1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Quản lý tài chính tại ban quản lý các dự án đầu tư xây dựng tài nguyên và môi trường thành phố hà nội

98 597 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 639,5 KB
File đính kèm 4.rar (101 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN 1. MỞ ĐẦU 1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Đất nước ta đang trong công cuộc đổi mới và hoàn thiện thể chế kinh tế theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng, phát triển kinh tế nhanh, bền vững, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại đồng thời nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế để phát triển đất nước; nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới. Trong bối cảnh đó, các đơn vị hành chính sự nghiệp đóng vai trò quan trọng, cung cấp dịch vụ công cho xã hội, đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Muốn thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, các đơn vị sự nghiệp cần thiết phải tạo lập và sử dụng sử dụng nguồn lực tài chính một cách hiệu quả. Để đạt được mục tiêu này, việc ban hành cơ chế tự chủ tài chính theo Nghị định số 432006NĐCP của Chính phủ ngày 25 tháng 4 năm 2006 là bước tiến mạnh mẽ, tạo điều kiện cho từng đơn vị hành chính sự nghiệp chủ động sử dụng nguồn lực tài chính, lao động, cơ sở vật chất để thực hiện nhiệm vụ được giao. Cơ chế tự chủ cũng giúp các đơn vị chủ động phân bổ nguồn tài chính của mình theo nhu cầu chi tiêu đối với từng lĩnh vực trên tinh thần tiết kiệm, thiết thực hiệu quả; khuyến khích các đơn vị mở rộng hoạt động dịch vụ, tăng nguồn thu; tiết kiệm chi, tăng thu nhập cho người lao động. Mặt tích cực nữa của cơ chế tự chủ là tạo điều kiện cho đơn vị sự nghiệp thực hiện việc kiểm soát chi tiêu nội bộ; nâng cao kỹ năng quản lý và chất lượng hoạt động sự nghiệp. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, cơ chế tự chủ tài chính ở các đơn vị sự nghiệp đã bộc lộ không ít những hạn chế vướng mắc cần khắc phục và hoàn thiện. Những hạn chế đó có thể bắt nguồn từ cơ chế chính sách của Nhà nước hoặc từ bản thân các đơn vị được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính. Ban Quản lý các dự án đầu tư xây dựng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội là một đơn vị sự nghiệp có thu trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hà Nội. Trong những năm qua, đơn vị đã thực hiện cơ chế tự chủ tài chính theo quy định của nhà nước. Công tác quản lý tài chính của Ban Quản lý các dự án đầu tư xây dựng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đã đạt được một số kết quả nhất định, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ đề ra. Tuy nhiên, công tác quản lý tài chính ở Ban quản lý các dự án đầu tư xây dựng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội hiện cũng bộc lộ những hạn chế, khiếm khuyết nhất định. Để góp phần làm cho công tác quản lý tài chính của Ban Quản lý các dự án đầu tư xây dựng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội ngày càng hiệu quả, phù hợp hơn với tiến trình đổi mới của đất nước trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới và khu vực, nghiên cứu về quản lý tài chính tại đơn vị là rất cần thiết. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Quản lý tài chính tại Ban Quản lý các dự án đầu tư xây dựng Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hà Nội” làm luận văn thạc sỹ của mình.

Trang 1

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

L ời cảm ơn ii

M ục lục iii

Danh mục từ viết tắt và ký hiệu vi

Danh mục bảng vii

Danh mục sơ đồ viii

Trích yếu luận văn ix

Thesis abstract xi

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 2

P hần 2 Cơ sở lý luận thực tiễn của đề tài 3

2.1 Cơ sở lý luận 3

2.1.1 Một số khái niệm 3

2.1.1.2 Khái niệm về quản lý tài chính 3

2.1.2 Vai trò, nhiệm vụ và nguyên tắc quản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu 5

2.1.3 Các hoạt động quản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu 8

2.1.4 Nội dung quản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu 15

2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu 22

2.2 Cơ sở thực tiễn 26

2.2 1 Quản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu ở Việt Nam 27

Trang 2

2.2.3 Bài học kinh nghiệm trong quản lý tài chính đối với Ban Quản lý

các dự án đầu tư xây dựng Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hà Nội 27

Trang 3

Phần 3 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu 29

3.1 Đặc điểm của ban quản lý các dự án đâu tư xây dựng tài nguyên và môi trường Hà Nội 29

3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Ban Quản lý các dự án đầu tư xây dựng Tài nguyên và môi trường Hà Nội 29

3.1.2 Cơ cấu tổ chức của Ban Quản lý các dự án đầu tư xây dựng Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hà Nội 30

3.1.3 Cơ cấu nhân sự của Ban Quản lý các dự án đầu tư xây dựng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội 32

3.2 Phương pháp nghiên cứu 33

3.2.1 Khung phân tích 33

3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 33

3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 34

3.2.4 Phương pháp phân tích số liệu 34

3.2.5 Hệ thống chỉ tiêu chủ yếu trong phân tích 35

Phần 4 Kết quả nghiên cứu 36

4.1 Thực trạng công tác quản lý tài chính tại ban quản lý các dự án đầu tư xây dựng tài nguyên và môi trường Hà Nội 36

4.1.1 Xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ 36

4.1.2 Lập dự toán thu chi 45

4.1.3 Tổ chức thực hiện và chấp hành kế hoạch thu chi 49

4.1.4 Kiểm tra, kiểm soát thu chi tài chính 57

4.1.5 Hạch toán kế toán và quyết toán thu chi 59

4.1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý tài chính của Ban quản lý dự án Tài nguyên và Môi trường 64

4.2 Đánh giá công tác quản lý tài chính của ban quản lý dự án tài nguyên và môi trường 71

4.2.1 Kết quả đạt được 71

4.2.2 Tồn tại và nguyên nhân 72

4.3 Giải pháp quản lý tài chính tại ban quản lý các dự án 74

4.3.1 Định hướng và mục tiêu hoạt động của Ban quản lý các dự án 74

4.3.2 Giải pháp quản lý tài chính tại Ban quản lý các dự án 75

Trang 4

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 81

5.1

Kết luận 815.2

Một số kiến nghị 82Tài liệu tham khảo 84Phụ lục 85

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU

CBCNV Cán bộ công nhân viên

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Nhân sự của Ban Quản lý các dự án đầu tư xây dựng Tài nguyên và

Môi trường năm 2016 32

Bảng 4.1 Ý kiến trả lời của cán bộ nhân viên về thực hiện các nguyên tắc quản lý tài chính của Ban quản lý 37

Bảng 4.2 Mức khoán chi hội nghị, hội thảo 41

Bảng 4.3 Định mức chi tiền điện thoại tại các phòng ban 41

Bảng 4.4 Dự toán thu của Ban quản lý các dự án 46

Bảng 4.5 Dự toán chi của Ban quản lý các dự án 48

Bảng 4.6 Ý kiến trả lời của cán bộ nhân viên về lập dự toán thu chi của Ban quản lý 49

Bảng 4.7 Kinh phí NSNN cấp cho Ban quản lý các dự án 50

Bảng 4.8 Các nguồn thu sự nghiệp của Ban quản lý các dự án 52

Bảng 4.9 Số lượng và cơ cấu các nguồn thu thực tế của Ban quản lý các dự án 54

Bảng 4.10 Tổng hợp các khoản chi đã thực hiện trong 3 năm tại Ban quản lý các dự án 56

Bảng 4.11 Ý kiến trả lời của cán bộ nhân viên về thực hiện thu chi của Ban quản lý

57

Bảng 4.12 Kết quả hạch toán thu chi tại Ban quản lý dự án qua 3 năm .59

Bảng 4.13 Kết quả thực hiện kế hoạch nguồn thu của Ban quản lý dự án qua 3 năm

62

Bảng 4.14 Kết quả thực hiện dự toán chi tài chính tại Ban quản lý các dự án 63

Bảng 4.15 Cơ cấu nhân lực theo trình độ chuyên môn tại Ban quăn lý dự án Tài nguyên và Môi trường qua 3 năm 2014, 2015, 2016 65

Bảng 4.16 Tình hình đào tạo cán bộ, viên chức Ban quản lý dự án Tài nguyên và Môi trường 66

Bảng 4.17 Số dự án đầu tư xây dựng của Ban quản lý dự án Tài nguyên và môi trường 68

Bảng 4.18 Bảng tổng hợp các buổi tuyên truyền bảo vệ môi trường của Ban quản lý dự án Tài nguyên và môi trường 70

Trang 7

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 3.1 Quy mô nhân sự của Ban Quản lý các dự án đầu tư xây dựng Tài

nguyên và Môi trường Hà Nội 30

Sơ đồ 3.2 Khung phân tích quản lý tài chính tại Ban QLDA Tài nguyên và môi

trường 33

Trang 8

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Lê Thành Trung

Tên luận văn: “Quản lý tài chính tại Ban Quản lý các dự án đầu tư xây dựng Tài

nguyên và Môi trường Thành phố Hà Nội”

Ngành: Quản trị kinh doanh Mã số: 60.34.01.02

Người hướng dẫn khoa học: TS Bùi Thị Nga

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông Nghiệp Việt Nam

Mục đích nghiên cứu

* Mục tiêu chung

Đề tài nghiên cứu thực trạng quản lý tài chính tại Ban Quản lý các dự án đầu tưxây dựng Tài nguyên và Môi trường thành phố Hà Nội từ đó đề xuất một số giải phápnhằm hoàn thiện quản lý tài chính của Ban Quản lý các dự án đầu tư xây dựng Tàinguyên và Môi trường thành phố Hà Nội trong thời gian tới

- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý tài chính tại Ban quản lý các dự

án đầu tư xây dựng Tài nguyên và môi trường Hà Nội trong thời gian tới

Phương pháp nghiên cứu

- Đề tài tập trung thu thập số liệu và nghiên cứu đánh giá về tình hình thực hiệnquy chế quản lý tài chính trong những năm gần đây dựa trên hai nguồn thứ cấp và sơcấp Việc thu thập số liệu tổng thể nói chung và số liệu tài chính kế toán để làm cơ sởnghiên cứu, đánh giá về tình hình thực hiện quy chế quản lý tài chính thông qua banGiám đốc, các phòng ban

- Số liệu thứ cấp được sử dụng trong nghiên cứu bao gồm các sách, báo, tạp chí,

Trang 9

các văn kiện, nghị quyết, các công trình đã được xuất bản, các báo cáo khoa học, mạnginternet …các số liệu về tình hình của địa bàn nghiên cứu

- Số liệu sơ cấp được thu thập bằng phương pháp điều tra gửi bảng hỏi đến toàn

bộ các cán bộ lãnh đạo, quản lý tài chính, cán bộ công nhân viên của Ban Quản lý Sốphiếu điều tra phát ra và thu về đều là 32 phiếu

- Số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm Excel Các phương pháp sử dụngtrong phân tích là phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh; phương phápchuyên gia,

Kết quả chính và kết luận

* Về mặt lý luận: Đề tài đã góp phần hệ thống hoá, làm rõ và phát triển những vấn

đề lý luận nâng cao công tác quản lý tài chính tại Ban Quản lý dự án Ban Quản lý dự áncần phải sử dụng nhiều biện pháp và công cụ quản lý khác nhau đó là: lập dự toán thuchi, tổ chức thực hiện và chấp hành dự toán thu chi, kiểm tra, giám sát thực hiện quytrình thu chi và hạch toán kế toán và quyết toán thu chi

* Về mặt thực tiễn: Đề tài đã hệ thống được công tác quản lý tài chính tại Ban

Quản lý dự án Phân tích, đánh giá được thực trạng công tác quản lý tài chính tại BanQuản lý dự án và những kết quả đã đạt trong thời gian qua Đề tài đã phân tích rõ cácnhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý tài chính tại Ban Quản lý dự án Trên cơ sở đó,

đề tài cũng đã đưa ra một số quan điểm, chỉ ra định hướng, xác định rõ mục tiêu và đề

ra các giải pháp nâng cao công tác quản lý tài chính tại Ban Quản lý dự án trong thờigian tới

Trang 10

THESIS ABSTRACT

Master candidate: Le Thanh Trung

Thesis title: “Financial management at the Investment and Construction

Projects Management Board of Natural Resources and Environment, Hanoi city”.

Major: Business administration Code: 60.34.01.02

Scientific supervisor: Dr Bui Thi Nga

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives:

* General objectives

The study aimed to assess the status of “financial management at the Investment

and Construction Projects Management Board of Natural Resources and Environment,

Hanoi city The study proposed solutions to improve the financial management for theboard in the near future

* Specific objectives

- Contribute to the systematization of theoretical and practical basis for financialmanagement in income-generating units

- Assessment and analysis of factors affecting financial management at the

Investment and Construction Projects Management Board of Natural Resources and

Environment, Hanoi city during the previous time

- Propose solutions to improve financial management at the Investment and

Construction Projects Management Board of Natural Resources and Environment,

Hanoi city in the near future

Materials and Methods:

The study collected data to access financial management at the Investment and

Construction Projects Management Board of Natural Resources and Environment,

Hanoi city in recent years based on primary and secondary data

Secondary data used in the study were collected by document synthesis, fromavailable sources including: final reports of functional departments of the company over

the years, special journals, related previous studies and websites

Trang 11

Primary data were collected by direct interviews with all staffs of the board;

direct interview with leaders, managers and employees The number of questionnairesgenerated and collected was 32 votes

Statistical analysis was conducted by Microsoft Office Excel software Themethods used in the analysis are descriptive statistical methods, comparative methods,expert method,

Main findings and conclusions:

* Theoretical contributions

The study has contributed to the systematization, clarification and development of

theoretical preliminaries essential for improving financial management at the Investment and Construction Projects Management Board of Natural Resources and

Environment The board will need to use a variety of management measures and tools toorganize and implement the revenue and expenditure estimates, to supervise andmonitor the implementation of the procedures

* Practical contributions

The study has systematized the financial management at the Investment and

Construction Projects Management Board of Natural Resources and Environment

during the previous time The study has analyzed the factors that affect the financialmanagement at the board Thereby, the study has also given some viewpoints,orientations, objectives and proposed some solutions to improve the financialmanagement at the board in near future

Trang 12

PHẦN 1 MỞ ĐẦU1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Đất nước ta đang trong công cuộc đổi mới và hoàn thiện thể chế kinh tế theotinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng, phát triển kinh tế nhanh, bềnvững, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướnghiện đại đồng thời nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, chủ động

và tích cực hội nhập quốc tế để phát triển đất nước; nâng cao vị thế và uy tín củaViệt Nam trong khu vực và trên thế giới Trong bối cảnh đó, các đơn vị hành chính

sự nghiệp đóng vai trò quan trọng, cung cấp dịch vụ công cho xã hội, đảm bảo thựchiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội của đất nước Muốn thực hiện tốt chứcnăng, nhiệm vụ của mình, các đơn vị sự nghiệp cần thiết phải tạo lập và sử dụng sửdụng nguồn lực tài chính một cách hiệu quả Để đạt được mục tiêu này, việc banhành cơ chế tự chủ tài chính theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày

25 tháng 4 năm 2006 là bước tiến mạnh mẽ, tạo điều kiện cho từng đơn vị hànhchính sự nghiệp chủ động sử dụng nguồn lực tài chính, lao động, cơ sở vật chất đểthực hiện nhiệm vụ được giao Cơ chế tự chủ cũng giúp các đơn vị chủ động phân

bổ nguồn tài chính của mình theo nhu cầu chi tiêu đối với từng lĩnh vực trên tinhthần tiết kiệm, thiết thực hiệu quả; khuyến khích các đơn vị mở rộng hoạt động dịch

vụ, tăng nguồn thu; tiết kiệm chi, tăng thu nhập cho người lao động Mặt tích cựcnữa của cơ chế tự chủ là tạo điều kiện cho đơn vị sự nghiệp thực hiện việc kiểm soátchi tiêu nội bộ; nâng cao kỹ năng quản lý và chất lượng hoạt động sự nghiệp Tuynhiên, trong quá trình thực hiện, cơ chế tự chủ tài chính ở các đơn vị sự nghiệp đãbộc lộ không ít những hạn chế vướng mắc cần khắc phục và hoàn thiện Những hạnchế đó có thể bắt nguồn từ cơ chế chính sách của Nhà nước hoặc từ bản thân cácđơn vị được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính

Ban Quản lý các dự án đầu tư xây dựng Tài nguyên và Môi trường HàNội là một đơn vị sự nghiệp có thu trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trườngthành phố Hà Nội Trong những năm qua, đơn vị đã thực hiện cơ chế tự chủtài chính theo quy định của nhà nước Công tác quản lý tài chính của BanQuản lý các dự án đầu tư xây dựng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đã đạtđược một số kết quả nhất định, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ đề ra Tuynhiên, công tác quản lý tài chính ở Ban quản lý các dự án đầu tư xây dựng Tàinguyên và Môi trường Hà Nội hiện cũng bộc lộ những hạn chế, khiếm khuyếtnhất định Để góp phần làm cho công tác quản lý tài chính của Ban Quản lý

Trang 13

các dự án đầu tư xây dựng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội ngày càng hiệuquả, phù hợp hơn với tiến trình đổi mới của đất nước trong điều kiện hội nhậpkinh tế thế giới và khu vực, nghiên cứu về quản lý tài chính tại đơn vị là rấtcần thiết Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu đề

tài: “Quản lý tài chính tại Ban Quản lý các dự án đầu tư xây dựng Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hà Nội” làm luận văn thạc sỹ của mình.

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý tài chính tại Ban quản lýcác dự án đầu tư xây dựng Tài nguyên và môi trường Hà Nội trong thời gian tới

1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề liên quan đến quản lý tàichính tại Ban Quản lý các dự án đầu tư xây dựng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại Ban quản lý các

dự án đầu tư xây dựng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, trực thuộc Sở Tàinguyên và môi trường Hà Nội

- Về thời gian: Đề tài được thực hiện từ tháng 12 năm 2015 đến tháng 12 năm

2016 Các số liệu liên quan đến thực trạng quản lý tài chính tại Ban Quản lý các dự

án đầu tư xây dựng Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hà Nội được phán ánhtrong thời gian 3 năm trở lại đây ( từ năm 2014 - 2016) Các giải pháp của đề tàiđược xác định đến năm 2020

Trang 14

PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1.1 Một số khái niệm

2.1.1.1 Khái niệm về tài chính

Tài chính là quá trình phân phối các nguồn tài chính nhằm đáp ứng nhu cầucủa các chủ thể kinh tế Hoạt động tài chính luôn gắn liền với sự vận động độc

lập tương đối của các luồng giá trị dưới hình thái tiền tệ thông qua việc hình

thành và sử dụng các quỹ tiền tệ trong nền kinh tế

Một cách khái quát, tài chính được xác định như sau: tài chính là hiện tượngđặc trưng bằng sự vận động độc lập tương đối của tiền tệ với chức năng phươngtiện thanh toán và phương tiện cất trữ trong quá trình tạo lập hay sử dụng các quỹtiền tệ đại diện cho những sức mua nhất định ở các chủ thể kinh tế - xã hội Tàichính phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế trong phân phối các nguồn lựctài chính thông qua tạo lập hay sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng yêu cầutích luỹ hay tiêu dùng của các chủ thể (pháp nhân hay thể nhân) trong xã hội.NXB Tài chính năm 1997

2.1.1.2 Khái niệm về quản lý tài chính

Quản lý là yêu cầu tất yếu để đảm bảo sự hoạt động bình thường của mọiquá trình và hệ thống kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị có sự tham gia tự giác củanhiều người Thực chất của quản lý là thiết lập và thực hiện hệ thống các phươngpháp và biện pháp khác nhau của chủ thể quản lý để tác động một cách có ý thứctới đối tượng quản lý nhằm đạt tới kết quả nhất định Quản lý bao gồm nhiềuphương diện như quản lý công nghệ, quản lý thương mại, quản lý nhân sự, quản

lý tài chính

Quản lý tài chính là hoạt động của chủ thể quản lý trong lĩnh vực tài chínhnhằm sử dụng nguồn tài sản dưới hình thái tiền, giấy tờ có giá của một đơn vị, tổchức vừa đảm bảo cho đơn vị, tổ chức hoạt động bình thường, vừa đảm bảo chonguồn tài chính sử dụng tiết kiệm và sinh lợi nhiều nhất

Quản lý tài chính là một bộ phận, một khâu của quản lý kinh tế xã hội và làkhâu quản lý mang tính tổng hợp Quản lý tài chính được coi là hợp lý, có hiệuquả nếu nó tạo ra được một cơ chế quản lý thích hợp, có tác động tích cực tới cácquá trình kinh tế xã hội theo các phương hướng phát triển đã được hoạch định.Việc quản lý, sử dụng nguồn tài chính ở các đơn vị sự nghiệp có liên quan trực

Trang 15

tiếp đến hiệu quả kinh tế xã hội do đó phải có sự quản lý, giám sát, kiểm tranhằm hạn chế, ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng trong khai thác và

sử dụng nguồn lực tài chính đồng thời nâng cao hiệu quả việc sử dụng các nguồntài chính

Quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu là công tác quản lý cácvấn đề trong đơn vị sự nghiệp mình có liên quan đến việc tổ chức thực hiện cácbiện pháp đảm bảo tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, phát huy mọikhả năng của đơn vị để cung cấp dịch vụ với chất lượng cao cho xã hội, sửdụng tiết kiệm, có hiệu quả kinh phí, tăng tích lũy để thực hiện công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng thu nhập chođơn vị và cá nhân

Có khá nhiều tác giả đã đưa ra các khái niệm về quản lý tài chính.Theo cáctác giả C.Paramasivan và T.Subramanian (2000), quản lý tài chính là hoạt độnglập kế hoạch, tổ chức thực hiện, điều chỉnh và giám sát việc thu chi tiền của một

cá nhân, tổ chức.Về cụ thể, có thể thấy khái niệm này kết hợp giữa khái niệm vềquản lý (các tác động có mục đích của chủ thể quản lý lên các đối tượng quản lý)

và khái niệm tài chính (thu, chi tiền)

Theo tác giả Joseph Massie (2010), quản lý tài chính là hoạt động quản lýtiền (quỹ tiền) một cách có chủ đích nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức Hoạtđộng này bao gồm hai nội dung quan trọng là làm thế nào để có tiền và phân bổ

số tiền ấy vào chi tiêu như thế nào?

Như vậy, có thể hiểu quản lý tài chính là hoạt động quản lý việc tạo lập và

sử dụng các nguồn tiền để đạt được mục tiêu của cá nhân, tổ chức

2.1.1.3 Khái niệm về đơn vị sự nghiệp có thu

Đơn vị sự nghiệp có thu là một loại đơn vị sự nghiệp công lập, có nguồnthu sự nghiệp, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập để thực hiện cáchoạt động sự nghiệp Hoạt động sự nghiệp là những hoạt động cung cấp dịch vụcông cho xã hội nhằm duy trì và đảm bảo sự hoạt động bình thường của xã hội.Hoạt động sự nghiệp không trực tiếp tạo ra của cải vật chất nhưng nó tác độngtrực tiếp tới lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, có tính quyết định năng suấtlao động xã hội Những hoạt động sự nghiệp mang tính chất phục vụ là chủ yếu

và không nhằm mục tiêu lợi nhuận Trong quá trình hoạt động được ngân sáchnhà nước cấp hoặc hỗ trợ kinh phí để thực hiện chức năng nhiệm vụ được giao,

Trang 16

nhưng vẫn có chức năng sản xuất kinh doanh, dịch vụ nhằm tận dụng cơ sở vậtchất, trang thiết bị hiện có để tạo thêm thu nhập, nhằm hỗ trợ nâng cao đời sốngcán bộ công chức, viên chức và bổ sung kinh phí hoạt động thường xuyên

Có nhiều cách phân loại đơn vị sự nghiệp, tuỳ theo mục đích nghiên cứu,quản lý

- Căn cứ vào hình thức sở hữu, đơn vị sự nghiệp được chia thành đơn vị sựnghiệp công lập, đơn vị sự nghiệp bán công, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập(dân lập, tư thục)

- Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động, các đơn vị sự nghiệp được chia thành đơn

vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực giáo dục & đào tạo, đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực

y tế, đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực văn hóa, xã hội, ;

- Căn cứ vào phân cấp quản lý, các đơn vị sự nghiệp được chia thành đơn vị

sự nghiệp thuộc Nhà nước quản lý, đơn vị sự nghiệp thuộc địa phương quản lý,đơn vị sự nghiệp thuộc các công ty, tổng công ty, tập đoàn quản lý

2.1.2 Vai trò, nhiệm vụ và nguyên tắc quản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp

có thu

2.1.2.1 Vai trò của quản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu

Tài chính có thể được xem như là một khoa học và nghệ thuật về quản lýtiền Tài chính có liên quan đến quy trình, thể chế, tình hình thị trường và cáccông cụ chuyển đổi tiền giữa các cá nhân, doanh nghiệp và Chính phủ Mặc dùchỉ là một nhánh riêng biệt trong quan hệ phân phối xã hội, nhưng tài chính cótác động mạnh và có mối quan hệ chặt chẽ với nền kinh tế xã hội Những hiểubiết về tài chính sẽ giúp cho nhà quản lý ra quyết định tài chính đúng đắn, để rađược các thủ tục, quy trình và giải quyết vấn đề tài chính hiệu quả

Quản lý tài chính nói chung là việc lựa chọn, đưa ra các quyết định tàichính và tổ chức thực hiện các quyết định đó nhằm đạt được mục tiêu hoạt độngtài chính của đơn vị

Quản lý tài chính là một trong những hoạt động quản lý quan trọng củabất kỳ một tổ chức nào trong điều kiện kinh tế thị trường Bởi vì, tài chínhbiểu hiện tổng hợp và bao quát hoạt động của đơn vị Thông qua quản lý tàichính, chủ thể quản lý không chỉ kiểm soát được toàn bộ chu trình hoạt độngcủa đơn vị mà còn đánh giá được chất lượng hoạt động của chúng Tài chínhcòn biểu hiện lợi ích của các chủ thể tham gia và liên quan đến đơn vị Thông

Trang 17

qua quản lý tài chính, chủ thể quản lý sử dụng được công cụ kích thích lợi íchmột cách hữu hiệu.

Trong điều kiện kinh tế thị trường, yêu cầu về chất lượng dịch vụ công vàhiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp (ĐVSN) là những vấn đề còn mangtính phức tạp Việc quản lý, sử dụng nguồn tài chính ở các ĐVSN liên quan trựctiếp đến hiệu quả kinh tế - xã hội và chi tiêu đóng góp của nhân dân Ngoài ra, dohoạt động của các đơn vị sự nghiệp (ĐVSN) rất đa dạng, tham gia trong nhiềulĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội và theo đuổi không chỉ mục tiêu riêng, mà cònphục vụ mục tiêu chung của toàn xã hội nên quản lý tài chính khá phức tạp,thường được quy định cụ thể cho từng ngành Bên cạnh các khoản chi của ngânsách nhà nước đối với các ĐVSN, các đơn vị này còn có nguồn thu nhập từ chitrả của dân cư Do đó, nếu tài chính của các ĐVSN được quản lý, giám sát, kiểmtra tốt, sẽ góp phần hạn chế, ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực, tham nhũngtrong khai thác và sử dụng nguồn lực tài chính công, đồng thời nâng cao hiệu quảviệc sử dụng các nguồn tài chính của đất nước Ngoài ra, quản lý tài chính cácĐVSN còn cung cấp thông tin để tái cơ cấu hoạt động cung cấp dịch vụ văn hóa,giáo dục, y tế, thể dục thể thao, trong tương quan với sự cạnh tranh của khu vực

2.1.2.2 Nhiệm vụ quản lý tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu

Quản lý tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu thể hiện như sau:

+ Lập dự toán thu, chi ngân sách trong phạm vi được cấp có thẩm quyềngiao hàng năm;

+ Tổ chức chấp hành dự toán thu, chi tài chính hàng năm theo chế

độ chính sách của Nhà nước; chủ trì hoặc phối hợp với các ngành hữu quan xâydựng các chế độ chi tiêu đặc thù của ngành, lĩnh vực, địa phương theo sự ủyquyền của cơ quan có thẩm quyền;

+ Thực hiện quản lý sử dụng tài sản Nhà nước giao cho cơ quan, đơn vị;+ Chấp hành chế độ kế toán thống kê theo pháp luật;

Trang 18

+ Lập báo cáo quyết toán thu, chi tài chính quý và năm về tình hình sử dụngcác nguồn tài chính của cơ quan, đơn vị theo luật ngân sách Nhà nước;

2.1.2.3 Nguyên tắc quản lý tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu

Nguyên tắc quản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu gồm cácnguyên tắc sau:

- Nguyên tắc hiệu quả: Là nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong quản lý tài

chính nói chung và trong quản lý các ĐVSN nói riêng Hiệu quả trong quản lý tàichính thể hiện ở sự so sánh giữa kết quả đạt được trên tất cả các lĩnh vực chính trị,kinh tế và xã hội với chi phí bỏ ra Tuân thủ nguyên tắc này là khi tiến hành quản lýtài chính các ĐVSN, Nhà nước cần quan tâm cả hiệu quả về xã hội và hiệu quả kinh

tế Mặc dù rất khó định lượng hiệu quả về xã hội, song những lợi ích đem lại về xã hộiluôn được đề cập, cân nhắc thận trọng trong quá trình quản lý tài chính công Nhànước phải cân đối giữa việc thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu trên cơ sở lợi ích củatoàn thể cộng đồng, những mục tiêu chính trị quan trọng cần phải đạt được trong từnggiai đoạn nhất định với định mức chi hợp lý Hiệu quả kinh tế là tiêu thức quan trọng

để các cá nhân hoặc cơ quan có thẩm quyền cân nhắc khi xem xét các phương án, dự

án hoạt động sự nghiệp khác nhau Hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế là hai nội dungquan trọng phải được xem xét đồng thời khi hình thành một quyết định hay một chínhsách chi tiêu ngân sách liên quan đến hoạt động sự nghiệp

- Nguyên tắc thống nhất: Là thống nhất quản lý tài chính ĐVSN bằng

những văn bản luật pháp thống nhất trong cả nước Thống nhất quản lý chính làviệc tuân theo một khuôn khổ chung từ việc hình thành, sử dụng, thanh tra, kiểmtra, thanh quyết toán, xử lý những vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiệnquản lý thu, chi tài chính ở các ĐVSN Thực hiện nguyên tắc quản lý này sẽ đảmbảo tính công bằng, bình đẳng trong đối xử với các ĐVSN khác nhau, hạn chếnhững tiêu cực và rủi ro trong hoạt động tài chính, nhất là những rủi ro có tínhchất chủ quan khi quyết định các khoản thu, chi

- Nguyên tắc tập trung, dân chủ: Là nguyên tắc quan trọng trong quản lý tài

chính đối với các ĐVSN thụ hưởng ngân sách nhà nước Nguyên tắc tập trungdân chủ trong quản lý tài chính ĐVSN đảm bảo cho các nguồn lực của xã hộiđược sử dụng hợp lý cả ở quy mô nền kinh tế quốc dân lẫn quy mô ĐVSN

- Nguyên tắc công khai, minh bạch: ĐVSN là tổ chức công nên việc quản lý

tài chính các đơn vị này phải đáp ứng yêu cầu chung trong quản lý tài chính

Trang 19

công, đó là công khai, minh bạch trong động viên, phân phối các nguồn lực xãhội, nhất là nguồn lực về tài chính Bởi vì tài chính công là đóng góp của xã hội.Thực hiện công khai, minh bạch trong quản lý sẽ tạo điều kiện cho cộng đồng cóthể giám sát, kiểm soát các quyết định về thu, chi tài chính công, hạn chế nhữngthất thoát và đảm bảo tính hợp lý trong chi tiêu của bộ máy nhà nước

2.1.3 Các hoạt động quản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu

2.1.3.1 Quản lý việc sử dụng các nguồn lực tài chính

Nguồn tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu chủ yếu bao gồm cácnguồn sau:

2.1.3.2 Quản lý nguồn thu

Nguồn thu tại các đơn vị sự nghiệp có thu bao gồm: Ngân sách Nhà nướccấp, nguồn thu sự nghiệp và các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật

- Ngân sách Nhà nước cấp như kinh phí dùng cho các hoạt độngthường xuyên của các đơn vị theo quy định của Chính phủ; kinh phí thựchiện các hoạt động khoa học và công nghệ, chương trình mục tiêu quốc gia

và các nhiệm vụ khác được cấp có thẩm quyền giao; vốn đầu tư xây dựng

cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động chuyên môn, hoạtđộng khoa học và công nghệ theo dự án và kế hoạch hằng năm; vốn đối ứng

do các dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

- Nguồn thu sự nghiệp như thu học phí, lệ phí; Thu từ hoạt động sản xuất,kinh doanh, dịch vụ Thu từ các hoạt động liên doanh, liên kết, hoạt động khoahọc và công nghệ; Kinh phí Nhà nước thanh toán cho các đơn vị theo chế độ đặthàng để thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước;

- Các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật như đầu tư của các tổchức, cá nhân ở trong nước và nước ngoài để phát triển các đơn vị sự nghiệp theoquy định của pháp luật; Tài trợ, viện trợ, ủng hộ, quà biếu, tặng, cho của các tổ

Trang 20

chức, cá nhân ở trong nước và nước ngoài; Các nguồn thu hợp pháp khác.

Quản lý nguồn thu là xác định đúng đối tượng thu, thực hiện thu đúng, thu

đủ theo mức thu do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định Nếu cơ quanNhà nước có thẩm quyền ban hành khung mức thu đối với một số hoạt động, thìđơn vị căn cứ vào mức chi tối thiểu có thể đảm bảo hoạt động thường xuyên diễn

ra bình thường và khả năng đóng góp của xã hội để quyết định mức thu cụ thểcho từng loại hoạt động; cho từng đối tượng thu miễn sao mức thu không vượtmức trần khung thu do cơ quan có thẩm quyền quy định Những hoạt động nàokhông có quy định khung mức thu thì đơn vị tự quyết định mức thu theo nguyêntắt bảo đảm bù đắp chi phí và có tích lũy

Đối với các khoản thu phí, lệ phí: Căn cứ vào đối tượng thu, mức thu và tỷ

lệ được để lại chi theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Đối với các khoản thu sự nghiệp: Căn cứ vào kế hoạch hoạt động dịch vụ

và mức thu do đơn vị quyết định hoặc hợp đồng kinh tế đơn vị đã ký kết

- Quản lý toàn diện từ hình thức, quy mô đến các yếu tố quyết định số thu.Bởi vì tất cả các hình thức, quy mô và các yếu tố ảnh hưởng đến số thu đều quyếtđịnh số thu tài chính làm cơ sở cho mọi hoạt động của ĐVSN Nếu không quản

lý toàn diện sẽ dẫn đến thất thoát khoản thu, làm ảnh hưởng không chỉ đến hiệuquả quản lý tài chính, mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động của ĐVSN

- Thực hiện nghiêm túc, đúng đắn các chính sách, chế độ thu do cơ quan

có thẩm quyền ban hành ĐVSN không được tự ý đặt ra các khoản thu cũng nhưmức thu

- Quản lý các nguồn thu theo kế hoạch, đảm bảo thu sát, thu đủ, tổ chức tốtquá trình quản lý thu, đồng thời đề ra các biện pháp tổ chức thu thích hợp

- Đối với các đơn vị được sử dụng nhiều nguồn thu phải có biện phápquản lý thu thống nhất nhằm thực hiện thu đúng mục đích, thu đủ và thuđúng kỳ hạn

2.1.3.3 Quản lý các khoản chi

Các khoản chi trong các đơn vị sự nghiệp có các nhóm chi lớn, bao gồm:chi cho con người (nhóm I), chi quản lý hành chính (nhóm II), chi nghiệp vụchuyên môn (nhóm III) và chi mua sắm, sửa chữa tài sản cố định (nhóm IV)

- Chi cho con người (nhóm I)

Trang 21

Bao gồm các khoản về lương và phụ cấp lương (được tính theo chế độ hiệnhành, kể cả nâng bậc lương hàng năm cho từng đơn vị hành chính sự nghiệp) vàcác khoản phải nộp theo lương, bao gồm bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảohiểm thất nghiệp, kinh phí công đoàn Theo quy định, nhóm chi này thườngchiếm tỷ trọng khoảng 40% tổng chi thường xuyên của các đơn vị sự nghiệp.Tuynhiên tỷ trọng này cũng có thể thay đổi tùy vào tình hình tăng, giảm biên chế laođộng hợp đồng của đơn vị.

- Chi quản lý hành chính (nhóm II)

Nhóm này bao gồm các khoản chi sau: tiền điện, tiền nước, văn phòngphẩm, thông tin liên lạc, hội nghị, khánh tiết, xăng xe Nhóm này mang tínhgián tiếp nhằm duy trì sự hoạt động của bộ máy quản lý của các đơn vị sựnghiệp Do vậy, các khoản chi này đòi hỏi phải chi đúng, chi đủ, kịp thời và cần

sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả Tỷ lệ nhóm chi này thường nằm trong khoảng từ10% đến trên dưới 15% tổng chi thường xuyên của các đơn vị sự nghiệp

- Chi nghiệp vụ chuyên môn (nhóm III)

Bao gồm chi mua hàng hóa, vật tư dùng cho công tác chuyên môn, trangthiết bị kỹ thuật, sách, tài liệu chuyên môn Nhóm này thường chiếm tỷ trọngkhoảng từ trên 30% tổng chi thường xuyên của các đơn vị Đây là nhóm chi thiếtyếu nhất, thể hiện rõ nhu cầu chi tiêu thực tế nên Nhà nước ít khống chế việc sửdụng kinh phí nhóm này

- Chi mua sắm, sửa chữa tài sản cố định (Nhóm IV)

Hàng năm, do nhu cầu hoạt động, do sự xuống cấp tất yếu của các tài sản cốđịnh dùng cho hoạt động chuyên môn cũng như quản lý nên thường phát sinhnhu cầu kinh phí để mua sắm, trang bị thêm hoặc phục hồi giá trị sử dụng chonhững tài sản đã bị xuống cấp Đây là những khoản chi mà các đơn vị sự nghiệpthường quan tâm vì chúng làm thay đổi bộ mặt của các đơn vị và làm thay đổicông nghệ khoa học kỹ thuật theo hướng phát triển từng giai đoạn Tùy theo tìnhhình cụ thể của mỗi đơn vị, khoản chi này thường chiếm khoảng trên dưới 10%trong tổng chi thường xuyên nhằm các mục tiêu duy trì và phát triển cơ sở vậtchất, duy trì và phát triển tiện nghi làm việc, duy trì và phát triển trang thiết bị,duy trì và phát triển kiến thức, kỹ năng của cán bộ công nhân viên

Trang 22

Khi thực hiện các khoản chi nêu trên phải đảm bảo quy trình chi chấp hànhđúng quy chế tài chính của Chính phủ và quy chế chi tiêu nội bộ Phải đảm bảochứng từ chi hợp lệ, hợp pháp theo luật định

Trong thực tiễn, các ĐVSN có nhiều biện pháp quản lý các khoản chi tàichính khác nhau, nhưng các biện pháp quản lý chung nhất là:

- Thiết lập các định mức chi Định mức chi vừa là cơ sở để xây dựng kếhoạch chi, vừa là căn cứ để thực hiện kiểm soát chi của các ĐVSN Các địnhmức chi phải được xây dựng một cách khoa học Từ việc phân loại đối tượngđến trình tự, cách thức xây dựng định mức phải được tiến hành một cách chặtchẽ và có cơ sở khoa học Các định mức chi phải bảo đảm phù hợp với loạihình hoạt động của từng đơn vị

Các định mức chi phải có tính thực tiễn tức là phải phản ánh mức độ phùhợp của các định mức với nhu cầu kinh phí cho các hoạt động Chỉ có như vậy,định mức chi mới trở thành chuẩn mực cho quản lý kinh phí

- Lựa chọn thứ tự ưu tiên cho các loại hoạt động hoặc theo nhóm mục chisao cho với tổng số chi có hạn nhưng khối lượng công việc vẫn hoàn thành và đạtchất lượng cao Để đạt được điều này phải có phương án phân phối và sử dụngkinh phí khác nhau Trên cơ sở đó lựa chọn phương án tối ưu cho cả quá trình lập

dự toán, phân bổ và sử dụng kinh phí

- Xây dựng quy trình cấp phát các khoản chi chặt chẽ, hợp lý nhằm hạn chếtối đa những tiêu cực nảy sinh trong quá trình cấp phát, tạo điều kiện thuận lợicho việc kiểm soát chi của các cơ quan có thẩm quyền

- Thực hiện công tác kiểm tra và kiểm soát nhằm ngăn chặn những biểuhiện tiêu cực trong việc sử dụng nguồn kinh phí của Nhà nước, đồng thờiqua công tác này phát hiện những bất hợp lý trong chế độ, chính sách nhằm

bổ sung hoàn thiện chúng

2.1.3.4 Quản lý tài sản

Đơn vị sự nghiệp thực hiện quản lý tài sản theo quyết định số202/2006/QĐ-TTg ngày 31/12/2006 của Chính phủ về việc ban hành quy chếquản lý tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập Cụ thể như sau:

Nguồn kinh phí đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản trong đơn vị sự nghiệp bao gồm:

- Kinh phí do NSNN cấp;

Trang 23

- Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, Quỹ phúc lợi;

- Vốn viện trợ, tài trợ, biếu, tặng cho và các dự án đơn vị được tiếp nhậntheo quy định của pháp luật;

- Nguồn vốn thu từ bán chuyển nhượng tài sản của đơn vị được phép sửdụng theo quy định của pháp luật;

- Các ngồn thu khác từ hoạt động sự nghiệp của đơn vị được phép sửdụng;

- Các nguồn vốn huy động, liên doanh liên kết theo quy định của pháp luật;Đơn vị sự nghiệp đảm bảo toàn bộ chi phí và đơn vị tự đảm bảo một phần chiphí hoạt động được sử dụng các nguồn kinh phí như trên để đầu tư xây dựng mua sắmtài sản theo kế hoạch, dự toán, dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt Riêng đốivới tài sản trang bị thêm để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ của đơn

vị không được sử dụng từ nguồn kinh phí ngân sách nhà nước cấp

Việc mua sắm tài sản từ nguồn quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, từ vốnhuy động theo chế độ quy định để phục vụ cho hoạt động sự nghiệp hoặc sảnxuất kinh doanh, dịch vụ của đơn vị, thủ trưởng đơn vị sự nghiệp căn cứ vào kếhoạch, dự toán, dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt, tiêu chuẩn định mức sửdụng và nhu cầu cần thiết phục vụ hoạt động của đơn vị để quyết định việc muasắm cho phù hợp, đảm bảo tiết kiệm và hiệu quả

Thủ trưởng đơn vị tự đảm bảo toàn bộ chi phí và đơn vị tự đảm bảo mộtphần chi phí hoạt động được quyết định dùng tài sản đã đầu tư, mua sắm từ quỹphát triển hoạt động sự nghiệp, từ các nguồn huy động để góp vốn liên doanh,liên kết với tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo kế hoạch, dự toán, dự ánliên doanh, liên kết đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và phải phù hợpvới chức năng, nhiệm vụ, khả năng của đơn vị và hỗ trợ cho hoạt động sự nghiệp,không làm ảnh hưởng đến chức năng, nhiệm vụ do cơ quan nhà nước có thẩmquyền giao cho đơn vị phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật

Đơn vị sự nghiệp được dùng tài sản mua sắm từ nguồn quỹ phát triển hoạtđộng sự nghiệp và từ nguồn vốn huy động, để thế chấp vay vốn phục vụ cho hoạtđộng sự nghiệp hoặc hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị

Tài sản cố định sử dụng cho sản xuất kinh doanh, dịch vụ và tài sản cố địnhđược dùng để góp vốn liên doanh, liên kết theo quy định của cơ quan nhà nước cóthẩm quyền, được trích khấu hao tài sản cố định theo chế độ quản lý, sử dụng và trích

Trang 24

khấu hao tài sản cố định theo quy định áp dụng cho các doanh nghiệp nhà nước.Toàn bộ tiền trích khấu hao tài sản của nhà nước được dùng vào hoạt độngsản xuất kinh doanh, dịch vụ, liên kết, đơn vị được giữ lại để bổ sung vào quỹphát triển hoạt động sự nghiệp để sử dụng tái tạo lại tài sản, đầu tư xây dựng cơ

sở vật chất, đổi mới trang thiết bị Số tiền trích khấu hao từ tài sản đầu tư, muasắm từ nguồn vốn huy động được dùng để trả nợ vay, trường hợp đã trả đủ nợvay được bổ sung vào quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp của đơn vị

Tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp phải được quản lý, sử dụng đúng mụcđích, tiêu chuẩn, chế độ, đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả để phục vụ công tác và cáchoạt động của đơn vị Quyết định số 202/2006/QĐ-TTg ngày 31/12/2006 củaChính phủ về việc ban hành quy chế quản lý tài sản nhà nước tại các đơn vị sựnghiệp công lập

Để thực hiện được các hoạt động sự nghiệp, các đơn vị sự nghiệp có thu phải

có tài sản đưa vào sử dụng trong quá trình hoạt động Trong quá trình sử dụng phảibảo toàn tài sản và khai thác tối đa hiệu năng công suất thiết kế của máy móc, thiết

bị, nghĩa là phải có chế độ quản lý tài sản thích hợp với từng loại tài sản Thôngthường, việc quản lý tài sản của đơn vị do một phòng hoặc một ban chuyên tráchthực hiện Bộ phận chuyên trách thiết lập kế hoạch tăng giảm tài sản hằng năm,theo dõi tài sản trong quá trình sử dụng, phân bổ tài sản cho các bộ phận trong nội

bộ đơn vị Việc quản lý tài sản luôn thực hiện trên hai phương diện: quản lý vềhiện vật để có kế hoạch sử dụng hợp lý, khai thác tối đa hiệu năng sử dụng tài sản

và quản lý về giá trị để thu hồi đủ vốn đã đầu tư vào tài sản

Hằng năm các đơn vị sự nghiệp có thu đều thực hiện kiểm kê tài sản vàocuối hoặc đầu năm tài chính Đối với trường hợp bàn giao, chia tách, sát nhập,giải thể một hay một vài bộ phận theo chủ trương của các đơn vị thì tiến hành lậpbiên bản bàn giao tài sản, biên bản đánh giá lại tài sản (nếu cần) Trong quá trìnhkiểm kê phải ghi chép đầy đủ, kịp thời vào các sổ theo dõi tài sản; xác định rõnguyên nhân hư hỏng mất mát, đề xuất biện pháp xử lý tài sản Bên cạnh đó, phảithực hiện kiểm tra và báo cáo hiệu suất sử dụng tài sản để có định hướng tái đầu

tư, điều chuyển, thanh lý tài sản kịp thời

Tất cả TSCĐ được quản lý tập trung, một phần TSCĐ được giao về cho các

bộ phận trực tiếp sử dụng quản lý đồng thời với đơn vị Trưởng các bộ phậnthường xuyên nắm bắt tình hình tài sản thuộc phạm vi quản lý, giao nhiệm vụ rõ

Trang 25

ràng cho các các bộ phân chuyên môn và cá nhân phụ trách; thường xuyên đônđốc kiểm tra việc thi hành các chế độ báo cáo, kiểm kê TSCĐ định kỳ hoặc saukhi xảy ra sự cố để có hướng giải quyết kịp thời.

Khi mua sắm TSCĐ đều thực hiện đúng theo quy trình mua sắm máy mócthiết bị do các đơn vị ban hành TSCĐ được phân loại thống kê, đánh số (số hiệutài sản), theo dõi chi tiết và được phản ánh trong sổ theo dõi TSCĐ Mọi việctăng giảm, điều chuyển TSCĐ ở bộ phận nào đều phải có hồ sơ gửi bộ phận quản

lý tài sản để cùng phối hợp ghi sổ theo dõi tài sản

Giá trị TSCĐ được ghi theo nguyên giá tại thời điểm hình thành domua sắm; hoặc đầu tư xây dựng; hoặc điều chuyển đến; hoặc được biếutặng Những TSCĐ đã khấu hao hết những vẫn sử dụng được trong hoạtđộng của đơn vị thì không ghi giảm trong sổ theo dõi TSCĐ và tiếp tụcquản lý cho đến khi điều chuyển hoặc thanh lý

Trong quá trình sử dụng, khi có cải tạo, nâng cấp, sửa chữa lớn, đánh giá lạiTSCĐ, tháo dỡ một phần TSCĐ phải lập biên bản ghi rõ các căn cứ thay đổi vàxác định lại các chỉ tiêu nguyên giá, giá trị còn lại, số hao mòn lũy kế của TSCĐtrên sổ kế toán và hạch toán theo quy định hiện hành

TSCĐ được hình thành từ viện trợ, các chương trình hay dự án, tài sản tựchế tạo hoặc được biếu tặng nếu chưa xác định được nguyên giá thì khi đưa vào

sử dụng phải thành lập Hội đồng/Tổ định giá tài sản hoặc thuê đơn vị có tư cáchpháp nhân thẩm định giá trị tài sản để xác định nguyên giá TSCĐ

TSCĐ hình thành từ nguồn viện trợ không hoàn lại phải có sổ sách theo dõitừng dự án từ khi nhận về đến khi kết thúc dự án Khi kết thúc dự án, Ban quản lý

dự án có trách nhiệm bảo quản tài sản và hồ sơ của tài sản theo nguyên trạng chođến khi bàn giao cho đơn vị tiếp nhận hoặc hoàn thành việc bán thanh lý tài sảntheo quyết định của cấp có thẩm quyền

Nếu TSCĐ có giá trị lớn và nhiều bộ phận cùng sử dụng thì sẽ giao cho một bộphận trong các bộ phận đó để tổ chức sử dụng và quản lý Đối với loại TSCĐ mà một

bộ phận sử dụng không hết công suất hoặc không sử dụng trong giai đoạn còn tínhkhấu hao thì điều chuyển đến bộ phận khác có nhu cầu sử dụng hoặc bố trí thêm bộphận sử dụng chung để khai thác tối đa công suất thiết kế của TSCĐ

Trang 26

2.1.4 Nội dung quản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu

2.1.4.1 Xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ

Theo tinh thần Nghị định 43/2006/NĐ-CP của chính phủ các đơn vị sựnghiệp công lập phải xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ để làm căn cứ triển khaithực hiện cơ chế tự chủ tài chính Đây cũng là căn cứ để các cơ quan quản lý Nhànước (cơ quan chủ quản, Kho bạc…) giám sát hoạt động tài chính của đơn vịtheo tinh thần tự chủ tài chính do nhà nước chủ trương

a Mục đích xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ

Quy chế chi tiêu nội bộ có các mục đích như sau:

- Tạo quyền chủ động trong việc quản lý và chi tiêu tài chính cho Thủtrưởng đơn vị; Tạo quyền chủ động cho cán bộ, viên chức trong đơn vị hoànthành nhiệm vụ được giao;

- Là căn cứ để quản lý, thanh toán các khoản chi tiêu trong đơn vị; Thựchiện kiểm soát của Kho bạc nhà nước, cơ quan quản lý cấp trên, cơ quan tàichính và các cơ quan thanh tra, kiểm toán theo quy định; Sử dụng tài sản đúngmục đích, hiệu quả; Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí;

- Tạo sự công bằng trong đơn vị, khuyến khích tăng thu, tiết kiệm chi, tăngthu nhập cho cán bộ viên chức, thu hút và giữ được những người có năng lựctrong đơn vị

b Nguyên tắc, nội dung và phạm vi xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ

- Quy chế chi tiêu nội bộ do Thủ trưởng đơn vị sự nghiệp ban hành sau khi

tổ chức thảo luận rộng rãi dân chủ, công khai trong đơn vị và có ý kiến thốngnhất của tổ chức công đoàn đơn vị Quy chế chi tiêu nội bộ phải gửi cơ quanquản lý cấp trên, cơ quan tài chính cùng cấp để theo dõi giám sát thực hiện; gửiKho bạc nhà nước nơi đơn vị mở tài khoản giao dịch để làm căn cứ kiểm soátchi Trường hợp có các quy định không phù hợp với quy định của Nhà nước thìtrong thời gian 15 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo, cơ quan quản lý cấp trên

có ý kiến yêu cầu đơn vị phải điều chỉnh lại cho phù hợp; đồng thời gửi cơ quantài chính cùng cấp và Kho bạc nhà nước nơi đơn vị mở tài khoản giao dịch

- Nội dung quy chế chi tiêu nội bộ bao gồm các quy định về chế độ, tiêuchuẩn định mức, mức chi thống nhất trong đơn vị, đảm bảo hoàn thành nhiệm vụđược giao, phù hợp với hoạt động đặc thù của đơn vị, sử dụng kinh phí tiết kiệm

có hiệu quả và tăng cường công tác quản lý

Trang 27

- Đối với nội dung chi thuộc phạm vi xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ (chiquản lý, chi nghiệp vụ thường xuyên) đã có chế độ tiêu chuẩn, định mức do cơquan nhà nước có thẩm quyền quy định:

Đối với đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động và đơn vị sự nghiệp

tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động: Thủ trưởng đơn vị được quyết định mứcchi quản lý và chi nghiệp vụ cao hơn hoặc thấp hơn mức chi do cơ quan nhànước có thẩm quyền quy định

Đối với đơn vị sự nghiệp do ngân sách nhà nước cấp không vượt quá mứcchi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định

Đối với những nội dung chi, mức chi cần thiết cho hoạt động của đơn vị,trong phạm vi xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, nhưng cơ quan nhà nước cóthẩm quyền chưa ban hành thì Thủ trưởng đơn vị có thể xây dựng mức chi chotừng nhiệm vụ, nội dung công việc trong phạm vi nguồn tài chính của đơn vị.Đối với một số tiêu chuẩn, định mức và mức chi các đơn vị sự nghiệp phảithực hiện đúng các quy định của Nhà nước: Tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô;Tiêu chuẩn, định mức về nhà làm việc; Tiêu chuẩn, định mức trang bị điện thoạicông vụ tại nhà riêng và điện thoại di động; Chế độ công tác phí nước ngoài; Chế độtiếp khách nước ngoài và hội thảo quốc tế ở Việt Nam; Chế độ quản lý, sử dụngkinh phí các chương trình mục tiêu quốc gia; Chế độ sử dụng kinh phí thực hiệnnhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao; Chế độ chính sách thực hiện tinhgiảm biên chế; Chế độ quản lý, sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản, kinh phí muasắm, sửa chữa lớn tài sản cố định phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp

có thẩm quyền phê duyệt; Riêng kinh phí thực hiện các nhiệm vụ khoa học và côngnghệ cấp nhà nước, cấp bộ, ngành theo hướng dẫn của Bộ tài chính - Bộ khoa học

và công nghệ

Thủ trưởng đơn vị căn cứ tính chất công việc, khối lượng sử dụng, tình hìnhthực hiện năm trước, quyết định phương thức khoán chi phí cho từng cá nhân, bộphận, đơn vị trực thuộc hạch toán phụ thuộc sử dụng như: sử dụng văn phòngphẩm, điện thoại, xăng xe, điện nước, công tác phí, kinh phí tiết kiệm do thựchiện khoán được xác định chênh lệch thu, chi và được phân phối, sử dụng theochế độ quy định

c Cơ sở pháp lý xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ

Việc xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị phải dựa trên các cơ sở

Trang 28

pháp lý dưới đây:

Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ về việc quyđịnh quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức máy, biênchế và tài chính đối với sự nghiệp công lập

Quyết định số 19/2006/QĐ-BTC ngày 30/3/2006 của Bộ trưởng Bộ Tàichính về việc ban hành Chế độ Kế toán hành chính sự nghiệp

Thông tư số 185/2010/TT-BTC ngày 15 tháng 11 năm 2010 hướng dẫn sửađổi bổ sung chế độ kế toán hành chính sự nghiệp ban hành kèm theo Quyết định

số 19/2006/QĐ-BTC ngày 30/3/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính

Thông tư số 71/2006/TT-BTC ngày 9/8/2006 và Thông tư số BTC ngày 24/9/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịutrách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối vớiđơn vị sự nghiệp công lập

113/2007/TT-Thông tư 81/2006/TT-BTC ngày 6/9/2006 của Bộ Tài chính hướng chế độkiểm soát chi đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện quyền tự chủ, tựchịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế về tài chính

2.1.4.2 Lập dự toán thu chi

Đây là quá trình phân tích, đánh giá giữa khả năng và nhu cầu cácnguồn tài chính để xây dựng các chỉ tiêu thu, chi tài chính hằng năm của đơn

vị một cách đúng đắn, có căn cứ khoa học và thực tiễn Các đơn vị sự nghiệp

có thu khi lập dự toán thu chi tài chính của đơn vị mình cần căn cứ vào địnhmức, chế độ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định, căn cứ vào nhiệm

vụ được giao của đơn vị năm kế hoạch Việc lập dự toán có thể được thựchiện theo một trong hai phương pháp: phương pháp lập dự toán dựa trên cơ

sở quá khứ, dựa vào kết quả hoạt động thực tế của năm trước liền kề, có điềuchỉnh theo tỷ lệ tăng trưởng và tỷ lệ lạm phát dự kiến và phương pháp lập dựtoán dựa trên cơ sở nhiệm vụ, mục tiêu hoạt động trong năm kế hoạch Đốivới các đơn vị sự nghiệp có thu, dự toán chi có thể được xác định dựa trên cơ

sở phân chia các nhóm mục chi (chi cho con người hay chi thanh toán cho cánhân; chi nghiệp vụ chuyên môn; chi cho mua sắm, sửa chữa tài sản; và cáckhoản chi khác) và tiến hành tính toán số chi thường xuyên cho từng nhóm mụcchi cụ thể

Trang 29

Mục đích của việc lập dự toán phải đảm bảo: Cung cấp thông tin về toàn bộ

kế hoạch kinh doanh một cách có hệ thống; thực hiện các mục tiêu đã đề ra; làcăn cứ đánh giá thực hiện; dự báo khi có tiềm ẩn; liên kết toàn bộ các hoạt độngcủa đơn vị; tạo động lực khuyến khích nhân viên

- Căn cứ lập dự toán thu, chi hàng năm:

+ Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng, an ninh;+ Những nhiệm vụ cụ thể của từng đơn vị sự nghiệp có thu;

+ Chế độ thu, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách, thông tư hướngdẫn của nhà nước, quy định nội bộ của đơn vị sự nghiệp có thu;

+ Tình hình thực hiện dự toán thu, chi năm trước;

- Thời hạn lập dự toán: Căn cứ chỉ thị, hướng dẫn của cơ quan cấp trên vềthời hạn lập dự toán thu, chi và thông báo số kiểm tra về dự toán thu, chi;

Việc lập dự toán được thực hiện căn cứ vào các quy định tại Điều 37của Luật NSNN Việt Nam và Điều 30 của Nghị định số 60/2003/NĐ-CP, cụthể như sau:

- Lập dự toán thu, chi thường xuyên:

+ Dự toán thu: Đơn vị căn cứ vào đối tượng thu, mức thu và tỷ lệ được

để lại chi theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền lập dự toán cáckhoản thu phí, lệ phí; căn cứ vào kế hoạch hoạt động dịch vụ và mức thu dođơn vị quyết định hoặc theo hợp đồng đơn vị đã ký kết để lập dự toán thu đốivới các khoản thu sự nghiệp

+ Dự toán chi: Đơn vị thực hiện lập dự toán chi tiết cho từng loại nhiệm vụtheo quy định như: chi thường xuyên thực hiện chức năng, nhiệm vụ nhà nướcgiao; chi phục vụ cho công tác hoạt động sự nghiệp và chi hoạt động dịch vụ

- Lập dự toán các khoản chi không thường xuyên: đơn vị lập dự toán theotừng nhiệm vụ chi theo quy định

Dự toán thu, chi của đơn vị phải có thuyết minh cơ sở tính toán, chi tiếttheo từng nội dung thu, chi gửi cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp để xem xéttổng hợp gửi cơ quan chủ quản theo quy định của pháp luật

- Đối với dự toán thu, chi hoạt động thường xuyên: căn cứ vào quy địnhcủa nhà nước để lập dự toán thu, chi hoạt động thường xuyên của năm kếhoạch Trong đó: kinh phí NSNN đảm bảo hoạt động thường xuyên theo mức

Trang 30

kinh phí NSNN đảm bảo hoạt động năm trước liền kề, cộng (+) hoặc trừ (-)kinh phí của nhiệm vụ tăng hoặc giảm của năm kế hoạch do cơ quan có thẩmquyền quyết định.

- Đối với dự toán chi không thường xuyên: lập dự toán theo từng nhiệm vụđược giao và theo quy định hiện hành

2.1.4.3 Tổ chức thực hiện và chấp hành dự toán thu chi tài chính

- Thực hiện dự toán là khâu quan trọng trong quá trình quản lýtài chính Đây là quá trình vận dụng tổng hợp các biện pháp kinh tế tài chính

và hành chính nhằm biến các chỉ tiêu thu, chi tài chính trong dự toán của đơn

vị thành hiện thực Tổ chức thực hiện dự toán là nhiệm vụ của tất cả cácphòng, ban, các bộ phận trong đơn vị, việc thực hiện dự toán diễn ra trong mộtniên độ ngân sách (từ 01/01 đến 31/12 hàng năm)

Các đơn vị sự nghiệp có thu căn cứ vào dự toán được giao, triển khai thựchiện, đưa ra các biện pháp cần thiết để đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ thu, chiđược giao; đồng thời có kế hoạch sử dụng kinh phí ngân sách theo đúng mụcđích, chế độ, tiết kiệm và có hiệu quả

Sau khi được cơ quan chủ quản giao dự toán thu, chi hoạt động thườngxuyên và dự toán các khoản chi không thường xuyên, các đơn vị triển khai thựchiện kế hoạch tài chính của đơn vị mình

Đối với các khoản chi thường xuyên được cấp có thẩm quyền giao, cácđơn vị được điều chỉnh nội dung chi cho phù hợp với tình hình thực tế của đơn vịmình; đồng thời gửi cơ quan cấp trên và Kho bạc nhà nước nơi đơn vị mở tàikhoản giao dịch để theo dõi quản lý, thanh toán và quyết toán

Trên cơ sở dự toán ngân sách được giao, các đơn vị sự nghiệp tổ chức triểnkhai thực hiện, đưa ra các biện pháp cần thiết đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụthu chi được giao đồng thời phải có kế hoạch sử dụng kinh phí ngân sách theođúng mục đích, chế độ, tiết kiệm và có hiệu quả

- Chấp hành dự toán chi ngân sách nhà nước: Để theo dõi quá trình chấphành dự toán thu chi, các đơn vị sự nghiệp cần tiến hành theo dõi chi tiết, cụ thểtừng nguồn thu, từng khoản chi trong kỳ của đơn vị Được tự chủ thực hiện nhiệm

vụ thu đúng, thu đủ theo mức thu và đối tượng thu do cơ quan nhà nước có thẩmquyền quy định Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định khungmức thu, đơn vị căn cứ nhu cầu chi phục vụ cho hoạt động, khả năng đóng góp của

Trang 31

xã hội để quyết định mức thu cụ thể cho phù hợp với từng loại hoạt động, từng đốitượng, nhưng không được vượt quá khung mức thu do cơ quan có thẩm quyền quyđịnh Đối với những hoạt động dịch vụ theo hợp đồng với các tổ chức, cá nhântrong và ngoài nước, các hoạt động liên doanh, liên kết, đơn vị được quyết địnhcác khoản thu, mức thu cụ thể theo nguyên tắc bảo đảm đủ bù đắp chi phí và cótích luỹ.

- Các căn cứ tổ chức thực hiện và chấp hành dự toán thu chi tài chính:

Một là, dựa vào định mức chi được duyệt của từng chỉ tiêu trong dự toán.

Đây là căn cứ mang tính quyết định nhất trong quá trình tổ chức thực hiện vàchấp hành dự toán chi ngân sách nhà nước, bởi vì hầu hết các nhu cầu chi đã cóđịnh mức, tiêu chuẩn và đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt vàthông qua

Hai là, dựa vào khả năng nguồn kinh phí có thể dành cho nhu cầu chi ngân

sách nhà nước trong mỗi kỳ báo cáo Chi thường xuyên của ngân sách nhà nướcluôn bị giới hạn bởi khả năng huy động của các nguồn thu Mặc dù các khoản chithường xuyên đã được ghi trong dự toán nhưng khi số thu không đảm bảo vẫn phảicắt giảm một phần nhu cầu chi tiêu Đây là một trong những giải pháp thiết lập lại sựcân đối giữa thu và chi ngân sách nhà nước trong quá trình tổ chức thực hiện vàchấp hành dự toán

Ba là, dựa vào các chế độ, chính sách chi ngân sách nhà nước hiện hành.

Đây là căn cứ mang tính pháp lý cho công tác tổ chức thực hiện và chấp hành dựtoán chi ngân sách nhà nước, bởi vì tính hợp lý của các khoản chi sẽ được xemxét dựa trên cơ sở các chính sách, chế độ của Nhà nước đang có hiệu lực thihành Để làm được điều đó các chính sách, chế độ phải phù hợp với thực tiễn

2.1.4.4 Kiểm tra, kiểm soát thu chi tài chính

Việc thực hiện kế hoạch không phải bao giờ cũng đúng như dự kiến Dovậy đòi hỏi phải có sự kiểm tra, kiểm soát thường xuyên để phát hiện sai sót, uốnnắn và đưa công tác quản lý tài chính đi vào nề nếp Việc kiểm tra giúp đơn vịnắm được tình hình quản lý tài chính nhằm đảm bảo hiệu quả đầu tư

Cùng với việc kiểm tra, kiểm soát công tác đánh giá rất được coi trọngtrong quá trình quản lý tài chính Đánh giá để xem việc gì đạt hiệu quả, nhữngviệc gì không đạt hiệu quả gây lãng phí để có biện pháp động viên kịp thời cũngnhư rút kinh nghiệm quản lý

Trang 32

- Sau mỗi quý, năm ngân sách, đơn vị sự nghiệp lập báo cáo quyết toánquý, quyết toán năm gửi cơ quan quản lý cấp trên theo quy định Quyết toán thu,chi tài chính là quá trình kiểm tra, tổng hợp số liệu về tình hình chấp hành dựtoán trong kỳ báo cáo và là cơ sở để phân tích, đánh giá kết quả chấp hành dựtoán để từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho các kỳ tiếp theo.

Trong quá trình thực hiện chu trình quản lý ngân sách tại các đơn vị sựnghiệp, việc kiểm tra kiểm soát cần được thực hiện một cách thường xuyên, liêntục trong suốt chu trình ngân sách Kiểm soát chi của các đơn vị sự nghiệp đượcKBNN thực hiện theo quy định hiện hành Đồng thời, các đơn vị có trách nhiệm

tự kiểm tra tình hình thực hiện các nhiệm vụ thu, chi ngân sách của mình; các cơquan chủ quản và cơ quan nhà nước có liên quan thực hiện việc kiểm tra, thanhtra các hoạt động thu, chi của các đơn vị theo quy định

Thủ trưởng các đơn vị dự toán cấp trên có trách nhiệm kiểm tra và duyệtquyết toán thu, chi ngân sách của các đơn vị trực thuộc, chịu trách nhiệm theodõi các khoản chi thường xuyên của NSNN

Công tác kiểm soát chi là nhiệm vụ của tất cả các đơn vị Luật Ngân sáchNhà nước qui định chi ngân sách chỉ được thực hiện khi có đủ các điều kiện:

+ Đã có trong dự toán được duyệt;

+ Đúng chế độ tiêu chuẩn định mức do cơ quan nhà nước có thẩm quyềnquy định;

+ Đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người ủy quyền chuẩn chi

2.1.4.5 Hạch toán kế toán và quyết toán thu chi

Các tổ chức, cá nhân có nhiệm vụ thu, chi tài chính phải tổ chức hạchtoán kế toán, báo cáo và quyết toán tài chính theo đúng chế độ kế toán nhànước đã ban hành

Công tác quyết toán là khâu cuối cùng của quá trình sử dụng kinh phí.Đây là quá trình phản ánh đầy đủ các khoản chi và báo cáo quyết toán ngânsách theo đúng chế độ báo cáo về biểu mẫu, thời gian, nội dung và các khoảnchi tiêu Trên cơ sở các số liệu báo cáo quyết toán có thể đánh giá hiệu quảphục vụ chính của các đơn vị sự nghiệp có thu, đánh giá tình hình thực hiện kếhoạch đồng thời rút ra ưu, khuyết điểm của từng bộ phận trong quá trình quản

lý để làm cơ sở cho việc lập kế hoạch của năm sau

Công tác quyết toán được diễn ra tốt cần đảm bảo các yêu cầu sau:

Trang 33

- Tổ chức bộ máy kế toán theo quy định nhưng đảm bảo tinh giản, gọn nhẹ,linh hoạt và hiệu quả.

- Mở sổ sách theo dõi đầy đủ và đúng quy định

- Ghi chép cập nhật, phản ánh kịp thời và chính xác

- Thường xuyên tổ chức đối chiếu, kiểm tra

- Số liệu trong báo cáo phải đảm bảo tính chính xác, trung thực Nội dungcác báo cáo tài chính phải theo đúng nội dung ghi trong dự toán được duyệt vàtheo đúng mục lục ngân sách nhà nước quy định

- Cuối kỳ báo cáo theo mẫu biểu thống nhất và xử lý những trường hợp tráivới chế độ để tránh tình trạng sai sót

- Thực hiện báo cáo quý sau 15 ngày và báo cáo năm sau 45 ngày theo quyđịnh của Nhà nước

- Quy trình thực hiện quyết toán: (Thực hiện theo Điều 70, Nghị định số60/2003/NĐ-CP)

Sau khi năm ngân sách kết thúc, các đơn vị có các hoạt động chi ngân sáchnhà nước tiến hành lập quyết toán thu chi trong phạm vi đơn vị mình, số liệuquyết toán được đối chiếu với Kho bạc nhà nước nơi đơn vị giao dịch xác nhận,sau đó gửi cơ quan tài chính thẩm tra xét duyệt

2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu

2.1.5.1 Nhân tố bên trong

a, Tổ chức bộ máy quản lý tài chính

Thông thường bộ máy quản lý tài chính được tổ chức thành một tổ chuyênmôn đối với đơn vị có quy mô hoạt động nhỏ hoặc bố trí thành Phòng nghiệp vụvới quy mô hoạt động của đơn vị là lớn Bộ phận quản lý tài chính được tổ chứctrực thuộc sự điều hành trực tiếp từ Ban Giám đốc Đây là bộ phận lưu trữ, nắmbắt mọi hoạt động tài chính diễn ra trong Ban giúp cho quá trình kiểm tra giámsoát được thực hiện liên tục Tạo cơ sở tham mưu, tư vấn cho Ban Giám đốc khi

ra quyết định tài chính, hoặc quyết định hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm

vụ chính trị được giao

Đơn vị sự nghiệp có thu cũng là một dạng tổ chức giống như Doanh nghiệpnên bộ máy quản lý tài chính được tổ chức theo một cơ cấu rõ ràng, có phân công,

Trang 34

phân nhiệm vụ cụ thể cho từng bộ phận trong một bộ máy Nếu tổ chức bộ máykhông hợp lý, chồng chéo lẫn nhau sẽ kiềm hãm hay cản trở quá trình thực hiện mụctiêu đề ra Tạo sự chai lì, mai một năng lực làm việc của cán bộ chuyên trách trong

bộ máy quản lý tài chính Nếu tổ chức bộ máy hợp lý sẽ phát huy tính sáng tạo vànăng lực chuyên môn của cán bộ quản lý làm cho các hoạt động trong đơn vị đượcthông suốt trôi chảy

b, Trình độ và năng lực quản lý của cán bộ

Nhân tố chủ quan không kém phần quan trọng ảnh hưởng đến quá trìnhhoàn thiện quản lý tài chính là trình độ và năng lực của cán bộ quản lý cũng nhưcán bộ chuyên trách của bộ máy quản lý tài chính

Mặc dù, ngày nay khoa học công nghệ đã được ứng dụng nhiều vào cáchoạt động văn hóa xã hội nhưng không thể thay thế hoàn toàn lao động củacon người bằng máy móc Con người luôn là yếu tố cốt lõi của mọi vấn đề,bởi nhận thức của con người làm phát sinh quyết định hành động, cách thứcthực hiện quản lý, sáng tạo tri thức mới để giải quyết vấn đề thực tiễn đơngiản hơn, đạt được mục tiêu đề ra nhanh hơn Khi trình độ và năng lực nhậnthức của con người càng cao thì quyết định cũng như hành động càng chínhxác Do đó con người là nhân tố ban của quá trình quản lý, trong đó, trình độcủa cán bộ quản lý là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến tính kịp thời, chính xáccủa các quyết định quản lý và quyết định đến sự thành công hay thất bại củacông tác quản lý Đối với công tác quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp,cán bộ quản lý tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và thực thicác chính sách, chế độ tài chính

Thực tế đã chứng minh, khi đội ngũ CBCNV của một bộ máy có trình độchuyên môn và năng lực phù hợp với yêu cầu công việc thì bộ máy đó hoạt độngrất hiệu quả trong việc xây dựng chính sách, thực thi đúng chủ trương chính sách

đã đề ra, thông tin được xử lý kịp thời, linh hoạt, đạt hiệu quả cao và hướng hoạtđộng của đơn vị tuân thủ đầy đủ các chế độ, các quy định của Nhà nước cũngnhư hoạt động tài chính của đơn vị được quản lý chặt chẽ Người quản lý có trình

độ cao sẽ thiết lập tổ chức bộ máy quản lý tài chính thanh gọn vừa quản lý chặtchẽ vừa tiết kiệm chi phí duy trì hoạt động cho bộ máy quản lý tài chính Ngượclại, khi đội ngũ CBCNV của một bộ máy thiếu kinh nghiệm quản lý, trình độchuyên môn và năng lực yếu kém sẽ dẫn đến sự trì trệ trong quá trình xử lýnhiệm vụ được giao, kéo theo Ban Lãnh đạo của đơn vị không được cung cấp

Trang 35

thông tin cố vấn về tài chính kịp thời Dẫn đến việc ra quyết định không phù hợpvới tình hình tài chính thực tế khiến cho hoạt động của đơn vị bị trì trệ hoặckhông thực hiện được.

Vì vậy để làm tốt công tác quản lý tài chính thì đòi hỏi đội ngũ cán bộquản lý tài chính phải có trình độ chuyên môn cao, có kinh nghiệm trong côngtác quản lý tài chính thì công tác quản lý tài chính mới hiệu quả, đảm bảo khaithác triệt để nguồn thu, đảm bảo kinh phí phục vụ cho việc thực hiện các nhiệm

vụ được giao Đồng thời, đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ chi một cách tiết kiệm,hiệu quả, tránh lãng phí, thất thoát Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ quản lý tài chính

có kinh nghiệm, trình độ chuyên môn cao sẽ xây dựng được chiến lược quản lýtài chính tốt, đưa ra các biện pháp quản lý tài chính hiệu quả và đảm bảo chocông tác quản lý tài chính của đơn vị được thực hiện theo đúng các chế độ quyđịnh, góp phần vào hiệu quả hoạt động chung của toàn đơn vị Ngược lại, đội ngũcán bộ quản lý tài chính thiếu kinh nghiệm, hạn chế về trình độ chuyên môn sẽdẫn đến tình trạng quản lý tài chính thiếu chặt chẽ, gây thất thoát, lãng phí, từ đó,làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động chung của đơn vị

c, Quy định chế độ kiểm tra, kiểm soát nội bộ

Chế độ kiểm tra, kiểm soát là những quy định về chính sách, về cách thức

tổ chức thực hiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt động trong đơn vị để đảm bảo tổchức đó hoạt động hiệu quả, đạt được mục tiêu đặt ra một cách hợp lý

Chế độ kiểm tra, kiểm soát của đơn vị là yếu tố quan trọng trong việc quản

lý tài chính hiệu quả Nếu không kiểm tra, kiểm soát thường xuyên sẽ không thunhận được thông tin phản hồi về đối tượng quản lý; sẽ không nắm bắt kịp thời vàchính xác tình hình hoạt động cũng như tình hình tài chính của đơn vị nên khôngphát hiện những điểm bất hợp lý trong quá trình thực hiện hoạt động tài chính tạiđơn vị

Mặt khác, việc kiểm tra, kiểm soát thường xuyên sẽ kích thích nhân sựlàm việc có trách nhiệm với nhiệm vụ được giao, hạn chế được sự sao lãng trongcông việc nhưng nếu kiểm tra, kiểm soát quá dày có khi dẫn đến sự lãng phí vềnhân lực và vật lực, tạo cảm giác nặng nề giữa các bộ phận có liên quan Chính

vì thế đòi đơn vị phải xây dựng chế độ kiểm tra, kiểm soát hợp lý để nắm bắtthông tin kịp thời, chính xác nhằm kịp thời điều chỉnh, khắc phục những quyếtđịnh quản lý tài chính chưa phù hợp hoặc còn sơ hở trong khâu quản lý; hoặc để

Trang 36

ngăn ngừa những việc sai phạm, sai trái đối với chủ trương của đơn vị và nhữnghành vi vi phạm pháp luật về chính sách, chế độ tài chính - kế toán do Nhà nướcquy định.

Trong chế độ kiểm tra, kiểm soát của một đơn vị cần phải thiết lập hệ thốngkiểm soát nội bộ nhằm phát hiện sớm những sai sót và kịp thời điều chỉnh, giúpđơn vị tránh những sai sót lớn vi phạm chế độ tài chính cũng như chế độ kế toánhiện hành do Nhà nước ban hành Đồng thời, giúp đơn vị nâng cao năng lực thựchiện chức năng, nhiệm vụ được giao Hệ thống kiểm soát nội bộ là mắt xích quantrọng đảm bảo cho đơn vị tuân thủ pháp luật và sử dụng hiệu quả nguồn lực tàichính trong đơn vị

2.1.5.2 Nhân tố bên ngoài

a,Chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước

Đây là nhân tố quyết định nội dung hoạt động của các đơn vị sự nghiệp.Khi nội dung hoạt động thay đổi thì cách thức và phương tiện thực hiện phải thayđổi theo Bởi vậy, cơ chế quản lý tài chính của các đơn vị sự nghiệp phải thayđổi, phải hoàn thiện để đáp ứng nội dung hoạt động của đơn vị

Dễ nhận thấy trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, kinh phí hoạt độngtrong các đơn vị sự nghiệp được ngân sách Nhà nước cấp phát toàn bộ và việc sửdụng những kinh phí này phải theo đúng dự toán Điều tất yếu khi lập dự toán làkhông thể lường hết các khoản gia tăng chi tiêu ngoài dự toán của đơn vị, cụ thểnhư số lượng người dân có nhu cầu sử dụng dịch vụ hay cơ sở vật chất, trangthiết bị kỹ thuật bị hư hỏng do nguyên nhân khách quan, dẫn đến sự mất cân đốitrong thu chi của đơn vị Hơn nữa, Ngân sách Nhà nước có hạn nhưng nhu cầuchi tiêu có khuynh hướng tăng nhiều hơn giảm, biện pháp giải quyết tình trạngmất cân đối này trước mắt phải giảm chi tiêu Nếu giảm chi tiêu cho một trongnhững hoặc toàn bộ các yếu tố như cơ sở vật chất trang bị cho việc phục vụ cáchoạt động chuyên môn nghiệp vụ, giảm lương CBNV, sẽ dễ dàng kéo theo chấtlượng dịch vụ không được đảm bảo

Khi Đảng và Nhà nước có chủ trương thực hiện xã hội hóa các dịch vụcông Thì biện pháp giải quyết tình trạng mất cân đối thu chi trong các đơn vị

sự nghiệp có thu là giao việc quản lý tài chính cho các đơn vị thực hiện Cácđơn vị sự nghiệp phải chủ động tìm nguồn thu ngoài NSNN để trang trải mọichi phí phát sinh trong nội bộ của đơn vị Chủ trương này kết hợp với môitrường pháp lý rõ ràng, chặt chẽ và công bằng đã tạo điều kiện cho các đơn vị

Trang 37

sự nghiệp xây dựng cơ chế quản lý tài chính chủ động, sáng tạo phù hợp vớiluật định và điều kiện hoạt động của đơn vị mình.

Rõ ràng khi chủ trương, đường lối và chính sách của Nhà nước về phát triểnkinh tế xã hội thay đổi thì chế độ tài chính của các đơn vị sự nghiệp cũng phải thayđổi theo, không còn bó hẹp trong phạm vi cấp phát và chi tiêu theo kế hoạch đượcgiao của Nhà nước Nói cách khác đây là nhân tố khách quan quan trọng tác độngđến quá trình hoàn thiện quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp có thu

Bên cạnh đó, để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh đầu tư, hầu hếtcác đơn vị đều phải sử dụng vốn vay Do đó lãi suất tiền vay - chi phí sử dụngvốn trở thành bộ phận cấu thành quan trọng trong chi phí sản xuất kinh doanh vàđầu tư của đơn vị Tuy nhiên lạm phát tăng, lãi suất tiền vay tăng theo cũng làmột khó khăn cho đơn vị về huy động vốn đầu tư Tất cả các nhân tố trên sẽ ảnhhưởng không nhỏ tới hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị cũng như việcnâng cao hiệu quản trị tài chính trong đơn vị

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

Trang 38

2.2.1 Quản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu ở Việt Nam

2.2.2 Ban quản lý dự án tỉnh Thái Bình

Qua khảo sát kinh nghiệm trong quản lý tài chính như sau: Thực hiện Nghịđịnh 43/2006/NĐ-CP ngày 26 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ về quy định quyền

tự chủ, tự chịu trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ tổ chức bộ máy, biên chế và tàichính, Ban quản lý dự án tỉnh Thái Bình đã xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, quychế thu, chi trên cơ sở đã được thảo luận dân chủ, công khai trong cán bộ viênchức toàn đơn vị, có ý kiến tham gia của Công đoàn xây dựng được các quy định

về chế độ, tiêu chuẩn, định mức thu, chi áp dụng thống nhất trong toàn đơn vị, chủđộng quyết định mức chi cao hơn hoặc thấp hơn mức chi do Nhà nước quy địnhcho phù hợp với đặc thù và hoạt động chuyên môn, trong đó có một số nội dung vàđịnh mức khoán như: văn phòng phẩm, công tác phí, tiền điện sinh hoạt, làm việctại văn phòng, hiệu quả, tiết kiệm, từng bước tăng thu nhập cho cán bộ viên chứctrong toàn đơn vị từ nguồn Theo Quyết định số 2396, ngày 7- 9-2016

2.2.2.1 Ban quản lý dự án tỉnh Bắc Ninh

Qua khảo sát kinh nghiệm trong công tác quản lý tài chính cho thấy: Việc

quản lý tài chính của Ban quản lý dự án tỉnh Bắc Ninh là ban hành quy chếquản lý tài chính, quy chế chi tiêu nội bộ, việc thực hiện thu chi đã được Banquản lý dự án tỉnh Bắc Ninh xây dựng trong quy chế tài chính theo hướng dẫncủa Bộ Tài chính, từ đó làm cơ sở kiểm soát chi chặt hơn Để đảm bảo triểnkhai việc thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí, Ban quản lý dự án tỉnh Bắc Ninhban hành các quy định quản lý tài chính cụ thể về mục tiêu, cách thức, biệnpháp thực hiện, quy định rõ, minh bạch về chế độ, tiêu chuẩn, định mức chitiêu về tài chính và việc sử dụng các nguồn lực tài chính làm tăng tính hiệuquả, hiệu lực của các biện pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí Nguồn từquyết định số 169/UB ngày 30/6/1996 của UBND tỉnh Bắc Ninh

2.2.3 Bài học kinh nghiệm trong quản lý tài chính đối với Ban Quản lý các

dự án đầu tư xây dựng Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hà Nội

Từ kinh nghiệm quản lý tài chính của một số quốc gia trên thế giới và một

số Ban quản lý dự án tại Việt Nam, bài học rút ra cho Ban Quản lý các dự án đầu

tư xây dựng Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hà Nội như sau:

- Trong quá trình quản lý tài chính cần kiểm soát chặt chẽ mọi khoản chitiêu, đảm bảo tiết kiệm và hiệu quả

- Xây dựng cơ chế chi tiêu phù hợp với chức năng nhiệm vụ và khả năng

Trang 39

nguồn kinh phí của đơn vị.

- Công tác lập dự toán phải bám sát nhu cầu thực tế, có dự báo trước nhữngkhoản phát sinh trong kế hoạch nhằm đảm bảo nguyên tắc quản lý chi theo đúng

dự toán giao

- Phối hợp chặt chẽ các phòng, các bộ phận trong quá trình quản lý, điềuhành thực hiện dự toán, quyết toán; công tác hoạch toán và quyết toán phải kịpthời, đúng nội dung kinh tế

- Thực hiện phân công, phân cấp nhiệm vụ cụ thể cho từng bộ phận chuyênmôn; tăng cường tính chủ động trong công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra nộibộ

- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát ở tất cả các khâu: Lập dự toán,thực hiện, chấp hành dự toán và quyết toán

Trang 40

PHẦN 3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA BAN QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN ĐÂU TƯ XÂY DỰNG TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Ban Quản lý các dự án đầu tư xây dựng Tài nguyên và môi trường Hà Nội

Ban Quản lý các dự án đầu tư xây dựng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội(gọi tắt là BQL các dự án ĐTXD) là một đơn vị quản lý hành chính trực thuộc SởTài Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, được thành lập theo Quyết định số 3589/QĐ-UBND của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội ký ngày 11 tháng

06 năm 2013 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ chế tài chính của BanQuản lý các dự án ĐTXD được quy định cụ thể:

Vị trí: Ban quản lý các dự án đầu tư xây dựng Tài nguyên và Môi trường

Hà Nội là đơn vị sự nghiệp công lập, có tư cách pháp nhân; có con dấu riêng;được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước và Ngân hàng theo quy định hiện hànhcủa pháp luật

Chức năng: Giúp Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức, quản lý,

triển khai thực hiện các dự án đầu tư, xây dựng công trình về lĩnh vực tài nguyên

và môi trường được UBND Thành phố giao làm chủ đầu tư

Nhiệm vụ và quyền hạn:

- Thực hiện các thủ tục về lập, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt quyhoạch, dự án đầu tư, các thủ tục về giao nhận đất, xin cấp giấy phép xây dựng,chuẩn bị mặt bằng xây dựng và các công việc khác chuẩn bị cho việc xây dựngcông trình

- Chuẩn bị hồ sơ thiết kế, tổng dự toán xây dựng công trình để chủ đầu tư tổchức thẩm định, phê duyệt

- Lập hồ sơ mời thầu, tổ chức lựa chọn nhà thầu, đàm phán ký kết hợp đồngvới nhà thầu

- Thực hiện giám sát thi công công trình

Ngày đăng: 24/02/2018, 14:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w