Sau khi nghiên cứu phân tích thực trạng sinh kế và tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng tới thu nhập của hộ gia đình bị thu hồi đất tại dự án Khu dân cư phường An Bình cho thấy: Đời sống của cá
Trang 1DANH HÙNG
TÁC ĐỘNG CỦA THU HỒI ĐẤT ĐẾN THU NHẬP CỦA HỘ GIA
ĐÌNH TẠI DỰ ÁN KHU DÂN CƯ PHƯỜNG AN BÌNH,
THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017
Trang 2DANH HÙNG
TÁC ĐỘNG CỦA THU HỒI ĐẤT ĐẾN THU NHẬP CỦA HỘ GIA
ĐÌNH TẠI DỰ ÁN KHU DÂN CƯ PHƯỜNG AN BÌNH,
THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60340410
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN QUỲNH HOA
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017
Trang 3Tôi cam đoan kết quả Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi với sự hướng dẫn của TS Nguyễn Quỳnh Hoa Các số liệu thu thập được thực hiện một cách trung thực và kết quả nghiên cứu không trùng lắp với nghiên cứu nào trước đây Các số liệu, kết quả do trực tiếp tác giả thu thập, thống kê và xử lý Các nguồn dữ liệu khác được tác giả sử dụng trong luận văn đều có ghi nguồn trích dẫn
và xuất xứ
TP Hồ Chí Minh, ngày 18 tháng 01 năm 2018
Tác giả luận văn
Danh Hùng
Trang 4TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT
DAH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
TÓM TẮT LUẬN VĂN
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 2
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 2
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.5 KẾT CẤU LUẬN VĂN 3
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 4
2.1 ĐẤT ĐAI VÀ THU HỒI ĐẤT THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 4
2.1.1 Khái niệm về đất đai 4
2.1.2 Các văn bản liên quan đến đất đai 4
2.1.3 Khái niệm về thu hồi đất 5
2.2 CHÍNH SÁCH THU HỒI ĐẤT 6
2.3 SINH KẾ VÀ SINH KẾ BỀN VỮNG 7
2.3.1 Khái niệm về sinh kế 7
2.3.2 Sinh kế bền vững 8
2.3.3 Khung lý thuyết về sinh kế bền vững 9
2.3.3.1 Tài sản sinh kế 10
Trang 52.3.3.3 Chiến lược sinh kế 12
2.3.3.4 Kết quả của sinh kế 12
2.4 HỘ GIA ĐÌNH 12
2.5 LƯỢC KHẢO NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM LIÊN QUAN 13
2.6 CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 16
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 17
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
3.1 CÁCH TIẾP CẬN NGHIÊN CỨU 18
3.2 THÔNG TIN DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 18
3.2.1 Thông tin dữ liệu thứ cấp 18
3.2.2 Thông tin dữ liệu sơ cấp 19
3.3 MÔ HÌNH VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 19
3.4 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỐ LIỆU 24
3.4.1 Quy trình sàng lọc và xử lý dữ liệu 24
3.4.2 Phân tích thống kê mô tả 24
3.4.3 Phương pháp hồi quy Binary Logistic 24
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 24
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25
4.1 GIỚI THIỆU VỀ PHƯỜNG AN BÌNH 25
4.2 ĐÁNH GIÁ NGUỒN VỐN SINH KẾ CỦA HỘ GIA ĐÌNH 30
4.2.1 Nguồn vốn con người 30
4.2.2 Nguồn vốn tự nhiên 34
4.2.3 Nguồn vốn tài chính 34
4.2.4 Nguồn vốn vật chất 35
4.2.5 Nguồn vốn xã hội 36
4.3 PHÂN TÍCH MỨC ĐỘ TĂNG THU NHẬP CỦA HỘ GIA ĐÌNH 37
4.4 KẾT QUẢ KHẢO SÁT CÁC CHUYÊN GIA 40
4.5 KẾT QUẢ HỒI QUY 41
4.5.1 Kiểm tra đa cộng tuyến của các biến trong mô hình 41
Trang 64.6 ĐÁNH GIÁ NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN, HẠN CHẾ TRONG THỰC HIỆN CÁC CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG, GIẢI PHÓNG MẶT
BẰNG CỦA NHÀ NƯỚC 45
4.6.1 Những thuận lợi 46
4.6.2 Những khó khăn, hạn chế 47
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 48
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 49
5.1 KẾT LUẬN 49
5.2 HÀM Ý CHÍNH SÁCH 49
5.3 HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
PHỤ LỤC PHÂN TÍCH SỐ LIỆU
DANH SÁCH 110 HỘ GIA ĐÌNH THU HỒI ĐẤT
DANH SÁCH 05 CHUYÊN GIA, CÁN BỘ GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG
Trang 7CP Cổ phần
QĐ-TTg Quyết định Thủ tướng chính phủ QĐ-UBND Quyết định Ủy ban nhân dân
TT-BTNMT Thông tư Bộ tài nguyên và môi trường
TTr-TV ĐTXD Tờ trình tư vấn đầu tư xây dựng
Trang 8Bảng 3.1: Giải thích các biến trong mô hình 23
Bảng 4.13: Ma trận tương quan giữa các biến độc lập 42
Trang 9Hình 2.1: Khung sinh kế bền vững của DFID 10 Hình 4.1: Cơ cấu các thành phần dân tộc của phường An Bình 26
Biểu đồ 4.6: Tăng thu nhập theo nghề nghiệp chủ hộ 38
Trang 10Nghiên cứu những ảnh hưởng của việc thu hồi đất để xây dựng dự án Khu dân
cư phường An Bình, thành phố Rạch Giá là việc làm rất cần thiết nhằm phát triển hệ thống công trình hạ tầng của thành phố Rạch Giá được đồng bộ, khang trang, tiến tới hoàn chỉnh theo tiêu chuẩn đô thị loại II đạt yêu cầu về kiến trúc, cảnh quan khu
đô thị, đồng thời góp phần cùng phường An Bình quy hoạch phát triển mới mạng lưới hạ tầng kỹ thuật, phân bố lại nhà ở theo hướng mỹ quan, văn minh Trong thời gian qua, các cấp, các ngành trong tỉnh rất quan tâm đến vấn đề thu hồi đất, bồi thường, giải tỏa, bố trí tái định cư và đã cố gắng thực hiện nhiều biện pháp thiết thực để đảm bảo sinh kế, tăng thu nhập cho người dân có đất bị thu hồi
Sau khi nghiên cứu phân tích thực trạng sinh kế và tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng tới thu nhập của hộ gia đình bị thu hồi đất tại dự án Khu dân cư phường An Bình cho thấy: Đời sống của các hộ gia đình sau khi thu hồi đất được cải thiện nhiều hơn so với trước khi thu hồi đất, có nhiều hộ gia đình sau khi nhận tiền bồi thường đã sử dụng rất tiết kiệm, hợp lý và tập trung đầu tư vào SXKD để nâng cao thu nhập cho gia đình Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện dự án, công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng vẫn còn phát sinh một số tồn tại, hạn chế làm ảnh hưởng đến đời sống, việc làm và thu nhập của hộ dân có đất bị thu hồi
Kết quả phân tích hồi quy Binary Logistic về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tăng thu nhập của 110 hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi dự án cho thấy, có 6 trong
8 biến được đưa vào mô hình có ảnh hưởng đến khả năng tăng thu nhập gồm tuổi, nghề, học vấn, số lượng lao động, đầu tư và diện tích bị thu hồi
Trang 11CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ngày xưa, ông bà ta có câu “An cư lạc nghiệp”, câu nói ấy lưu truyền từ xưa đến nay và luôn đúng với mọi lúc, mọi nơi và với bao thế hệ Có an cư thì mới có lạc nghiệp, con người ta khi sinh ra và lớn lên theo quy luật sinh tồn, ai ai cũng muốn mình có một cuộc sống ổn định, ấm no và hạnh phúc Từ những nhu cầu trên, thì việc xây dựng các khu dân cư để đáp ứng nhu cầu về nhà ở cho người dân, phát triển cơ sở hạ tầng là việc làm rất thiết thực mà Đảng và Nhà nước ta cần quan tâm đến
Thực tế cho thấy, việc thu hồi đất của nước ta để triển khai đầu tư xây dựng các dự án khu dân cư đã ảnh hưởng không nhỏ đến sinh kế của người dân như: Mất diện tích đất ở, đất sản xuất; điều kiện về kinh doanh, buôn bán bị giảm đi; việc làm, nghề nghiệp bị thay đổi, thu nhập không ổn định … Từ đó cho thấy, việc tìm ra các giải pháp thích hợp để giúp cho các hộ gia đình bị thu hồi có cuộc sống ổn định, nâng cao thu nhập là một việc làm rất cần thiết Thông qua đó, một mặt giúp các dự
án thực hiện đảm bảo tiến độ theo thiết kế đề ra, mặc khác giúp người dân cải thiện sinh kế hộ gia đình
Cùng với việc đầu tư xây dựng các dự án trên địa bàn tỉnh Kiên Giang, thì việc quy hoạch phát triển dự án Khu dân cư Phường An Bình, thành phố Rạch Giá
là một trong những giải pháp rất quan trọng để góp phần phát triển hạ tầng thành phố, đáp ứng nhu cầu về nhà ở cho người dân
Trên cơ sở thực trạng trên, tác giả muốn tìm hiểu một cách sâu hơn là sau khi
bị thu hồi đất cuộc sống của các hộ dân như thế nào? Thu nhập của họ ra sao? Họ
sẽ phải đối mặt với những trở ngại, khó khăn gì? Chính quyền địa phương cần có những giải pháp nào để đảm bảo cho người dân có cuộc sống ổn định, thu nhập tốt
hơn sau khi bị thu hồi đất? Với mong muốn nêu trên, tác giả chọn đề tài: “Tác
động của thu hồi đất đến thu nhập của hộ gia đình tại dự án Khu dân cư phường
An Bình, thành phố Rạch Giá” để nghiên cứu
Trang 12Tác giả sẽ phân tích làm rõ các yếu tố tác động đến thu nhập của người dân sau khi thu hồi đất tại dự án Khu dân cư phường An Bình, thành phố Rạch Giá Trên cơ sở đó, tác giả sẽ đề xuất một số giải pháp, cơ chế chính sách để giúp cho người dân nâng cao thu nhập, góp phần phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đánh giá sinh kế của người dân và phân tích các yếu tố tác động đến thu nhập của người dân sau khi thu hồi đất tại dự án Khu dân cư phường An Bình, thành phố Rạch Giá, để từ đó đề xuất một số giải pháp, cơ chế chính sách nhằm hỗ trợ cho người dân nâng cao thu nhập để ổn định cuộc sống
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Với 3 mục tiêu cơ bản nêu trên, đề tài tập trung tìm kiếm câu trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu như sau:
Thực trạng sinh kế của người dân ở khu vực dự án Khu dân cư phường An Bình, thành phố Rạch Giá hiện nay diễn biến như thế nào?
Các yếu tố nào đã làm ảnh hưởng đến thu nhập của người dân sau khi thu hồi đất tại Dự án Khu dân cư phường An Bình, thành phố Rạch Giá?
Những giải pháp, cơ chế chính sách nào của chính quyền địa phương cần thực hiện để nâng cao thu nhập, ổn định cuộc sống trong thời gian tới?
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 13Luận văn nghiên cứu trên đối tượng là sinh kế của người dân sau khi thu hồi đất thuộc dự án Khu dân cư phường An Bình, thành phố Rạch Giá
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: phạm vi không gian được thực hiện đối với hộ gia đình bị
thu hồi đất tại dự án Khu dân cư phường An Bình, thành phố Rạch Giá
- Về thời gian: Dữ liệu thống kê từ giai đoạn năm 2011 đến tháng 6 năm
2017 và dữ liệu do tác giả tiến hành thu thập từ điều tra của các hộ dân từ tháng 10 đến hết tháng 11/2017
1.5 KẾT CẤU LUẬN VĂN
Luận văn kết cấu gồm 5 chương cụ thể như sau:
Chương 1 Giới thiệu nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách
Trang 14CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 ĐẤT ĐAI VÀ THU HỒI ĐẤT THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
2.1.1 Khái niệm về đất đai
Đất đai là điều kiện vật chất mà mọi sản xuất và sinh hoạt đều cần tới Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, sự hình thành và phát triển của mọi nền văn minh đều xây dựng trên nền tảng cơ bản là đất đai
Hội nghị quốc tế về môi trường tại Rio de Janerio, Brazil, 1993 nêu rõ: “Đất
đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó như: khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước, lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại”
Theo Hiến pháp năm 2013: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng
sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” (Điều 53, Hiến pháp năm 2013 được Quốc
hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua
ngày 28 tháng 11 năm 2013) “Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn
lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật” (Điều 54, Hiến
pháp năm 2013 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28 tháng 11 năm 2013)
Theo Luật Đất đai năm 2013: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước
đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của luật này” (Điều 4, Luật Đất đai 2013 được
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2013)
2.1.2 Các văn bản liên quan đến đất đai
Trang 15Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013 và Luật đất đai năm 2013, Chính phủ đã ban hành các văn bản có liên quan đến quản lý đất đai như sau:
Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2013;
Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về giá đất; Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất; Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước;
Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 về sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai;
Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;
Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư số 02/2015/TT-BTNMT ngày 27/01/2015 quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ;
Thông tư số 75/2015/TT-BTNMT ngày 28/12/2015 quy định kỹ thuật về cơ
sở dữ liệu đất đai
Trên cơ sở các văn bản quy phạp pháp luật của Trung ương có liên quan đến đất đai Tỉnh ủy, UBND tỉnh Kiên Giang đã cụ thể hóa ban hành các văn bản có liên quan đến đất đai do địa phương quản lý, đồng thời tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo các nghành, các cấp và các địa phương tổ chức triển khai thực hiện
2.1.3 Khái niệm về thu hồi đất
Theo từ điển Tiếng Việt phổ thông định nghĩa: “Thu hồi là việc thu về lại,
lấy lại cái trước đó đã đưa ra, đã cấp phát hoặc bị mất vào tay kẻ khác” Từ đó, ta
có thể hiểu rằng thu hồi đất là việc Nhà nước lấy lại đất đã giao, đã cho thuê vì lý do nào đó Thu hồi đất thể hiện quyền lực Nhà nước, người đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai
Trang 16Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước
quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai” (Điều 3,
Luật Đất đai 2013)
Nhà nước quyết định thu hồi đất trong các trường hợp: “Nhà nước thu hồi
đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai; thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người” (Điều 16, Luật Đất đai 2013)
2.2 CHÍNH SÁCH THU HỒI ĐẤT
Sau khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực, Chính phủ và các Bộ ngành trung ương đã ban hành nhiều văn bản có liên quan đến chính sách thu hồi đất, cụ thể:
Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
Quyết định số 63/2015/QĐ-TTg ngày 10/12/2015 của Thủ tướng Chính phủ ban hành về chính sách hỗ trợ đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất;
Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
Thông tư 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/06/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất;
Thông tư 74/2015/TT-BTC ngày 15/05/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn lập
dự toán, sử dụng và thanh quyết toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Trang 17Trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật của trung ương đã ban hành liên quan đến đất đai UBND tỉnh Kiên Giang đã cụ thể hóa ban hành nhiều văn bản có liên quan đến việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất như:
Quyết định số 31/2008/QĐ-UBND ngày 20/10/2008 của UBND tỉnh Kiên Giang ban hành bảng quy định đơn giá bồi thường về cây trồng hoa màu trên địa bàn tỉnh Kiên Giang;
Quyết định số 35/2012/QĐ-UBND ngày 30/11/2012 của UBND tỉnh Kiên Giang ban hành quy định về đơn giá xây dựng mới nhà ở, công trình và các vật kiến trúc trên địa bàn tỉnh Kiên Giang;
Kế hoạch số 59/KH-UBND ngày 03/07/2013 của UBND tỉnh Kiên Giang về
hỗ trợ giải quyết việc làm và đào tạo nghề cho người lao động bị thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Kiên Giang;
Quyết định số 22/QĐ-UBND ngày 17/06/2015 của UBND tỉnh Kiên Giang ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
2.3 SINH KẾ VÀ SINH KẾ BỀN VỮNG
2.3.1 Khái niệm về sinh kế
Theo tự điển Bách khoa toàn thư: “ Sinh kế” là hoạt động kiếm sống của con
người thông qua việc sử dụng các nguồn lực (con người, tự nhiên, vật chất, tài chính, xã hội….) trong một môi trường dễ bị tổn thương có sự quản lý của các tổ chức, định chế, chính sách Khi hoạt động sinh kế thích ứng hoặc tránh được các tác động tiêu cực từ môi trường dễ bị tổn thương, đồng thời bảo đảm duy trì, phát triển được nguồn lực trong cả hiện tại và tương lai thì được coi là sinh kế bền vững
Khái niệm về sinh kế lần đầu tiên được đề cập trong báo cáo Brundland (1987), tại Hội nghị thế giới vì môi trường và phát triển Nó có thể được hiểu và sử dụng theo nhiều cách khác nhau Trong tiếng Tây Ban Nha, sinh kế được hiểu như
là “một cách sống bền vững” Trong tiếng Nga, nó được hiểu theo nghĩa “tạo thu
nhập và việc làm nông thôn”
Trang 18Còn theo DFID (1999), sinh kế bao gồm 3 nhân tố chính: Nguồn lực, khả năng con người có được chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế Có quan niệm cho rằng sinh kế không đơn thuần chỉ là vấn đề kiếm sống, kiếm miếng ăn và nơi ở, mà
nó còn đề cập đến vấn đề tiếp cận các quyền sở hữu, thông tin, kỹ năng, các mối
quan hệ (Wallmann,1984) Sinh kế cũng được xem như là “Sự tập hợp các nguồn
lực và khả năng con người có được kết hợp với những quyết định và hoạt động mà
họ thực thi nhằm để kiếm sống cũng như đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ” (DFID, 1999)
2.3.2 Sinh kế bền vững
Một sinh kế được cho là bền vững khi con người có thể đối phó và khắc phục được những áp lực và cú sốc Đồng thời có thể duy trì hoặc nâng cao khả năng và tài sản ở cả hiện tại và tương lai mà không gây tổn hại đến cơ sở các nguồn tài nguyên thiên nhiên
Chambers và Conway (1991), cho rằng: Sinh kế bền vững không được khai thác hoặc gây bất lợi cho môi trường hoặc cho các sinh kế ở hiện tại và tương lai, trên thực tế thì nó nên thúc đẩy sự hòa hợp giữa chúng và mang lại những điều tốt đẹp cho các thế hệ tương lai
Chambers và Gordon (1992), đưa ra khái niệm về sinh kế bền vững ở cấp hộ
gia đình: “Một sinh kế bền vững có thể đối phó với những rủi ro và những cú sốc,
duy trì và tăng cường khả năng và tài sản; đồng thời cung cấp các cơ hội sinh kế bền vững cho thế hệ sau góp phần tạo ra lợi ích cho cộng đồng, địa phương và toàn cầu, trong ngắn hạn và dài hạn Sinh kế bền vững cung cấp một phương pháp tiếp cận tích hợp chặt chẽ hơn với vấn đề nghèo đói”
Sinh kế bền vững nếu theo nghĩa này, phải hội đủ những nguyên tắc sau: Lấy con người làm trung tâm; dễ tiếp cận; có sự tham gia của người dân; xây dựng dựa trên sức mạnh con người và đối phó với các khả năng dễ bị tổn thương; tổng thể thực hiện ở nhiều cấp, trong mối quan hệ với đối tác bền vững và năng động
Trong các thành phần khác nhau của một sinh kế thì thành phần phức tạp
Trang 19nhất là danh mục các tài sản mất đi khi mà người dân xây dựng lại cuộc sống của
họ Danh mục tài sản này bao gồm tài sản hữu hình như cửa hàng và tài nguyên; tài sản vô hình như quyền lợi và khả năng tiếp cận (Krantz, 2001)
2.3.3 Khung lý thuyết về sinh kế bền vững
Khung sinh kế bền vững là một phương pháp tiếp cận toàn diện về các vấn
đề phát triển thông qua việc nhấn mạnh đến thảo luận sinh kế của con người Nó có nguồn gốc từ phân tích của Amartya Sen (1981) về các quyền trong mối quan hệ với nạn đói và đói nghèo, được Bộ phát triển Quốc tế Anh (Department for International Development - DFID) thúc đẩy (Diana Carney (ed.), 1998) cũng như được các học giả cùng với các cơ quan phát triển ứng dụng rộng rãi (Anthony Bebbington 1999; Koos Neefjes 2000; Frank Ellis 2000)
Lý thuyết khung sinh kế bền vững cho rằng: Con người dựa vào 05 loại tài sản vốn hay hình thức vốn để giảm nghèo và đảm bảo an ninh, bảo đảm sinh kế của mình, bao gồm: Vốn vật chất, vốn tài chính, vốn xã hội, vốn con người và vốn tự nhiên Đây là những loại vốn đóng góp cả hai vai đầu vào và đầu ra Tiếp cận sinh
kế bền vững cũng thừa nhận rằng các chính sách, thể chế và quá trình có ảnh hưởng đến sự tiếp cận và việc sử dụng các tài sản mà cuối cùng ảnh hưởng đến sinh kế (Paulo Filipe, 2005)
DFID đã đưa ra các phân tích sinh kế theo các phần về tổ chức, chính sách, nghiên cứu, những quy tắc về văn hóa Nó quyết định ai được thụ hưởng những loại tài sản nào và hệ thống những chiến lược sinh kế cuốn hút người dân (Carney, 1998)
Theo Phạm minh trí (2011), phương pháp tiếp cận của DFID nhằm tăng hiệu quả của các cơ quan của chính phủ hoặc các tổ chức phi chính phủ trong việc giảm những tác động từ những “cú sốc” theo hai cách chính: Thứ nhất lấy con người làm trung tâm; thứ hai là áp dụng tổng thể chương trình hỗ trợ để cải thiện sinh kế của người dân
Trang 20Hình 2.1: Khung sinh kế bền vững của DFID
Hình 2.1: Khung sinh kế bền vững của DFID
Nguồn vốn con người: Vốn con người bao gồm sức mạnh về thể lực, năng
lực, trí tuệ biểu hiện ở kỹ năng, kiến thức làm kinh tế, khả năng quản lý gia đình của người dân Các yếu tố giúp cho con người có thể theo đuổi những chiến lược tìm kiếm thu nhập khác nhau và đạt những mục tiêu sinh kế của họ Ở mức độ hộ gia đình, số lượng và chất lượng lao động trong hộ được xem như là vốn con người Sự khác nhau của yếu tố này tùy thuộc vào từng hộ gia đình được thể hiện thông qua quy mô của hộ, học vấn, nghề nghiệp, trình độ quản lý, sức khỏe
Nguồn vốn xã hội: Có nhiều tranh luận về định nghĩa nguồn lực xã hội, theo
Ellis (1999), vốn xã hội được xem là tất cả nguồn lực xã hội nhờ vào đó giúp con người kiếm sống được Nhưng theo DFID (1999), nguồn lực xã hội bao gồm tiềm
và tiếp
sinh
kế
Tác động đến sinh kế
• Tăng thu nhập
• Tăng thể chất
• Giảm các rủi ro
• An toàn lương thực
• Bền vững hơn
từ sử dụng nền tảng tự nhiên
Tiến trình thay đổi cấu trúc Cấu trúc
o đ ư ợ
c
Trang 21lực xã hội để theo đuổi các mục tiêu sinh kế của mình Vốn xã hội bao gồm các mối quan hệ trong xã hội mà con người dựa vào để thể hiện các hoạt động sinh kế, chủ yếu là các mạng lưới xã hội (các tổ chức chính trị hoặc dân sự), thành viên của các
tổ chức cộng đồng Mối quan hệ được thực hiện dựa trên sự tin tưởng, sự trao đổi và ảnh hưởng lẫn nhau
Nguồn vốn tự nhiên: Được dùng để chỉ về nguồn tài nguyên cung cấp các
nguồn lực và dịch vụ có ích cho sinh kế Vốn tự nhiên bao gồm nguồn tài nguyên có trong môi trường tự nhiên mà con người có thể sử dụng để thực hiện hoạt động sinh
kế như: Đất đai, rừng, nước, không khí, cây trồng, vật nuôi, đa dạng sinh học…trong thực tế, sinh kế người dân dễ bị tác động rất lớn bởi sự biến đổi của nguồn vốn tự nhiên
Nguồn vốn vật chất: Bao gồm cơ sở hạ tầng và các hàng hóa sản xuất cần
thiết để hỗ trợ cho sinh kế của người dân như: Kênh rạch, đường giao thông, nhà ở,
hệ thống cung cấp điện, nước, nhà vệ sinh, các phương tiện tiếp cận thông tin để đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người; các phương tiện sản xuất như công cụ, máy móc và các phương tiện khác giúp cho con người hoạt động với năng suất cao…Trong tài sản vật chất thì các nhân tố làm cho sinh kế của con người trở nên
đa dạng hơn là cơ sở hạ tầng như đường sá, hệ thống cung cấp điện, nước
Nguồn vốn tài chính: Chủ yếu là tiền mặt và các khoản tài chính tương
đương mà con người sử dụng để đạt được mục tiêu sinh kế của mình Vốn tài chính được thể hiện bằng khả năng tạo ra đồng tiền cho hộ gia đình bao gồm các khoản tiết kiệm, tiền mặt, trang sức, các khoản vay, các nguồn khác như lương, các nguồn
hỗ trợ, viện trợ từ bên ngoài cho hộ gia đình…
2.3.3.2 Hoàn cảnh dễ bị tổn thương
Hoàn cảnh dễ bị tổn thương: Là môi trường bên ngoài mà trong đó sinh kế con người và các tài sản sẵn có của họ bị ảnh hưởng cơ bản, vừa tích cực, vừa tiêu cực bởi những xu hướng chủ yếu, sự thay đổi đột ngột (cú sốc) hoặc tính mùa vụ Chính những điều này khiến sinh kế và tài sản trở nên bị giới hạn và không kiểm soát được
Trang 22Các yếu tố trong hoàn cảnh dễ bị tổn thương:
Các xu hướng về: Dân số, tài nguyên kể cả xung đột trong việc sử dụng, về kinh tế quốc gia, quốc tế, và những xu hướng về thể chế (bao gồm chính sách, những xu hướng kỹ thuật )
Các cú sốc thay đổi về sức khoẻ con người, tự nhiên, kinh tế, sức khỏe, vật nuôi, cây trồng Ví dụ: bão, lũ lụt, hạn hán, chiến tranh, dịch bệnh…
Về tính thời vụ như các biến động về giá cả, sản xuất, sức khoẻ, những cơ hội việc làm…
2.3.3.3 Chiến lược sinh kế
Là sự phối hợp các hoạt động và lựa chọn mà người dân sử dụng để thực hiện mục tiêu sinh kế của mình Đó là một loạt các quyết định nhằm khai thác hiệu quả nhất các nguồn vốn hiện có Đây là một quá trình liên tục nhưng những thời điểm quyết định có ảnh hưởng lớn đến sự thành công hay thất bại đối với chiến lược sinh kế Đó có thể là lựa chọn cây trồng vật nuôi, lựa chọn phương thức hoạt động SXKD, mở rộng hoạt động sản xuất nông nhiệp, đa dạng hóa sinh kế và di cư…
2.3.3.4 Kết quả của sinh kế
Đó là mục tiêu hay kết quả của các chiến lược sinh kế Kết quả của sinh kế nhìn chung là cải thiện phúc lợi của con người nhưng có sự đa dạng về trọng tâm và
sự ưu tiên Đó có thể là cải thiện về mặt vật chất hay tinh thần của con người như: xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập hay sử dụng bền vững và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, giảm các rủi ro, an toàn lương thực được đảm bảo Cũng tùy theo mục tiêu của sinh kế mà sự nhấn mạnh các thành phần trong sinh kế cũng như những phương tiện để đạt được mục tiêu sinh kế giữa các tổ chức, cơ quan sẽ có những quan niệm khác nhau
2.4 HỘ GIA ĐÌNH
Tổng Cục Thống kê (2011), định nghĩa: “Hộ là một đơn vị xã hội Trong
thống kê, hộ là đơn vị điều tra (thu thập thông tin), bao gồm một hay một nhóm người ở chung và ăn chung Đối với những hộ có từ 2 người trở lên, các thành viên
Trang 23trong hộ có thể có hay không có quỹ thu chi chung; có thể có hoặc không có quan
hệ huyết thống, nuôi dưỡng hoặc hôn nhân; hoặc kết hợp cả hai.”
Haviland (2003), cho rằng một hộ gia đình bao gồm một hoặc nhiều hơn những người cùng sống chung nhà ở và cùng chia sẻ các bữa ăn hoặc điều kiện sinh hoạt, có thể bao gồm một gia đình duy nhất hoặc một số nhóm người khác
Theo Arthur O'Sullivan và Steven M Sheffrin (2003), một nơi cư trú riêng lẻ
sẽ được coi là chứa nhiều hộ gia đình nếu có một trong hai bữa ăn hoặc không gian sống không được chia sẻ Các hộ gia đình là đơn vị cơ bản của phân tích trong nhiều mô hình xã hội, kinh tế vi mô và của chính phủ, nhất là trong lĩnh vực kinh tế
và thừa kế
Khái niệm hộ gia đình theo các quy định của pháp luật Việt Nam được mô tả
là nơi mà thành viên hoặc các thành viên cùng lao động, đóng góp công sức vào hoạt động kinh tế chung của hộ, bao gồm việc sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc SXKD trong một số lĩnh vực do pháp luật quy định và là chủ thể khi tham gia quan
hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này
Tóm lại, hộ gia đình có thể hiểu là một đơn vị xã hội bao gồm một hoặc một nhóm người cùng chung sống tại một nơi cư trú Họ sinh hoạt cùng nhau, ăn chung
và cùng đóng góp công sức vào hoạt động kinh tế chung của cả hộ Như vậy, hộ gia đình không đồng nhất với với khái niệm gia đình do họ có thể có cùng huyết thống, quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng hoặc không Hộ gia đình là chủ thể trong hoạt động SXKD và trong các quan hệ dân sự của hộ theo pháp luật quy định
2.5 LƯỢC KHẢO NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM LIÊN QUAN
Theo nghiên cứu của tác giả Đinh Phi Hổ và Huỳnh Sơn Vũ (2011), về “Sự
thay đổi về thu nhập của người dân sau thu hồi đất để xây dựng KCN: Các yếu tố ảnh hưởng và gợi ý chính sách” Tác giả đã dựa trên lý thuyết phân tích khung sinh
kế bền vững để nghiên cứu, qua đó tác giả đã kết luận đưa ra 07 yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của người dân bị thu hồi đất bao gồm: tuổi của chủ hộ, học vấn của chủ hộ, quy mô lao động, tỷ lệ phụ thuộc, diện tích đất bị thu hồi, mục đích
sử dụng số tiền đền bù, lao động làm việc trong KCN
Trang 24Nghiên cứu của Nguyễn Thị An (2012), về “Đánh giá ảnh hưởng của việc
thu hồi đất, giải phóng mặt bằng tới sinh kế của người dân tại dự án xây dựng Khu
đô thị mới quận Hải An, thành phố Hải Phòng” Qua kết quả nghiên cứu có tới
70,5% hộ gia đình có thu nhập cao hơn sau khi thu hồi đất Nguồn thu nhập của các
hộ gia đình bị thu hồi đất chủ yếu có được từ hoạt động SXKD, kinh doanh dịch vụ, buôn bán nhỏ Kết quả cũng cho thấy, cơ cấu thu nhập từ nông nghiệp trong tổng thu nhập có giảm so với trước đây
Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2012), về “Nghiên cứu tác động của khu công
nghiệp đến sự thay đổi thu nhập của cộng đồng bị thu hồi đất: Trường hợp Khu công nghiệp Hòa Phú, tỉnh Vĩnh Long” Qua nghiên cứu tác giả kết luận có sự thay
đổi về sinh kế sau khi bị thu hồi đất, cụ thể có 07 nhân tố làm ảnh hưởng đến sự thay đổi thu nhập của hộ gia đình bị thu hồi đất gồm: Giới tính chủ hộ, số lao động trong hộ, học vấn của chủ hộ, tỷ lệ người phụ thuộc, phương án sử dụng tiền đền bù, diện tích đất bị thu hồi, tham gia làm việc tại KCN
Nghiên cứu của Nguyễn Hoàn Bảo và Nguyễn Minh Tuấn (2013), về “Sự thay
đổi thu nhập của người dân bị thu hồi đất ở KCN Giang Điền, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai” Qua kết quả nghiên cứu, tác giả đã kết luận có 04 yều tố ảnh hưởng
trực tiếp đến thu nhập của người dân bị thu hồi đất gồm: Khả năng đầu tư SXKD, diện tích đất bị thu hồi, trình độ học vấn chủ hộ và tỷ lệ phụ thuộc
Đề tài “Sinh kế của người dân sau tái định cư, trường hợp nghiên cứu:
Chung cư Khang Gia, quận Gò Vấp, TP.HCM” của Nguyễn Thị Khánh Hòa (2012),
tác giả đã tiến hành khảo sát 72 hộ gia đình có đất bị thu hồi, kết quả nghiên cứu cho thấy sinh kế diễn biến không đồng đều, tình trạng xấu đi vẫn còn nhiều hơn tình trạng ổn định hoặc tốt hơn Có 59,7% số hộ có trình độ Trung học phổ thông trở lên nên có xu hướng thay đổi thu nhập theo chiều hướng tốt hơn Hộ lao động kinh doanh chiếm 44,5% chủ yếu bôn bán nhỏ, bán quần áo, đồ gia dụng, điện tử….nên khi di dời họ không còn mặt bằng, mất mối khách hàng Những hộ ổn định là những gia đình có người làm việc ổn định sinh kế không bị thay đổi nhiều như: Giáo viên, bác sĩ, cán bộ công chức, viên chức nhà nước; những hộ mà công việc lao động
Trang 25chính như buôn bán, thợ may, xe ôm, thợ xây …thì khi thay đổi nơi cư trú đời sống của họ bị ảnh hưởng xấu nhiều hơn
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Gái Liên (2014), về “Sinh kế của hộ nông dân
sau thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp tại xã Bàu Đồn, Huyện
Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh” Tác giả đã chỉ ra được diện tích đất nông nghiệp bình
quân của hộ giảm gần 50% và nguồn sinh kế của người dân cũng có sự thay đổi so với trước đây Đánh giá thực trạng cũng cho thấy, nguồn lực lao động cũng có sự thay đổi như mất việc làm xảy ra đối với những người lớn tuổi, sự thay đổi nghề nghiệp của người dân theo hướng tự phát Người dân bị thay đổi thu nhập do mất diện tích sản xuất, tuy nhiên có sự tăng thu nhập bình quân của hộ sau khi thu hồi đất
Nghiên cứu của Phạm Anh Linh (2015), về “Kết quả sinh kế của người dân
sau thu hồi đất thuộc dự án cầu và tuyến tránh Chợ Lách, Bến Tre” Kết quả nghiên
cứu cho thấy, việc hỗ trợ sau thu hồi đất sẽ tạo điều kiện cho người dân thay đổi về
cơ sở vật chất như nhà cửa, trang thiết bị, các dịch vụ xã hội theo hướng tốt hơn Tuy nhiên, tài sản đất bị thu hồi sẽ làm ảnh hưởng đến thu nhập của người dân theo khoảng thời gian dài Hộ gia đình bị thu hồi với diện tích đất càng nhiều kéo theo thu nhập của họ càng giảm và chi tiêu cũng giảm theo, gây khó khăn trong sinh kế của hộ gia đình
Nghiên cứu của Lê Thanh Sơn và Trần Tiến Khai (2016), về “Thu hồi đất và
thay đổi cơ cấu thu nhập của hộ gia đình nông thôn tại Thành phố Cần Thơ”
Nghiên cứu chỉ ra, người dân khó chuyển đổi nghề nghiệp sau khi bị thu hồi; trong quá trình thực hiện bồi thường còn thiếu tính minh bạch, công bằng; trình độ học vấn và diện tích đất sản xuất đóng vai trò quan trọng trong sinh kế của người dân Việc hoàn thiện chính sách bồi thường là cần thiết Người dân thiếu kỹ năng, tác phong lao động công nghiệp, do đó khó chuyển đổi nghề khi tham gia lao động tại các KCN Chính vì thế, vấn đế đào tạo kỹ năng cho lao động, đặc biệt là lao động trẻ là cần thiết sau khi thu hồi đát Tuy nhiên, việc dùng tiền bồi thường đầy đủ và
Trang 26nhanh chóng để hỗ trợ hộ gia đình sẽ giúp nhanh tiến độ thu hồi đất và không làm giảm thu nhập của hộ
2.6 CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Qua nghiên các cứu của tác giả Đinh Phi Hổ và Huỳnh Sơn Vũ (2011); Nguyễn Hoàng Bảo và Nguyễn Minh Tuấn (2013); Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2012), tác giả đã nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập sau thu hồi đất gồm: Trình độ học vấn, giới tính chủ hộ, số lao động trong hộ, tuổi chủ hộ, tỉ lệ phụ thuộc, diện tích đất bị thu hồi, số lao động có việc làm trong KCN, khả năng đầu tư SXKD
Giả thuyết nghiên cứu các yếu tố tác động, ảnh hưởng đến thu nhập của hộ dân sau khi bị thu hồi đất tại dự án khu dân cư phường An Bình bao gồm:
- Giới tính chủ hộ: Trong gia đình Việt Nam, chủ hộ nam giới thường là trụ
cột trong gia đình, có quyền quyết định các vấn đề quan trọng của gia đình Nam giới thường có xu hướng bình tĩnh hơn nữ giới trong việc giải quyết các vấn đề, họ
là những người lao động chính, tạo ra thu nhập cho gia đình Chủ hộ là nam giới
thường có khả năng tăng thu nhập cao hơn chủ hộ là nữ giới
- Tuổi chủ hộ: Khi người chủ hộ có tuổi đời càng cao và còn trong độ tuổi
lao động thì càng nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống hơn, điều này giúp có khả năng kiếm được mức thu nhập cao hơn, do đó sẽ làm tăng xác suất cải thiện thu nhập của hộ
- Học vấn chủ hộ: Chủ hộ có học vấn càng cao có xu hướng tiếp cận và áp
dụng tốt hơn các tiến bộ khoa học và công nghệ Học vấn chủ hộ không những là nhân tố quan trọng về chất lượng cuộc sống mà còn là nhân tố quyết định đối với khả năng đạt tới cơ hội có thể tạo nên thu nhập khá hơn
- Nghề nghiệp chủ hộ: Chủ hộ có nghề nghiệp SXKD thường có vốn đầu
tư cao hơn những hộ làm nghề nông nghiệp, làm thuê…Những hộ này sẽ có khả năng thay đổi thu nhập cao hơn các hộ làm nghề khác
Trang 27- Số lao động: Khi một gia đình có số người lao động càng cao thì khả năng
tạo ra thu nhập càng lớn và sẽ làm cho xác suất cải thiện thu nhập của hộ gia đình càng cao
- Tỷ lệ người phụ thuộc: Khi một hộ có tỷ lệ phụ thuộc càng cao (người
không tạo ra thu nhập trong hộ như trẻ em, người già, tàn tật,…) thì thu nhập bình quân đầu người của hộ sẽ càng giảm, vì những người không nằm trong độ tuổi lao động tạo ra rất ít hoặc không tạo ra thu nhập, nên sẽ làm cho xác suất cải thiện thu nhập của hộ giảm đi
- Đầu tư sản xuất kinh doanh: Một khi được đền bù với số tiền lớn, hộ sử
dụng số tiền đó đầu tư vào SXKD thì xác suất việc cải thiện thu nhập sẽ cao hơn so với những hộ gửi tiền tiết kiệm hoặc dùng tiền bồi thường để mua sắm
- Diện tích đất bị thu hồi: Khi diện diện tích đất của hộ dân bị thu hồi càng
lớn thì càng làm cho việc tạo ra thu nhập người dân nhiều lên, do đền bù nhiều sẽ có tiền nhiều để đầu tư mua lại đất và đầu tư SXKD cho nên xác suất việc cải thiện thu nhập sẽ cao hơn
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Chương 2 trình bày các khái niệm về tổng quan tài liệu và cơ sở lý thuyết Lý thuyết về đất đai và thu hồi đất theo pháp luật Việt Nam; chính sách thu hồi đất; lý thuyết sinh kế và sinh kế bền vững; lý thuyết về hộ gia đình Lược khảo nghiên cứu thực nghiệm có liên quan Đây là những cơ sở cần thiết để đề xuất mô hình nghiên cứu cho đề tài
Trang 28CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 CÁCH TIẾP CẬN NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đánh giá sinh kế của người dân và phân tích các yếu tố tác động đến thu nhập của người dân sau khi thu hồi đất tại dự án Khu dân cư phường An Bình, thành phố Rạch Giá, để từ đó đề xuất một số giải pháp, cơ chế chính sách nhằm hỗ trợ cho người dân nâng cao thu nhập để ổn định cuộc sống
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng các lý thuyết nghiên cứu, các nghiên cứu trong và ngoài nước và mô hình sinh kế bền vững để làm cơ sở lý thuyết Sử dụng phương pháp định lượng để kiểm định lý thuyết, sử dụng phương pháp này để giải thích hiện tượng thông qua phân tích thống kê với dữ liệu định lượng thu thập được
3.2 THÔNG TIN DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU
3.2.1 Thông tin dữ liệu thứ cấp
Thu thập có chọn lọc các thông tin, dữ liệu sẵn có về quá trình thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất thuộc dự án Khu dân cư phường An Bình, thành phố Rạch Giá bao gồm các báo cáo, số liệu thống kê của: UBND tỉnh Kiên Giang; BQL dự án đầu tư nâng cấp đô thị thành phố Rạch Giá; Trung tâm phát triển quỹ đất, Chi cục thống kê thành phố Rạch Giá; UBND thành phố Rạch Giá và UBND phường An Bình; Cục Thống kê Kiên Giang; Trung tâm kỹ thuật và phát triển quỹ đất Kiên Giang; Công ty CP tư vấn đầu tư và Xây dựng Kiên Giang, các Sở, ban ngành có liên quan đến công tác bồi thường thu hồi đất tại dự án Khu dân cư phường An Bình, thành phố Rạch Giá Ngoài ra tác giả thu thập từ những công trình nghiên cứu đã được công bố, các tài liệu báo cáo, sách, báo, các trang thông tin điện
tử internet…
Trang 293.2.2 Thông tin dữ liệu sơ cấp
giải phóng mặt bằng và 03 cán bộ quản lý địa phương) bằng bản câu hỏi, đồng thời tổng hợp ghi nhận những thông tin, đánh giá các thông tin, đưa ra nhận xét
Bước 2: Xây dựng phiếu khảo sát bao gồm thông tin chung về chủ hộ; nguồn
thu từ sản xuất nông nghiệp, ngành nghề kinh doanh, dịch vụ; chi phí sản xuất, chữa bệnh, xây dựng cơ sở hạ tầng, thu nhập,
Bước 3: Phỏng vấn 110 hộ dân bị thu hồi đất tại dự án Khu dân cư phường
An Bình để nắm các thông tin về kinh tế, việc làm, những thuận lợi khó khăn, nhu cầu hỗ trợ
3.2.3 Chọn mẫu nghiên cứu
Dự án Khu dân cư phường An Bình, thành phố Rạch Giá đã được hỗ trợ và tái định cư, trong tổng số 338 hộ đó có nhiều hộ ở sinh sống ở xa khu vực dự án hoặc ngoài tỉnh nên việc tìm các hộ dân này để phỏng vấn rất rất khó khăn Tác giả
đã lựa chọn 110 hộ dân thường trú trong Khu phố 3 và khu vực lân cận thuộc phường An Bình để phỏng vấn
3.3 MÔ HÌNH VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Dạng tổng quát của mô hình hồi qui Binary logistic:
Y: là biến phụ thuộc, là biến giả nhận hai giá trị 1 và 0
Xi: là các biến giải thích trong mô hình (i=1…n) ε: là sai số Tác giả sử dụng mô hình Binary Logistic để nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thay đổi thu nhập của hộ gia đình trên địa bàn phường An Bình khi bị ảnh hưởng bởi dự án nâng cao đô thị thành phố Rạch Giá, cụ thể như sau:
Trang 30* Các giả thuyết:
Giới tính chủ hộ (gioitinh): Là biến giả, nhận giá trị = 1 nếu chủ hộ là nam
và nhận giá trị = 0 nếu chủ hộ là nữ Thường trong gia đình Việt Nam, chủ hộ nam giới là trụ cột trong gia đình, có quyền quyết định các vấn đề quan trọng của gia đình Nam giới thường có xu hướng bình tĩnh hơn nữ giới trong việc giải quyết các vấn đề Họ là những người lao động chính, tạo ra thu nhập cho gia đình Chủ hộ là nam giới thường có khả năng tăng thu nhập cao hơn chủ hộ là nữ giới Do đó, biến này được kỳ vọng có mối quan hệ đồng biến với biến phụ thuộc
Giả thuyết H1: Giới tính chủ hộ ảnh hưởng cùng chiều với khả năng tăng thu nhập của hộ gia đình
Tuổi chủ hộ (tuoi): Được tính theo tuổi của chủ hộ Khi người chủ hộ có
tuổi đời càng cao và còn trong độ tuổi lao động thì càng nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống hơn, điều này giúp có khả năng kiếm được mức thu nhập cao hơn, do đó
sẽ làm tăng xác suất cải thiện thu nhập của hộ Do đó, biến này được kỳ vọng có
mối quan hệ đồng biến với biến phụ thuộc
Giả thuyết H2: Tuổi chủ hộ ảnh hưởng cùng chiều với khả năng tăng thu nhập của hộ gia đình
Học vấn chủ hộ (hocvan): Trình độ học vấn của chủ hộ được thể hiện qua
số năm đi học của chủ hộ Chủ hộ có học vấn càng cao có xu hướng tiếp cận và áp dụng tốt hơn các tiến bộ khoa học và công nghệ Học vấn chủ hộ không những là nhân tố quan trọng về chất lượng cuộc sống mà còn là nhân tố quyết định đối với khả năng đạt tới cơ hội có thể tạo nên thu nhập khá hơn Do đó, biến này được kỳ vọng có mối quan hệ đồng biến với biến phụ thuộc
Giả thuyết H3: Học vấn chủ hộ ảnh hưởng cùng chiều với khả năng tăng thu nhập của hộ gia đình
Trang 31Nghề nghiệp chủ hộ (nghe): Là biến giả, nhận giá trị = 1 nếu chủ hộ có
nghề nghiệp SXKD và nhận giá trị = 0 nếu chủ hộ không có nghề nghiệp SXKD Chủ hộ có nghề nghiệp SXKD thường có vốn đầu tư cao hơn những hộ làm nghề nông nghiệp, làm thuê…Những hộ này sẽ có khả năng thay đổi thu nhập cao hơn các hộ làm nghề khác Do đó, biến này được kỳ vọng có mối quan hệ đồng biến với biến phụ thuộc
Giả thuyết H4: Nghề nghiệp chủ hộ ảnh hưởng cùng chiều với khả năng tăng thu nhập của hộ gia đình
Số lao động (sold): Số lao động trong hộ thể hiện số lao động trong một hộ
gia đình Khi một gia đình có số người lao động càng cao thì khả năng tạo ra thu nhập càng lớn và sẽ làm cho xác suất cải thiện thu nhập của hộ gia đình càng cao
Do đó, biến này được kỳ vọng có mối quan hệ đồng biến với biến phụ thuộc
Giả thuyết H5: Số lượng lao động của hộ ảnh hưởng cùng chiều với khả năng tăng thu nhập của hộ gia đình
Tỷ lệ người phụ thuộc trong hộ (phuthuoc): Được thể hiện bằng tỷ lệ giữa
số người không nằm trong độ tuổi lao động với tổng số người trong hộ gia đình Khi một hộ có tỷ lệ phụ thuộc càng cao (người không tạo ra thu nhập trong hộ như trẻ
em, người già, tàn tật,…) thì thu nhập bình quân đầu người của hộ sẽ càng giảm, vì những người không nằm trong độ tuổi lao động tạo ra rất ít hoặc không tạo ra thu nhập, nên sẽ làm cho xác suất cải thiện thu nhập của hộ giảm đi Do đó, biến này được kỳ vọng có mối quan hệ nghịch biến với biến phụ thuộc
Giả thuyết H6: Tỷ lệ người phụ thuộc trong hộ ảnh hưởng ngược chiều với khả năng tăng thu nhập của hộ gia đình
Đầu tư (dautu): Là biến giả, nhận giá trị = 1 nếu hộ sử dụng tiền đền bù đầu
tư vào SXKD và nhận giá trị = 0 nếu hộ không dùng tiền đầu tư vào SXKD Một khi được đền bù với số tiền lớn, hộ sử dụng số tiền đó đầu tư vào SXKD thì xác suất việc cải thiện thu nhập cao hơn so với những hộ gửi tiền tiết kiệm hoặc dùng tiền bồi thường để mua sắm Do đó, biến này được kỳ vọng có mối quan hệ đồng biến với biến phụ thuộc
Trang 32Giả thuyết H7: Đầu tư của hộ ảnh hưởng cùng chiều với khả năng tăng thu nhập của hộ gia đình
Diện tích đất bị thu hồi (dtthuhoi): Là tổng diện tích đất bị thu hồi Khi diện
diện tích đất của hộ dân bị thu hồi càng lớn thì càng làm cho việc tạo ra thu nhập người dân nhiều hơn, do đền bù nhiều sẽ có tiền để đầu tư mua lại đất và đầu tư SXKD cho nên xác suất việc cải thiện thu nhập sẽ cao hơn Do vậy, biến này được
kỳ vọng là diện tích đất bị thu hồi càng lớn thì càng làm tăng khả năng tạo ra thu nhập, nên có mối quan hệ đồng biến với biến phụ thuộc
Giả thuyết H8: Diện tích bị thu hồi của hộ ảnh hưởng cùng chiều với khả năng tăng thu nhập của hộ gia đình
Trang 33Bảng 3.1: Giải thích các biến trong mô hình
Biến phụ thuộc
Tntang
Biến tăng thu nhập nhận giá trị = 1 nếu thu nhập của hộ tăng và nhận giá trị = 0 nếu thu nhập của hộ không tăng
Biến độc lập
Tuoi Tính tuổi của chủ hộ tại thời điểm phỏng vấn
Nghe
Là biến giả Biến nghề nhận giá trị = 1 nếu chủ hộ
có nghề nghiệp SXKD và nhận giá trị =0 nếu chủ
Tỷ lệ số người nằm ngoài độ tuổi lao động trên
Trang 343.4 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỐ LIỆU
3.4.1 Quy trình sàng lọc và xử lý dữ liệu
Sàng lọc bằng tay để phân loại các bảng câu hỏi người trả lời cung cấp thông tin không phù hợp Mã hóa, nhập liệu trên phần mềm Excel, xử lý dữ liệu sơ bộ trên Excel để kiểm tra độ chính xác của quá trình nhập liệu, tính toán Chuyển dữ liệu sang Stata 12 để xử lý
3.4.2 Phân tích thống kê mô tả
Được sử dụng để mô tả lại thực trạng sinh kế và thay đổi sinh kế của người dân trên địa bàn phường An Bình, tá giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả để phân tích Thông qua thống kê tần số, phần trăm để đánh giá các đặc điểm giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp,…thống kê mô tả trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị lớn nhất nhỏ nhất các biến định lượng như thu nhập, chi tiêu, chi phí, cũng như mọi hoạt động của người dân
3.4.3 Phương pháp hồi quy Binary Logistic
Sử dụng phương pháp hồi quy Binary Logistic phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thay đổi thu nhập của hộ gia đình
Sử dụng phần mềm Stata 12.0 để phân tích
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
Chương 3 trình bày quy trình nghiên cứu của luận văn, số lượng và phương pháp chọn mẫu nghiên cứu Tác giả chỉ ra phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp và thứ cấp, chọn phương pháp phân tích dữ liệu gồm phương pháp thống kê mô tả và phương pháp hồi quy Logistic Trên cơ sở các phương pháp nghiên cứu, tác giả tiến hành phân tích và thảo luận kết quả nghiên cứu ở Chương 4
Trang 35CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 GIỚI THIỆU VỀ PHƯỜNG AN BÌNH
Phường An Bình là một trong 12 đơn vị hành chính trực thuộc thành phố Rạch Giá, là Phường nội ô thành phố có diện tích tự nhiên là 4,7735 km2, chiếm 4,5% tổng diện tích Dân số phường khá đông, chiếm khoảng 7% dân số thành phố Rạch Giá Dân cư phường tập trung sinh sống dọc các tuyến đường nội thị với mật
độ lưu thông khá dày Phường có 4.307 hộ với 17.885 khẩu (Trong đó: Dân tộc Kinh là 17.044 khẩu, chiếm 95,29%, dân tộc Khmer là 569 khẩu, chiếm 3,18%, dân tộc Hoa là 243 khẩu, chiếm 1,35%; dân tộc khác là 29 khẩu, chiếm 0,18%) Theo báo cáo của UBND phường An Bình đến hết tháng 6 năm 2017, nhân dân ở phường sinh sống bằng nhiều ngành nghề như: Thương mại – dịch vụ có 484 cơ sở SXKD, thu hút trên 1.500 lao động Về nông nghiệp – hải sản: Có 85 ha đất sản xuất nông nghiệp, 88 phương tiện khai thác hải sản với tổng công suất 42.240 CV và thu hút trên 1.600 lao động, có 8,5 ha vườn tạp trồng rau an toàn năng suất bình quân 18 tấn/ha, chăn nuôi được 7.891 con, nuôi cá nước ngọt 6,4 ha năng suất bình quân 10 tấn/ha; công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp: Có 85 cơ sở, thu hút trên 1.800 lao động
Toàn Phường có 27 hộ nghèo và 44 hộ cận nghèo Thu nhập bình quân đầu người 63 triệu đồng/người/năm Về xây dựng kết cấu hạ tầng, đang triển khai thực hiện dự án Khu dân cư phường An Bình, diện tích 22,6 ha; dự án nâng cấp đô thị LIA 7 (gồm: cải tạo kênh Điều hành, mở rộng nâng cấp 03 tuyến đường, 07 hẻm); đầu tư mở rộng 02 tuyến đường Trần Quý Cáp và Thiên Hộ Dương; nâng cấp 05 hẻm với tổng chiều dài 1.221m, tổng kinh phí 6,79 tỷ đồng…
Trang 36Hình 4.1: Cơ cấu các thành phần dân tộc của phường An Bình
Nguồn: Tổng hợp tử báo cáo thống kê của Phường An Bình
* Một số thông tin về dự án Khu dân cư phường An Bình
Dự án Khu dân cư phường An Bình được hình thành từ Tờ trình số
48/TTr-TV ĐTXD ngày 06/12/2010 của Công ty CP tư vấn đầu tư và Xây dựng Kiên Giang (nay là chủ đầu tư dự án) về việc xin UBND tỉnh Kiên Giang cho Công ty thực hiện
dự án Khu dân cư phường An Bình để góp phần phát triển hệ thống công trình hạ tầng thành phố Rạch Giá và đáp ứng nhu cầu nhà ở đến năm 2020 Từ tờ trình này, ngày 24/12/2010 UBND tỉnh Kiên Giang đã phê duyệt, chấp thuận chủ trương cho thành phố Rạch Giá giao đất cho Công ty CP Tư vấn đầu tư và Xây dựng Kiên Giang đầu tư xây dựng Khu dân cư phường An Bình theo hình thức giao đất để lấy
cơ sở hạ tầng, góp phần chỉnh trang đô thị thành phố Rạch Giá
Năm 2011, dự án được triển khai, chủ đầu tư thuê Trung tâm kỹ thuật và phát triển quỹ đất thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường lập phương án đền bù, hỗ trợ tái định cư cho dự án Theo Quyết định số 363/QĐ-UBND, ngày 30/9/2013 của UBND thành phố Rạch Giá về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chi tiết 1/500 xây dựng Khu dân cư phường An Bình thì qui mô dự án là 22,6 ha, với 338 hộ dân
bị thu hồi đất; tính chất của dự án là khu dân cư thương mại và tái định cư thuộc
Trang 37An Bình, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang Tổng số kinh phí bồi thường, hỗ trợ
là 154.331.252.500 đồng, trong đó:
- Kinh phí bồi thường là 130.137.867.700 đồng (đất đai: 76.732.869.400 đồng; hoa màu: 770.987.600 đồng; vật kiến trúc: 52.634.010.700 đồng)
- Kinh phí hỗ trợ là 23.770.384.800 đồng (hỗ trợ về đất: 23.262.384.800 đồng; hỗ trợ di dời: 369.000.000 đồng; hỗ trợ các chính sách: 139.000.000 đồng; hỗ trợ ổn định đời sống: 423.000.000 đồng)
Quyết định số 1941/QĐ-UBND ngày 12/9/2012 của UBND tỉnh Kiên Giang
về giá bồi thường quyền sử dụng đất tại khu quy hoạch xây dựng Khu dân cư An Bình, phường An Bình, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, giá bồi thường như sau:
* Đất nông nghiệp:
- Đất trồng cây hàng năm (đất lúa): 277.000 đồng/m2
- Đất trồng cây lâu năm (đất vườn): 370.000 đồng/m2
Nguyễn Trung Trực 11.820.000 5.910.000 2.955.000 1.478.000
Nguồn: Báo cáo của UBND thành phố Rạch Giá Giá đất này đã bao gồm giá trị đất và giá trị đầu tư của những đường hẻm tự đầu tư để hình thành những nền đó
* Đất sản xuất kinh doanh: Được tính bằng 100% giá đất ở liền kề của các
tuyến đường nêu trên
Trang 38phường An Bình, thành phố Rạch Giá
Dự án triển khai được đa số các hộ dân đồng tình hưởng ứng Tuy nhiên, đến tháng 6 năm 2017 vẫn còn 71/338 hộ dân chưa nhận tiền đền bù và có đơn khiếu nại về giá bồi thường đất, hỗ trợ, tái định cư,…Điều này phần nào đã phản ánh thực trạng là việc đảm bảo sinh kế bền vững, lâu dài cho các hộ dân chịu ảnh hưởng từ dự án vẫn chưa được xem xét và thực hiện một cách thỏa đáng, đời sống của những hộ dân này đã có sự thay đổi
Dự án Khu dân cư phường An Bình có vị trí như sau:
- Phía Đông Bắc giáp đường Nguyễn Trung Trực
- Phía Đông Nam giáp đường Lê Quý Đôn
- Phía Tây Bắc giáp đường Phùng Hưng
- Phía Tây Nam giáp đường Phan Đăng Lưu
Tính chất của dự án là khu dân cư thương mại và tái định cư thuộc phường
An Bình, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang Quy mô dân số dự kiến bố trí khoảng 6.013 người
Hình 4.2 Sơ đồ dự án Khu dân cư phường An Bình
Nguồn: Báo cáo của UBND thành phố Rạch Giá Tại Quyết định số 06/QĐ-UBND ngày 07/09/2013 của UBND thành phố Rạch Giá về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Khu dân cư
Trang 39Theo số liệu của Trung tâm Kỹ thuật và Phát triển Quỹ đất tỉnh Kiên Giang,
hộ thu hồi đất nhiều nhất là 21.831 m2, với số tiền bồi thường là 13,556 tỷ đồng (hộ ông Phan Thành Công – 78 Lê Quý Đôn, phường An Bình) và hộ thu hồi đất ít nhất
là 2,64 m2 đất, với số tiền đền bù là 10,34 triệu đồng (hộ bà Lê Thị Khế - 120/7 Lê Quý Đôn, phường An Bình) Đến cuối tháng 6/2017 còn 71/338 hộ dân còn khiếu nại chưa đồng ý nhận tiền bồi thường đất, với số tiền 20,283 tỷ đồng
Tình hình thu hồi đất tại dự án khu dân cư phường An Bình:
Theo số liệu của Trung tâm Kỹ thuật và Phát triển Quỹ đất tỉnh Kiên Giang:
- Tổng diện tích bị thu hồi : 226.740 m2
- Tổng số hộ bị thu hồi : 338 hộ
- Tổng số tổ chức bị thu hồi : 2 tổ chức
- Bình quân diện tích đất bị thu hồi của 1 hộ: 670,828 m2
- Diện tích đất bị thu hồi nhiều nhất: 21.831 m2
- Diện tích đất bị thu hồi ít nhất : 2,64 m2
Việc triển khai thu hồi đất từ khâu khảo sát, lập phương án cho đến thu hồi đất
và bàn giao mặt bằng để triển khai dự án đầu tư Khu dân cư phường An Bình thời gian qua nhìn chung cơ bản thuận lợi Ban Quản lý dự án Khu dân cư đã phối hợp chặt chẽ với các cấp ủy đảng, chính quyền, báo đài và các tổ chức đoàn thể tại địa phương nhằm tuyên truyền, quán triệt chủ trương của tỉnh về sự cần thiết phải đầu
tư dự án Khu dân cư phường An Bình, đồng thời tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức pháp luật của người dân trong việc thực thi các quy định về bồi thường
và giải phóng mặt bằng, qua đó nhận được sự hưởng ứng tích cực của người dân thuộc khu vực bị giải tỏa Chính vì vậy, đã góp phần tạo điều kiện thuận lợi trong việc chi trả bồi thường và thu hồi đất để triển khai dự án đúng tiến độ
Việc chi trả bồi thường được thực hiện theo phương án được duyệt và các hộ gia đình sẽ được nhận liền 1 lần số tiền bồi thường theo phương án Với số tiền lớn như vậy thì liệu các hộ gia đinh sẽ sinh sống ra sao? Chiến lược sinh kế của họ sẽ như thế nào? Họ có tiếp tục sinh sống bằng nghề nông hay chuyển sang nghề nghiệp khác với số tiền bồi thường mà họ đã nhận được?
Trang 40Theo kết quả phỏng vấn từ Trung tâm Kỹ thuật và Phát triển quỹ đất Kiên Giang, thì thời điểm công bố quy hoạch (20/10/2011), thành phố giao cho phường
An Bình thông tin đến người dân và phường thông báo trên loa, yêu cầu bà con có đất trong dự án đến họp? Về việc tái định cư cho người dân, dự án có giá đất là 2,4 – 2,9 triệu đồng/m2, giá này do nhà nước qui định Tuy nhiên với những trường hợp thuộc diện hỗ trợ tái định cư thì chủ đầu tư hỗ trợ 1 suất tái định cư 72 triệu đồng/hộ Có nghĩa, hộ nào nhận 72 triệu thì không nhận nền tái định cư, hộ nào nhận nền thì lấy diện tích đất nhân với giá đất, số tiền chênh lệch người dân phải trả thêm cho doanh nghiệp
Theo số liệu điều tra đối với 110 hộ gia đình cho thấy, phần lớn các hộ dân đều có nhà ở kiên cố ở các trục đường chính nên cuộc sống và việc làm tương đối
ổn định, các gia đình này có đất nằm trong khu vực dự án chủ yếu là đất vườn tạp, đất trồng cây lâu năm và bỏ hoan không trực tiếp sản xuất Có 12 hộ gia đình có nhà
ở trong khu vực dự án, trực tiếp sản xuất nông nghiệp và trồng cây hoa màu nhưng thu nhập rất thấp chủ yếu là để cải thiện cuộc sống hàng ngày, các hộ này đều được
hỗ trợ 1 suất tái định cư Có 8/110 hộ dân có nhà ở ổn định trên đường Nguyễn Trung Trực và Phan Đăng Lưu bị giải tỏa để làm đường vào khu dân cư, mặt dù các
hộ này được bố trí 1 nền tái định cư nhưng thu nhập bị giảm đi đáng kể do trước khi thu hồi đất hộ gia đình đều có cơ sở sản xuất, kinh doanh ổn định Trong 110 hộ dân sau khi nhận tiền bồi thường, họ tiếp tục đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, mua đất, đầu tư cho con em học hành….để tiếp tục sinh kế nên đời sống của họ ít bị xáo trộn, việc tìm kiếm sinh kế mới cũng tương đối dễ dàng hơn từ số tiền bồi thường
mà họ nhận được
4.2 ĐÁNH GIÁ NGUỒN VỐN SINH KẾ CỦA HỘ GIA ĐÌNH
4.2.1 Nguồn vốn con người
Về giới tính chủ hộ, trong 110 hộ được khảo sát có 74 hộ có chủ hộ giới tính nam, chiếm 67,3% và 36 hộ có chủ hộ giới tính nữ, chiếm 32,3% Do đặc điểm của
hộ gia đình Việt Nam, chủ hộ thường là nam giới Nam giới thường có tính khí mạnh mẽ hơn nữ giới và có xu hướng mạnh dạng trong quyết định các vấn đề