Những hư hỏng và biến xấu tình trạng kỹ thuật của ắc quy thường là: * Tự phóng điện Trong quá trình bảo quản chưa đưa ra sử dụng hoặc thời gian nghỉ không hoat động mà nồng độ dung dịch,
Trang 1CHƯƠNG 4 BẢO DƯỠNG KỸ THUẬT VÀ SỬA CHỮA HỆ THỐNG ĐIỆN 4.1 BDKT VÀ SỬA CHỮA HỆ THỐNG CUNG CẤP ĐIỆN
4.1.1 BDKT và sửa chữa Ắc quy
a) Những hư hỏng thường gặp và nguyên nhân hư hỏng
Ắc quy trên ô tô thường là ắc quy chì, được dùng để khởi động động cơ và cùng với máy phát điện cung cấp năng lượng điện cho các phụ tải khi động cơ làm việc
Tình trạng kỹ thuật của ắc quy tốt là phải đảm bảo đủ điện áp cần thiết và có thể cung cấp dòng điện phóng lớn mà độ sụt áp không đáng kể
Những hư hỏng và biến xấu tình trạng kỹ thuật của ắc quy thường là:
* Tự phóng điện
Trong quá trình bảo quản chưa đưa ra sử dụng hoặc thời gian nghỉ không hoat động mà nồng độ dung dịch, điện áp và dung lượng của ắc quy bị giảm dần, đó là hiện tượng tự phóng của ắc quy mà nguyên nhân có thể là:
- Do dung dịch điện phân có tạp chất nên tạo thành pin có cục bộ
- Các chất tác dụng của bản cực ( PbSO4, Pb, PbO2) rơi xuống đáy bình, nối tắt phần các bản cực với nhau tạo nên sự ngắn mạch, có thể các tấm ngăn giữa các bản cực bị hỏng hoặc bụi bẩn, hơi nước đọng làm ẩm bẩn bề mặt vỏ bình sẽ nối tắt các đầu ra của ắc quy
Ngoài ra có thể dây dẫn của phụ tải nào đó chạm mát, tiết chế hỏng, ngắn mạch ở
ổ khóa… tạo ra sự ngắn mạch Sự ngắn mạch này gây ra hiện tượng tự phóng điện rất mãnh liệt làm giảm điện áp, dung lượng, làm sụt áp rất khi có tải, có khi còn làm hỏng các phụ tải: máy phát, tiết chế, bộ bin…
Trong quá trình sử dụng, bảo quản, sự tự phóng điện diễn ra ngay trong bản thân ắc quy, cho nên cho phép trong một ngày đêm sử dụng, ắc quy tự phóng < 1% dung lượng định mức
* Sun phát hóa các bản cực.
Hiện tượng sun phát hóa là tạo thành tinh thể lớn sun phát chì PbSO4 trên các bề mặt bản cực, tinh thể này bị chai cứng khi nạp điện không thể phân tích trở lại thành Pb và PbO2 Nguyên nhân gây sun phát hóa là:
- Bảo quản ắc quy lâu không nạp lại hoặc ở nhiệt độ cao
- Khi sử dụng, dòng điện phóng quá lớn và phóng kiệt, (trong trường hợp chạm chập, khởi động động cơ khi hệ thống khởi động kẹt…)
- Phóng quá dài, không được nạp bổ sung (khởi động liên tục nhiều lần máy phát hoặc tiết chế hỏng)
- Dung dịch bị cạn hở bản cực hoặc nhiệt độ và nồng độ dung dịch điện phân quá cao hoặc nạp với dòng điện quá lớn Các bản cực bị sun phát hóa làm ắc quy nạp chóng đầy nhưng dung dịch và nồng độ dung dịch điện phân chưa bảo đảm, khi có tải độ sụt áp lớn Ngoài ra các bản cực còn có thể bị phá hỏng, rơi, rụng các chất tác dụng do ngâm trong dung dịch điện phân lâu ngày, nhiệt độ, nồng độ dung dịch quá cao
b) Kiểm tra, chẩn đoán kỹ thuật
Trang 2* Kiểm tra mức dung dịch điện phân, (hình 4.3.1a)
Mức dung dịch điện phân phải cao hơn lưới bảo vệ từ (10 -15) mm, kiểm tra bằng thước thủy tinh nhỏ thủng hai đầu có khắc vạch mm
* Kiểm tra nồng độ dung dịch điện phân, (hình 4.3.1b)
Dùng tỉ trọng kế để kiểm tra nồng độ dung dịch điện phân Tỉ trọng của dung dịch điện phân phụ thuộc vào nồng độ H2SO4 có trong dung dịch Hút dung dịch vào tỉ trọng kế đọc chỉ số nồng độ dung dịch trên phao, so sánh với nồng
độ tiêu chuẩn Trong một bình ắc quy sự chênh lệch nồng độ
giữa các ngăn không được vượt quá 0,02 g/cm3
Tỉ trọng kế được chế tạo để đo nồng độ dung dịch ở
nhiệt độ 150C, vì vậy khi đo dung dịch ở nhiệt độ khác 150C
phải hiệu chỉnh Cứ chênh 10C thì thay đổi nồng độ 0,0007
g/cm3 Thông thường với ắc quy ở nhiệt độ 150C nạp đầy nồng
độ dung dịch là 1,27 g/cm3 và phóng hết là 1,11 g/cm3.
* Kiểm tra điện áp ắc quy (hình 4.3.2)
Dùng vôn kế càng để kiểm tra điện áp các ngăn của ắc
quy
Vôn kế đo được điện áp 2V về hai phía, có hai điện trở
tải R1 = (0,018 ÷ 0,02)Ω; R2 = (0,018 ÷ 0,02)Ω
- Khi kiểm tra ắc quy có dung lượng nhỏ hơn 70 Ah thì
đóng điện trở tải R1
H
ình 4.3.1
- Khi dung lượng từ (70 ÷ 100) Ah đóng điện trở R2 (mở R1)
- Khi dung lượng lớn hơn 100 Ah đóng cả R1, R2.
Hình 4.3.2
a) cấu tạo của vôn kế càng; b) Đo điện áp ngăn 1: đồng hồ chỉ thị; 2: càng đo; 3: điện trở tải
Khi kiểm tra ta quan sát vôn kế thấy kim ổn định ở:
- (1,75 ÷ 1,8)V, ắc quy nạp đầy
- (1,65 ÷ 1,7)V, ắc quy phóng 25% dung lượng
- (1,5 ÷ 1,6)V, ắc quy phóng 50% dung lượng
- (1,3 ÷ 1,4)V, ắc quy phóng 100% dung lượng
Trang 3Thông thường khoảng giới hạn được chỉ thị bằng màu:
- Màu xanh lá cây: ắc quy còn tốt
- Màu vàng: cần nạp lại
- Màu đỏ: cần sửa chữa (0,4 ÷ 1,4)V
c) Bảo dưỡng kỹ thuật ắc quy
Trong quá trình sử dụng ắc quy cần chú ý:
- Không khởi động dài quá 15 giây, không khởi động liên tục quá 3 lần, mỗi lần cách nhau một chút
- Thường xuyên kiểm tra đồng hồ báo nạp ở vòng quay định mức dòng điện nạp không quá (10 – 20)A
Định kỳ kiểm tra nồng độ dung dịch điện phân và điện áp các ngăn, phải bổ sung thường xuyên và đảm bảo mức dung dịch đúng qui định, làm sạch vỏ bình, cầu nối
- Việc xúc rửa, thay dung dịch, nạp lại ắc quy theo định kỳ hoặc kết quả của kiểm tra, chẩn đoán đột xuất
- Nạp ắc quy có thể tiến hành theo hai cách: nạp với dòng điện không đổi dùng cho nạp mới, nạp sau sữa chữa, xúc rửa
Nạp với điện áp không đổi dùng cho bổ sung
4.1.2 BDKT và sửa chữa Máy phát điện
Hiện nay thường sử dụng máy phát xoay chiều có lắp bộ nắn điện và điều chỉnh để tạo ra điện một chiều có điện áp ổn định định là 14,5vôn
a) Những hư hỏng thường gặp và nguyên nhân hư hỏng
Máy phát điện tốt phải phát huy được đủ điện áp định mức, dòng điện định mức trong thời gian lâu dài Trong quá trình sử dụng ta thường gặp các hư hỏng sau
* Không phát điện
Có thể do dầu, nước rơi vào trong máy phát, do hỏng di ốt nắn dòng, chạm mát cực dương làm các cuộn dây máy phát bị cháy
Có thể do đứt, chập các dây dẫn ở đầu ra của phần ứng, do tụt đầu dây hoặc bị nối mát cực (+) kích từ với mát
* Công suất máy phát giảm hoặc không ổn định
- Dây dẫn bị giảm khả năng cách điện, giảm từ tính lõi thép, tăng từ trở, tăng dòng điện xoáy
- Cổ góp, chổi than bị cháy rổ giảm khả năng tiếp xúc, giảm cách điện, lò xo chổi than bị giảm độ cứng, gãy, chổi than mòn không đều, ổ bi mòn không đều, trượt dây đai dẫn động…
Những nguyên nhân trên làm cho công suất của máy phát bị giảm hoặc không ổn định Ngoài những dạng hư hỏng trên còn có những nguyên nhân làm máy phát quá nóng, nếu không phát hiện kiệp thời sẽ làm cháy máy phát (cong rôto, đứt, chập một số bối dây, quá tải thường xuyên…)
b) Kiểm tra, chẩn đoán kỹ thuật
* Kiểm tra ở trạng thái làm việc, ở chế độ máy phát điện so sánh tốc độ quay
không tải và tốc độ quay khi có tải định mức với [no], [nđm] cho phép ban đầu
Trang 4no ≤ [no] khi It = 0
nđm ≤ [nđm] khi It = Idm
* Kiểm tra stato (hìmh 4.3.6)
Có thễ tháo cuộn dây Stato lồng vào thanh dẫn từ (MC) và dùng mA kiểm tra như hình 4.3.6
- Nếu mA chỉ số “0” là cuộn dây bị đứt
- Nếu mA chỉ giá trị rất nhỏ so với các cuộn khác thì cuộn đó bị chạm chập.
c) Bảo dưỡng máy phát điện
Thường xuyên kiểm tra, điều chỉnh dây đai dẫn động, làm sạch các đầu nối dây dẫn điện
Định kỳ tháo kiểm tra chổi than, lò xo chổi than, tiếp xúc giữa chổi than và cổ góp hoặc vòng truyền điện
- Dùng giấy ráp đánh sạch cổ góp, vánh truyền điện, dùng xăng, chổi mềm rửa sạch cổ góp… bơm mỡ cho các ổ bi, cạo rãnh mica cho cổ góp nếu thấy rãnh quá nông (hình 4.3.7)
4.1.3 BDKT và sửa chữa Tiết chế (Rơle điều chỉnh các đại lượng điện)
a) Những hư hỏng thường gặp và nguyên nhân hư hỏng
Bộ tiết chế còn tốt là bảo đảm các đại lượng: điện áp, cường độ dòng điện, dòng điện ngược được điều chỉnh đúng tiêu chuẩn ở các chế độ đã định Trong quá trình sử dụng thường gặp các hư hỏng và nguyên nhân sau:
* Không điều chỉnh:
+ xu hướng tăng điện áp và cường độ dòng điện.
- Đối với rơ le điện từ, tiếp điểm: đứt hoặc chập cuộn dây điều khiển dính các tiếp điểm (không mở được), nối tắt tiết điểm hoặc điện trở phụ nối tắt và các cọc kích từ và (+) máy phát
- Đối với rơ le bán dẫn: đứt hoặc chập mạch do nối tắt tầng chấp hành điều chỉnh, nối thông tầng trung gian
+ Xu hướng giảm điện áp và cường độ dòng điện
- Với loại rơ le điện từ tiếp điểm: gãy lò xo, tấm rung, tiếp điểm han rỉ, lồi lõm, không tiếp xúc hoặc chạm mát các cọc vào tiếp điểm
- Đối với rơ le điện áp bán dẫn: đứt tầng chấp hành, các cọc vào bị han rỉ, đứt
* Điều chỉnh không đúng định mức qui định
Trong quá trình sử dụng sau một khoảng thời gian làm việc do ảnh hưởng của nhiệt độ, khí hậu, do mỏi làm cho các chi tiết bị thay đổi đặc tính kỹ thuật như: các chổ nối bị han gỉ, lỏng, tiếp xúc không tốt, các điện trở, cách điện, các linh kiện bán dẫn bị biến xấu, các lò xo mất tính đàn tính, từ tính của lỏi thép giảm, khe hở các tiếp điểm không đúng tiêu chuẩn… Các nguyên nhân trên dẫn đến sự sai lệch giá trị cần điều chỉnh Nói chung những sai lệch này phải dùng thiết bị chẩn đoán chuyên dùng mới phát hiện được Những hư hỏng thuộc về nguồn điện sẽ dẫn đến:
- Ắc quy không được nạp điện, nạp thiếu hoặc thừa
- Khó khởi động hoặc không khởi động được
Trang 5- Các thiết bị tiêu thụ điện không đủ điện áp nên làm việc yếu hoặc không làm việc được, hoặc thừa điện gây cháy phụ tải
b) Kiểm tra, chẩn đoán, bảo dưỡng kỹ thuật
Đối với rơ le bán dẫn cần chú ý:
- Với rơ le bán dẫn chỉ kiểm tra rơ le điều chỉnh điện áp, loại có rơ le bảo vệ phụ cần kiểm tra điện áp đóng mạch (hoặc cường độ dòng điện đóng mạch) của rơ le này
- Loại có điện áp điều chỉnh và điện áp kích từ khác cần bố trí thêm nguồn điện phụ
* Bảo dưỡng kỹ thuật
Sau khi kiểm tra thấy các thông số không đảm bảo ta phải tiến hành bảo dưỡng kỹ thuật theo các nội dung sau:
Với các rơ le bán dẫn việc điều chỉnh được tiến hành bằng cách thay đổi điện trở phân áp của transisto
4.2 BDKT và sửa chữa hệ thống khởi động
Tất cả các thiết bị, hệ thống tiêu thụ điện năng gọi chung là phụ tải, phụ tải trên ô tô có rất nhiều như: hệ thống đánh lửa, máy khởi động, điều hòa không khí, ra đi ô, còi, đèn, các đồng hồ, chỉ báo…
Tuy nhiên để đơn giản cho nghiên cứu ngoài hệ thống đánh lửa ta chỉ kể đến các phụ tải khác như: máy khởi động, đèn, còi (máy điều hòa không khí được nghiên cứu ở phần sau)
4.2.1 BDKT và sửa chữa Máy khởi động
a) Những hư hỏng thường gặp và nguyên nhân hư hỏng
Tình trạng kỹ thuật của máy khởi động được đánh giá qua thông số: số vòng quay không tải lớn, mô men xoắn lớn ở chế độ hãm hoàn toàn với điện áp và dòng điện định mức
Trong quá trình làm việc tình trạng kỹ thuật của máy khởi động bị biến xấu: cháy rỗ tiếp điểm, chập đứt cuộn dây rơ le đóng mạch, mòn khớp một chiều hoặc mòn rãnh xoắn, mòn răng, gãy hoặc giảm độ cứng lò xo khớp khởi động Phần cảm và phần ứng của máy khởi động cũng hư hỏng tương tự như máy phát điện một chiều
Ngoài ra rơ le đóng mạch khởi động cũng hay hư hỏng, nếu đóng quá sớm sẽ gây ra
va đập bánh răng khởi động và bánh đà, đóng quá muộn sẽ không vào khớp được, kẹt khớp, kẹt rãnh xoắn dính tiếp điểm rơ le đóng mạch, có thể gây cong trục, gãy khớp, cháy cuộn dây của máy khởi động
b) Kiểm tra, chẩn đoán kỹ thuật
+ Kiểm tra ở chế độ không tải: chế độ này kiểm tra được sự làm việc của rơ le đóng mạch, các hư hỏng cơ khí: ổ đỡ rơ, đảo trục, sự vững chắc của cuộn dây rô to, chổi than, cổ góp, kiểm tra hiệu suất của máy
Hình 4.3.18 giới thiệu sơ đồ kiểm tra máy khởi động ở chế độ không tải Yêu cầu khi kiểm tra là ắc quy phải đủ điện áp
Trang 6Khi ắc quy đủ điện áp, máy khởi động còn tốt thông số kiểm tra phải đạt nđo không nhỏ hơn [n]t/c (số vòng quay đo được không nhỏ hơn số vòng quay tiêu chuẩn cho phép và Iđ không lớn hơn [I]t/c)
+ Kiểm tra máy khởi động ở chế độ hãm hoàn toàn (sơ đồ hình 4.3.19) chế độ này kiểm tra đặc tính cơ khí quá tải ngắn hạn của máy khởi động
Ta đo mômen xoắn của máy khởi động so sánh với mômen xoắn tiêu chuẩn (khi hãm hoàn toàn) tương ứng với điện áp và dòng điện cung cấp đúng với định mức tức là:
Hình 4.3.18
Mđo không nhỏ hơn [M]t/c
Khi Uđo = Uđm, Iđ không lớn hơn [I]t/c
c) Bảo dưỡng máy khởi động
Công việc bảo dưỡng rô to và stato của
máy khởi động giống bảo dưỡng rô to (phần
ứng) và stato (phần cảm) của máy phát điện
một chiều Còn các công việc bảo dưỡng khác
của máy khởi động chủ yếu là:
- Kiểm tra, điều chỉnh thời điểm đóng
mạch của rơ le và sự vào ra khớp của bánh răng
khởi động
Để việc ra vào khớp được dễ dàng ta phải kiểm
tra khe hở (a) khi bánh răng dịch chuyển tự do
và khe hở (b) tương ứng với chiều dày của vành
răng bánh đà so với thời điểm đóng mạch tiếp
điểm chính như hình 4.3.20
Hình 4.3.19 Đo mômen xoắn máy khởi động
1: máy khởi động; 2: cầu dao;
3: ampe kế; 4 biến trở; 5: vôn kế;
6: ắc quy; 7: cân lò xo; 8: cần hãm;
9: cần hãm ở vị trí hãm
Trang 7Hình 4.3.20 1: vít điều chỉnh; 2: khớp bản lề; 3: cần gài khớp khởi động.
Thông thường dịch chuyển hết bánh răng máy khởi động thì khe hở (a) (hình 4.3.20a) của hầu hết các loại máy khởi động từ (1,5 ÷ 3,5) mm, khe hở (b) (hình 4.3.20b) tương ứng với chiều dày vành bánh đà khoảng (14 ÷ 18) mm
Nếu khe hở (a) không đúng tiêu chuẩn, ta tháo khớp bản lề (2) điều chỉnh vít (1) hoặc điều chỉnh bulông hạn chế hành trình Khe nở (b) được điều chỉnh tương ứng với thời điểm tiếp điểm chính đã đóng mạch, điều chỉnh nhờ các tấm đệm có độ dày khác nhau, hình 4.3.20b
4.2.2 BDKT và sửa chữa các bộ phận khác trong hệ thống khới động
4.3 BDKT và sửa chữa hệ thống đánh lữa động cơ cháy cưỡng bức
Trong quá trình làm việc của động cơ xăng, hư hỏng thuộc về hệ thống đánh lửa là phổ biến nhất, hay gặp trên đường nhất, phần lớn hư hỏng phụ thuộc vào tình trạng kỹ thuật của bô bin, bộ chia điện, bugi, các đường dây cao áp Tình trạng kỹ thuật của hệ thống đánh lửa có ảnh hưởng lớn đến kinh tế, tính động lực, độ tin cậy và tuổi bền của xe
*Những hư hỏng thường gặp và nguyên nhân hư hỏng
+ Giảm điện áp đánh lửa U2 có thể do:
- Giảm điện áp nguồn: theo thời gian sử dụng chất lượng của ắc quy giảm dần, hoặc phóng quá kiệt, thiếu dung dịch… hoặc rơ le điện áp điều chỉnh không đúng
-Tăng điện trở của mạch sơ cấp làm giảm dòng điện sơ cấp, làm giảm U2 (do các dây dẫn bị nóng, mối nối lỏng ô xy hóa cặp má vít, khe hở cặp tiếp điểm nếu lớn quá thì thời gian đóng tiếp điểm ngắn Isơ cấp chưa đạt giá trị lớn nhất, còn khe hở quá nhỏ sự phóng điện giữa các cặp tiếp điểm tăng hoặc làm dính cặp tiếp điểm, hoặc do cam chia điện mòn nên góc đóng, mở thay đổi hoặc điện dung của tụ giảm…) Tất cả những nguyên nhân trên đều làm giảm điện áp đánh lửa U2
Ngoài ra nếu bugi bám muội than, cách điện của dây cao áp kém dễ bị rò điện ( mát)… sẽ làm giảm điện áp đánh lửa U2 mặc dù điện áp sơ cấp, dòng sơ cấp vẫn tốt
- Thời điểm đánh lửa sớm không phù hợp do lò xo của bộ điều chỉnh đánh lửa sớm bằng ly tâm, chân không mất đàn tính, gãy, màng đàn hồi bị thủng…
* Kiểm tra chẩn đoán chung hệ thống đánh lửa
- Phương pháp kiểm tra bằng kinh nghiệm
+ Rút đầu dây cao thế ra khỏi nắp bộ chia điện đặt cách mát từ (3 ÷ 5) mm bật khóa đánh lửa đóng mở tiếp điểm bộ chia điện nếu thấy tia lửa xanh, mạnh là tốt
+ Hoặc có thể cho máy nổ dùng tuốc nơ vít cho chạm mát từng bugi và lắng nghe tiếng máy, nếu ổn định thì các bugi còn tốt và ngược lại
- Dùng đồng hồ (V), (A) và ống phóng điện để kiểm tra (hình 4.3.9)
Trang 8Hình 4.3.9
+ Đo dòng điện sơ cấp bằng đồng hồ Ampe kế (A)
+ Đo điện áp ắc quy bằng đồng hồ vôn kế (V)
+ Kiểm tra sự tiếp xúc của cặp tiếp điểm nhờ vôn kế (V) (Nếu tiếp điểm đóng vôn kế chỉ trị số lớn hơn không thì cặp tiếp điểm tiếp xúc không tốt)
+ Dùng ống phóng điện có điều chỉnh được khe hở giữa hai cực phóng ta có thể kiểm tra được khe hở của điện cực bugi cần kiểm tra (mắc ống phóng song song với bugi cần kiểm tra, điều chỉnh khe hở cực phóng từ từ đến khi thấy tia lửa xuất hiện ở ống phóng thì khe hở ở điện cực bugi tương đương với khe hở cực phóng)
4.3.1 BDKT và sửa chữa bô bin, bu gi
a) Bugi (hình 4.3.10)
Bugi là bộ phận hay hư hỏng trong hệ thống đánh lửa, sau một thời gian sử dụng các điện cực của bugi mòn, điện cực bị lõm vào tạo khe hở không đều làm bugi đánh lửa phân tán, chập chờn hoặc bỏ lửa Khe hở của bugi khoảng 0,7 mm đối với hệ thống đánh lửa thường và khoảng (1 ÷ 1,2) mm đối với hệ thống đánh lửa bán dẫn Việc kiểm tra điều chỉnh khe hở bugi được tiến hành nhờ thước đo tròn chuyên dùng theo nguyên tắc, thí dụ: với khe hở là 0,7 mm thì điều chỉnh sao cho căn tròn 0,6 mm lọt qua còn căn tròn 0,8 mm không lọt qua Tránh dùng tuốc nơ vít nạy hoặc gõ, đập cực âm của bugi
Hình 4.3.10 Kiểm tra, điều chỉnh khe hở điện cực của bugi
a) Kiểm tra bằng căn lá (không đúng); b) Kiểm tra bằng căn tròn (đúng); c) Cơ lê
chuyên dùng để kiểm tra và điều chỉnh ( thước đo tròn để kiểm tra, điều chỉnh khe hở điện cực bugi)
Thông thường sau khi kiểm tra và điều chỉnh khe hở điện cực bugi xong ta đưa sang thiết bị làm sạch để kiểm tra sự làm việc (đánh lửa) sẽ sát với thực tế khi bugi làm việc
ở trong xy lanh của động cơ để đánh giá chất lượng của bugi
Hình 4.3.11 chỉ rõ thiết bị làm sạch và kiểm tra sự làm việc của bugi
Trang 9Hình 4.3.11
1: cửa quan sát; 2: tấm chắn bằng cao su; 3,4,5: vít không khí; 6: đồng hồ đo áp lực; 7: ống mềm dẫn khí nén; 8: lỗ cắm; 9: vòi phun cát; 10: vòng phớt bịt kín; 11: buồng phun cát; 12: bộ phóng điện; 13: cát; 14: bôbin đánh lửa; 15: dây cáp điện; 16: ổ cắm điện; 17: nút bấm điều khiển cuộn dây đánh lửa; 18: dây cao áp; 19: bugi cần làm sạch và kiểm tra; 20: buồng khí nén
+ Làm sạch bugi (19) vào buồng (11), đóng vít (3), vít (5), mở vít (4) Nối (7) với nguồn khí nén qua vòi phun cát (9) bugi được làm sạch trong khoảng thời gian từ (5 ÷ 10) giây, với áp lực (0,2 ÷ 0,3) MPa, (2 ÷3) kg/cm2
- Kiểm tra bugi: Sau khi bugi được làm sạch ta tháo bugi ta tháo bugi đưa sang lắp ở buồng (20), nối dây cao áp (18) vào cực bugi Đóng vít (4) vít (5), mở vít (3), nối nguồn (7) với đường khí nén áp lực khoảng (0,7 ÷ 0,8) MPa, (7 ÷ 8) kg/cm2 đồng thời bật công tắc đánh lửa (17) và quan sát tia lửa điện của bugi qua cửa quan sát (2)
Tia lửa của bugi phải đều, tập trung, mạnh nếu không đảm bảo tiêu chuẩn trên thì
ta phải thay bugi mới
b) Bôbin (biến áp đánh lửa)
- Kiểm tra cuộn sơ cấp (hình 4.3.12a)
Hình 4.3.12 Kiểm tra bô bin.
Trang 10Cuộn sơ cấp được kiểm tra nhờ nguồn một chiều điện áp thấp (hoặc ắc quy) sơ đồ đấu dây kiểm tra như hình 4.3.12a, nếu đèn sáng thì cuộn sơ cấp không bị đứt và ngược lại
- Kiểm tra cuộn thứ cấp (hình 4.3.12b) Một đầu cuộn thứ cấp nối với nguồn xoay chiều điện áp (220V), đầu thứ hai của nguồn xoay chiều quẹt nhanh với đầu ra của cuộn cao áp (W2) nếu thấy có tia lửa thì cuộn thứ cấp không bị đứt và ngược lại
4.3.2 BDKT và sửa chữa đen cô (Bộ chia điện)
Với bộ chia điện ta phải kiểm tra từng bộ phận, trong bộ chia điện có cặp tiếp điểm (má vít) đóng mở nhiều lần trong một giây nên dễ bị ôxi hóa, cháy rổ… nên ta phải làm sạch trước khi kiểm tra
- Đánh sạch cặp tiếp điểm (má vít) bằng giấy ráp mịn hoặc đá mài mịn mỏng nếu mòn phải thay má vít mới
- Lau khô, thổi sạch bụi bẩn của mâm xoay
* Kiểm tra, điều chỉnh khe hở cặp tiết điểm (hình 4.3.13a,b)
- Quay trục cam bộ chia điện để cặp tiếp điểm mở hoàn toàn, khe hở này nằm trong khoảng (0,35 ÷ 0,45) mm Khi kiểm tra bằng căn lá 0,35 mm lọt qua còn căn lá 0,45 mm không lọt qua là đạt yêu cầu Nếu khe hở không đúng tiêu chuẩn ta tiến hành điều chỉnh khe hở theo các bước
- Nới vít hảm (1) xoay vít lệch tâm (2) bằng tuốc nơ vít đồng thời dùng hai căn lá kiểm tra như phần trên Khi thấy khe hở đạt tiêu chuẩn ta dùng tuốc nơ vít hãm chặt vít hãm (1) lại
Hình 4.3.13
a) Các bộ phận của tiếp điểm; b) Điều chỉnh khe hở tiếp điểm; c) kiểm tra lò xo ép tiếp
điểm 1: vít bắt chặt giá tiếp điểm tĩnh; 2: vít lệch tâm điều chỉnh khe hở cặp tiếp điểm; 3: giá bắt tiếp điểm tĩnh; 4: tiếp điểm động; 5: tiếp điểm tĩnh
* Kiểm tra lò xo ép tiếp điểm động (hình 4.3.13c)