu về những vấn đề thuận lợi và khó khăn trong nền kinh tế thị trường hiệnnay đối với vấn đề quản trị vốn kinh doanh công ty Cổ phần nhựa xốp 76 Điểmmới của luận văn là đưa ra những đánh giá mang tính khách quan và có nhữnggiải pháp có tính khoa học có thể áp dụng vào thực tiễn nâng cao hiệu quả quảntrị vốn kinh doanh của công ty Cổ phần nhựa xốp 76
1.6 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Chương I; Lý luận chung về quản trị vốn kinh doanh của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường
Chương II: Phân tích thực trạng quản trị vốn kinh doanh của công ty Cổ phần nhựa xốp 76
Chương III: Các giải pháp cơ bản hoàn thiện quản trị vốn kinh doanh của công ty Cổ phần nhựa xốp 76
Trang 7PHẦN 2 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG
2.1 KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA VỐN KINH DOANH
2.1.1 Khái niệm và phân loại vốn kinh doanh
Vốn kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản, hàng hoá và cácnguồn lực mà doanh nghiệp bỏ vào trong hoạt động kinh doanh Nghĩa là các tàisản hiện vật như nhà cửa, kho hàng, cửa hàng, tiền các loại và các tài sản vô hìnhcủa doanh nghiệp
Vốn kinh doanh là khái niệm chung của nền sản xuất hàng hoá, là mộttrong hai điều kiện quan trọng có tính chất quyết định đến sản xuất và lưu thông.Trong điều kiện tồn tại nền sản xuất hàng hóa, vốn tồn tại dưới hai hình thức: giátrị và hiện vật Về mặt giá trị, nếu dưới hình thái tiền bao gồm nội tệ, ngoại tệ vàcác loại giấy tờ khác, hình thái tiền tệ là hình thái vốn ban đầu của doanh nghiệp,
về mặt hiện vật, vốn tồn tại dưới hình thức máy móc, thiết bị, nhà xưởng, nguyênvật liệu
Vốn kinh doanh được chia thành vốn cố định và vốn lưu động:
Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản cố định doanhnghiệp Tài sản cố định của doanh nghiệp là toàn bộ những tài sản hiện có củadoanh nghiệp như máy móc thiết bị, nhà xưởng, kho tàng được quy định bằnghai tiêu thức sau:
+ Có thời hạn sử dụng lớn hơn một năm
+ Có giá trị không dưới 5.000.000đ
Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của các tài sản lưu động và vốn lưuthông trong doanh nghiệp bao gồm: hàng hoá dự trữ, công cụ lao động thuộc tàisản lưu động và vốn lưu thông
Như vậy ta thấy vốn là phạm trù kinh tế dùng để chỉ tư liệu sản xuất và chiphí lao động của quá trình sản xuất và lưu thông, vốn sản xuất lại biểu hiện bằngtoàn bộ tư liệu sản xuất trong các doanh nghiệp công nghiệp
Vốn của doanh nghiệp được phân chia thành nhiều loại và trên các giác độkhác nhau Việc phân chia này giúp cho các nhà quản lý hiểu rõ hơn vì bản chấtvốn cũng như nguồn hình thành khác nhau, nhưng trong bất cứ trường hợp nào
Trang 8các doanh nghiệp phải có vốn mới có thể kinh doanh được Vốn của các doanhnghiệp kinh doanh chủ yếu tồn tại dưới hình thức vốn lưu động (trừ một số đơn
vị đặc thù trong ngành khai mỏ, vận tải hầu như 100% vốn cố định) Trong cácđơn vị kinh doanh thì tỉ lệ vốn ngoài (tức là vốn đi vay) nhất là tín dụng rất lớn
Trên giác độ hình thành vốn kinh doanh của doanh, nghiệp bao gồm:Vốn đầu tư ban đầu: Là số vốn bắt buộc phải có khi đăng ký kinh doanh,
là điều kiện mà khi thành lập doanh nghiệp phải có Đối với doanh nghiệp nhànước thì số vốn ban đầu được nhà nước cấp hay giao vốn
Vốn bổ sung: đây là thành phần do doanh nghiệp trong quá trình hoạtđộng sản xuất kinh doanh tiếp tục bổ sung vào vốn ban đầu Nguồn vốn bổ sungthường được trích từ lợi nhuận do làm ăn có lãi hoặc liên doanh liên kết với cácđơn vị khác, hay do phát hành trái phiếu
Dựa trên giác độ pháp lý thì vốn kinh doanh của doanh nghiệp chia làmhai loại là: Vốn pháp định và vốn điều lệ
Vốn pháp định: Là mức vốn tối thiểu phải có để thành lập doanh nghiệp
do pháp luật quy định đối với từng ngành nghề (NĐ222/HĐBT) Hiện chỉ còncác doanh nghiệp nhà nước, các công ty liên doanh có quy định về vốn phápđịnh, còn các loại hình doanh nghiệp khác thì cũng không có qui định về vốnpháp định theo luật doanh nghiệp Việt Nam
Vốn điều lệ: Là vốn do các thành viên đóng góp và được ghi vào điều lệcủa doanh nghiệp tuỳ theo từng ngành nghề, nhưng vốn điều lệ phải lớn hơn hoặcbằng vốn pháp định
Nếu phân theo nguồn thì trong doanh nghiệp gồm các nguồn sau: Nguồnvốn ngân sách cấp, nguồn vốn tín dụng, nguồn vốn trong thanh toán, nguồn vốnliên doanh liên kết, vốn cổ phần
Nguồn vốn ngân sách do Nhà nước cấp đầu tư ban đầu và có thể tiếp tục
bổ xung cho doanh nghiệp trong những năm hoạt động tiếp theo
Nguồn vốn tín dụng vay ngân hàng, vay các đối tượng khác Vay ngắn hạn
để sử dụng vào việc dự trữ nguyên vật, bán thành phẩm Vay dài hạn để xây dựng
cơ bản, mua máy móc thiết bị
Nguồn vốn tự tích luỹ: Để tăng cường và cải thiện điều kiện làm việc,tăng thêm tài sản, mở rộng quy mô kinh doanh của các doanh nghiệp có thể trích
Trang 9một phần lợi nhuận của mình để bổ sung vốn kinh doanh Việc tăng nguồn vốn từtích luỹ trong tổng vốn kinh doanh là điều kiện cơ bản để doanh nghiệp tạo đượcthế chủ động trong kinh doanh.
Đứng trên giác độ tuần hoàn và chu chuyển vốn, cơ cấu của vốn kinhdoanh bao gồm vốn cố định và vốn lưu động:
Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản cố định của doanhnghiệp Tài sản cố định của doanh nghiệp là toàn bộ những tài sản hiện có củadoanh nghiệp như máy móc thiết bị, nhà xưởng, kho tàng, các công trình xâydựng vật kiến trúc được quy định bởi hai biểu thức sau: Có thời hạn sử dụngtrên một năm và giá trị phải lớn hơn hoặc bằng 5.000.000đ, tài sản cố định làđiều kiện quan trọng đảm bảo cho tổ chức kinh doanh thực hiện nhiệm vụ thumua, tiếp nhận dự trữ, bảo quản, vận chuyển, bán hàng và thực hiện các dịch vụphục vụ khách hàng Nó là một trong những điều kiện quyết định để nâng caonăng suất lao động của cán bộ kinh doanh đồng thời còn là tiêu chuẩn đánh giátrình độ kỹ thuật của lao động, năng lực tổ chức quản lý và trình độ của lao độngtrong các tổ chức kinh doanh Chính vì những lý do trên mà việc đầu tư để xâydựng và trang bị các loại tài sản TSCĐ cho phù hợp với yêu cầu của mỗi doanhnghiệp là một trong những điều kiện quyết định hiệu quả kinh doanh
Vốn lưu động (VLĐ) là biểu hiện bằng tiền của các tài sản lưu động vàvốn lưu thông trong doanh nghiệp (bao gồm: hàng hoá dự trữ, công cụ laođộng ) và các khoản tiền trong kinh doanh như vốn mua vật tư hàng hoá, khoảntiền gửi ngân hàng, các khoản chờ thanh toán
Vốn lưu động là tiền đề vật chất đảm bảo cho lưu thông hàng hoá liên tục,không ngừng mở rộng Nó là bộ phận rất quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn trongtoàn bộ vốn của tổ chức kinh doanh Xét theo phạm vi kế hoạch nó được chiathành VLĐ định mức và VLĐ không định mức:
+ VLĐ định mức là số vốn tối thiểu cần thiết cho hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp trong kỳ kế hoạch mà có thể tính toán và định mức được trước
Nó bao gồm vốn hàng hoá và vốn phi hàng hoá: Vốn hàng hoá là vốn nằm trongkhâu dự trữ hàng hoá nhằm bảo đảm dự trữ để xuất bán liên tục Về hình thứcbiểu hiện giá trị nó gồm giá trị vật tư hàng hoá hiện có trong kho, trị giá hàngđang trên đường vận chuyển, hàng đã xuất kho nhưng chưa được thông báo chấpnhận hàng và thanh toán; còn vốn phi hàng hoá là vốn không nằm trong khâu dự
Trang 10trữ hàng hoá bao gồm vốn bằng tiền, vốn vật rẻ tiền mau hỏng, vốn bao bì, vốnphí đợi phân bổ.
+ VLĐ không định mức là số vốn lưu động phát sinh trong quá trình kinhdoanh mà không thể tính toán định mức trước được Nó bao gồm: Tiền nhờ ngânhàng thu, tiền đặt mua hàng, tiền tạm ứng Như vậy VLĐ không định mức chủyếu nằm trong khâu kết toán
Qua sự trình bày ở trên ta có thể hình dung ra cơ cấu vốn lưu động của tổchức kinh doanh vật tư qua sơ đồ sau:
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp được tạo lập và bổ sung từ nhiều nguồnkhác và quá trình sử dụng chúng vào kinh doanh, phản ánh đặc điểm chung cơbản của vốn luôn luôn vận động
Sự vận động của vốn trong mỗi chu kỳ kinh doanh dựa trên việc tính toánhiệu quả và việc phân chia xác lập các bộ phận vốn theo quan hệ tỷ lệ hợp lý dẫnđến doanh nghiệp có thu để bù đắp những chi phí bỏ ra để kinh doanh mà còn cólợi nhuận Qua đó doanh nghiệp có thể hình thành và bổ sung vào quỹ của mìnhnhư: Quỹ phát triển kinh doanh sản xuất, quỹ dự phòng tài chính, quỹ tích luỹ
từ nguồn lợi nhuận của mình đẻ từ đó tiếp tục tăng trưởng
Quá trình vận động của vốn kinh doanh là quá trình chuyển dịch từ chủthể này sang chủ thể khác hoặc trong cùng một chủ thể, là quá trình thay đổihình thái thể hiện của nó trong từng chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp
Vốn lưu động
Vốn hàng hóa: VTHH
trong kho đang vận
chuyển, hàng xuất kho,
chưa được thanh toán
Vốn phi hàng hóa:
vốn bằng tiền, vốn VRTMH, vốn phí đợi phân bố
Tiền tạm ứng, tiền nhờ ngân hàng thu, tiền đặt hàng, …
Trang 11Do sự vận động của vốn rất khác nhau vì vậy người ta chú ý đến đặcđiểm hoạt động của nó theo giác độ tuần hoàn vốn Theo đó đặc điểm của vốnkinh doanh của doanh nghiệp thể hiên thông qua đặc điểm của vốn lưu động
Có hai dạng hao mòn của TSCĐ đó là hao mòn hữu hình và hao mòn vôhình: Hao mòn hữu hình phụ thuộc vào mức độ sử dụng khẩn trương TSCĐ vàcác điều kiện khác có ảnh hưởng đến độ lâu bền của TSCĐ (hình thức, chấtlượng, chế độ quản lý TSCĐ, quản lý các định mức sử dụng, bảo vệ bảo dưỡngthường xuyên); còn hao mòn vô hình chủ yếu phụ thuộc vào tiến bộ khoa học kỹthuật và việc nâng cao năng suất lao động xã hội
Vì vậy, trong quản lý và sử dụng TSCĐ cần có thời gian xác định thời hạnkhấu hao, mức độ khấu hao phải hợp lý để vừa bù đắp được sự giảm giá của TSCĐvừa có thể đưa nhanh tiến bộ kỹ thuật vào việc trang bị TSCĐ, vừa bù đắp được cáchao mòn hữu hình của TSCĐ trong các doanh nghiệp
+ Đặc điểm của vốn lưu động(VLĐ):
Đặc điểm của vốn lưu động là hoạt động không ngừng, luôn luôn thay đổihình thái thể hiện, nó luôn có mặt trong mỗi giai đoạn của quá trình tuần hoànvốn, nó tham gia trực tiếp vào quá trình lưu thông và thường xuyên thay đổi hìnhthái biểu hiện Giá trị của nó được chuyển dịch một lần vào giá trị hàng hoá vàhoàn thành một vòng tuần hoàn sau mỗi chu kỳ kinh doanh Do tốc độ chuchuyển VLĐ nhanh nhưng xét trong toàn bộ vốn của doanh nghiệp thì nó chỉchiếm một tỷ trọng nhỏ
Sự tuần hoàn của VLĐ trong các doanh nghiệp luôn vận động tuần tự trảiqua 3 giai đoạn: Lưu thông, sản xuất, lưu thông
Trang 12Trong giai đoạn thứ nhất VLĐ trong các doanh nghiệp biến từ hình thái tiền tệ thành vật tư hàng hoá dự trữ ở kho để tiếp tục thực hiện quá trình kinh doanh và thành tài sản lưu động để phục vụ cho quá trình này.
Trong giai đoạn tuần hoàn thứ hai: Vật tư hàng hoá được đưa vào hoạtđộng gia công chế biến như chọn lọc, bao bì, ngâm tẩm sấy, làm đồng bộ Đây
là những hoạt động mang tính chất sản xuất, là sự tiếp tục quá trình sản xuấttrong khâu lưu thông nhằm hoàn thiện giai đoạn cuối thành hàng hoá để bán chođơn vị tiêu dùng
Trong giai đoạn thứ ba: Hàng hoá được tiêu thụ Vốn lưu động của cácdoanh nghiệp trở về hình thái tiền tệ ban đầu
Những hoạt động kinh doanh luôn diễn ra, vốn luân chuyển từ hình tháinày sang hình thái khác, không thể chờ bán hết hàng hoá lại mới mua hàng hoákhác mà xẩy ra liên tục đồng thời và xen kẽ nhau Vì vậy vốn của các doanhnghiệp luôn tồn tại ở cả 3 giai đoạn tuần hoàn của nó
Khi vốn trải qua ba giai đoạn tuần hoàn và trở về hình thái giá trị ban đầuthì nó đã hoàn thành một vòng chu chuyển gọi là thời gian lưu chuyển hay luânchuyển Thời gian này gồm thời gian lưu thông, thời gian tiếp tục quá trình sảnxuất trong lưu thông và thời gian lưu thông tiếp theo
Như vậy đối với trường hợp lưu chuyển hàng hoá qua kho, VLĐ của cácdoanh nghiệp có thể được hình dung lưu chuyển qua sơ đổ sau:
Tiếp tục quá trình Sản xuất trong lưu thông thành Tiền (1) - VTHH (2) - VTHH để bán (3) - Tiền sau lưu thông (4)
Sx trong LT
Đối với từng trường hợp lưu chuyển thẳng có tham gia thanh toán thìkhông dùng đến vốn của các doanh nghiệp và sự tiếp tục quá trình sản xuất trongkhâu lưu thông mà chỉ tham gia vào thanh toán Do vậy thời kỳ luân chuyểnVLĐ bằng thời gian lưu động và có thể hình dung sơ đồ:
Tiền Vật tư hàng hóa Tiền sau lưu thông
Đối với trường hợp cung ứng thẳng không tham gia thanh toán thì khôngdùng đến VLĐ của các doanh nghiệp
Nghiên cứu những vấn đề trên nhằm giúp cho chúng ta quản lý tốt VLĐ
Trang 13đối với từng loại vốn, từng khâu vốn, đối với từng loại vốn vận động trongnhững thời kỳ khác nhau, việc bảo đảm yêu cầu vốn cho từng khoản vốn.Đồng thời việc nghiên cứu những vấn đề trên cùng giúp ta tính toán và nângcao hiệu quả sử dụng VLĐ trong từng khâu, từng khoản vốn, đặc biệt là vốn
dự trữ vật tư hàng hoá
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp thương mại tham gia hoàn toàn vàohoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhưng với những vốn thường xuyên vậnđộng và sự vận động đó có sự khác nhau, nó thay đổi hình thái qua các giai đoạnlưu thông tiền tệ - hàng hoá để hoàn thành một vòng quay (hay một vòng tuầnhoàn vốn)
Vì vậy, chúng ta xem xét vốn kinh doanh theo giác độ hoạt động tuần hoàn
là VCĐ Trong mỗi giai đoạn, vốn của doanh nghiệp hoàn thành một chức năngnhất định Vốn kinh doanh có thể đồng thời tồn tại ở cả ba hình thức hoạt động làtiền, sản xuất và hàng hoá Điểm xuất phát và điểm cuối cùng của sự tuần hoàn tùythuộc vào hình thức tồn tại cho các nhu cầu vốn và nộp vào quỹ sau khi hoàn thànhviệc tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, quá trình luân chuyển vốn kinh doanh là sựchuyển thường xuyên vật tư hàng hoá vào kho và xuất ra bán cho khách
Trong quá trình hoạt động, VCĐ vẫn giữ nguyên hình thái vật chất của nótrong thời gian dài (thường lớn hơn một năm) Trong khi đó, VLĐ biến đổi hìnhthái qua hai giai đoạn:
T - TLSX - SX - H - T; nghĩa là tạo ra giá trị sử dụng mới: T = T + T, trong đó
T là tiền cước phí vận chuyển và lãi kinh doanh
Vốn kinh doanh là một nhân tố quan trọng của kinh doanh Khác với cácdoanh nghiệp sản xuất các doanh nghiệp thương mại có nguồn hình thành xuấtphát từ đặc thù của lĩnh vực kinh doanh thương mại Đặc điểm cơ bản nhất củakinh doanh thương mại là gắn liền chặt với quá trình phân phối và lưu thônghàng hoá Điều này quyết định cơ cấu vốn kinh doanh thương mại Nếu nhưtrong lĩnh vực sản xuất thành phần chủ yếu của vốn là VCĐ thì trong lĩnh vựckinh doanh thương mại VLĐ lại chiếm một tỉ lệ lớn Trong doanh nghiệp thươngmại VCĐ thường chiếm 20% tổng số vốn kinh doanh, trong 80% VLĐ thì phầndành cho dự trữ vật tư hàng hoá xuất bán thường cũng chiếm tỷ trọng vốn lớn(khoảng 2/3 trong vốn lưu động)
Ngoài việc có vốn mới có thể tiến hành tổ chức hoạt động kinh doanh, vốn
Trang 14còn là điều kiện để sử dụng các nguồn tiềm năng khác để phát triển kinh doanhphục vụ cho quá trình tái sản xuất mở rộng Một doanh nghiệp muốn tồn tại vàphát triển được trong nền kinh tế thị trường cần phải biết 3 điểm sau:
+ Kỹ thuật: Các phương pháp sản xuất hàng hóa và dịch vụ, và việc phân
phối lưu thông v v
+ Thay đổi về nhu cầu
+ Quan hệ phẩm chất giá cả của sản phẩm (hay dịch vụ) bán ra
Tất cả những điều này đòi hỏi phải các nguồn vốn đảm bảo Theo đó nhucầu vốn được chia theo 2 khối lượng công việc chính của doanh nghiệp: Đầu tư
có tính chất lâu dài và khai thác vận hành (có tính chất kinh doanh trưóc mắt)
Doanh nghiệp cần vốn để cung cấp tài chính cho các hoạt động của mình Mụcđích là để tiếp tục quá trình kinh doanh, kinh doanh được nhiều hơn, kinh doanh đượctốt hơn và phục vụ cho các hoạt động khai thác có hiệu quả
Cuối cùng vốn kinh doanh là nguồn vốn của cải quý báu tích lũy đượctrong quá trình kinh doanh, có chỉ được phát huy khi người quản lý biết sử dụng.Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, vốn bị tác động chi phối nhiều yếu tốnhư cơ chế quản lý của Nhà nước, sức lực, trí tuệ, tài năng, nghệ thuật của ngườiquản lý doanh nghiệp cũng như cơn bão táp "nghiệt ngã" trên thị trường hay cơhội "vàng" Vì vậy có doanh nghiệp hoạt động kinh doanh rất có hiệu quả nhưngcũng có không ít doanh nghiệp mất vốn và dẫn đến phá sản
Các đầu tư
Tiếp tục
kinh doạnh
Kinh doanh nhiều hơn
Kinh doanh tốt hơn
Hoạt động và khai thác
Khấu hao thay
thể trang thiết
bị
Các đầu tư về năng lực kinh doanh
Các đầu tư về hiệu xuất Bảo đảm hoạt
động hàng ngày của DN
Bảo đảm hoạt động hàng ngày của DN
Trang 152.1.2 Vai trò của vốn kinh doanh
Vốn kinh doanh của các doanh nghiệp có vai trò quyết định trong việcthành lập, hoạt động, phát triển của từng loại hình doanh nghiệp ra đời, tồn tại vàphát triển các doanh nghiệp
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp lớn hay nhỏ là một trong những điềukiện quan trọng nhất để xếp doanh nghiệp vào quy mô lớn, trung bình hay nhỏ,siêu nhỏ và cũng còn là một trong những điều kiện để sử dụng các nguồn tiềmnăng hiện có và tương lai về sức lao động, nguồn hàng hoá, mở rộng và pháttriển thị trường, mở rộng và lưu thông là điều kiện để phát triển kinh doanh.Vốn kinh doanh thực chất là nguồn của cải của xã hội tích luỹ tập trung lại
Nó chỉ là một điều kiện, một nguồn khả năng để đẩy mạnh hoạt động kinh doanh.Tuy nhiên, nó chỉ phát huy tác dụng khi biết quản lý, sử dụng chúng một cáchđúng hướng, hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả
Trong cơ chế mới, trong điều kiện mở rộng quyền tự chủ, tự chịu tráchnhiệm trong sản xuất kinh doanh, việc có vốn và tích luỹ tập trung được vốnnhiều hay ít vào doanh nghiệp có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc đẩy mạnhkinh doanh Tuy nhiên nó là một nguồn lực quan trọng để phát huy tài năng củaban lãnh đạo doanh nghiệp; nó là điều kiện để thực hiện các chiến lược, sáchlược kinh doanh; nó cũng là chất keo dính để chắp nối, dính kết các quá trình vàquan hệ kinh tế và nó cũng là dầu nhớt bôi trơn cho cỗ máy kinh tế vận động
Vốn kinh doanh là yếu tố giá trị Nó chỉ phát huy tác dụng khi bảo tồn vàđược tăng lên sau mỗi kỳ kinh doanh Nếu vốn đã bị thiệt hại tức là vốn kinhdoanh bị sử dụng lãng phí không hiệu quả
2.2 NỘI DUNG QUẢN TRỊ VỐN KINH DOANH
Nhiệm vụ quan trọng đầu tiên trong quản trị vốn của doanh nghiệp làlên kế hoạch để xác định nhu cầu về vốn kinh doanh nhằm luôn tạo đủ vốntrong hoạt động kinh doanh và tìm mọi biện pháp để huy động các nguồn,vốn đưa vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Một nhiệm vụ quantrọng nữa đó là đánh giá việc sử dụng vốn có hiệu quả hay không, từ đó cócác biện pháp khắc phục kịp thời Chính vì vậy nội dung quản trị vốn củadoanh nghiệp gồm có bốn bước:
-Lập kế hoạch về vốn kinh doanh
-Huy động các nguồn vốn phục vụ kinh doanh
Trang 16-Tổ chức sử dụng các nguồn vốn đã huy động
-Giám sát và kiểm tra tình hình sử dụng vốn kinh doanh
2.2.1 Lập kế hoạch về vốn kinh doanh
Các doanh nghiệp cần lập kế hoạch sử dụng vốn kinh doanh với mục đích
là nhằm tránh tình trạng ứ đọng vốn nếu để lượng dự trữ quá lớn, gây lãng phínguồn lực Mặt khác việc lập kế hoạch vể vốn cũng giảm thiểu các tác động tiêucực do thiếu vốn đem lại, tránh tình trạng bị động trong sản xuất và kinh doanh.Trên thực tế các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu rơi vào trạng thái thứ hai vìthiếu vốn là căn bệnh trầm kha của các doanh nghiệp nước ta Và việc lập kếhoạch ở dạng ngắn hạn hay dài hạn cũng hết sức cần thiết để doanh nghiệp chủđộng đối phó với nhiều tình huống xảy ra trong quá trình hoạt động của mình.Đối với các doanh nghiệp kinh doanh các mặt hàng mang tính đặc chủng hoặc cóthị phần lớn họ gặp nhiều thuận lợi hơn trong việc lập kế hoạch kinh doanh dàihạn, và thường chủ động hơn trong việc đối phó với các tình huống cụ thể có thểxảy ra trong hoạt động thường nhật
Thực tế lập kế hoạch về vốn kinh doanh có nội dung chủ yếu là: xác lập sốvốn cần thiết cho hoạt động kinh doanh trong một thời gian nhất định là quí, nửanăm hay một năm, xác định khả năng huy động vốn, cân đối giữa nhu cầu và thực tếdoanh nghiệp có thể huy động, tiến hành hoạt động phân bổ vốn cho các hoạt độngkinh doanh của cả doanh nghiệp và có kế hoạch sử dụng vốn kinh doanh
Và các doanh nghiệp thường sử dụng hai phương pháp thông thường đểước lượng số vốn cần thiết trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.Phương pháp thứ nhất là ước lượng nhu cầu vốn theo ngân sách doanh nghiệp.Phương pháp thứ hai là ước lượng theo số vốn cần thiết căn cứ vào các tỉ lệ cósẵn trong các ngành kinh doanh khác nhau Chi tiết từng phương pháp ước lượngvốn sẽ được trình bày chi tiết ở ngay sau đây:
• Ước lượng trực tiếp nhu cầu vốn theo ngân sách của doanh nghiệp
Ngân sách của doanh nghiệp là bảng dự kiến chi tiêu trong tương lai Cóthể tính toán từng nhu cầu cụ thể sau đó tổng hợp lại
- Nhu cầu về tiền mặt (Ntm)
Số dư chi Số dư thu Ntm = -
Tháng Tháng
Trang 17Ngoài ra cần dự tính thêm để đáp ứng nhu cầu chi tiêu bất thường Vì vậyngười ta đề nghị mức tiền mặt theo thiết kế của mô hình Miller - ORR:
- Nhu cầu hàng vốn cho hàng tồn kho (Ntk)
Doanh số bán theo giá vốn Giá mua bình quân 1
Ntk = x đơn vị hàng hóa
Số vòng luân chuyển
Hoặc có thể tính theo công thức:
Mức lưu chuyển Thời gian Giá mua
Ntk = bình quân 1 ngày x dự trữ kỳ x 1 đơn vị
đêm trong kỳ kế hoạch hàng hóa
Tiền bán chịu Thời gian
- Các khoản phải thu = bình quân 1 x trung bình
(Nqt) ngày thu hồi nợ
- TIền lương cho cán bộ và nhân việ (Ntl)
Số lượng x Tiền lương bình quân
Ntl = CBCNV tháng 1 người
Nhu cầu tiền chi cho quảng cáo, khuyến mại có thể tính bằng cách:
+ Tính từ đơn giá 1 lần quảng cáo, trên từng phương tiện
+ Tham khảo chi phí của các doanh nghiệp khác cùng loại trong ngànhkinh doanh và nhất là của các đối thủ cạnh tranh
+ Dựa vào mục tiêu và chiến lược quảng cáo, khuyến mại của doanhnghiệp
- Nhu cầu vốn mua sắm tài sản cố định
Tiền mặt Mức Khoảng giao theo = tiền giới + động tiền mặt thiết kế hạn dưới 3
Trang 18Cần được xác danh mục các loại tài sản cố định cần thiết phải mua sắm vàcách thức mua sắm ( mua mới, mua lại tài sản cũ và thuê mua) để xác định sốvốn cần thiết.
Các tài sản cố định liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản vì vậy cần tínhđầy đủ cả vốn cho giải phóng mặt bằng, cho xây lắp và chi phí bảo hành, đào tạo
kỹ thuật cho công nhân vận hành Mặt khác xây dựng cơ bản diễn ra trong thờigian dài nên cần tính đến vốn cho xây lắp cho năm kế hoạch, vốn chuyển sang kỳsau và số vốn tài sản cố định huy động sử dụng được trong kỳ
Các phần chi khác của ngân sách cho doanh nghiệp cũng được xác địnhtheo phương pháp tương tự như chi phí điện nước, chi phí thông tin liên lạc, chiphí nộp thuế và mua bảo hiểm hàng hoá, tài sản kinh doanh của doanh nghiệp.Sau khi tính từng mục ta tổng hợp được yêu cầu vốn ngân sách của doanhnghiệp
Phương pháp này đem lại kết quả chính xác cao, nhưng mất thời gian tính toán
• Phương pháp ước lượng số vốn cần thiết căn cứ vào các tỉ lệ có sẵntrong các ngành kinh doanh khác nhau
Thực chất phương pháp này vốn kinh doanh được tính theo tỉ lệ phần trăm
so với doanh số bán của doanh nghiệp theo từng khâu lưu chuyển hàng hoá
Thí dụ đối với doanh nghiệp bán buôn
Vốn lưu động = 30% x doanh số bán của doanh nghiệp
Ngoài ra có thể sử dụng phép nhân tính điểm hoà vốn để ước lượng số vốncần thiết:
Tổng chi phí cố định
Trang 19Điểm hòa vốn =
Giá bán 1 đơn vị - Chi phí biến đổi 1 đơn vị hàng hóa
Từ đó xác định số vốn cần thiết cho doanh nghiệp
2.2.2 Các biện pháp huy động vốn kinh doanh
Hiện nay Nhà nước cho phép các doanh nghiệp tự chủ trong hoạt động sảnxuất kinh doanh, trong đó có tự chủ về vốn bao gồm huy động và sử dụng vốntrong doanh nghiệp Điều này có nghĩa là các doanh nghiệp bên cạnh nguồn vốnNhà nước cấp phát (đối với loại hình doanh nghiệp nhà nước) còn được phép huyđộng các nguồn khác để phục vụ cho các hoạt động của mình Thực tế các doanhnghiệp thường huy động từ các nguồn: vay từ các tổ chức tín dụng, liên doanhliên kết với các khách hàng hoặc nhà cung cấp đầu vào cho doanh nghiệp dướidạng mua trả chậm hoặc trả tiền trước một phần hỗ trợ cho doanh nghiệp Kể từkhi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường thì một hình thức huy động vốn mới
tỏ có hiệu quả đó là phát hành trái phiếu cổ phiếu thông qua việc cổ phần hoádoanh nghiệp
Và hiện nay hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam đều trong tình trạng thiếuvốn kinh doanh nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ Vấn đề đặt ra là làm thếnào để doanh nghiệp huy động có hiệu quả nguồn vốn để phục vụ tốt cho hoạtđộng kinh doanh của mình Với nhiều các giải pháp huy động vốn mà các doanhnghiệp đã áp dụng có thể phân chia thành hai loại là: giải pháp huy động vốnngắn hạn và dài hạn
Thứ nhất, đối với các giải pháp huy động vốn dài hạn
Vốn dài hạn của doanh nghiệp có thể do nhà nước cấp, vốn này được xácđịnh trên cơ sở biên bản giao nhận vốn của nhà nước cho doanh nghiệp Bêncạnh đó là vốn nội bộ của doanh nghiệp, bao gồm phần vốn khấu hao cơ bản đểlại doanh nghiệp, phần lợi nhuận không chia và phần tiền nhượng bán thanh lýtài sản (nếu có) Vì vậy chính sách phân phối lợi nhuận cho tiêu dùng và tích luỹphải được nhìn nhận như là một lĩnh vực quyết định tất yếu của quản lý tài chính.Một khi doanh nghiệp đã khai thác hết nguồn vốn bên trong mà nhu cầu vốn dàihạn vẫn không đáp ứng được thì cần áp dụng một số giải pháp sau:
Giải pháp 1: Phát hành cổ phiếu
Cổ phiếu là giấy chứng nhận góp cổ phần để tạo lập vốn cho doanh nghiệp vàchứng nhận lợi tức cổ phần, cổ phiếu hình thành lên vốn tự có của doanh nghiệp,
Trang 20cổ phiếu được coi như "lá chắn” chống lại sự phá sản của doanh nghiệp Các cổđông không được rút vốn khỏi doanh nghiệp trừ khi doanh nghiệp bị phá sản,nhưng họ có thể chuyển sang đầu tư vào lĩnh vực khác bằng cách nhượng bán cổphiếu trên thị trường chứng khoán, cổ phiếu gồm hai loại: cổ phiếu thường và cổphiếu ưu đãi.
- Cổ phiếu thường (Common Stock/ share) là loại cổ phiếu thông dụngnhất vì đặc điểm của nó là đáp ứng được cả hai phía người đầu tư và phía công typhát hành Lượng cổ phiếu tối đa mà công ty được quyền phát hành gọi là vốn cổphần được cấp phép Đây là một quy định của uỷ ban chứng khoán quốc gia vàcác cơ quan có thẩm quyền Con số này cũng được ghi trong điều lệ công ty.Muốn tăng vốn cổ phần của công ty phải được Đại hộ cổ đông cho phép Tuynhiên, trên thực tế, việc quản lý và kiểm soát quá trình phát hành chứng khoántuỳ thuộc vào chính sách cụ thể của nhà nước và ủy ban chứng khoán quốc gia
Vấn đề chống mua công ty, bảo vệ công ty trước sự xâm nhập bằng các cổphiếu của các công ty khác là một khía cạnh đặc biệt Huy động vốn qua pháthành cổ phiếu phải xem xét đến nguy cơ bị mua lại cả công ty Do đó, phải tínhđến tỷ lệ cổ phần tối thiểu cần duy trì để giữ vững quyền kiểm soát công ty„
- Cổ phiếu ưu tiên (Preferred Stock) thường chiếm một tỷ trọng nhỏ trongtổng số cổ phiếu phát hành Tuy nhiên trong một số trường hợp dùng cổ phiếu ưutiên là thích hợp Cổ phiếu ưu tiên có đặc điểm là nó thường có cổ tức cố định.Người chủ của cổ phiếu này có quyền được thanh toán lãi trước các cổ đôngthường, cổ phiếu ưu đãi có thể được thu hồi lại (chuộc lại) khi công ty thấy cầnthiết Những trường hợp như vậy cần quy định rõ những điểm sau:
- Lãi cổ phiếu đó có thể được mua lại hay không
- Giá cụ thể khi công ty mua lại cổ phiếu
- Thời hạn tối thiểu không được phép mua lại cổ phiếu
Một vấn đề quan trọng cần đề cấp đến khi phát hành cổ phiếu ưu tiên đó làthuế Khác với chi phí lãi vay được giảm trừ khi tính thuế thu nhập công ty, cổtức được lấy từ lợi nhuận sau thuế, đó là hạn chế của cổ phiếu ưu tiên Mặc dùvậy, như đã đề cập, cổ phiếu ưu tiên vẫn có những ưu điểm đối với cả công typhát hành và người đầu tư
Phát hành cổ phiếu mới:
Trong quá trình hoạt động công ty làm ăn có hiệu quả và muốn mở rộng
Trang 21sản xuất, mở rộng thị trường trong khi đó vốn của công ty không đáp ứng đủ, dovậy công ty có thể huy động thêm vốn bằng cách phát hành cổ phiếu mới Trên
cơ sở đề nghị của Hội đồng quản trị, Đại hội cổ đông sẽ quyết định thời gian vàcách thức phát hành cổ phiếu Những cổ đông cũ thường được ưu tiên đăng kýmua trước theo số lượng cổ phiếu mà họ hiện đang nắm giữ và tất nhiên giá bántrong trường hợp này thấp hơn giá thị trường của loại cổ phiếu đó Hay nói cáchkhác, các cổ đông cũ có quyền mua cổ phiếu mới khi công ty phát hành Trongtrường hợp này các công ty có thể trả lãi bằng cổ phần
Về hình thức phát hành, cổ phiếu có thể hiện được bán công khai tại doanhnghiệp hoặc bán thông qua hệ thống ngân hàng thương mại và công ty tài chính.Theo Nghị định 28/CP của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày07/05/1996, thì việc cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước để thu hút vốn trongdân được tiến hành theo 3 phương pháp:
Phương pháp 1: Phát hành cổ phiếu trên cơ sở giữ nguyên giá trị doanhnghiệp nhà nước hiện có nhằm thu hút vốn của mọi thành phần kinh tế để tăngquy mô của doanh nghiệp
Phương pháp 2: Nhà nước giữ một phần giá trị doanh nghiệp dưới dạng cổphần, số còn lại bán cho các cổ đông trong và ngoài doanh nghiệp
Phương pháp 3: Tách một bộ phận doanh nghiệp nhà nước đủ điều kiệncần thiết để chuyển thành công ty cổ phần
Giải pháp 2: Phát hành chứng khoán có thể chuyển đổi:
Các công ty, đặc biệt là các công ty của Mỹ, thường phát hành chứngkhoán kèm theo những điều kiện có thể chuyển đổi được Nói chung sự chuyểnđổi và lựa chọn cho phép các bên (công ty, người đầu tư) có thể chọn, cách thứcđầu tư có lợi và thích hợp
Có một số hình thức chuyển đổi, ở đây chỉ đề cập hai hình thức:
• Giấy bảo đảm (Warrant): Người sở hữu giấy bảo đảm có thể mua số lượng
cổ phiếu thường, được quy định trước với giá cả và thời gian xác định
• Trái phiếu chuyển đổi (convertible bond) là loại trái phiếu cho phép cóthể chuyển đổi thành một số lượng nhất định các cổ phiếu thường Nếu trị giá của
cổ phiếu tăng lên thì người giữ trái phiếu có cơ may nhận được lợi nhuận cao
Trang 22Giải pháp 3: Phát hành trái phiếu công ty:
Hiện nay ở Việt Nam, theo thống kê chưa đầy đủ của các nhà kinh tế,lượng tiền nhàn rỗi ở trong dân rất lớn Theo đánh giá của các chuyên gia, trongdân hiện có hơn 20.000 tỷ Việt Nam đồng nhàn rỗi Vì vậy việc phát hành tráiphiếu công ty là rất cần thiết cho việc huy động tiền nhàn rỗi
Trái phiếu là một tên chung của các giấy vay nợ dài hạn và trung hạn, baogồm: trái phiếu Chính phủ (Goverment bond) và trái phiếu công ty (corperate).Trái phiếu này còn được gọi là trái khoán
Một trong những vấn đề cần được xem xét trước khi phát hành là lựa chọntrái phiếu nào phù hợp nhất với điều kiện cụ thể của công ty và tình hình trên thịtrường tài chính
Việc lựa chọn trái phiếu thích hợp rất quan trọng vì nó liên quan đến chiphí trả lãi, cách thức trả lãi Khả năng lưu hành và tính hấp dẫn của trái phiếu.Trên thị trường tài chính ở nhiều nước hiện nay thường lưu hành những loại tráiphiếu công ty như sau:
- Trái phiếu có lãi suất cố định, là loại trái phiếu được sử dụng nhiềunhất Lãi suất được ghi ngay trên mặt trái phiếu và không thay đổi trong suốt kỳhạn của nó
Để huy động vốn trên thị trường bằng trái phiếu, cần phải tính đến mức độhấp dẫn của trái phiếu Tính hấp dẫn phụ thuộc vào những yếu tố sau:
+ Lãi suất của trái phiếu, lãi suất được đặt ra trong mối tương quan so sánhvới lãi suất trên thị trường vốn, đặc biệt phải tính tới sự cạnh tranh với trái phiếucủa công ty khác Trong việc phát hành trái phiếu cần chú ý đến mệnh giá vì nó
có thể liên quan đến sức mua của dân chúng Đặc biệt ở Việt Nam, khi phát hànhtrái phiếu công ty cần xác định một mức giá vừa phải để nhiều người có thể muađược, tạo sự lưu thông dễ dàng cho trái phiếu trên thị trường
+ Uy tín tài chính của công ty
+ Kỳ hạn của trái phiếu
- Trái phiếu có lãi suất thả nổi
- Trái phiếu có lãi suất thả nổi trong điều kiện có mức lạm phát cao và lãisuất thị trường không ổn định thì có thể khai thác tính ưu việt của thể loại này.Tuy nhiên loại này có vài nhược điểm như sau:
Trang 23+ Công ty không thể biết chắc chắn về chi phí lãi vay của trái phiếu, điều
này gây khó khăn một phần cho việc lập kế hoạch tài chính
+ Việc quản lý trái phiếu đòi hỏi tốn nhiều thời gian hơn do phải thông báocác lần điều chỉnh lãi
- Trái phiếu có thể thu hồi (callable bond)
Một số công ty lựa chọn cách phát hành những trái phiếu có thể thu hồi,loại này phải được quy định ngay khi phát hành để người mua trái phiếu đượcbiết và phải quy định rõ giá cả và thời gian khi công ty chuộc lại trái phiếu
Trái phiếu thu hồi có những ưu điểm sau :
+ Có thể sử dụng như một cách điều chỉnh lượng vốn sử dụng khi khôngcần thiết, công ty có thể mua lại các trái phiếu, tức là gom lại số vốn vay
+ Công ty có thể thay loại trái phiếu này bằng một nguồn tài chính khácbằng cách mua lại trái phiếu đó
Trên thực tế, nhiều nhà kinh tế Mỹ bàn luận về vấn đề chọn lựa thời điểmphát hành chứng khoán của công ty Khi nào nên phát hành cổ phiếu? Khi nàonên phát hành trái phiếu Câu trả lời liên quan đến sự phản ánh trước sự biếnđộng của thị giá cổ phiếu, nhu cầu tài chính và hiệu quả của việc phát hành Vàkhi nào thì công ty thu hồi cổ phiếu Để trả lời những câu hỏi này cần xem xét kỹcác khía cạnh sau:
+ Các công ty phải xem xét sự cân bằng giữa nợ và vốn cổ phần để giữ vữngkhả năng thanh toán, củng cố uy tín tài chính khi tỉ lệ nợ ở mức thấp, nếu cần
vốn thì công ty thường chọn cách phát hành trái phiếu tức là tăng nợ (màkhông tăng cổ phần) Nếu tỷ lệ nợ ở mức cao, công ty phải tránh việc tăng thêm
tỷ lệ nợ và chọn cách phát hành cổ phiếu
+ Tuy nhiên, thực tế các công ty không quan tâm nhiều đến việc giữ mộtmức cân bằng chính xác Việc điều chỉnh lượng tiền và các khoản nợ thườngngẫu hứng và linh hoạt kiểu “tuỳ cơ ứng biến"
Các biện pháp huy động vốn như đã đề cập ở trên hiện cũng đã từng bướcđược thực hiện ở nước ta Nhiều doanh nghiệp Nhà nước đang trong giai đoạnchuyển đổi sang hình thức công ty cổ phần với tỉ lệ góp vốn của nhà nước cũngtương đối linh hoạt tuỳ thuộc vào vai trò của từng doanh nghiệp trong nền kinh tếquốc dân Và có một hình thức cũng tương đối phổ biến đối với các doanh nghiệp
Trang 24Việt Nam đó là huy động vốn nội bộ nhân viên (dạng cho vay nội bộ công ty chứchưa ở dạng cổ phiếu hay trái phiếu) trong doanh nghiệp phục vụ sản xuất vàkinh doanh để lấp vào khoảng thiếu hụt vốn kinh doanh.
2.2.3 Tổ chức sử dụng vốn trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Sử dụng vốn trong kinh doanh xuất phát từ hoạt động sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp bắt buộc từng doanh nghiệp phải sử dụng vốn đáp ứng các yêucầu của của hoạt động đó Và việc sử dụng vốn kinh doanh bao gồm các hoạtđộng: thứ nhất, tổ chức bộ máy quản lí vốn của doanh nghiệp, thực tế tại ViệtNam việc quản lí vốn của doanh nghiệp do phòng tàí chính kế toán theo dõi vàquản lí là chủ yếu, các đơn vị khác trong doanh nghiệp cũng có vai trò nhất định,nhưng vai trò chủ đạo vẫn thuộc phòng tài chính kế toán Thứ hai, phân phối vốnvào từng hoạt động kinh doanh, từng lĩnh vực kinh doanh một cách hợp lí là vấn
đề quan trọng để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Những mặt hàng hoặc lĩnh vực
có khả năng tạo nhiều lợi nhuận hoặc có triển vọng thì vốn cho các mặt hànghoặc lĩnh vực đó phải được ưu tiên hàng đầu Còn những mặt hàng hoặc lĩnh vực
có hiệu quả thấp thì việc ưu tiên về vốn sẽ đứng ở phía sau Và tiếp theo là phân
bổ vốn cho các đơn vị trực thuộc tuỳ theo chức năng nhiệm vụ của từng đơn vị.Mặt thứ hai của tổ chức sử dụng vốn trong hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp là đưa vốn vào kinh doanh
Cơ cấu tổ chức quản lí vốn trong doanh nghiệp tùy tình hình cụ thể củatừng đơn vị mà lập nên bộ máy quản lí có hiệu quả hoạt động cao nhất Doanhnghiệp có thể tổ chức bộ máy quản lí vốn theo hướng: phòng tài chính kế toánchịu trách nhiệm chung trong hoạt động huy động vốn đáp ứng nhu cầu kinhdoanh chung cho toàn đơn vị, sau khi phân bổ vốn cho các phòng ban và đơn vịtrực thuộc, thì từng phòng ban và đơn vị phải chịu trách nhiệm bảo toàn và pháttriển vốn Biện pháp này gắn trách nhiệm cho người sử dụng vốn và từ đó sẽnâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng vốn
Phân phối vốn vào các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, cũng nhưcác đơn vị thành viên của doanh nghiệp một cách hợp lí đóng vai trò rất quantrọng đối với việc nâng cao hiệu quả vốn kinh doanh Trong hoạt động quản trịvốn của doanh nghiệp bên cạnh việc xác định được vốn cần cho kinh doanh chocác hoạt động đầu tư sản xuất từ đó mới tìm ra biện phát để huy động các nguồnlực phục vụ cho quá trình này, thì còn có một vấn đề cũng cực kì quan trọng đó
là phân phối các nguồn lực đang có làm sao cho hợp lí nhất để đạt được hiệu
Trang 25quả cao nhất có thể trong giới hạn có thể.
Thực chất các doanh nghiệp cũng gặp rất nhiều lúng túng trong việc đánhgiá hiệu quả kinh doanh của từng nghành hàng, nhóm hàng, và các hoạt độngkhác do chỉ tiêu đánh giá còn nhiều điểm chưa đồng nhất, trong đó có vấn về chỉtiêu đánh giá giữa các nhóm hàng với nhau Thông thường lợi nhuận đem lại từviệc kinh doanh mặt hàng nông sản thấp hơn các mặt hàng công nghiệp và cáchoạt động kinh doanh dịch vụ Vậy nếu một công ty tham gia kinh doanh tổnghợp các mặt hàng trên thì nên phân bổ các nguồn lực của mình như thế nào? Đây
là một thực tế các doanh nghiệp Việt Nam cũng hay gặp phải
Các doanh nghiệp sẽ tập chung phân bổ nguồn lực của mình vào nhómnghành hàng đang đem lại nhiều lợi nhuận cho bản thân doanh nghiệp và thịtrường của nghành hàng này tương đối ổn định (tương đương với nhóm mặt hàngnằm ở ô ngôi sao và bò sữa trong bảng đánh giá khả năng sinh lời của sản phẩm
ở ma trận BCG) Đối với các mặt hàng kinh doanh có xu hướng tăng giảm nhiềudoanh nghiệp đầu tư theo hình thức thăm dò chờ và dự đoán tiếp diễn biến củathị trường (tương đương với nhóm nghành hàng dấu hỏi) Nếu thị trường diễnbiến theo chiều hướng không lợi thì doanh nghiệp có thể giảm đầu tư và thậm chíkhông tham gia kinh doanh nữa (tương đương với nhóm chó ốm) Đối với nhómmặt hàng đã rơi vào vị trí suy thoái, người tiêu dùng không còn có nhu cầu lớn vềcác mặt hàng này, doanh nghiệp giảm hẳn việc đầu tư các nguồn lực vào nhữngmặt hàng đó Lúc này doanh nghiệp có thể phát triển các sản phẩm mới có nhữngtính năng công dụng mới và đưa sản phẩm ra thị trường tạo cho chúng một chu kìsống mới và nếu đi theo hướng này thì cũng phải có một sự đầu tư thích hợp vềtài chính
Ma trận BCG
Nói tóm lại, việc phân phối vốn cho các hoạt động kinh doanh cần dựa trênkhả năng sinh lời của cá hoạt động đó cũng như mức độ ổn định thị trường đầu rađối với từng sản phẩm, nhóm hàng, nghành hàng nhất định Và việc phân phốivốn cho các hoạt động kinh doanh có thể phù hợp với doanh nghiệp trong thờiđiểm này nhưng cũng không có nghĩa sẽ phù hợp trong thời gian tới vì tính độngtrong kinh doanh
Trang 26Và để đạt được mục tiêu, chiến lược cũng như kế hoạch đặt ra củadoanh nghiệp đề ra thì bắt buộc doanh nghiệp cũng phải sử dụng vốn kinhdoanh Các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường hoạt động trước hết vìmục tiêu lợi nhuận của mình sau đó là các mục tiêu kinh tế và xã hội khác.
Để cho tất cả các hoạt động được diễn ra một cách có kết quả và cao hơn
nữa là có hiệu quả thì doanh nghiệp cần phải có sự kết hợp các yếu tố đầu vào cơbản như lao động, nhà xưởng, máy móc, thiết bị, và một phần cực kì quan trọngkhác đó là vốn Nói đến hoạt động của bất cứ một doanh nghiệp nào cũng phải đềcập tới một vấn đề cốt lõi đó là vốn cho kinh doanh, vốn cho sản xuất và các hoạtđộng khác
Trong quản trị vốn kinh doanh của doanh nghiệp có đề cập đến vấn đề sửdụng vốn trong kinh doanh tức là đưa tiền tệ, hàng hoá vào lưu thông Và cũngthông qua việc đưa vốn vào lưu thông doanh nghiệp mới đánh giá được tình hình
sử dụng vốn có hiệu quả hay không, doanh nghiệp có bảo toàn được vốn và pháttriển được vốn kinh doanh sau một kì tài chính hay không
2.2.4 Giám sát và kiểm tra tình hình sử dụng vốn kinh doanh
Giám sát và kiểm tra tình hình sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệpđược thực hiện trên các góc độ giám sát và kiểm tra việc sử dụng các nguồn vốngồm cả vốn cố định và vốn lưu động Tình hình sử dụng vốn lưu động được đánhgiá trên năm chỉ tiêu gồm: thời gian lưu chuyển vốn lưu động, sức sinh lợi củavốn LĐ, hệ số đảm nhiệm vốn lưu động, hệ số doanh lợi doanh thu thuần, và sứcsinh lợi doanh thu thuần Đánh giá tình hình sử dụng vốn cố định được thể hiện ởsức sản xuất tài sản cố định và sức sinh lợi của tài sản cố định Và đánh giá tìnhhình sử dụng vốn còn thể hiện trên mặt đánh giá mức độ bảo toàn của ' các tàisản của doanh nghiệp bao gồm tài sản cố định và tài sản lưu động sau một kìkinh doanh Các doanh nghiệp cũng cần đồng thời đánh giá tình hình thực hiệncác quy định quản lí vốn của Nhà nước, các khoản phải nộp cho các đơn vị nhưthuế, nộp ngân sách
Thứ nhất: vòng quay vốn lưu động Chỉ tiêu này cho biết với số vốn lưu
động bỏ và mức doanh thu đạt được trong thời kì phân tích, thì số vốn LĐ có thểquay được bao nhiêu vòng
Vòng quay vốn LĐ = Doanh thu thuần/ VLĐbq
Chỉ tiêu này cho thấy sức sinh lợi của vốn LĐ, nếu số vòng quay càng lớn
Trang 27cho thấy sức sinh lợi của vốn LĐ của doanh nghiệp càng cao, mục tiêu của doanhnghiệp là tăng nhanh số vòng quay vốn lưu động, tránh ứ đọng vốn, gây lãng phínguồn lực.
Thứ hai : thời gian luân chuyển vốn lưu động là chỉ tiêu tổng hợp phản ánhhiệu quả chung của doanh nghiệp trong việc quản lí và sử dụng vốn lưu độngtrong mối quan hệ so sánh giữa kết quả sản xuất kinh doanh (tổng doanh thuthuần) và số vốn lưu động bình quân trong kì nghiên cứu (tháng, quí, năm)
Chỉ tiêu thời gian luân chuyển vốn lưu động cho biết trong một khoảngthời gian của chu kì kinh doanh 1 vòng luân chuyển vốn lưu động cần bao nhiêulâu về phương diện sức sinh lợi của vốn LĐ thì thời gian này càng ngắn càng tốt
vì doanh nghiệp cần ít vốn lưu động cho kinh doanh, và doanh nghiệp có thểgiảm mức đi vay vốn lưu động Ý nghĩa của việc tăng nhanh hay rút ngắn thờigian luân chuyển vốn lưu động là nếu để đảm bảo mức lưu chuyển hàng hoá như
cũ thì chỉ cần một lượng vốn lưu động nhỏ hơn, hoặc với mức vốn lưu động như
cũ thì có thể đảm bảo lưu chuyển một khối lượng hàng hoá lớn hơn
Thời gian của Thời gian kì phân tích
1 vòng luân =
chuyển VLĐ Số vòng luân chuyển VLĐ
Thời gian luân chuyển vốn phản ánh trình độ kinh doanh, hiệu quả củacông tác quản lí và tình hình tài chính của doanh nghiệp Nếu có sự gia tăng củavòng quay vốn lưu động chứng tỏ hàng hoá của doanh nghiệp được tiêu thụmạnh Và nếu không hoàn thành một chu kì luân chuyển có nghĩa là vốn lưuđộng còn bị ứ đọng ở một khâu nào đó, cần tìm biện pháp khai thông
Thứ ba, Sức sinh lời của vốn LĐ Chỉ tiêu này được tính bởi công thức:
Lợi nhuận thuần
- Sức sinh lời của VLĐ =
VLĐ bình quânChỉ tiêu này còn được gọi là doanh lợi vốn lưu động, chỉ tiêu phản ánh khảnăng sinh lợi của vốn lưu động Chỉ tiêu này càng cao càng phản ánh hiệu quả
trong kinh doanh của doanh nghiệp, và nó cũng cho biết một đồng lợi nhuận
được tạo ra cần có bao nhiêu đồng vốn lưu động cần thiết bỏ vào kinh doanh
Trang 28Các doanh nghiệp đều hướng tới hiệu quả cao trong sử dụng vốn lưu động.
Thứ tư: hệ số đảm nhiệm vốn lưu động Công thức tính chỉ tiêu này là:
- Hệ số đảm nhiệm VLD = VLDbq/ DT thuần
Đây là chỉ tiêu cho biết một đồng vốn lưu động bình quân trong kì nghiêncứu sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần Mục tiêu của các doanh nghiệp làtăng doanh thu trên một đồng vốn lưu động
Thứ năm: hệ số doanh lợi doanh thu thuần Chỉ tiêu này được xác định
như sau:
- Hệ số doanh lợi DT thuần = Lợi nhuận thuần/ DT thuần
Đây là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh hiệu quả kinh doanh của doanhnghiệp Chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả kinh doanh càng lớn Hệ số doanh lợidoanh thu thuần cho biết để tạo ra một đồng lợi nhuận thuần cần có bao nhiêuđồng doanh thu sau khi
đã trừ đi các khoản thuế và phải nộp khác
Đối với nhóm vốn cố định trước hết ta sử dụng chỉ tiêu sức sản xuất tài sản
cố định được thể hiện ở chỉ tiêu sau:
Tổng doanh thu thuần
Một vấn đề nữa trong đánh giá hiệu quả sử dụng vốn là đánh giá mức độbảo toàn vốn của doanh nghiệp khi đem ra kinh doanh
Trang 29Một vấn đề quan trọng khác nữa là đánh giá mức độ bảo toàn vốn đem vàokinh doanh Và bảo toàn vốn kinh doanh được hiểu là quá trình thu hồi vốn đã bỏ
ra sau thời gian kinh doanh, là quá trình khôi phục vốn đã ứng trước Bảo toànvốn kinh doanh không làm mất đi giá trị của đồng vốn bỏ ra, bảo đảm duy trìnăng lực sản xuất kinh doanh, khả năng mua sắm, thanh toán của doanh nghiệp.Trong thời kì lạm phát vốn kinh doanh cũng phải tăng lên một cách tương ứng.Vốn kinh doanh phải bảo toàn được chia thành hai nhóm: vốn cố định vàvốn lưu động
Một là: bảo toàn vốn cố định Bảo toàn vốn cố định là giữ cho tài sản cố
định không bị lạc hậu kĩ thuật và không bị loại khỏi dây chuyền sản xuất kinhdoanh trước khi hết hạn sử dụng Nghĩa là vốn cố định phải bảo toàn cả mặt hữuhình và vô hình
- Về mặt hữu hình, cần quản lí chặt chẽ không làm mất mát, thực hiện quychế sử dụng, sửa chữa bảo dưỡng không để tài sản cố định bị hư hỏng trước thờihạn và nâng cao năng lực hoạt động của tài sản cố định
- Về mặt vô hình, phải chủ động đổi mới, thay thế tài sản cố định kể cả loại
chưa hết khấu hao Tiến hành khấu hao nhanh để thay thế thiết bị mới hiện đại đáp ứng cho hoạt động sản xuất kinh doanh cũng là một biện pháp quan trọng.
Doanh nghiệp cần thực hiện một số biện pháp cụ thể để tiến hành bảo toàntài sản cố định:
- Xác định cơ cấu vốn cố định và tỷ trọng từng loại tài sản cố định phùhợp với mục tiêu và chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp
- Đánh giá lại tài sản cố định trong kì Xác định tỉ giá hối đoái đểphản ánh giá trị của tài sản cố định nhập khẩu
- Xác định số vốn cố định phải bảo toàn trong kỳ theo công thức:
Trích khấu hao theo giá hiện hành chứ không theo giá kế hoạch, giánguyên thuỷ của tài sản cố định Tài sản cố định đầu tư theo nguồn vốn nào thìkhấu hao theo nguồn vốn đó
- Xác định tỉ lệ khấu hao hợp lí vừa bảo đảm tiêu thụ hàng hoá có lợinhuận vừa cải tiến kĩ thuật
Số vốn Vốn CĐ KH cơ Hệ số Tăng
CĐ phải được giao bản trích điều chỉnh giảmbảo toàn đầu kỳ trong kỳ giá trị VCĐtrong kỳ TSCĐ trong kỳ
Trang 30+/ Không mua sắm thiết bị lạc hậu phục vụ cho hoạt động sản xuất và kinhdoanh.
- Tăng mức độ sử dụng tài sản cố định trong một đơn vị thời gian
- Có hướng giải quyết kịp thời với tài sản cố định không cần dùng hoặckhông có hiệu quả kinh tế
Hai là: đối với nhóm tài sản lưu động Để tài sản không bị thất thoát thì
doanh nghiệp cần có mức dự trữ phù hợp, có cơ cấu tài sản lưu động phù hợp.Một mặt doanh nghiệp cũng tăng cường mức lưu chuyển hàng hoá để nâng caohiệu quả kinh doanh
Thông qua việc thực hiện các biện pháp trên doanh nghiệp sẽ bảo toàn vàphát triển được vốn kinh doanh, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Trên đây là những chỉ tiêu cơ bản và thường dùng nhất để đánh giá tìnhhình sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp Việc sử dụng các chỉ tiêu đánhgiá này sẽ cho biết doanh nghiệp còn có những vấn đề gì trong hoạt động quản trịvốn từ đó đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong quản trị vốn
2.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN TRỊ VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
Các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị vốn kinh doanh của doanh nghiệpđược chia theo các nhân tố chủ quan và các nhân tố khách quan Các nhân tố
khách quan là các nhân tố tác động đến hoạt động quản trị vốn của doanh nghiệp,
nằm ngoài tầm kiểm soát của doanh nghiệp Các nhân tố chủ quan là các nhân tốnằm trong nội bộ của bản thân doanh nghiệp Sau đây, chúng ta sẽ nghiên cứutừng nhóm nhân tố:
về thuế, vế tín dụng của ngân hàng, và các chính sách kinh tế khác Các chínhsách tín dụng sẽ tác động đến khả năng huy động vốn, thu hút vốn phuc vụ hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Chính sách thuế sẽ tác động trực tiếphoạt động sản xuất, kinh doanh và hiệu quả kinh doanh của cả doanh nghiệp
Trang 31- Yếu tố lạm phát, vấn đề tỉ giá hối đoái ảnh hưởng tới nhu cầu về vốn củadoanh nghiệp theo các chiều hướng khác nhau Khi có lạm phát cao các doanh
nghiệp cần phải tính tới việc gia tăng tỉ lệ vốn kinh doanh tương ứng để đảm bảo
một cách tương đối nhu cầu về vốn Trong môi trường có lạm phát cao giá cả đầuvào có nhiều biến động theo các chiều hướng phức tạp, chính vì vậy doanh nghiệpcũng cần giành một khoản vốn nhất định đối phó với trường hợp này
Trong trường hợp có biến động về tỉ giá hối đoái thì tác động lớn nhất lạixảy ra đối với các doanh nghiệp có tham gia xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vụhay các đầu vào sản xuất khác và mức độ tác động theo những chiều hướng hoàntoàn khác nhau đối với hoạt động xuất khẩu và hoạt động nhập khẩu Khi tỉ giáhối đoái giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ giảm thì xuất khẩu có lợi và nhậpkhẩu lại bất lợi Điều này có nghĩa là các doanh nghiệp tham gia nhập khẩu cầntăng lượng vốn nội tệ để đối phó với sự biến động bất lợi của tỉ giá hối đoái
- Các nhà cung cấp đầu vào khác Trong luận văn này có tách yếu tố vốn vàcác yếu tố đầu vào khác thành những nhóm khác nhau Ví dụ, vốn vay từ các tổchức tín dụng được tách ra thành một nhóm riêng, vốn chiếm dụng của các nhà cungcấp đầu vào khác thành một nhóm Các nhà cung cấp đầu có tác động đến việc sửdụng vốn, huy động vốn của doanh nghiệp bằng việc cho hưởng tín dụng khi muahàng hoặc doanh nghiệp bắt doanh nghiệp phải tiến hành thanh toán ngay, hoặcthậm chí doanh nghiệp còn phải đặt tiền trước Các hình thức thanh toán với ngườicung cấp đầu vào sẽ ảnh hưởng tới nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp
- Những người mua hàng của doanh nghiệp Người mua hàng của doanhnghiệp cũng ảnh hưởng tới nhu cầu vốn của doanh nghiệp Khi tham gia vào thịtrường doanh nghiệp cũng phải tiến hành đa dạng hoá hình thức bán hàng: bántrả ngay, bán chịu, cũng có trường hợp doanh nghiệp bắt người mua đặt tiềntrước Đối với trường hợp bán chịu, việc thu nợ là một vấn đề đặt ra đối với tất cảcác doanh nghiệp là tránh việc nợ đọng dây dưa, giảm các khoản nợ khó đòi
Trang 32khác và phi chính thức Và thể hiện rõ nhất là khả năng huy động các nguồn vốn
từ các nhà cung ứng đầu vào cho doanh nghiệp ở dạng cho hưởng tín dụng Cácdoanh nghiệp có khả năng thu hút các nguồn vốn này không ngoài phụ thuộc vàocác chính sách của nhà nước còn phụ thuộc vào uy tín, vị thế của bản thân doanhnghiệp trên thị trường
- Nhóm nhân tố thứ hai tác động đến hoạt động quản trị vốn của doanhnghiệp là khả năng tổ chức và thực hiên sản xuất kinh doanh của doanh nghiệpđược thể hiện ở các mặt: qui mô kinh doanh, phương thức kinh doanh, các mặthàng mà doanh nghiệp tham gia kinh doanh, phạm vi hoạt động của doanhnghiệp, vấn đề tổ chức bộ máy kinh doanh và phân cấp quản lí vốn trong doanhnghiệp Mức độ thành công trong kinh doanh phụ thuộc vào cả một quá trìnhtrong đó có cả giai đoạn thu mua các yếu tố đầu vào, quá trình quản trị và tổ chứcsản xuất kinh doanh, và quá trình bán hàng cũng như các hoạt động sau khi bán.Giai đoạn tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh ảnh hưởng trực tiếp đến giá vàchất lượng sản phẩm Các giai đoạn sau ảnh hưởng đến khả năng tiêu thụ sảnphẩm của doanh nghiệp
- Nhóm nhân tố thứ ba tác động đến hoạt động quản trị vốn của doanhnghiệp là cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp Trong mục này muốn nhấn mạnh đếnyếu tố vốn cố định, các trang thiết bị của doanh nghiệp Các yếu tố này tác độngđến khả năng thu hút vốn từ bên ngoài Các tổ chức tài chính tín dụng, các nhàcung cấp đầu vào căn cứ vào tài sản hiện có của doanh nghiệp để tiến hành cungcấp tín dụng
Trên đây là các nhân tố tác động đến hoạt động quản trị vốn của doanhnghiệp Và trực tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của một doanh nghiệp.Bất cứ doanh nghiệp nào khi tiến hành hoạt động trên thị trường đều chịu ảnhhưởng trực tiếp của các nhân tố trên Ngoài ra trong quá trình kinh doanh một sốnhân tố khác cũng có tác động nhất định đến quản trị vốn kinh doanh của doanhnghiệp đó là nhân tố tăng trưởng kinh tế, nhân tố cạnh tranh
Hoạt động quản trị vốn của một doanh nghiệp gồm cả một quá trình từviệc xác định nhu cầu vốn, tìm ra phương hướng huy động vốn cho hoạt độngkinh doanh, thực hiện việc sử dụng vốn, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn, và chỉ racác nhân tố tác động đến việc sử dụng và huy động vốn của doanh nghiệp Từviệc phân tích các quá trình này ta sẽ thấy được điểm mạnh, điểm cần tiếp tụckhắc phục về hoạt động quản trị vốn của doanh nghiệp
Trang 33KẾT LUẬN
Vốn đóng vai trò quan trọng phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh.Một doanh nghiệp mới thành lập, hay doanh nghiệp đang hoạt động đều cần đếnvốn Vai trò của vốn được thể hiện ở tất cả các khâu trong hoạt động sản xuất, lưuthông, dự trữ, C.Mác đã ví vai trò của vốn như dầu nhớt để bôi trơn cỗ máykinh tế
Vốn cũng được thể hiện ở nhiều dạng tuỳ thuộc vào cách phân loại và cáchtiếp cận khác nhau Cách phân loại phổ biến nhất hiện nay là phân thành vốn cốđịnh (vốn có giá trị từ 500.000 đồng trở lên và có thời gian sử dụng trên 1 năm),
và vốn lưu động tức là vốn ở dạng hàng hoá và tiền mặt như nguyên vật liệu,hàng hoá mua về để bán lại, hàng hóa đang trong lưu thông, hàng dự trữ, hàngbán trả chậm Cách phân loại này thuận tiện cho quá trình theo dõi và đánh giáhiệu quả sử dụng vốn Các cách phân loại khác chủ yếu để xác định quá trìnhhình thành của vốn, xác định tính sở hữu của doanh nghiệp, và do đó chỉ nhằm
bổ xung cho việc đánh giá hiệu quả sử dụng vốn theo tiêu chí vốn cố định và vốnlưu động
Do tính quan trọng của vốn nên buộc các doanh nghiệp cần phải tiến hànhquản trị vốn để nâng cao hiệu quả nguồn lực của xã hội Quản trị vốn kinh doanhgồm có bốn bước cơ bản: Lập kế hoạch về vốn kinh doanh, huy động các nguồnphục vụ cho kinh doanh, tổ chức sử dụng các nguồn vốn đã sử dụng, và giám sát
và kiểm tra tình hình sử dụng vốn kinh doanh
Trong điều kiện mở rộng quyền tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp hiệnnay, việc huy động và tích luỹ vốn đóng vai trò cực kì quan trọng trong việc mởrộng và phát triển kinh doanh Nhưng sử dụng vốn có hiệu quả chỉ khi doanhnghiệp có biện pháp quản trị hữu hiệu, có chiến lược và sách lược lâu dài về tàichính cụ thể là vốn cho kinh doanh
Trang 34PHẦN 3
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ VỐN KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN NHỰA XỐP 76 GIAI ĐOẠN 2012 – 2016
3.1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN NHỰA XỐP 76
3.1.1 Chức năng, nhiệm vụ, ngành nghề sản xuất kinh doanh và tổ chức biên chế của Công ty cổ phần nhựa xốp 76
Trước yêu cầu đổi mới, xóa bỏ bao cấp, chuyển sang hạch toán KD theoNghị định 64/2002/CP về chuyển DN nhà nước sang công ty cổ phần của chínhphủ và Quyết định số 57/2004/QĐ – BQP của BQP Xí nghiệp xốp nhựa đổi tênthành công ty cổ phần nhựa Sao Mai, với hình thức cổ phần hóa giữ nguyên phầnvốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp Nhiệm vụ SX các sản phẩm xốp chènEPS, KD thương mại tổng hợp
Giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2009 kinh doanh không hiệu quả, đượcĐảng ủy TCCNQP bàn giao cho Công ty TNHH 1TV 76 quản lý theo Quyết định
số 2287/ĐU.CNQP ngày 20 tháng 5 năm 2010
Gian đoạn từ năm 2010 đến nay công ty được đăng ký lại với tên Công ty
cổ phần nhựa xốp 76 Sau khi tiếp nhận công ty chủ yếu là khôi phục sản xuất vàtìm lại thị trường khẳng định lại thương hiệu bằng chất lượng là số 1, mở rộngsản xuất kinh doanh, đa dạng hóa sản sản phẩm, bổ sung đăng ký thêm nhiềungành nghề kinh doanh
Công ty CP Nhựa xốp 76 có:
Trụ sở chính tại: Dương Xá – Gia Lâm – Hà Nội
Điện thoại: 043 6789 321 Fax: 043 6789 320
Mã số thuế: 0101587391
Trang 35Email: nhuaxop76@yahoo.com.vn
Giấy chứng nhận kinh doanh số: 0101587391 do sở kế hoạch và đầu tưthành phố Hà Nội cấp
3.1.1.2 Ngành nghề sản xuất kinh doanh
Ngành nghề chính là sản xuất các sản phẩm xốp chèn EPS loại và cácngành nghề kinh doanh khác như In tem nhãn, dây khóa kéo, chỉ may côngnghiệp, SX bìa carton, dệt dây quai, KDTM tổng hợp…
3.1.1.3 Tổ chức biên chế của Công ty cổ phần nhựa xốp76
Công ty cổ phần nhựa xốp 76 được tổ chức theo phương thức trựctuyến - chức năng (xem sơ đồ 2.1) Phương thức tổ chức này vừa phát huyđược chuyên môn của các bộ phận chức năng, vừa đảm bảo quyền chỉ huy của
hệ thống trực tuyến
Bộ máy tổ chức quản lý của CTCP nhựa xốp 76 gồm có: Đại hội đồng cổđông, Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát, các phòng ban, phân xưởng trực thuộc