PHẦN MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT Liên kết sản xuất theo chuỗi trong nông nghiệp từ người sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, tạo đầu ra cho sản phẩm đang là một xu hướng tốt. Qua đây, nhà sản xuất có đầu ra ổn định không bị ảnh hưởng từ biến động thị trường, doanh nghiệp có đầu vào ổn định cho sản xuất, chế biến. Sản phẩm được bảo đảm về chất lượng, truy nguyên được nguồn gốc, an toàn vệ sinh thực phẩm, người tiêu dùng an tâm và nâng cao được giá trị hàng nông sản phẩm. Điều này mang lại lợi ích cho các bên tham gia. Trên thế giới có nhiều nước có các hình thức liên kết trong sản xuất và tiêu thụ các mặt hàng, sản phẩm nông nghiệp như Trung Quốc, Thái Lan, Hàn Quốc… đã mang lại lợi ích và hiệu quả rất thiết thực cho các bên khi tham gia liên kết. Tạo được mối quan hệ gắn kết và khăng khít giữa các bên khi tham gia mối liên kết đó. Tuy nhiên sản xuất và kinh doanh hàng nông sản của nước ta còn thấp vẫn mang nặng tính tự phát, sức cạnh tranh thấp, sự liên kết giữa sản xuất chế biến – tiêu thụ chưa phát triển mạnh. Hoạt động liên kết còn xảy ra tình trạng: doanh nghiệp, hộ nông dân chưa thực sự gắn bó và thực hiện đúng cam kết đã ký, tỷ lệ nông sản hàng hóa được tiêu thụ thông qua hợp đồng còn thấp, doanh nghiệp chưa quan tâm đầu tư tới vùng nguyên liệu, chưa điều chỉnh kịp thời hợp đồng bảo đảm hài hòa lợi ích của nông dân khi có biến động về giá cả. Trong một số trường hợp, nông dân không bán nông sản cho doanh nghiệp, xử lý vi phạm hợp đồng không kịp thời và chưa triệt để, tình trạng tranh mua, tranh bán vẫn xảy ra khi đã có hợp đồng. Các bên tham gia hợp đồng đang thiếu sự hỗ trợ của các ngành liên quan như Viện nghiên cứu, Trung tâm khuyến nông... Do vậy hiệu quả kinh tế của hình thức hợp đồng và liên kết còn nhiều hạn chế, chưa đủ điều kiện tạo ra động lực thúc đẩy các doanh nghiệp và nông dân hăng hái tham gia liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản phẩm. Sản xuất nông sản, đặc biệt là ngô nếp ngọt ở địa bàn huyện Kim Động đang phát triển rất mạnh mẽ, sản phẩm của người dân có đầu ra tương đối ổn định nhờ mối liên kết với công ty Cổ phần giống cây trồng Trung ương. Công ty Cổ phần giống cây trồng Trung ương là một đơn vị sản xuất và kinh doanh có hiệu quả hàng đầu về các mặt hàng nông sản như lúa, ngô, rau, dưa lưới, cà chua... Mối liên kết này đã mang lại những kết quả và lợi ích cho cả hai bên. Tuy nhiên, một số yếu tố như: thị trường, giá cả, các bên tham gia liên kết, tình trạng tranh mua, tranh bán, phá vỡ hợp đồng... vẫn diễn ra gây ảnh hưởng không tốt tới mối liên kết gây thiệt hại cho các bên. Chính vì vậy để nghiên cứu cụ thể về mối liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ngô nếp ngọt ở địa phương tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu mối liên kết trong sản xuất – tiêu thụ sản phẩm ngô nếp ngọt của nông dân với Công ty Cổ phần Giống cây trồng trung ương trên địa bàn huyện Kim Động – Hưng yên” 2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU + Mục tiêu chung Trên cơ sở đánh giá thực trạng mối liên kết giữa hộ nông dân tại Kim Động với công ty CPGCT Trung ương trong sản xuất tiêu thụ đối với sản phẩm ngô nếp ngọt, đưa ra các giải pháp nhằm củng cố và phát triển liên kết giữa hộ nông dân và Công ty Cổ phần giống cây trồng Trung ương. + Mục tiêu cụ thể Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ngô ngọt của nông dân và công ty. Đánh giá thực trạng mối liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ngô nếp ngọt của nông dân trên địa bàn Kim Động – Hưng Yên với Công ty Công ty Cổ phần giống cây trồng Trung ương. Đề xuất giải pháp nhằm tăng cường liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ngô nếp ngọt của nông dân với Công ty trong thời gian tới. 3. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Hiện trạng sử dụng giống ngô nếp ngọt tại địa phương như thế nào? Có bao nhiêu giống được người dân sản xuất? Các giống ngô nếp ngọt trên do các công ty nào cung cấp? Thị phần của các công ty? Giống ngô nếp ngọt của Công ty giống cây trồng TƯ là giống gì, chất lượng như thế? Sản xuất tại địa phương được bao nhiêu vụ? Ưu điểm của giống ngô nếp ngọt (Vinaseed) so với các giống ngô nếp ngọt của công ty khác là gì? Thực trạng của mối liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ngô nếp ngọt của Công ty Công ty Cổ phần giống cây trồng trung ương và nông dân trên địa bàn Kim Động diễn ra như thế nào? Liên kết giữa nông dân và công ty có hiệu quả không? Người dân có sẵn sàng tham gia liên kết lâu dài? Những yếu tố nào ảnh hưởng tới mối liên kết đó? Trong thời gian tới cần thực hiện liên kết giữa nông dân và Công ty như thế nào để nâng cao hiệu quả sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ngô nếp ngọt? 4. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Nghiên cứu mối liên kết trong sản xuất tiêu thụ sản phẩm ngô nếp ngọt của nông dân trên địa bàn huyện Kim Động – Hưng Yên với Công ty Cổ phần giống cây trồng trung ương. 5. PHẠM VI NGHIÊN CỨU Nội dung: Nghiên cứu mối liên kết trong sản xuất tiêu thụ sản phẩm ngô nếp ngọt của nông dân với Công ty Cổ phần giống cây trồng trung ương trên địa bàn Kim Động – Hưng Yên. Không gian: Các số liệu được tiến hành thu thập nghiên cứu tại Công ty Cổ phần giống cây trồng trung ương cùng các hộ nông dân tại Kim Động – Hưng Yên. Thời gian: Tổng quan tài liệu được sử dụng số liệu của những năm trước, và khảo sát thực trạng mối liên kết trong 3 năm gần nhất 2014 2016.
Trang 1DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 2MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Danh mục từ viết tắt iii
Mục lục iv
Danh mục bảng vi
Danh mục hình vii
Danh mục sơ đồ viii
Phần mở đầu 1
1 TÍNH CẤP THIẾT 1
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 2
4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 3
5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về mối liên kết trong sản xuất - tiêu thụ sản phẩm ngô nếp ngọt của nông dân với công ty 4
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 4
1.1.1 Các Khái niệm cơ bản 4
1.1.2 Vai trò của liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản 9
1.1.3 Nội dung trong liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm 12
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm 14
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 17
1.2.1 Tình hình liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản của một số nước trên thế giới 17
1.2.2 Tình hình liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản của Việt Nam 20
1.2.3 Bài học rút ra từ hoạt động liên kết 22
1.2.4 Tổng quan một số tài liệu nghiên cứu trước 23
Chương 2 Phương pháp nghiên cứu 26
2.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 26
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên của huyện Kim Động 26
Trang 32.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 30
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 33
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 33
2.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 35
2.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 36
Chương 3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 39
3.1 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT NGÔ NẾP NGỌT CỦA HUYỆN KIM ĐỘNG 39
3.1.1 Diện tích và cơ cấu diện tích một số loại cây trồng 39
3.1.2 Năng suất và sản lượng của một số loại cây trồng 42
3.1.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ ngô nếp ngọt 44
3.2 TÌNH HÌNH LIÊN KẾT SẢN XUẤT – TIÊU THỤ SẢN PHẨM NGÔ NẾP NGỌT 45
3.2.1 Các tác nhân tham gia liên kết 45
3.2.2 Kết quả và hiệu quả liên kết 55
3.2.3 Đánh giá kết quả trong liên kết và tiêu thụ sản phẩm 67
3.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LIÊN KẾT TRONG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM NGÔ NẾP NGỌT 71
3.3.1 Các yếu tố từ hộ nông dân 71
3.3.2 Các yếu tố từ Công ty Cổ phần Giống cây trồng Trung ương 75
3.3.3 Các yếu tố từ nhà nước 78
3.3.3 Các yếu tố khác 79
3.4 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ LIÊN KẾT SẢN XUẤT – TIÊU THỤ NGÔ NẾP NGỌT CỦA HUYỆN KIM ĐỘNG 82
3.4.1 Định hướng phát triển sản xuất – tiêu thụ ngô nếp ngọt của huyện Kim Động và công ty CPGCT Trung ương 82
3.4.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả liên kết 83
Kết luận và kiến nghị 94
1 KẾT LUẬN 94
2 KIẾN NGHỊ 96
Tài liệu tham khảo 97
Phụ lục 99
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Diện tích các xã của huyện Kim Động năm 2016 26
Bảng 2.2 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Kim Động năm 2016 28
Bảng 2.3 Thành phần dinh dưỡng đất huyện Kim Động 29
Bảng 2.4 Tình hình dân số và lao động 30
Bảng 2.5 Kết quả phát triển kinh tế của huyện Kim Động qua các năm (2014-2016) .32
Bảng 2.6 Tổng số mẫu điều tra 34
Bảng 3.1 Diện tích và cơ cấu diện tích cây rau màu của huyện Kim Động đoạn 2014 – 2016 40
Bảng 3.2 Năng suất và sản lượng một số cây trồng của huyện Kim Động giai đoạn 2014-2016 43
Bảng 3.3 Tình hình sản xuất ngô nếp ngọt của huyện Kim Động giai đoạn 2014-2016 .44
Bảng 3.4 Tình hình tiêu thụ ngô nếp ngọt của huyện Kim Động giai đoạn 2014-2016 .45
Bảng 3.5 Tình hình chung của hộ nông dân 3 xã thuộc huyện Kim Động 46
Bảng 3.6 Tình hình cơ bản của công ty năm 2016 51
Bảng 3.7 Hình thức liên kết giữa hộ nông dân và Công ty 52
Bảng 3.8 Căn cứ phân loại ngô nếp ngọt năm 2016 54
Bảng 3.9 Số hộ nông dân tham gia liên kết ở các xã điều tra 56
Bảng 3.10 Kết quả của các hộ được Công ty cung ứng giống, vật tư, kỹ thuật và thu mua sản phẩm 58
Bảng 3.11 Kết quả sản xuất ngô nếp ngọt của hộ đươc Công ty hướng dẫn kỹ thuật và thu mua sản phẩm 60
Bảng 3.12 Số lượng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ngô nếp ngọt của các hộ điều tra .61
Bảng 3.13 Giá trị sản xuất sản phẩm ngô nếp ngọt của các hộ điều tra 62
Bảng 3.14 Kết quả sản xuất kinh doanh ngô nếp ngọt của hộ tính trên 1 sào năm 2016 .63
Bảng 3.15 So sánh kết quả và hiệu quả liên kết sản xuất ngô nếp ngọt 64
Trang 5Bảng 3.16 Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty CTCP Giống cây trồng Trung ương
64Bảng 3.17 Hiểu biết về liên kết của hộ trồng ngô nếp ngọt 72Bảng 3.18 So sánh hiệu quả sản xuất ngô nếp ngọt của các hộ có quy mô khác nhau
74Bảng 3.19 Mức giá và sự chấp nhận của hộ 76
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Ảnh ngô nếp ngọt vụ Thu đông 2016 của HTX Hiệp Cường 42Hình 3.2 Liên kết sản xuất ngô nếp ngọt tăng lợi nhuận, thuận đầu ra 59
Trang 7DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 4.1 Các chủ thể tham gia liên kết 45Biểu đồ 3.1: Cơ cấu tiêu thụ ngô nếp ngọt của hộ nông dân 62
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT
Liên kết sản xuất theo chuỗi trong nông nghiệp từ người sản xuất đến tiêu thụsản phẩm, tạo đầu ra cho sản phẩm đang là một xu hướng tốt Qua đây, nhà sản xuất cóđầu ra ổn định không bị ảnh hưởng từ biến động thị trường, doanh nghiệp có đầu vào ổnđịnh cho sản xuất, chế biến Sản phẩm được bảo đảm về chất lượng, truy nguyên đượcnguồn gốc, an toàn vệ sinh thực phẩm, người tiêu dùng an tâm và nâng cao được giá trịhàng nông sản phẩm Điều này mang lại lợi ích cho các bên tham gia Trên thế giới cónhiều nước có các hình thức liên kết trong sản xuất và tiêu thụ các mặt hàng, sản phẩmnông nghiệp như Trung Quốc, Thái Lan, Hàn Quốc… đã mang lại lợi ích và hiệu quả rấtthiết thực cho các bên khi tham gia liên kết Tạo được mối quan hệ gắn kết và khăng khítgiữa các bên khi tham gia mối liên kết đó
Tuy nhiên sản xuất và kinh doanh hàng nông sản của nước ta còn thấp vẫnmang nặng tính tự phát, sức cạnh tranh thấp, sự liên kết giữa sản xuất - chế biến –tiêu thụ chưa phát triển mạnh Hoạt động liên kết còn xảy ra tình trạng: doanhnghiệp, hộ nông dân chưa thực sự gắn bó và thực hiện đúng cam kết đã ký, tỷ lệnông sản hàng hóa được tiêu thụ thông qua hợp đồng còn thấp, doanh nghiệp chưaquan tâm đầu tư tới vùng nguyên liệu, chưa điều chỉnh kịp thời hợp đồng bảo đảmhài hòa lợi ích của nông dân khi có biến động về giá cả Trong một số trường hợp,nông dân không bán nông sản cho doanh nghiệp, xử lý vi phạm hợp đồng không kịpthời và chưa triệt để, tình trạng tranh mua, tranh bán vẫn xảy ra khi đã có hợp đồng.Các bên tham gia hợp đồng đang thiếu sự hỗ trợ của các ngành liên quan như Việnnghiên cứu, Trung tâm khuyến nông Do vậy hiệu quả kinh tế của hình thức hợpđồng và liên kết còn nhiều hạn chế, chưa đủ điều kiện tạo ra động lực thúc đẩy cácdoanh nghiệp và nông dân hăng hái tham gia liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nôngsản phẩm
Sản xuất nông sản, đặc biệt là ngô nếp ngọt ở địa bàn huyện Kim Động đangphát triển rất mạnh mẽ, sản phẩm của người dân có đầu ra tương đối ổn định nhờmối liên kết với công ty Cổ phần giống cây trồng Trung ương
Công ty Cổ phần giống cây trồng Trung ương là một đơn vị sản xuất và kinhdoanh có hiệu quả hàng đầu về các mặt hàng nông sản như lúa, ngô, rau, dưa lưới,
cà chua Mối liên kết này đã mang lại những kết quả và lợi ích cho cả hai bên Tuynhiên, một số yếu tố như: thị trường, giá cả, các bên tham gia liên kết, tình trạng
Trang 9tranh mua, tranh bán, phá vỡ hợp đồng vẫn diễn ra gây ảnh hưởng không tốt tớimối liên kết gây thiệt hại cho các bên.
Chính vì vậy để nghiên cứu cụ thể về mối liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm ngô nếp ngọt ở địa phương tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu mối liên
kết trong sản xuất – tiêu thụ sản phẩm ngô nếp ngọt của nông dân với Công ty Cổ phần Giống cây trồng trung ương trên địa bàn huyện Kim Động – Hưng yên”
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
+ Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng mối liên kết giữa hộ nông dân tại Kim Độngvới công ty CPGCT Trung ương trong sản xuất - tiêu thụ đối với sản phẩm ngô nếpngọt, đưa ra các giải pháp nhằm củng cố và phát triển liên kết giữa hộ nông dân vàCông ty Cổ phần giống cây trồng Trung ương
+ Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về liên kết trong sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm ngô ngọt của nông dân và công ty
- Đánh giá thực trạng mối liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ngô nếpngọt của nông dân trên địa bàn Kim Động – Hưng Yên với Công ty Công ty Cổ phầngiống cây trồng Trung ương
- Đề xuất giải pháp nhằm tăng cường liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩmngô nếp ngọt của nông dân với Công ty trong thời gian tới
3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Hiện trạng sử dụng giống ngô nếp ngọt tại địa phương như thế nào? Có baonhiêu giống được người dân sản xuất? Các giống ngô nếp ngọt trên do các công tynào cung cấp? Thị phần của các công ty? Giống ngô nếp ngọt của Công ty giốngcây trồng TƯ là giống gì, chất lượng như thế? Sản xuất tại địa phương được baonhiêu vụ? Ưu điểm của giống ngô nếp ngọt (Vinaseed) so với các giống ngô nếpngọt của công ty khác là gì?
Thực trạng của mối liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ngô nếp ngọtcủa Công ty Công ty Cổ phần giống cây trồng trung ương và nông dân trên địa bànKim Động diễn ra như thế nào?
Liên kết giữa nông dân và công ty có hiệu quả không? Người dân có sẵnsàng tham gia liên kết lâu dài?
Những yếu tố nào ảnh hưởng tới mối liên kết đó?
Trang 10Trong thời gian tới cần thực hiện liên kết giữa nông dân và Công ty như thếnào để nâng cao hiệu quả sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ngô nếp ngọt?
4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu mối liên kết trong sản xuất - tiêu thụ sản phẩm ngô nếp ngọt củanông dân trên địa bàn huyện Kim Động – Hưng Yên với Công ty Cổ phần giống câytrồng trung ương
5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Nội dung: Nghiên cứu mối liên kết trong sản xuất - tiêu thụ sản phẩm ngônếp ngọt của nông dân với Công ty Cổ phần giống cây trồng trung ương trên địabàn Kim Động – Hưng Yên
Không gian: Các số liệu được tiến hành thu thập nghiên cứu tại Công ty Cổphần giống cây trồng trung ương cùng các hộ nông dân tại Kim Động – Hưng Yên
Thời gian: Tổng quan tài liệu được sử dụng số liệu của những năm trước, và
khảo sát thực trạng mối liên kết trong 3 năm gần nhất 2014 - 2016.
Trang 11để tối ưu hóa việc sử dụng và khai thác các nguồn lực cần thiết làm ra sản phẩm?
- Khái niệm sản xuất theo nghĩa chung nhất phản ánh quá trình con người cảitạo thiên nhiên nhằm mục đích tạo ra điều kiện vật chất cần thiết cho sự sinh tồncủa mình (Theo triết học Mác- Lênin, 2005)
Như vậy, sản xuất là hoạt động tự nhiên vĩnh hằng cho cuộc sống của conngười và trong thực tế bao giờ cũng tồn tại một phương thức sản xuất nhất định phùhợp với từng giai đoạn lịch sử
- Theo cách tiếp cận của kinh tế học tân cổ điển hay kinh tế học vĩ mô, bàn
về sản xuất với cách tiếp cận của chủ nghĩa cận biên (marginalism) thì khái niệmsản xuất là việc tạo ra hàng hóa và dịch vụ có thể trao đổi được trên thị trường đểđem lại cho người sản xuất càng nhiều lợi nhuận càng tốt
Cách tiếp cận này bàn luận nhiều hơn về các chủ đề như: chi phí sản xuất,tối đa hóa lợi nhuận, tối thiểu hóa chi phí sản xuất, năng suất lao động cận biên, tỷ
lệ thay thế kỹ thuật cận biên, v.v
- Vào thế kỷ XVIII, các nhà kinh tế Pháp theo trường phái Trọng nông màđại diện là Quesnay, người đầu tiên đưa ra khái niệm về sản xuất, cho rằng: “ Sảnxuất trước hết phải sáng tạo ra sản phẩm và mang lại thu nhập ròng”
Như vậy, theo trường phái Trọng nông, chỉ có lao động nông nghiệp mới làlao động sản xuất vì chỉ có ruộng đất mới có thể đem lại thu nhập ròng
- Theo thống kê Tài sản quốc gia 1993 của Liên hợp quốc (SNA) đã đưa rakhái niệm sản xuất như sau “ Sản xuất là quá trình sử dụng lao động và máy mócthiết bị của các đơn vị thể chế (một chủ thể kinh tế có quyền sở hữu tích sản, phát
Trang 12sinh tiêu sản và thực hiện các hoạt động, các giao dịch kinh tế với những thực thểkinh tế khác) để chuyển những chi phí là vật chất và dịch vụ thành sản phẩm là vậtchất và dịch vụ khác Tất cả những hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra phải cókhả năng bán trên thị trường hay ít ra cũng có khả năng cung cấp cho một đơn vị thểchế khác có thu tiền hoặc không thu tiền”
1.1.1.2 Tiêu thụ sản phẩm
Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh,
là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Tiêu thụ sản phẩm làthực hiện mục đích của sản xuất hàng hoá, là đưa sản phẩm từ nơi sản xuất tới nơitiêu dùng Nó là khâu lưu thông hàng hoá, là cầu nối trung gian giữa một bên là sảnxuất và phân phối và một bên là tiêu dùng (Quyền Mạnh Cường, 2006)
Thích ứng với mỗi cơ chế quản lí, công tác tiêu thụ sản phẩm được quản líbằng các hình thức khác nhau
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, nhà nước quản lí kinh tế chủ yếubằng mệnh lệnh Các cơ quan hành chính kinh tế can thiệp sâu vào nghiệp vụ sảnxuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhưng lại không chịu trách nhiệm về cácquyết định của mình Các vấn đề của sản xuất như : Sản xuất cái gì ? Bằng cách nào
? Cho ai ? Đều do nhà nước quy định thì tiêu thụ sản phẩm chỉ là việc tổ chức bánhàng hoá sản xuất ra theo kế hoach và giá cả được ấn định từ trước
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải tự mình quyết định bavấn đề quan trọng của sản xuất nên việc tiêu thụ sản phẩm cần được hiểu theo cảnghĩa rộng và cả nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng, tiêu thụ sản phẩm là một quá trìnhkinh tế bao gồm nhiều khâu từ việc nghiên cứu thị trường, xác định nhu cầu kháchhàng, đặt hàng và tổ chức sản xuất đến việc tổ chức các nghiệp vụ tiêu thụ, xúc tiếnbán hàng… nhằm mục đích đạt hiệu quả cao nhất
Theo nghĩa hẹp, tiêu thụ hàng hoá, lao vụ, dịch vụ là việc chuyển dịch quyền
sở hữu sản phẩm hàng hoá, lao vụ, dịch vụ đã thực hiện cho khách hàng đồng thờithu được tiền hàng hoá hoặc được quyền thu tiền bán hàng
1.1.1.3 Liên kết
Liên kết kinh tế được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng,cùng có lợi thông qua hoặc thông qua hợp đồng kinh tế ký kết giữa các bên thamgia và trong khuôn khổ pháp luật của các nhà nước Mục tiêu của liên kết kinh tế làtạo ra mối quan hệ kinh tế ổn định thông qua các hợp đồng kinh tế hoặc các quy chếhoạt động để tiến hành phân công sản xuất chuyên môn hoá và hiệp tác hoá, nhằm
Trang 13khai thác tốt tiềm năng của từng đơn vị tham gia liên kết; hoặc để cùng nhau tạo thịtrường chung, phân định hạn mức sản lượng cho từng đơn vị thành viên, giá cả chotừng loại sản phẩm nhằm bảo vệ lợi ích của nhau, cùng giúp nhau để có khoản thunhập cao nhất (Dương Đình Giám, 2007).
1.1.1.4 Liên kết trong sản xuất
Trong các mô hình liên kết, liên kết giữa nông dân và nông dân, nông dân vàdoanh nghiệp chưa thể hình thành nên một mô hình phát triển ổn định và bền vững
Ở đây còn có rất nhiều mắt xích trong chuỗi sản xuất nông sản liên kết lại với nhau
để hình thành nên mối liên kết "4 nhà": Nhà nước, nhà khoa học, nhà nông và doanhnghiệp Theo Tiến sĩ Nguyễn Đăng Nghĩa, Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệpMiền Nam, liên kết "4 nhà" để đáp ứng các điều kiện cần và đủ xây dựng nền nôngnghiệp hiện đại Các điều kiện "cần" gồm: Cần có sự nhận thức, chỉ đạo thống nhấtcủa các cấp lãnh đạo từ chính phủ, các bộ ngành đến các địa phương Cần có liênkết "4 nhà" mà nhà doanh nghiệp là hạt nhân và chính là mắt xích quan trọng nhấttrong chuỗi liên kết Cần tuyên truyền, vận động, giải thích, nâng cao nhận thức củanông dân về lợi ích khi tham gia liên kết sản xuất Cần có các doanh nghiệp đủ tầm,
đủ năng lực và tâm huyết để tham gia vào mô hình liên kết và rất cần sự đóng gópcông sức, trí tuệ, kinh nghiệm của các nhà khoa học… Các điều kiện đủ, gồm: Phải
có đủ diện tích sản xuất nông nghiệp theo tiêu chí cánh đồng lớn Phải có đủ 4 nhàcùng thực hiện liên kết nhằm hỗ trợ cho việc thực hiện các hợp đồng sản xuất.Trong đó, chủ yếu là nhà doanh nghiệp và nhà nông cùng thực hiện trong 1 dự án –
có sự hỗ trợ về cơ chế, chính sách của nhà nước và sự hỗ trợ ứng dụng các tiến bộkhoa học kỹ thuật cho năng suất cao, chất lượng tốt, giá thành sản phẩm hạ… củanhà khoa học Bên cạnh đó, phải có đủ máy móc, kho bãi phục vụ chăm sóc, thuhoạch phù hợp với quy mô diện tích, sản lượng của từng cánh đồng liên kết
1.1.1.5 Liên kết trong tiêu thụ sản phẩm
Theo quan điểm Marketing : tiêu thụ sản phẩm là quản trị hệ thống kinh tế vànhững điều kiện tổ chức có liên quan đến việc điều hành và vận chuyển hàng hoá,
từ người sản xuất đến người tiêu dùng với điều kiện hiệu quả tối đa
Theo quan điểm của các nhà kinh tế : tiêu thụ là giai đoạn cuối của quá trình sảnxuất kinh doanh thông qua tiêu thụ mà thực hiện được giá trị và giá trị sử dụng.Ngoài ra còn có rất nhiều quan điểm khác nhau về hoạt động tiêu thụ sản phẩm dướirất nhiều khía cạnh khác nhau
Trang 14Đặc trưng lớn nhất của việc tiêu thụ hàng hoá là sản xuất ra để bán Do đókhâu tiêu thụ sản phẩm là một trong những khâu cực kỳ quan trọng của quá trình táIsản xuất xã hội Đây là cầu nối trung gian giữa một bên là sản xuất với một bên làtiêu dùng Quá trình tiêu thụ chỉ kết thúc khi quá trình thanh toán giữa người mua
và người bán diễn ra nhằm chuyển quyền sở hữu hàng hoá Để đáp ứng yêu cầukhách hàng về sản phẩm doanh nghiệp phải thực hiện rất nhiều nghiệp vụ sản xuất ởcác khâu bao gồm : phân loại, lên nhãn hiệu bao hàng , bao gói và chuẩn bị các lôhàng để xuất bán và vận chuyển theo yêu cầu của khách hàng Để thực hiện cácnghiệp vụ này đòi hỏi phải tổ chức lao động hợp lý lao động trực tiếp ở các khohàng và tổ chức tốt công tác nghiên cứu thị trường, nghiên cứu nhu cầu về hàng hoá
và chủng loại sản phẩm của doanh nghiệp (Dương Đình Giám, 2007)
Như vậy, tiêu thụ sản phẩm là tổng thể các giải pháp nghiên cứu và nắm bắtnhu cầu thị trường Nó bao gồm các hoạt động:tạo nguồn, chuẩn bị hàng hoá, tổchức mạng lưới bán hàng, xúc tiến bán hàng với nhiều hoạt động hỗ trợ cho việcthực hiện dịch vụ sau bán hàng
1.1.1.6 Liên kết trong sản xuất và tiêu thụ
Liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm giữa các chủ thể liên kết lànhững pháp nhân độc lập rất đa dạng với những nội dung chủ yếu như sau:
- Sự thoả thuận hay cam kết giữa các bên trong quá trình sản xuất và tiêu thụsản phẩm Các cam kết này phải được công nhận là sự hợp tác giữa các bên tham giachứ không phải là quan hệ cạnh tranh hay bóc lột giữa bên này với bên kia
- Cam kết phải có các điều kiện ưu đãi: Ưu đãi phải được xây dựng trên quan hệcung cầu thị trường, hay nói cách khác các bên đều được hưởng lợi từ cam kết
- Trách nhiệm của mỗi bên khi thực hiện cam kết: Các bên có trách nhiệmthực hiện đúng, đủ và nghiêm túc theo cam kết
- Các mối liên kết này được thể hiện thông qua các hình thức với các nộidung cơ bản sau:
+ Mua bán tự do trên thị trường
Mua bán tự do trên thị trường là hình thức giao dịch trực tiếp giữa người mua
và người bán Người mua thấy được số lượng, chất lượng hàng hoá mình cần, cònngười bán sau khi thoả thuận được giá cả sẽ bán và thu được tiền, đáp ứng cho nhucầu sản xuất và các nhu cầu khác Việc mua bán trên thị trường được thực hiện domối quan hệ cung cầu, nếu hai bên thoả thuận được với nhau thì hoạt động giaodịch được diễn ra, thị trường có vai trò định giá
Trang 15Đặc điểm của hình thức giao dịch này là mỗi tác nhân độc lập, tự do traođổi hàng hoá của mình với các tác nhân khác, giá cả được xác định tại thời điểmgiao dịch Thị trường tự do phản ánh mối quan hệ cung cầu của thị trường do đótrong một số trường hợp thương mại thị trường tự do không hiệu quả đã gây khókhăn cho công tác điều hành hoạt động của thị trường và giữa các tác nhân (Hồ QuếHậu, 2012).
Mặc dù các tác nhân trao đổi với nhau trên thị trường tự do, không phảikhông có các mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau và ràng buộc giữa các ngành hàng.Ngược lại quan hệ liên kết có thể tồn tại và diễn ra khi hoạt động sản xuất của mộttác nhân phụ thuộc vào hoạt động sản xuất của một tác nhân khác Hay nói cáchkhác, một tác nhân có vai trò kiểm soát thị trường và mọi kế hoạch sản xuất, mặthàng kinh doanh của các tác nhân đó đều tác động đến kế hoạch và chiến lược sảnxuất kinh doanh của các tác nhân khác
Những nhu cầu về sự khác biệt sản phẩm từ cấp độ sản xuất đã tạo áp lực lên cácmối quan hệ thị trường tự do và có thể dẫn tới hình thức liên kết dưới dạng hợp đồng giữacác giai đoạn chủ chốt trong hệ thống thị trường hoặc hình thức hợp nhất dọc
+ Hợp đồng miệng (thoả thuận miệng)
Hợp đồng miệng là các thoả thuận không được thể hiện bằng văn bản giữacác tác nhân cam kết cùng nhau thực hiện một số hoạt động, công việc nào đó.Hợp đồng miệng cũng được hai bên thống nhất về số lượng, chất lượng, giá cả,thời hạn và địa điểm nhận hàng Cơ sở của hợp đồng miệng là niềm tin, độ tínnhiệm, trách nhiệm cam kết thực hiện giữa các tác nhân tham gia hợp đồng Hợpđồng miệng thường được thực hiện giữa các tác nhân có quan hệ thân thiết (họhàng, anh chị em ruột thịt, bạn bè ), hoặc giữa các tác nhân đã có quá trình hợptác, liên kết sản xuất và tiêu thụ với nhau mà trong suốt thời gian hợp tác luônthể hiện được nguồn lực tài chính, khả năng tổ chức và trách nhiệm giữ chữ tínvới các đối tác (Hồ Quế Hậu, 2012)
Tuy nhiên hợp đồng miệng thường chỉ là các thoả thuận trên nguyên tắc về
số lượng, giá cả, điều kiện giao nhận hàng hoá Hợp đồng miệng cũng có thể cóhoặc không có đầu tư ứng trước về tiền vốn, vật tư cũng như các hỗ trợ và giám sát
kỹ thuật So với hợp đồng bằng văn bản thì hợp đồng miệng lỏng lẻo và có tính chấtpháp lý thấp
+ Hợp đồng bằng văn bản
Thực hiện phương thức theo hợp đồng trong nông nghiệp thường diễn ra
Trang 16giữa các nhà có mối quan hệ với nhau trong quá trình từ sản xuất đến chế biến vàtiêu thụ; các mối quan hệ liên kết hợp đồng gồm: liên kết hợp đồng tay đôi giữa nhàsản xuất là nông dân, HTX sản xuất nguyên liệu với cơ sở chế biến hoặc liên kếtgiữa cơ sở cung cấp dịch vụ về vật tư của các thành phần kinh tế với hộ nông dân,HTX sản xuất nông nghiệp, liên kết hợp đồng giữa 3 nhà hoặc 4 nhà trong việc pháttriển nguyên liệu để chế biến và bảo đảm tiêu thụ sản phẩm nông sản,…
Điểm căn bản thông qua hình thức theo hợp đồng là có sự bảo đảm bằngpháp lý trong liên kết giữa các bên Đó là những ràng buộc thông qua các điều củahợp đồng kinh tế của các khâu riêng rẽ (sản xuất, cung cấp dịch vụ, chế biến tiêuthụ sản phẩm) đã buộc các bên tham gia liên kết bảo đảm thực hiện hợp đồng theomột quy trình, có quy định về vốn, kỹ thuật, giá vật tư, sản phẩm, thời gian giao nộpsản phẩm, phương thức thanh toán,.… Đây là một chuỗi của quá trình liên kết màcác bên cần bảo đảm thực hiện
Với 2 hình thức liên kết bằng “miệng” và bằng văn bản hợp đồng kinh tế nêutrên, trong thực tế đang diễn ra cả 2 hình thức; trong đó hình thức hợp đồng kinh tế
là chặt chẽ hơn cả Phương thức liên kết theo hợp đồng cũng đã được Nhà nước takhuyến khích phát triển bằng Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg năm 2002 Thôngqua hợp đồng theo tinh thần Quyết định số 80, Nhà nước khuyến khích các bêntham gia liên kết trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp; từ
đó đã có sự phân công, phối hợp nhằm “khép kín” các khâu từ sản xuất đến chế biến
và tiêu thụ nông sản, nâng cao thu nhập của nông dân và doanh nghiệp trên cơ sở đógóp phần tăng cường mối quan hệ giữa nông nghiệp với công nghiệp, giữa nông dânvới công nhân và trí thức, thúc đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp,nông thôn theo hướng CNH, HĐH (Dương Đình Giám, 2007)
1.1.2 Vai trò của liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản
Liên kết kinh tế giữa các chủ thể nhằm khắc phục những bất lợi về quy mô,loại sản phẩm trong kinh tế thị trường
Chủ thể sản xuất (các doanh nghiệp, các nhà sản xuất của các ngành, lĩnhvực) có quy mô nhỏ và vừa thường bị các doanh nghiệp lớn cạnh tranh và mang lạibất lợi về lợi ích cho các chủ thể (doanh nghiệp) vừa và nhỏ Trong hoạt động sảnxuất, kinh doanh, mỗi chủ thể, doanh nghiệp đều có một hoặc vài lĩnh vực hoạtđộng chủ đạo, mang tính đặc thù, chuyên biệt, hoặc có những sản phẩm đặc thùriêng Bên cạnh đó, là một loạt các hoạt động phụ mà bản thân chủ thể, doanhnghiệp không thể tự mình sản xuất ra thành phẩm, hoặc tự thực hiện tiêu thụ được;
Trang 17mà phải nhờ đến các chủ thể khác mới bảo đảm sản xuất và tiêu thụ được sản phẩm
ấy Muốn vậy, phải có sự hợp tác giữa các chủ thể, với doanh nghiệp khác để tạo rasản phẩm với quy mô lớn hơn và tiêu thụ được trên thị trường, giảm thiểu được bấtlợi trong hoạt động kinh tế theo cơ chế thị trường, tiết kiệm chi phí sản xuất, tăngkhả năng cạnh tranh
+ Liên kết kinh tế giúp nhau phản ứng nhanh và tạo cơ hội đối phó vớinhững thay đổi của thị trường
Liên kết kinh tế giúp các chủ thể, hoặc doanh nghiệp khắc phục được nhữnghạn chế về quy mô, thì ở một khía cạnh khác, liên kết kinh tế còn giúp cho các chủthể và doanh nghiệp phản ứng nhanh với những thay đổi của thị trường, tạo cơ hộiđứng vững khi thị trường có những biến đổi bất lợi
+ Liên kết kinh tế giúp các chủ thể giảm thiểu rủi ro trong sản xuất, kinhdoanh sản phẩm nông nghiệp
Ngoài lợi ích cơ bản của liên kết kinh tế bảo đảm về hiệu quả trong sản xuấtcủa nhà nông, liên kết kinh tế còn giúp cho nhà doanh nghiệp giảm thiểu rủi rotrong kinh doanh Để tránh được rủi ro, nhiều nhà sản xuất đã biết phân tán “sự rủiro” bằng cách mời gọi các chủ thể khác cùng tham gia thực hiện, triển khai dự án,thậm chí mỗi doanh nghiệp đảm nhận một phần công việc, tuỳ theo năng lực củatừng chủ thể Như vậy, mỗi chủ thể tham gia dự án chỉ phải chịu một phần rủi ro(nếu có xảy ra)
Liên kết góp phần làm tăng cường liên minh công nông: Việc chuyển đổiphương thức sản xuất nông nghiệp từ tự túc tự cấp sang sản xuất hàng hoá thì việcliên minh công nông có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nó giúp cho quá trình sản xuấtchế biến tiêu thụ ngô được hiệu quả hơn
Thực hiện quan hệ hợp tác: Thông qua liên kết tăng cường được quan hệ hợptác giữa các bên, giúp cho quan hệ cung cầu phù hợp và hiệu quả hơn
Giải quyết quan hệ phân phối: Thông qua liên kết vấn đề phân phối thu nhập,trách nhiệm quyền hạn của các bên tham gia liên kết được cụ thể hơn, hàng hoá đếntay người tiêu dùng nhanh hơn
Thúc đẩy nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật: Liên kết giúp cho việc vận dụng
và sử dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất, đem lại hiệu quả caohơn, chất lượng sản phẩm làm ra tốt hơn
Tạo ra sự gắn kết giữa các nhà: Khi các nhà cùng tham gia vào liên kết thì
hiệu quả thu được sẽ cao hơn, đồng bộ hơn trong thực hiện
Trang 18Liên kết là hình thức đảm bảo mang lại lợi ích chắc chắn của các bên liên quan,
cụ thể là doanh nghiệp và hộ nông dân trong sản xuất ngô cung cấp cho doanh nghiệp
Liên kết giúp cho cả doanh nghiệp lẫn hộ nông dân khắc phục được nhữnghạn chế về quy mô và lĩnh vực hoạt động theo hướng hiệu quả hơn
Liên kết giúp các tác nhân phản ứng nhanh với các thay đổi của thị trường:giúp doanh nghiệp và hộ nông dân có thể đáp ứng được nhu cầu của thị trường luônluôn thay đổi bằng cách đa dạng hóa mẫu mã và chủng loại sản phẩm, giúp cho tiêuthị sản phẩm được nhanh hơn thông qua liên kết của hệ thống nhà thương mại vànhà sản xuất, giúp các chủ thể tiếp cận nhanh chóng với các công nghệ kỹ thuật mớinhờ sự phối hợp với các nhà nghiên cứu
Lao động là nguồn gốc của mọi của cải vật chất Lao động chính là quá trìnhtác động vào tự nhiên Cũng như Anghen đã nói ở trên “cùng với tư nhiên cung cấpnhững vật liệu cho hoạt động sản xuất, lao động là nguồn gốc của mọi của cải và laođộng là sản xuất xã hội Hai thực thể này thống nhất với nhau có mâu thuẫn đối lậpnhưng lại là những mâu thuẫn và đối lập hỗ trợ cho nhau cùng phát triển Hay vaitrò của người sản xuất là hoạt động chủ yếu trong các hoạt động kinh tế của conngười Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng, hay để trao đổitrong thương mại Quyết định sản xuất dựa vào những vấn đề chính sau: sản xuấtcái gì?, sản xuất như thế nào?, sản xuất cho ai?, giá thành sản xuất và làm thế nào
để tối ưu hóa việc sử dụng và khai thác các nguồn lực cần thiết làm ra sản phẩm?(Hồ Quế Hậu, 2012)
Công ty sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông sản theo hợp đồng đối với các tổchức HTX, CLB, THT, trang trại đóng vai trò rất lớn Thông qua việc ký kết hợpđồng giữa HTX và người sản xuất trong tiêu thụ nông sản hàng hóa, là bên cung cấpchuyển giao tiến bộ kỹ thuật và bao tiêu sản phẩm của người nông dân sản xuất rathông qua các HTX
Về giá cả: Cơ chế thanh toán của Công ty chế độ thanh toán sằng phẳng
Về uy tín với hộ nông dân: Công ty cần tạo ra được niềm tin với các đối táctrong hợp tác kinh doanh nhất là các hộ nông dân sản xuất Mối liên kết lâu nămgiúp Công ty có những kinh nghiệm để đạt được những hiệu quả cao nhất trong cácmối quan hệ hợp tác
Thông qua chế biến làm tăng thêm giá trị của sản phẩm nông nghiệp Vậy sản
Trang 19xuất nông sản có hiệu quả luôn phải tính đến sự gắn kết hữu cơ giữa vùng sản xuấtnguyên liệu với các cơ sở chế biến để mang lại giá trị cao cho cả nhà chế biến vàngười sản xuất (Hồ Quế Hậu, 2012).
1.1.3 Nội dung trong liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
- Liên kết cung ứng đầu vào
Ngô nếp ngọt, cũng được gọi là sweetcorn glutinous corn hay đơn giản làcorn, là giống ngô có hàm lượng tinh bột và đường cao Ngô nếp ngọt là kết quả củamột đột biến gen mà sự biến đổi của đường từ tinh bột xảy ra bên trong của nội nhũcủa hạt ngô Không giống những giống ngô thương phẩm thu hoạch khi hạt đã khôcứng, ngô nếp ngọt thu hoạch khi hạt còn mềm và sử dụng như một loại rau tươi.Khi ngô già, đường sẽ chuyển thành tinh bột, lượng đường giảm mạnh, vì vậy taphải ăn tươi hoặc đóng hộp hay bảo quản lạnh trước khi hạt ngô già và hàm lượngđường sẽ chuyển thành tinh bột
Ngô nếp ngọt là giống ngô nếp ngọt nó hội tụ cả hàm lượng tinh bột và hàmlượng đường khi ăn vừa ngọt vừa dẻo Trên thị trường có nhiều giống khác nhau,các giống chín sớm 65 – 70 ngày Các giống khác có thời gian sinh trưởng dài hơn
70 -90 ngày Nông dân Việt Nam đã quen với việc trồng ngô, nên trồng ngô nếpngọt yêu cầu kỹ thuật cũng không có gì cách biệt lắm Hiện nay trên thị trường đangbán các giống ngô ngọt Sugar 75, Star Brix, Seminis, Hoa Trân Nhưng các giốngnày chỉ có hàm lượng đường và hàm lượng tinh bột ít
Ở Việt Nam, những năm 90 nhu cầu về lương thực của nước ta còn lớn nêncác giống ngô nếp ngọt chưa phát triển, không được chú trọng phát triển sản xuất.Mấy năm gần đây, nhu cầu thực phẩm của người dân rất đa dạng và phong phú, đãtạo đà cho ngô nếp ngọt phát triển Ngô nếp ngọt được trồng chủ yếu ở vùng đồngbằng sông Hồng Ngô ngọt được dùng để ăn tươi
Cây cao 1.8-2.0m, vị trí đóng bắp thấp, nên khả năng chống đỡ tốt Ngô nếpngọt trồng được quanh năm, cho năng suất cao từ 600-700kg/sào Bắc bộ Ngoài thubắp, ngô nếp ngọt còn cho một lượng thức ăn xanh từ 2,5-3 tấn/sào Tính khángbệnh cao
Ngô nếp ngọt có khả năng thích nghi rộng, đất càng màu mỡ càng cho năngsuất cao
Có thể gieo hạt ngô nếp ngọt trực tiếp xuống đất mà không cần ngâm ủ hoặcngâm ủ tùy nơi Có nơi người ta ủ hạt trong khăn bông ẩm, đợi hạt nảy mầm mớiđem ra trồng Nhưng qua kinh nghiệm thực tế thì phương pháp ủ hạt trong cát ẩm là
Trang 20tốt nhất.
- Liên kết trong quá trình sản xuất
+ Liên kết trong chuyển giao khoa học kỹ thuật: Đây là một hình thức liênkết thường được tiến hành giữa nhà khoa học (cơ sở trường đại học, viện nghiêncứu, cán bộ kỹ thuật ở doanh nghiệp hay địa phương…) đối với người sản xuất(nông dân) Theo hình thức liên kết này, thông qua đó nhà khoa học sẽ chuyển giaonhững tiến bộ KHKT cho người nông dân Khi đã được chuyển giao khoa học kỹthuật người nông dân tiếp nhận nó và đưa vào sản xuất nhằm tạo ra những sản phẩmnông nghiệp có chất lượng tốt hơn Trong liên kết đó người ta ký trực tiếp hoặc giántiếp thông qua địa phương ký kết các hợp đồng hoặc bằng thỏa thuận miệng vớinhau để chuyển giao các tiến bộ KHKT Khi liên kết theo hình thức này người nôngdân sẽ tiếp nhận các tiến bộ KHKT mới để áp dụng vào sản xuất, đổi lại người nôngdân sẽ phải trả chi phí cho người, cơ quan tổ chức đã chuyển giao tiến bộ KHKT đó.Liên kết được thực hiện chủ yếu là liên kết giữa các hộ nông dân trong việc trao đổikinh nghiệm, kỹ thuật sản xuất, phòng trừ dịch bệnh cây trồng, vật nuôi
+ Liên kết trong phòng chống dịch bệnh:
Trong quá trình sản xuất kinh doanh nông nghiệp người sản xuất gặp rấtnhiều khó khăn, rủi ro; một trong những rủi ro mà nông dân gặp phải đó là dịchbệnh của cây trồng, vật nuôi Khi rủi ro xảy ra, trước hết gây thiệt hại trực tiếp chobản thân người nông dân và phần nào ảnh hưởng đến lợi ích các tác nhân liên quan
Do vậy, việc tiến hành liên kết trong phòng chống dịch bệnh luôn được nhà nôngcũng như các tác nhân liên quan quan tâm thực hiện
Đây là hình thức liên kết thường được tiến hành giữa nhà khoa học, doanh nghiệpvới người sản xuất (nông dân) trong công tác phổ biến kỹ thuật hay tiến hành phòng trừdịch bệnh cho cây trồng vật nuôi Liên kết đó thường được sự trợ giúp, hỗ trợ từ nhànước, được tiến hành thông qua chính quyền hay tổ chức đoàn thể ở địa phương Bêncạnh dạng liên kết chủ đạo đó thì liên kết giữa các hộ nông dân trong việc trao đổi nhữngkinh nghiệm về phòng chống dịch bệnh cũng được tiến hành
Việc thực hiện liên kết trong phòng chống dịch bệnh cho cây trồng, vật nuôi
là công tác khó khăn và cả những chi phí tăng thêm cho quá trình sản xuất Tuynhiên, việc thực hiện tốt công tác đó sẽ mang lại lợi ích cho việc phát triển bềnvững, hạn chế rủi ro trong sản xuất kinh doanh của các tác nhân
Liên kết chặt chẽ với huyện và các HTX hỗ trợ cho người sản xuất về chuyểngiao tiến bộ kỹ thuật, xây dựng mô hình trình diễn giống mới, kỹ thuật mới cho
Trang 21nông dân thăm quan học tập Có cơ chế bán giống thanh toán trả chậm hỗ trợ chongười dân nhằm đẩy nhanh tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất.
- Liên kết trong tiêu thụ sản phẩm
Ngô nếp ngọt mang đặc trưng của sản phẩm nông nghiệp nên nó cũng mangnhững đặc điểm của sản phẩm nông nghiệp
Sản phẩm nông nghiệp và thị trường nông sản mang tính chất vùng và khuvực Đặc điểm này xuất phát từ đặc điểm của sản xuất nông nghiệp gắn chặt vớiđiều kiện tự nhiên mang tính chất vùng Lợi thế so sánh và lợi thế uyệt đối của cácvùng là yếu tố rất quan trọng trong việc lựa chọn hướng sản xuất kinh doanh của cơ
sở sản xuất kinh doanh và tổchức hợp lý quá trình tiêu thụ sản phẩm
Tính chất mùa vụ của sản xuất nông nghiệp đặc biệt là ngô nếp ngọt có tácđộng mạnh mẽ đến cung- cầu của thị trường nông sản và giá cả nông sản Sự khanhiếm dẫn đến giá cả cao vào đầu vụ, cuối vụ và sự dư thừa làm cho giá cả giảm vàochính vụ là một biểu hiện của đặc điểm này Việc chế biến, bảo quản và dự trữ sảnphẩm để đảm bảo cung cầu tương đối ổn định là một yêu cầu cần được chú ý trongquá trình tổ chức tiêu thụ sản phẩm Sản phẩm nông nghiệp rất đa dạng, phong phú
và trở thành nhu cầu tối thiểu hàng ngày của mỗi người, với thị trường rất rộng lớnnên việc tổ chức tiêu thụ sản phẩm phải hết sức linh hoạt Sản phẩm ngô nếp ngọtcồng kềnh, tươi sống, khó bảo quản chuyên chở dài ngày, vì vậy cần tổ chức thumua sản phẩm đúng thời vụ của sản phẩm và nhiều hình thức linh hoạt, thuận tiệncho người tiêu dùng
Một bộ phận sản phẩm ngô nếp ngọt được tiêu dùng nội bộ hoặc với tư cách
là tư liệu sản xuất, vì vậy phải tính đến những nhu cầu đó một cách cụ thể để tổchức tốt việc tiêu thụ đối với nông sản
Sản xuất ngô nếp ngọt còn nhỏ lẻ, quy mô nhỏ, chưa được quy hoạch pháttriển đồng bộ Chất lượng sản phẩm chưa cao Cần đầu tư đúng mức về khoa học –
kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào sản xuất
Những đặc điểm trên đây cần được tính đến trong việc tổ chức quátrình tiêu thụ sản phẩm của các cơ sở sản xuất kinh doanh nông nghiệp
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
1.1.4.1 Các yếu tố từ hộ nông dân
- Trình độ sản xuất, sản xuất hàng hoá càng cao thì nhu cầu liên kết càng lớn.Trên thực tế, bất cứ nền sản xuất của nước nào mang tính tự cấp, tự túc sẽ không xuấthiện quá trình liên kết, hợp tác, nếu có cũng mang tính giản đơn Trong sản xuất nông
Trang 22nghiệp thể hiện rất rõ yếu tố này Ở Việt Nam, trình độ sản xuất nông nghiệp ở các vùng
có khác nhau, thì mức độ hợp tác, liên kết cũng khác nhau
Lao động là hoạt động có mục đích của con người thông qua công cụ lao độngtác động lên đối tượng lao động Tuy nhiên, lao động của các nông hộ có đông về sốlượng nhưng về cơ bản vẫn là lao động thủ công, năng suất lao động thấp, trình độ vănhoá, khoa học kỹ thuật và kiến thức kinh doanh theo cơ chế thị trường còn hạn chế
Đối với người sản xuất do trình độ hiểu biết còn hạn chế về liên kết, về hợp đồng,trách nhiệm trong liên kết, họ chỉ nhìn những cái lợi trước mắt mà không nhìn lâu dài
Họ sợ sự rằng buộc về mặt pháp luật khi ký kết hợp đồng
- Nhận thức của hộ nông dân: Đối với các hộ nông dân, mặc dù công ty cho
họ biết những thuận lợi của việc liên kết tuy nhiên do nhận thức còn hạn chế đôi khi
họ chỉ nhìn thấy cái lợi trước mắt mà không nghĩ tới lợi ích lâu dài
- Quy mô sản xuất của hộ cũng có ảnh hưởng lớn tới việc thực hiện liên kết
do tình trạng phá vỡ hợp đồng vẫn xảy ra cần được điều chỉnh để tháo gỡ vướngmắc cho cả hai bên khi tham ra liên kết (Phan Thị Hương Mơ, 2011)
1.1.4.2 Các yếu tố từ doanh nghiệp
Về giá cả: Giá cả là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới lợi ích của hộ nông dân vàdoanh nghiệp Những mâu thuẫn giữa doanh nghiệp và hộ nông dân xảy ra chủ yếu là
do nguyên nhân về giá này Từ đó ảnh hưởng không nhỏ tới mối liên kết giữa doanhnghiệp và hộ nông dân Các vấn đề về giá như sự không thống nhất giữa giá đầu vào,giá thu mua ngô Như vậy việc thống nhất về giá cả đầu vào là rất cần thiết
Khả năng về vốn, cơ chế thanh toán: Cơ chế thanh toán của doanh nghiệpcũng ảnh hưởng tới mối liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân Nếu doanh nghiệp
có chế độ thanh toán sằng phẳng
Về uy tín với hộ nông dân: Công ty, doanh nghiệp cần tạo ra được niềm tinvới các đối tác trong hợp tác kinh doanh nhất là các hộ nông dân sản xuất Mối liênkết lâu năm giúp Công ty, doanh nghiệp có những kinh nghiệm để đạt được nhữnghiệu quả cao nhất trong các mối quan hệ hợp tác
Thông qua chế biến làm tăng thêm giá trị của sản phẩm nông nghiệp Sảnxuất nông nghiệp truyền thống thường chỉ cung cấp hoặc bán sản phẩm thô ra thịtrường, nên giá trị thu được thường rất thấp, nếu không qua chế biến sẽ không đạtgiá trị sản xuất cao Do đó, muốn sản xuất nông sản có hiệu quả luôn phải tính đến
sự gắn kết hữu cơ giữa vùng sản xuất nguyên liệu với các cơ sở chế biến để manglại giá trị cao cho cả nhà chế biến và người sản xuất (Phan Thị Hương Mơ, 2011)
Trang 231.1.4.3 Các yếu tố từ nhà nước
Chủ trương, chính sách của Nhà nước có vai trò quan trọng đối với mối liênkết Một mặt thúc đẩy liên kết giữa các chủ thể Một mặt định hướng cho các mốiliên kết đó phát triển tốt hơn Chính sách càng tiến bộ, càng cụ thể càng làm tăngcường được hiệu quả mối liên kết
Tác động của chính quyền địa phương ít ảnh hưởng, sau đó vấn đề sản xuất, thumua các tình trạng tranh chấp xảy ra chính quyền ít có vai trò trọng tài để giải quyết
Vai trò, chức năng về trung gian, cầu nối của chính quyền các cấp còn hạnchế do chính sách và do bản thân chính quyền (nhất là chính quyền cấp cơ sở) đãkhông phát huy và làm tròn trách nhiệm là trọng tài để giải quyết các vấn đề ảnhhưởng đến liên kết Chính quyền cơ sở gần như thả nổi để tự Viện ngô và hộ sảnxuất thoả thuận với nhau trong hợp đồng liên kết
Chưa xác định rõ về sự rằng buộc, trách nhiệm, lợi ích giữa các bên tham gialiên kết trong sản xuất ngô giống nên dẫn đến phá vỡ quá trình này, nhất là khi các
hộ nông dân và công ty, doanh nghiệp
HTX nông nghiệp có vai trò rất lớn trong mối liên kết về kinh tế giữa hộnông dân và Công ty, doanh nghiệp Là cầu nối giữa hai bên, giúp hoạt động liênkết diễn ra thuận lợi và đạt hiệu quả cao nhất Nếu HTX không làm tốt vai trò củamình sẽ làm cho công tác quản lý, giám sát không được tốt gây ảnh hưởng tới cácbên và thiệt hại về kinh tế khi một trong hai bên thực hiện không tốt hoặc phá vỡhợp đồng
Sự tham gia của các nhà khoa học, nhà kỹ thuật còn hạn chế, ảnh hưởng đến
sự gắn liền đất sản xuất của hộ nông dân sản xuất ngô giống Tổ chức khoa học giữvai trò rất quan trọng trong quá trình liên kết Họ chính là người giúp nông dân ứngdụng các công nghệ, tiến bộ kỹ thuật để nâng cao năng suất, chất lượng, giảm chiphí sản xuất, tăng giá bán và tăng sức cạnh tranh của hàng hoá Tuy nhiên cho đếnnay, số đông các cơ quan khoa học vẫn lúng túng khi thực hiện liên kết trong sản
Trang 24xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất ngô giống nói riêng
Nơi nào thị trường hàng hoá phát triển càng mạnh thì quá trình liên kết, hợptác càng diễn ra sôi động Trên thực tế sản xuất, ở mỗi vùng, mỗi địa bàn có nhữngđiều kiện khác nhau Thông qua thị trường để thực hiện giá trị sản xuất của mình,điều đó quyết định có sản xuất sản phẩm hay không và bán được giá cao hay thấp?Nơi nào thị trường hàng hoá phát triển thấp thì giá bán càng bất lợi cho nhà sảnxuất; ngược lại thị trường sôi động, nông sản hàng hoá giao dịch nhiều, thì nơi ấytạo lập được giá đúng với bản chất của thị trường Để đáp ứng cho yêu cầu của thịtrường trong điều kiện của người nông dân còn khó khăn, nhất là thiếu các yếu tố
“đầu vào, đầu ra” của sản xuất, khi ấy buộc người nông dân phải thực hiện liên kếtvới các nhà có điều kiện cung cấp các dịch vụ “đầu vào, đầu ra”; càng nhiều hộ cónhu cầu cung cấp dịch vụ thì quá trình liên kết, hợp tác càng diễn ra sôi động
Hợp đồng kinh tế là căn cứ pháp lý đảm bảo quyền, nghĩa vụ, lợi ích của cácbên tham gia, và là cơ sở để cơ quan pháp luật xét xử khi có tranh chấp Các bênràng buộc lẫn nhau căn cứ vào hợp đồng được ký kết Tuy nhiên, vẫn còn nhiều kẽ
hở trong hợp đồng dẫn tới tình trạng vi phạm vẫn diễn ra
Việc áp dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến là điều kiện nâng caonăng suất lao động, chất lượng sản phẩm, giảm giá thành sản xuất và đặc biệt tăngnăng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá trên thị trường Muốn vậy, nhà sản xuất,chế biến cũng như các đơn vị lưu thông hàng hoá buộc phải áp dụng ngày càng mạnh
mẽ khoa học kỹ thuật và công tiên tiến; khi ấy yêu cầu liên kết với “nhà khoa học” sẽngày càng cao, nhất là liên kết trong các dịch vụ bảo đảm chất lượng của hàng hoá.Đây là yêu cầu đòi hỏi tất yếu của các sản phẩm nông nghiệp khi sản xuất ra để tiếpcận được thị trường
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 Tình hình liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản của một số nước trên thế giới
1.2.1.1 Kinh nghiệm từ Thái Lan.
Là một đất nước trồng cả rau nhiệt đới và ôn đới nên có thể nói, chủng loạirau của Thái Lan rất phong phú Hiện nay có trên 100 loại rau được trồng ở TháiLan, trong đó có 45 loại được trồng phổ biến
Mức tiêu dùng rau bình quân tại Thái Lan là 53 kg/người/năm với các kênhtiêu thụ rau chủ yếu trên thị trường là:
Loại kênh thứ nhất: Người sản xuất - Nhóm nông dân tự thành lập - Người
Trang 25bán buôn (tại Băng Cốc)/Người chế biến/Xuất khẩu - Người bán buôn - Người bán
lẻ - Người tiêu dùng
Loại kênh thứ hai: Người sản xuất người thu gom trên địa bàn trồng rau thị trường bán buôn trung tâm - người bán buôn tại Băng Cốc - người bán lẻ - ngườitiêu dùng
Thông thường phần lớn các thương lái thu gom rau trực tiếp tại các nông hộ
và chở rau đi bằng xe tải Một số nông hộ cũng có thể bán trực tiếp rau ra chợ bằngcách chuyên chở bằng xe tải riêng của gia đình Rau thường được vận chuyển vàobuổi chiều và được tiêu thụ chủ yếu ở các chợ bán buôn lớn ở Băng Cốc Khoảnghơn 20% lượng rau ở các chợ bán buôn được đưa đến các siêu thị và khuynh hướngnày đang tăng dần trong cách tiêu thụ rau an toàn ở Thái Lan
Đối với Thị trường giao dịch theo hợp đồng: Cục nội thương trực thuộc BộThương mại thiết lập thị trường để phục vụ cho các giao dịch theo hợp đồng giữangười nông dân hoặc tổ chức nông nghiệp với những người mua hàng Cục nộithương đề ra tiêu chuẩn hàng hoá, đề ra mẫu hợp đồng tiêu chuẩn, Văn phòng thươngmại của Cục nội thương đặt tại các tỉnh để điều tiết các hoạt động ký kết, giám sátthực hiện hợp đồng, tham gia cùng với bên trọng tài và các bên ký kết giải quyết mâuthuẫn khi có tranh chấp Người bán (nông dân, nhóm nông dân, HTX) và người muanhà máy chế biến công nghiệp, nhà xuất khẩu ) mong muốn được ký kết hợp đồng
để mua bán các nông sản sẽ phải thông báo ý định đó cho Cục nội thương hoặc vănphòng thương mại ở các tỉnh để họ xem xét Nếu được chấp nhận các bên phải đếnVăn phòng thương mại làm hợp đồng theo sự quản lí và quy chế của Văn phòng thaycho việc trước đây người mua thiết kế hợp đồng Do kiến thức của nông dân hạn chếnên Bộ Thương mại phải thường xuyên tuyên truyền, phổ biến kiến thức liên quanđến việc ký kết hợp đồng thoả thụân và phân loại chất lượng nông sản Để khuyếnkhích việc ký kết hợp đồng mua bán nông sản giữa nông dân với các doanh nghiệp,Cục Nội thương tổ chức hội nghị với sự tham gia của người mua, người bán và cácđối tượng có liên quan đến việc ký hợp đồng, đồng thời hướng dẫn, kiểm tra và giámsát việc chấp hành hợp đồng, hỗ trợ tài chính cho người mua đã ký hợp đồng thoảthuận trong trường hợp đặc biệt Những loại nông sản có khả năng ký kết hợp đồngđược xác định là ngô, cà chua, gừng, ngũ cốc non, măng tây, măng tre, chôm chôm,vải, nhãn ,dứa, đu đủ, và đậu tương
Trang 261.2.1.2 Kinh nghiệm từ Trung Quốc
Trung Quốc là quốc gia có sự liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩmnông nghiệp phát triển nhanh chóng trong thời gian gần đây Đây là phương thứckinh doanh nông nghiệp kiểu mới, trong đó nhà nước phối hợp với các xí nghiệp vàcác nhà khoa học trong các khâu trong hoạt động trước sản xuất, trong sản xuất vàsau sản xuất của hàng triệu hộ nông dân, nhằm hướng vào thị trường nâng cao hiệuquả kinh tế sản xuất được, thực hiện nhất thể hóa sản xuất – chế biến – tiêu thụ, đưasản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng quy mô hóa, chuyên môn hóa và thâmcanh hóa
Hợp đồng sản xuất nông nghiệp ở Trung Quốc phát triển nhanh khoảng 10năm trở lại đây Theo kết quả khảo sát của Trung Quốc thì hầu hết nông dân đượcphỏng vấn đều đồng tình với phương pháp sản xuất theo hợp đồng và hưởng ứngcách làm này Tuy nhiên, sản xuất theo hợp đồng có xu hướng bỏ qua những ngườisản xuất nhỏ Nông dân xác định được giá cả ổn định và được tiếp cận thị trườngnhư là những ưu điểm chính của phương thức này để ký hợp đồng với doanh nghiệp,trong đó doanh nghiệp coi việc cải tiến chất lượng sản phẩm là mấu chốt để đảm bảocho hợp đồng được thực hiện.Kết quả là sản xuất thep phương thức này là chất lượngsản phẩm cao hơn, chi phí sản xuất và tiếp thị thấp hơn.Trong chương trình côngnghiệp hoá nông nghiệp, chính phủ Trung Quốc có chủ trương hỗ trợ và thúc đẩyphương thức hợp đồng sản xuất nông nghiệp nhằm mục tiêu tăng lợi nhuận và khảnăng cạnh tranh cho sản xuất nông nghiệp.Hợp đồng sản xuất nông nghiệp nhưphương tiện để gắn nông dân sản xuất nhỏ với doanh nghiệp chế biến quy mô lớn.Chính quyền địa phương đã nhận thức tiềm năng của sản xuất theo hợp đồng trongviệc cơ cấu lại sản xuất và tăng thu nhập cho nông dân
Đặc điểm chính có được từ phương thức sản xuất theo hợp đồng là:
- Số hàng hoá nông nghiệp sản xuất theo phương thức này tăng một cáchvững chắc
- Địa bàn áp dụng phương thức sản xuất này cũng tăng nhanh chóng, ngay cảđến những vùng kém phát triển của miền Trung và Tây Trung Quốc
- Quy mô của phương thức sản xuất này cũng mở rộng và số lượng hợp đồngcũng tăng nhanh
Kết quả phân tích từ điều tra 1036 hộ nông dân, trong đó có 220 hộ (chiếm21%) thực hiện hợp đồng đã chỉ ra những lý do tại sao việc thực hiện hợp đồng cònkhó khăn và có liên quan đến cả hai phía nông dân và doanh nghiệp
Trang 271.2.2 Tình hình liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản của Việt Nam
1.2.2.1 Tính tất yếu của liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản nôngnghiệp
ở Việt Nam
Liên kết kinh tế nhằm để khắc phục tình trạng nền nông nghiệp nước ta vốn
từ sản xuất tự nhiên, phân tán, tự cấp chuyển sang sản xuất hàng hóa, vận hành theo
cơ chế thị trường, nhất là nền nông nghiệp còn phổ biến là nền sản xuất nhỏ, manhmún; để tạo lập và phát triển nền nông nghiệp hàng hoá buộc phải có bước chuyển
và phải trải qua 2 tất yếu cơ bản là:
Từ sản xuất tự nhiên, phân tán, tự túc tự cấp chuyển sang sản xuất hàng hoátập trung quy mô lớn
Từ sản xuất phát triển theo chiều rộng (lượng) sang phát triển theo chiều sâu(chất) Đây là vấn đề lớn cần phải giải quyết
1.2.2.2 Tình hình tổ chức thực hiện liên kết trong sản xuất và tiêu thụ giữa
doanh nghiệp và hộ sản xuất
Mặc dù có rất nhiều các chủ thể có thể tham gia liên kết, tuy nhiên nhữngnăm qua, trên khắp cả nước, hoạt động liên kết này vẫn chỉ được tiến hành thôngqua hai chủ thể là người sản xuất và doanh nghiệp chế biến
Mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân là mô hìnhliên kết kinh tế giữa một bên là doanh nghiệp công nghiệp chế biến nông sản vớinông dân là những người sản xuất và cung ứng nông sản nguyên liệu để sản xuất rasản phẩm phục vụ nhu cầu xã hội
Tình trạng doanh nghiệp chế biến thiếu nguyên liệu cho sản xuất, tranh nhaumua nguyên liệu trong ngành mía đường, điều, bông vải, thuốc lá… hoặc ngược lại,tình trạng “được mùa mất giá, được giá mất mùa” luôn là nỗi lo của nông dân, tìnhtrạng nông sản hàng hoá do nông dân sản xuất ra khó tiêu thụ, trong khi các nhà chếbiến hàng xuất khẩu không thể cung ứng đủ sản lượng lớn theo đơn đặt hàng củanước ngoài chỉ vì tình trạng sản xuất tiểu nông, manh mún của nông dân… Tất cảnhững hiện tượng đang diễn ra cho thấy mối quan hệ liên kết kinh tế giữa doanhnghiệp chế biến với nông dân còn bất cập, một số mặt chưa hoàn thiện cần bổ sung,phát triển như là hệ quả tất yếu của tiến trình phát triển nền kinh tế thị trường và hộinhập kinh tế quốc tế
Một số mô hình liên kết ở nước ta:
Mô hình sản xuất, tiêu thụ mía đường ở Thanh Hóa
Hiệp hội mía đường Lam Sơn ra đời trên cơ sở hợp tác kinh tế giữa các thànhphần kinh tế với sự kết hợp giữa công nghiệp – tài chính tín dụng với nông nghiệp
Trang 28để cùng giúp nhau trong quá trình sản xuất và tiêu thụ mía đường Thành viên củahiệp hội bao gồm Công ty mía đường Lam Sơn, Ngân hàng nông nghiệp, các nôngtrường quốc doanh trong vùng trồng mía và hàng ngàn hộ nông dân trồng mía cungcấp nguyên liệu cho nhà máy Nội dung cơ bản của sự gắn kết giữa các thành phầnkinh tế trong hiệp hội là Công ty mía đường Lam Sơn liên kết với ngân hàng nôngnghiệp tìm nguồn vốn tín dụng thương mại để đầu tư cho nông dân vay vốn trồngmía cung cấp nguyên liệu cho nhà máy Ngân hàng gắn kết với nhà máy để tìmkênh dẫn vốn với món vay lớn, giảm chi phí đưa được vốn cho mục tiêu phát triểnphục vụ cho mục tiêu phát triển nông nghiệp Quan hệ kinh tế giữa nhà máy đường,ngân hàng, nông trường và hộ nông dân trồng mía trong vùng là quan hệ hợp đồng,dựa trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi Trong mối liên kết này, các nông trườngquốc doanh tiến hành khoán đến hộ nông trường viên và hộ nông dân, tiếp nhận vốncủa nhà máy đường và ngân hàng nông nghiệp để dịch vụ cho các hộ trồng mía.Ngoài dịch vụ vốn, nông trường còn thực hiện các hoạt động dịch vụ đầu vào khácnhư hướng dẫn kỹ thuật, cung ứng vật tư, phân bón, làm đầu mối thu gom mía cungứng cho nhà máy Nhà máy đường và Ngân hàng nông nghiệp đều có mục tiêuchung là lấy kinh tế hộ nông dân làm đối tượng tác động, tạo điều kiện cho hộ dânvay vốn, tiếp nhận kỹ thuật và bán mía cho nhà máy.
Mô hình sản xuất, tiêu thụ chè tỉnh Thái Nguyên
Thuộc vùng núi trung du, huyện Đại Từ có nền kinh tế nông nghiệp là chính,trong đó cây chè là cây có diện tích thứ 2 sau cây lúa và là câu số 1 trên vùng đấtđồi này Để phát triển kinh tế của huyện theo hướng Công nghiệp hoá – Hiện đạihoá nông nghiệp nông thôn, thì có thể nói cây lúa chỉ đảm bảo an toàn lương thực,còn phát triển sản xuất chè là hướng đi vừa khi thác được tiềm năng đất đai củahuyện miền núi trung du, vừa giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho nông dân.Bên cạnh đó việc phát triển chè thành các vùng nguyên liệu tập trung đưa côngnghệ chế biến vào sẽ góp phần công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn, chuyểndịch cơ cấu kinh tế của huyện theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọngcông nghiệp và dịch vụ Việc triển khai dự án: “Xây dựng mô hình sản xuất thâmcanh chè gắn với cơ sở chế biến đạt hiệu quả kinh tế cao” chính là cơ sở và là đònbẩy quan trọng để huyện Đại Từ phát huy tiềm năng, lợi thế, đưa ngành sản xuấtchè thành ngành sản xuất mũi nhọm của huyện, góp phần xoá đói giảm nghèo, tiếnlên làm giàu cho nông nghiệp nông thôn vùng núi của huyện
Dự án “Xây dựng mô hình sản xuất thâm canh chè gắn với cơ sở chế biến đạt
Trang 29hiệu quả kinh tế cao tại huyện Đại Từ” thuộc chương trình Xây dựng mô hình ứngdụng và chuyển giao khoa học công nghệ phục vụ phát triển kinh tế xã hội nôngthôn miền núi giai đoạn từ nay đến năm 2010 do Bộ Khoa học & Công nghệ làmchủ quản lý chương trình UBND tỉnh là chủ quản dự án và Công ty Cổ phần Xuấtxuất nhập khẩu Thái Nguyên là đơn vị chủ trì, có tổng kinh phí thực hiện là 4 tỷ 350triệu đồng Mục tiêu của Dự án là Xây dựng vùng chè nguyên liệu có năng suất cao,chất lượng tốt, tạo ra các loại sản phẩm có chất lượng, có mẫu mã, kiểu dáng côngnghiệp cho riêng mình, gắn kết vùng nguyên liệu với chế biến, tiêu thụ sản phẩm.Bốn địa phương của huyện Đại Từ nằm trong Dự án là La Bằng, Hoàng Nông, PhúThịnh và Phú Cường Quy mô của Dự án là áp dụng các tiến bộ kỹ thuật xây dựng
mô hình thâm canh 100 ha chè trung du có năng suất từ 7 tấn/ha lên 9 tấn/ha sau Dự
án Xây dựng mô hình 50 ha trồng thâm canh và trồng cải tạo thay thế từ vườn chètrung du già cỗi bằng giống chè LDP1 và hệ thống tưới bằng vòi cầm tay, đạt năngsuất 3,5 tấn/ha chè 3 tuổi; 10 tấn/ha chè 8 tuổi; Xây dựng mô hình vườn nhân giốngchè quy mô 10 vạn bầu/năm để vừa huấn luyện, đào tạo người sản xuất kỹ thuậtnhân giống chè, đồng thời hình thành dây chuyền thiết bị đồng bộ chế biến chè xanh
có công suất 1 tấn/ngày và áp dụng kỹ thuật cải tiến trong công nghệ chế biến chèxanh nâng cao chất lượng, đáp ứng nhu cầu thị trường
Có thể nói đây là Dự án gắn kết giữa 4 nhà: Nhà nước, nhà khoa học, nhàdoanh nghiệp và nhà nông Trong đó nhà doanh nghiệp và nhà nông có vai trò quantrọng trong mối liên kết này, nhằm nâng cao giá trị hàng hoá, thu nhập đời sốngngười dân Do vậy, đòi hỏi cao hơn nữa là sự hợp tác gắn bó chặt chẽ giữa doanhnghiệp và hộ nông dân là điều thực sự cần thiết Dự án Xây dựng sản xuất thâmcanh chè gắn với cơ sở chế biến đạt hiệu quả kinh tế cao tại huyện Đại Từ đã triểnkhai thực hiện được 3 năm Đây chính là cơ sở quan trọng để Đại Từ thực hiệnthành công Mục tiêu trồng thâm canh giống chè mới thêm 500 ha, tăng năng suấtsản lượng chè từ 33.300 tấn lên 37.500 tấn/năm vào năm 2010
1.2.3 Bài học rút ra từ hoạt động liên kết
Qua kinh nghiệm của các nước chúng ta có thể thấy liên kết trong sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm là rất cần thiết và cần nhận được nhiều sự quan tâm hơn từ cácbên có liên quan
Đối với các nước có sản xuất mặt hàng nông sản nông nghiệp và đặc biệt làsản xuất ngô ngọt, trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ngô đều có hoạt động liênkết giữa sản xuất và tiêu thụ, mối liên kết này có quy mô khá lớn, thường liên kết
Trang 30trong một vùng hay một ngành hoặc nhiều ngành.
Chính phủ các nước cũng rất quan tâm đến vấn đề là làm thế nào để người sảnxuất nông nghiệp yên tâm sản xuất, người chế biến yên tâm về nguồn đầu vào cho sảnxuất, người tiêu dùng thì hài lòng về các sản phẩm sau chế biến có mặt trên thịtrường, vì thế họ ban hành những chính sách vĩ mô giúp cho hoạt động liên kết thực
sự hiệu quả, góp phần phát triển kinh tế xã hội Vì vậy, chúng ta cần hoàn thiện hơn vềchủ trương, chính sách để thúc đẩy liên kết phát triển
Đẩy mạnh hợp đồng liên kết bằng văn bản pháp lý nhằm tạo ra sự ổn định vàtrách nhiệm cũng như ràng buộc lẫn nhau giữa các bên Tạo động lực cho liên kết sảnxuất – tiêu thụ nông sản phát triển nhằm mục tiêu tăng lợi nhuận và khả năng cạnhtranh cho sản xuất nông nghiệp Hợp đồng sản xuất nông nghiệp như phương tiện đểgắn nông dân sản xuất nhỏ với doanh nghiệp chế biến quy mô lớn
Tăng cường hợp tác 4 nhà bao gồm: Nhà sản xuất, doanh nghiệp, Nhà khoahọc và Nhà nước Tạo ra sự chặt chẽ trong liên kết, tạo thành chuỗi phát triển ổn định
và lâu dài mang lại lợi ích cho các bên tham gia
Bên cạnh đó cần đầu tư cơ sở hạ tầng nông thôn và sự quan tâm của các cấplãnh đạo địa phương tới việc thực hiện mối liên kết của địa phương mình
Chính từ những nhận thức về lợi ích từ hoạt động liên kết mang lại, từ nhữngnăm đầu của thế kỷ 19 một số nước trên thế giới đã biết vận dụng và thực hiện hoạtđộng này rất hiệu quả
1.2.4 Tổng quan một số tài liệu nghiên cứu trước
Nghiên cứu trong lĩnh vực sản xuất và tiêu thụ nông sản nói chung, sản xuất tiêuthụ mặt hàng ngô hướng đến sản xuất và tiêu thụ phục vụ cho thị trường nội địa và xuấtkhẩu nói riêng hiện đã có nhiều công trình nghiên cứu có liên quan
“Nghiên cứu hoạt động liên kết trong sản xuất và tiêu thụ một số loại cây rau màu tại huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương” Tác giả Bùi Thị Hoa, luận văn thạc sĩ kinh
tế, chuyên ngành kinh tế nông nghiệp Đề tài đánh giá thực trạng hoạt động liên kết
giữa các chủ thể tham gia liên kết trong sản xuất và tiêu thụ đối với một số cây raumàu, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp tác động, giúp cho hoạt động liên kết cóhiệu quả hơn
“ Nghiên cứu liên kết giữa doanh nghiệp và hộ nông dân trong sản xuất - tiêu thụ ngô của Công ty Cổ phần thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao và Bắc Giang” Tác giả Phan Thị Hương Mơ, Khóa luận tốt nghiệp Tác giả đã so sánh mối liên kết giữa
hộ nông dân và hai Công ty CPTPXK Đồng Giao và Bắc Giang Đưa ra nhưng nhân
Trang 31tố ảnh hưởng và giải pháp để khắc phục nhằm nâng cao mối liên kết góp phần làmcho nền nông nghiệp phát triển hơn.
“Nghiên cứu các mối liên kết giữa sản xuất và chế biến tiêu thụ sản phẩm chè trên địa bàn huyện Thanh Ba,tỉnh Phú Thọ” Tác giả Quyền Mạnh Cường, luận văn thạc sỹ kinh tế trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, 2006 Đề tài chỉ ra mối
liên kết giữa các hộ dân và một số Công ty chè trên địa bàn huyện Thanh Ba là liênkết thông qua hợp đồng kinh tế và liên kết theo hình thức truyền thống Từ sự sosánh kết quả, mở rộng vùng tập trung giúp ổn định đầu vào trong sản xuất, chế biến
và đề ra các giải pháp phát triển liên kết
“Nghiên cứu mối liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Dứa của hộ nông dân và Công ty cổ phần thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao” Tác giả Trần Văn Thanh, khóa luận tốt nghiệp trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, 2012 Đề tài chỉ
ra mối liên kết kinh tế giữa hộ nông dân sản xuất Dứa và Công ty CPTPXK ĐồngGiao là mối liên kết từ lâu và đạt được những hiệu quả khả quan Đề tài phân tíchmột số nhân tố ảnh hưởng tới mối liên kết bền vững giữa doanh nghiệp và hộ sảnxuất và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả liên kết giữa hộ nông dân
và Công ty
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Từ việc làm rõ bản chất của liên kết kinh tế giữa hộ nông dân và Công tytrong nghiên cứu sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ngô nếp ngọt, nghiên cứu đã làm rõđặc điểm và ý nghĩa của liên kết Theo đó, đặc điểm của liên kết hộ nông dân vàCông ty trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ngô nếp ngọt bao gồm: i) Liên kết kinh
tế giữa hộ nông dân và Công ty là một bộ phận của quan hệ kinh tế giữa nôngnghiệp với công nghiệp; ii) Liên kết kinh tế giữa nông dân và Công ty là mắt xíchđầu tiên trong chuỗi giá trị và iii) Liên kết kinh tế giữa hộ nông dân và Công tytrong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ngô nếp ngọt là mối quan hệ bất cân xứng Các
mô hình liên kết hộ nông dân và Công ty trong sản xuất và tiêu thụ ngô nếp ngọtbao gồm mô hình tập trung trực tiếp, mô hình hạt nhân trung tâm, mô hình trunggian và mô hình phi chính thức
Trang 32Nội dung nghiên cứu liên kết hộ nông dân và Công ty trong sản xuất và tiêuthụ sản phẩm ngô nếp ngọt được xác định bao gồm 3 yếu tố: lĩnh vực và hình thứcliên kết, quy tắc ràng buộc và quản trị thực hiện Trên cơ sở các nội dung được xácđịnh, các chỉ tiêu đánh giá mô hình liên kết hộ nông dân và Công ty trong sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm ngô nếp ngọt bao gồm nhóm chỉ tiêu đánh giá về số lượng vàchất lượng mô hình liên kết và nhóm chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả kinh tế
Trang 33CHƯƠNG 2.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên của huyện Kim Động
2.1.1.1 Vị trí địa lý, địa hình
Huyện Kim Động nằm ở phía tây nam của tỉnh Hưng Yên Phía bắc giáphuyện Khoái Châu, phía nam giáp thành phố Hưng Yên; phía đông giáp huyện ÂnThi và Tiên Lữ ; phía tây giáp sông Hồng, bên kia là huyện Phú Xuyên (Hà Nội) vàDuy Tiên (Hà Nam)
Có quốc lộ 39A và sông Hồng chạy qua, liền kề với trung tâm tỉnh lỵ HưngYên, nối với quốc lộ 5 khoảng 20km Đây là một trong những điều kiện thuận lợi,
dễ dàng trong việc giao lưu kinh tế, văn hóa, khoa học và liên kết kinh tế trên cáclĩnh vực với các tỉnh liền kề bằng những lợi thế riêng của huyện, đặc biệt là với thủ
đô Hà Nội và các thành phố lớn: Hải Phòng, Hải Dương…
Bảng 2.1 Diện tích các xã của huyện Kim Động năm 2016
Trang 34Kim Động có 19 đơn vị hành chính, gồm 18 xã và 1 thị trấn với tổng diệntích 114,684 km2.
Kim Động là huyện thuộc vùng đồng bằng Bắc bộ, nằm trên bờ tả ngạn sôngHồng có địa hình khá phức tạp, cao thấp xen kẽ nhau, chia thành 2 vùng rõ rệt:Vùng ngoài đê gồm toàn bộ diện tích của 3 xã và một phần diện tích của 5 xã ven
đê, chiếm 18% diện tích tự nhiên, địa hình bán lòng chảo dốc dần từ dải cao ven bốixuống vùng trũng ven đê Vùng nội đồng gồm 19 xã, chiếm 82% diện tích tự nhiên,
có hướng dốc từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông
2.1.1.2 Khí hậu, thủy văn
Huyện Kim Động mang đặc điểm của khí hậu đồng bằng sông Hồng: nhiệtđới gió mùa, có mùa đông lạnh hơn nhiều so với điều kiện trung bình vĩ tuyến; thời
kỳ đầu của mùa đông tương đối khô, nửa cuối thì ẩm ướt, mùa hạ nóng ẩm, nhiềumưa, khí hậu biến động mạnh
Kim Động có khí hậu nhiệt đới gió mùa với 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng
5 đến tháng 10 với đặc trưng là nóng ẩm mưa nhiều; mùa khô từ tháng 11 đến tháng
4 năm sau thường lạnh, đầu mùa khí hậu tương đối khô, nửa cuối ẩm ướt và có mưaphùn, nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 230C, cao nhất 37 – 390C, thấp nhấtkhông dưới 50C Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,20c Mùa hè nhiệt độ trungbình 30 – 320c; cao nhất vào tháng 6 và 7 nhiệt độ có khi lên tới 380c Mùa đôngnhiệt độ trung bình 17-220c; thấp nhất vào tháng 1 và 2 nhiệt độ 8-100c Tổng tích
ôn trung bình hàng năm là 85030c
Độ ẩm không khí trung bình hàng năm xấp xỉ 85%, cao nhất 90,6%, thấpnhất 60% Tháng 3 là tháng ẩm nhất và tháng 11 là tháng khô nhất
Tổng lượng mưa trung bình hàng năm 1700mm Lượng mưa trung bìnhtháng trong năm là 175mm Mưa tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 9 Mưathường xảy ra trùng với nước lũ sông Hồng lên cao, gây úng lụt ảnh hưởng xấu đếnsản xuất và sinh hoạt của dân cư Nguồn nước sông Hồng là nguồn nước chủ yếucung cấp cho việc tưới và bồi đắp một phần phù sa cho đồng ruộng của huyện
Tổng số giờ nắng trung bình trong năm là 1401,3 giờ, tập trung chủ yếu vàocác tháng 5, 6, 7, 8, 9, 10 Trong đó, tháng có số giờ nắng nhiều nhất là 170,8 giờ,tháng có số giờ nắng thấp nhất là 39,0 giờ Mức độ chênh lệch giữa tháng nắngnhiều nhất và tháng nắng ít nhất là khá cao 141,8 giờ
Trang 35Chế độ thủy văn của huyện Kim Động chịu ảnh hưởng sâu sắc của chế độthủy văn sông Hồng, mực nước những năm có lũ thường cao 7 – 9m, so với caotrình mặt đê trung bình 12 – 13m.
Với khí hậu – thủy văn như trên là điều kiện thuận lợi cho sinh trưởng củanhiều loại cây trồng tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nền nông nghiệp đadạng, phong phú Song phải có những biện pháp phòng chống hạn úng, đồng thờiphải xác định cơ cấu mùa vụ cây trồng hợp lý nhằm nâng cao năng suất, chấtlượng, hiệu quả kinh tế cao
2.1.1.3 Đất đai, thổ nhưỡng
Kim Động có diện tích đất tự nhiên là 13091,55 ha trong đó đất nông nghiệp
có 8537,51ha (chiếm 65,21% tổng diện tích tự nhiên); đất phi nông nghiệp4541,37ha (chiếm 34,69 % tổng diện tích tự nhiên); đất chưa sử dụng là 12,67(chiếm 0,10 % tổng diện tích tự nhiên) Hiện trạng sử dụng đất của huyện KimĐộng được thể hiện qua (Bảng 2.2)
Bảng 2.2 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Kim Động năm 2016
5 Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng 676,52 14,90
Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Kim Động (2016)
Diện tích đất sản xuất nông nghiệp huyện Kim Động là 7554,78 ha chiếm88,49% tổng diện tích đất nông nghiệp, trong đó:
- Diện tích đất trồng cây hàng năm là 5504,90ha chiếm 72,87% tổng diệntích đất sản xuất nông nghiệp
- Diện tích đất trồng cây lâu năm là 2049,88ha chiếm 27,13% tổng diện tíchđất sản xuất nông nghiệp
Trang 36Đất mặt nước nuôi trồng thủy sản là 968,02ha chiếm 11,34% tổng diện tíchđất nông nghiệp, việc khai thác loại đất này trong những năm gần đây ngày càngmang lại hiệu quả kinh tế cao.
Đất nông nghiệp khác 14,71ha chiếm 0,17% tổng diện tích đất nông nghiệp.Đất phi nông nghiệp là 4541,37ha chiếm 34,69% tổng diện tích đất tự nhiêntrong đó: Đất ở 1170,59 ha chiếm 25,78%; Đất chuyên dùng 2.544,88ha chiếm56,04%; Đất tôn giáo, tín ngưỡng 31,83ha chiếm 0,70%; Đất nghĩa trang, nghĩa địa114,99ha chiếm 2,53%; Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng 676,52ha chiếm14,90%; Đất phi nông nghiệp khác 2,56ha chiếm 0,06% diện tích đất phi nông nghiệp
Đất chưa sử dụng có diện tích là 12,67ha chiếm 0,10 % tổng diện tích đất
tự nhiên
Kim Động chịu ảnh hưởng trực tiếp của nạn vỡ đê nhiều năm liền trong thời
kỳ phong kiến của những năm 1969 và năm 1971 Địa hình của huyện khá phức tạp,cao thấp xen kẽ nhau, nhìn chung có hướng dốc từ Bắc xuống Nam và từ Tây sangĐông Đất đai của Kim Động được chia làm 3 loại đất chính và chia thành 3 vùng rõrệt, phù hợp với đặc điểm tự nhiên và cơ cấu sản xuất nông nghiệp Đặc biệt, huyệnKim Động đang quản lý 21,42 km chiều dài sông Hồng chảy dọc phía Tây của huyện,vừa cung cấp nước tưới cho sản xuất nông nghiệp toàn huyện thông qua hệ thốngcống, mương máng, kênh, rạch vừa có tác dụng quan trọng về giao thông và góp phầntăng dinh dưỡng phù sa cho đất, cải thiện môi trường sinh thái cho huyện Kim Động
Đất đai của huyện Kim Động tương đối tốt, phía ngoài bối hàng năm đượcphù sa sông Hồng bồi đắp, toàn bộ phần còn lại cũng thường xuyên được tưới bằngnước sông Hồng qua hệ thống thủy nông Bắc Hưng Hải So với các huyện lân cậntầng đất mặt của địa phương có tỷ lệ mùn khá, tầng canh tác dày Hàm lượng N, K
dễ tiêu cao hơn so với các huyện phía nam của tỉnh như Ân Thi Độ pH đất từ 6,5 –7,0 phù hợp với nhiều loại cây trồng Ở độ sâu 50 – 110m có nguồn nước ngầm chấtlượng khá tốt, có thể bổ sung để tưới cho cây trồng khi cần thiết Thành phần dinhdưỡng đất của huyện Kim Động được thể hiện trong bảng 2.2
Bảng 2.3 Thành phần dinh dưỡng đất huyện Kim Động
Trang 372.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
2.1.2.1 Dân số và nguồn lao động
Tính đến (2016), huyện Kim Động có 186.450 người, trong đó dân số nôngnghiệp là 68.322 người, chiếm 36,64% Hiện nay, số người trong độ tuổi lao độngcủa huyện có 118.128 người, chiếm 63,36% dân số toàn huyện Lao động đang làmviệc trong các ngành kinh tế quốc dân là 106.446 người, chiếm 58,7% lao độngtrong độ tuổi
Nguồn: Chi cục Thống kê huyện Kim Động (2016)
2.1.2.2 Tình hình Văn hoá, Xã hội
- Về Giáo dục & Đào tạo:
Toàn huyện có 80 trường học các cấp trong đó: 5 trường PTTH vàTTGDTX, 25 trường mầm non, 50 trường THCS và tiểu học Với số lượng trườnghọc như trên, cơ bản địa phương đã đáp ứng được nhu cầu học tập của học sinh,nâng cao trình độ dân trí, đào tạo cho đất nước những chủ nhân tương lai NgànhGiáo dục huyện Kim Động luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo của các cơ quanchức năng và sự chăm lo của toàn dân; đội ngũ giáo viên đã được chuẩn hóa tươngđối cao
- Về Y tế:
Mỗi xã trong huyện có một trạm Y tế, trong đó có 16/19 xã đạt xã chuẩn Quốc gia về Y tế (chiếm 84%)
- Về Văn hóa, thông tin, thể thao, an ninh, quốc phòng:
Lĩnh vực văn hóa, xã hội được quan tâm tương xứng với nhịp độ phát triểnkinh tế, an sinh xã hội được chăm lo, đảm bảo, đời sống vật chất và tinh thần của
Trang 38nhân dân được cải thiện rõ nét An ninh, chính trị được giữ vững, nền quốc phòngtoàn dân và công tác quân sự địa phương được củng cố, tăng cường, trật tự an toàn
xã hội cơ bản được đảm bảo
2.1.2.3 Tình hình chung về kinh tế
Trong những năm vừa qua nền kinh tế của huyện Kim Động có nhiều đổithay, tổng giá trị sản xuất tăng nhanh qua các năm, từ 1795,885 đồng năm 2014tăng lên 2287,103 đồng năm 2016, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 20,6% năm
Xem bảng 3.5 ta thấy ngành nông nghiệp đã giảm đi từ 27,89% năm 2014xuống còn 23,58% (2016) nhưng nó vẫn là nguồn thu chính của huyện Ngành CN -TTCN - XD có tốc độ tăng trưởng nhanh, qua 3 năm 2015 - 2016 ngành CN -TTCN - XD tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 32,2% năm, ngành thương mại – dịch
Trang 39Bảng 2.5 Kết quả phát triển kinh tế của huyện Kim Động qua các năm (2014-2016)
Chỉ tiêu
SL (trđ) (%) CC (trđ) SL (%) CC (trđ) SL (%) CC 15/14 16/15 BQ
1 Tổng giá trị sản xuất 1795,885 100 2044,390 100 2287,103 100 113,83 127,35 120,61.1 Ngành Nông nghiệp 500,913 27,89 545,344 26,67 539,396 23,58 108,9 107,7 108,3
Trang 402.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Tôi chọn ba xã có mối liên kết với công ty đó là xã Vũ Xá, xã Hiệp Cường, xãChính Nghĩa thuộc huyện Kim Đông – Hưng Yên để nghiên cứu Công ty CP giốngcây trồng trung ương và các hộ nông dân ba xã thuộc huyện Kim Động có mối liên kếtlâu dài trong khoảng 10 năm trở lại đây, điển hình cho mối liên kết hiệu quả trong sảnxuất - tiêu thụ nông sản nói chung và sản phẩm ngô nếp ngọt nói riêng
Tôi tiến hành nghiên cứu tại Công ty CP giống cây trồng trung ương trên địabàn Hà Nội vì đây là Công ty có quy mô sản xuất lớn và đạt hiệu quả cao Đặc biệtviệc quy hoạch và xây dựng vùng nguyên liệu có hiệu quả Hơn nữa vùng nguyênliệu của công ty và vùng nguyên liệu của người dân cung cấp cho sản xuất củaCông ty là tương đối lớn
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
2.2.2.1 Số liệu thứ cấp
Tài liệu thứ cấp là cơ sở quan trọng để tìm hiểu, hình thành phương phápluận cho nghiên cứu và tìm hiểu tình hình triển khai cũng như đánh giá kết quả thựchiện chính sách hỗ trợ sản xuất – tiêu thụ nông sản nói chung và sản phẩm ngô nếpngọt nói riêng
Tài liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn khác nhau như: Internet, sáchbáo, tạp chí, báo cáo của huyện, xã, các phòng ban cấp xã, huyện có liên quan đếntình hình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ngô nếp ngọt, báo cáo về phát triển kinh tế xãhội, các báo cáo của công ty về tình hình sản xuất, kinh doanh, thu mua nguyên liệunông sản và các trang WEB có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài
Các tài liệu được sắp xếp và phân bổ theo các chủ đề phục vụ nội dungnghiên cứu
2.2.2.2 Số liệu sơ cấp
Số liệu sơ cấp về thực trạng liên kết được thu thập thông qua:
+ Tài liệu sơ cấp thu thập bằng cách điều tra trực tiếp 45 hộ sản xuất ngô nếpngọt trên địa bàn ba xã thuộc huyện Kim Động cung cấp sản phẩm cho Công ty.Các cán bộ lãnh đạo địa phương và cán bộ phòng nguyên liệu của công ty CP giốngcây trồng trung ương