Đã có lúc bệnh lao được đẩy lùi bằng nhiều biện pháp phối hợp thuốc, vắc-xin và các biện pháp phòng ngừa khác, nhưng sự xuất hiện của AIDS đã làm cho dịch lao có dịp bùng phát, nhất là t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
BỘ MÔN HÓA DƯỢC
TIỂU LUẬN
CÁC LOẠI VẮC XIN VÀ CÁC VẮC XIN HIỆN
ĐANG ĐƯỢC LƯU HÀNH
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Vắc xin là loại vũ khí hữu hiệu bảo vệ con người trước các căn bệnh nguy hiểm Trung bình mỗi năm, thế giới có khoảng 3 triệu người được cứu sống nhờ trước đó đã tiêm chủng.
Trong 2 thế kỷ qua, vắc xin là loại dược phẩm đặc biệt góp phần rất lớn vào việc đẩy lùi nhiều bệnh tật và giảm tỷ lệ tử vong cho con người Trước khi bị khai tử bởi vắc xin, bệnh đậu mùa từng là nỗi kinh hoàng của cả châu Âu trong thế kỷ 18, đã cướp đi sinh mạng của hàng triệu người Vắc xin cũng là vũ khí hữu hiệu chống lại các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như bại liệt, sởi, viêm não
Tổ chức Y tế Thế giới đã công nhận tiêm vắc xin là phương cách bảo vệ hiệu quả, giúp nhân loại tránh được các bệnh truyền nhiễm.
Hiện nay, sự phát triển các ngành vi sinh, miễn dịch, sinh học phân tử, di truyền, hóa,
lý, tin học và công nghệ nano đã hỗ trợ đắc lực cho công cuộc tìm kiếm những vắc xin an toàn, công hiệu hơn Vắc xin học đã tiến sang nhiều lĩnh vực mới như bệnh dị ứng, bệnh xã hội, các bệnh nan y (ung thư, HIV/AIDS), bệnh ký sinh trùng (sốt rét) và đạt nhiều thành quả đáng kể
Tuy nhiên, nhiều bệnh vẫn còn đang thách thức con người, chưa có vắc-xin nào đủ hiệu quả để ngăn ngừa Trong đó phải kể nhiều bệnh do ký sinh trùng (thí dụ sốt rét, giun, sán), vi khuẩn (lao), virus (cúm, sốt xuất huyết, AIDS v.v.) Một số lý do có thể là các tác nhân gây bệnh biến đổi thường xuyên khiến cho miễn dịch không còn hữu hiệu hoặc thậm chí tấn công ngay vào hệ miễn dịch như trường hợp của HIV v.v (Đã có lúc bệnh lao được đẩy lùi bằng nhiều biện pháp phối hợp (thuốc, vắc-xin và các biện pháp phòng ngừa khác), nhưng sự xuất hiện của AIDS đã làm cho dịch lao có dịp bùng phát, nhất là tại các nước đang phát triển.)
Nội dung đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận gồm hai phần:
Phần I : Các loại vắc xin
Phần II: Các vắc xin hiện đang được lưu hành
Trang 3NỘI DUNG
PHẦN I
CÁC LOẠI VẮC XIN
I Khái niệm cơ bản về vắc xin
1 Định nghĩa vắc xin
"Văc xin là chế phẩm chứa kháng nguyên (KN) tạo cho cơ thể khả năng đáp ứng miễn dịch được dùng với mục đích phòng bệnh".
Thuật ngữ vắc xin có nguồn gốc lịch sử từ chữ “vacca” liên quan tới vẩy đậu của con
bò mà Edward Jenner (1749-1823) đã lần đầu tiên sử dụng như một vắc xin phòng bệnh đậu mùa cho con người.
Kháng nguyên (KN) (antigen) có trong vắc xin là các thành phần tự nhiên của vi sinh
gây bệnh (KN toàn thân, tách chiết một phần hay giải độc tố của chúng), hoặc được sản xuất bằng công nghệ di truyền hay tổng hợp nhân tạo (KN tái tổ hợp gen, KN DNA)
Đáp ứng miễn dịch do vắc xin kích thích tạo ra bao gồm miễn dịch thể dịch (humoral
immunity) và miễn dịch trung gian tế bào (cell mediated immunity) Miễn dịch thu được sau
khi dùng vắc xin có bản chất là miễn dịch chủ động, đặc hiệu, có tác dụng bất hoạt KN gây bệnh của vi sinh khi chúng xâm nhập, góp phần bảo vệ cơ thể khỏi mắc bệnh hay có mắc bệnh nhưng với triệu chứng nhẹ hơn.
Vắc xin được sử dụng ngày càng phổ biến không chỉ như một loại “thuốc” để dự phòng bệnh do vi sinh vật gây ra mà còn cho một số loại bệnh không lây như bệnh tự miễn, bệnh ung thư Các thử nghiệm sử dụng vắc xin hiện nay với mục đích điều trị cũng đang được tiến hành có kết quả.
2 Lịch sử phát triển của vắc xin
Louis Pasteur, người Pháp, nhà khoa học hàng đầu thế giới ở thế kỷ 19 đặt ra từ vắc xin năm 1885 để gọi những chế phẩm phòng dịch, nhằm tỏ lòng tôn kính Edward Jenner, thầy thuốc người Anh (1749 -1823) đã dùng vẩy đậu con bò để phòng bệnh đậu mùa ở
người Từ vắc xin (tiếng Anh: vaccine, tiếng Pháp: vaccin) có nguồn gốc từ tiếng latinh
"vacca" (cow) vẫn được dùng đến ngày nay.
Với cách hiểu kinh điển, vắc xin là chế phẩm có nguồn gốc từ vi sinh vật, được làm mất khả năng gây bệnh, giữ lại khả năng kích thích cơ thể sinh miễn dịch, được dùng để phòng bệnh
do vi sinh vật gây nên Cách hiểu này được hình thành trên cơ sở thực tế sản xuất vắc xin Vắc xin tả được làm từ vi khuẩn tả bị giết chết Vắc xin uốn ván được làm từ ngoại độc tố của vi khuẩn uốn ván đã qua xử lý để mất độc Vắc xin lao (BCG) được làm từ vi khuẩn lao đã biến dị
không còn khả năng gây bệnh Vắc xin viêm não Nhật Bản được làm từ vi rút (virus) viêm não
bị bất hoạt.
Ngày nay, khái niệm về vắc xin đã có sự thay đổi Nó không chỉ duy nhất là chế phẩm từ
vi sinh vật và được dùng để phòng bệnh nữa, mà nó còn được làm từ vật liệu sinh học không vi
Trang 4sinh vật và được dùng cả với mục đích khác Ví dụ: vắc xin chống khối u được làm từ tế bào sinh
khối u, dùng để chống lại tế bào ác tính Vắc xin chống thụ thai được làm từ thụ thể (receptor)
của trứng dùng để ngăn cản điều kiện thụ thai v.v…
Dù là vắc xin chế tạo từ nguyên vật liệu nào, được dùng với mục đích phòng bệnh hay mục đích nào khác, thì thành phần của nó phải chứa KN Một chất gọi là có tính KN khi chất
đó có tính năng đặc thù về cấu trúc, có trọng lượng phân tử đủ lớn và có tính lạ đối với cơ thể, có khả năng kích thích cơ thể tạo miễn dịch: miễn dịch dịch thể và miễn dịch qua trung gian tế bào Nhờ có hoạt động phong phú của nhiều yếu tố miễn dịch, mà mục đích dùng vắc xin đạt được hiệu quả.
Điều kiện tiên quyết của vắc xin là tính không hại và khả năng tạo đáp ứng miễn dịch của nó Dĩ nhiên khả năng tạo đáp ứng miễn dịch là do thành phần kháng nguyên của vắc xin.
Vắc xin Hib, vắc xin thương hàn Vi, vắc xin cầu khuẩn màng não và cầu khuẩn phổi được sản xuất từ thành phần polysaccharid của vỏ vi khuẩn tương ứng Để tăng khả năng kích thích cơ thể sinh kháng thể bảo vệ, người ta cộng hợp thành phần polysaccharid với một protein tải Có nhiều loại protein tải, nhưng việc lựa chọn loại nào là tùy thuộc vào mỗi nhà sản xuất.
Vắc xin hóa học có một số ưu việt mà vắc xin sản xuất theo cách cổ điển không có.
Do vậy, vắc xin hóa học đang dần dần chiếm vị trí xứng đáng của nó Ngày nay trên cơ sở hiểu biết cấu trúc và chức năng của các phần quyết định KN, các nhà khoa học có thể tổng hợp trên phòng thí nghiệm những quyết định nguyên để sản xuất vắc xin mà không cần phải chiết tách từ vi sinh vật Vắc xin hóa học kiểu như vậy đã làm thay đổi khái niệm “vắc xin là một chế phẩm sinh học".
II Các loại vắc xin sử dụng cho người
1 Vắc xin vi rút
Mục đích của các loại vắc xin vi rút là dùng đáp ứng miễn dịch của ký chủ để ngừa bệnh vi rút Một số vắc xin đã chứng tỏ có hiệu quả đáng kể trong việc làm giảm tỷ lệ mắc bệnh hàng năm (ví dụ: vắc xin bại liệt, đậu mùa, sởi, quai bị, rubella) Tiêm chủng là biện pháp hữu hiệu nhất để ngừa các trường hợp nhiễm vi rút trầm trọng Tính miễn dịch đối với
vi rút dựa trên đáp ứng miễn dịch với những KN chuyên biệt có trên bề mặt của vi rút hoặc
tế bào đã nhiễm vi rút Đối với những vi rút có màng bọc, những KN quan trọng là các glucoprotein bề mặt Mặc dù ở động vật bị nhiễm có thể phát triển các KT chống protein lõi
hay protein không cấu trúc (non-structural protein) liên quan đến việc vi rút nhân lên, nhưng
sự đáp ứng này có vai trò rất ít hoặc không có vai trò tạo sự đề kháng chống nhiễm khuẩn.
Hiện nay, đã có nhiều vắc xin vi rút ngừa một số bệnh nghiêm trọng ở người Sinh bệnh học do nhiễm vi rút có ảnh hưởng đến mục tiêu của miễn dịch phòng ngừa Miễn dịch ở niêm mạc (IgA tại chỗ) đóng vai trò quan trọng trong việc chống lại các vi rút nhân lên ở các niêm mạc (vi rút rhino, vi rút cúm, vi rút rota); các vi rút có phương thức lan truyền qua đường máu (vi rút polio, viêm gan, sởi…) được kiểm soát bởi KT trong huyết thanh miễn dịch qua trung gian tế bào có vai trò trong việc chống nhiễm khuẩn toàn thân (vi rút sởi, herpes).
Trang 5Không phải tiêm chủng hay tình trạng hồi phục sau nhiễm luôn luôn tạo được bảo vệ chống lại sự tái nhiễm của cùng loại vi rút, ngay cả khi đã có các biện pháp kiểm soát bệnh
có hiệu quả như các vi rút bại liệt, đậu mùa, cúm, sởi, quai bị Việc kiểm soát có thể đạt được bằng cách hạn chế sự nhân lên của vi rút độc hại sau khi lây nhiễm và ngăn vi rút lan truyền đến các cơ quan đích để gây tổn thương cho các cơ quan này (như vi rút polio, sởi đến não và tủy sống, vi rút rubella đến bào thai) Gần đây, bệnh Marek do vi rút herpes ở gà tạo nên khối u lymphô tăng sinh lan rộng đã được kiểm soát bằng vắc xin vi rút sống giảm độc lực Vắc xin đã tạo được tình trạng miễn dịch chủ động lâu dài đối với gà Vắc xin này không ngăn ngừa được sự bội nhiễm của vi rút độc hại ở động vật được tiêm chủng nhưng ngăn ngừa được việc xuất hiện khối u Đây là vắc xin phòng ung thư đầu tiên được sản xuất Một loại vắc xin phòng ung thư thứ 2, đó là viêm gan B để ngừa ung thư tế bào gan tiên phát.
Một số đặc điểm của vi rút hay của một bệnh do vi rút gây nên có thể làm phức tạp
việc tạo ra một vắc xin có hiệu quả Việc có nhiều typ như vi rút Rhino và có nhiều ổ chứa
trên động vật như vi rút cúm, khiến việc sản xuất vắc xin trở nên khó khăn Ngoài ra, còn những trở ngại khác như sự tích hợp DNA virus với DNA nhiễm sắc thể của ký chủ (vi rút
Retro), việc lây nhiễm do những tế bào không biểu hiện KN (HIV) và việc nhiễm khuẩn của
các tế bào thuộc hệ thống miễn dịch của ký chủ (HIV)
Có 3 cách sản xuất vắc xin virút truyền thống:
- Làm giảm độc lực các chủng hoang dại để làm giảm khả năng gây bệnh.
Vắc xin chứa vi rút sống, sử dụng các biến chủng vi rút có typ KN chéo với typ hoang dại Có nhiều phương pháp sản xuất vắc xin sống giảm độc lực.
Đột biến tế bào túc chủ cảm nhiễm được thực hiện bằng cách cấy chuyền nhiều lần vi rút typ hoang dại trong các túc chủ khác nhau hoặc trong các tổ chức nuôi cấy khác nhau Việc này được tiến hành nhiều lần qua nhiều năm để có được sản phẩm cuối cùng.
- Bất hoạt toàn bộ vi rút để làm mất khả năng gây bệnh.
Các loại vắc xin bất hoạt toàn thân vi rút như IPV (inactivated poliovirus), vắc xin
dại, vắc xin viêm não Nhật Bản đã được sản xuất rộng rãi trên toàn thế giới Các tác nhân bất hoạt thường được sử dụng như formaldehyd, ethylenimin và β-probiolacton Vắc xin bất hoạt an toàn hơn vắc xin sống giảm độc lực, nhưng để đạt được miễn dịch lâu dài và bền vững thì cần một lượng KN lớn hơn và nhiều liều sử dụng hơn Mặc dù vắc xin bại liệt uống
(OPV) được sử dụng rộng rãi trên thế giới và là vắc xin sử dụng cho chương trình TCMR do WHO khuyến cáo, song có một vài nước ở châu Âu dùng vắc xin bại liệt bất hoạt (IPV).
- Vắc xin thứ đơn vị (subunit) gồm 1 hoặc một ít KN của vi rút.
Nhờ những tiến bộ của công nghệ sinh học trong những thập niên cuối thế kỷ 20, người ta đã đạt được những thành tựu lớn trong việc chiết tách KN (HA) và KN (NA) ra khỏi các virion cúm và sử dụng các loại KN này để làm vắc xin phòng cúm Có nhiều nghiên
cứu ứng dụng tin sinh học trong dự đoán các quyết định tố KN (epitope) để phục vụ cho việc
phát triển vắc xin thế hệ mới đối với vi rút cúm A/H5N1.
Trang 6Ưu điểm chính của vắc xin dựa trên quyết định tố KN là khả năng gây đáp ứng miễn dịch với cấu trúc KN tối thiểu
2 Vắc xin vi khuẩn dùng cho người
Vắc xin vi khuẩn sản xuất bằng kỹ thuật truyền thống được lưu hành hiện nay cho thấy có nhiều loại khác nhau Cho đến nay, vắc xin vi khuẩn sống, giảm độc lực được sử dụng rất ít, duy nhất chỉ còn vắc xin BCG.
- Vắc xin vi khuẩn sống giảm độc lực: Vắc xin BCG, Vắc xin Salmonella typhi.
- Vắc xin bất hoạt toàn thân vi khuẩn : Có 3 loại vắc xin bất hoạt toàn thân vi khuẩn:
vắc xin ho gà (Bordetella pertussis), vắc xin tả (Vibrio cholerea), vắc xin thương hàn (Salmonella typhi, para A và para B) Các vi khuẩn này sau khi nuôi cấy được
bất hoạt bằng formalin.
- Vắc xin giải độc tố : Vắc xin Bạch Hầu, vắc xin Uốn ván
- Vắc xin thứ đơn vị : Vắc xin Ho gà vô bào, Vắc xin cộng hợp Hib, Vắc xin cầu
khuẩn phổi (Streptococcus pneumoniae)
3 Tá chất của Vắc xin
Từ hơn 70 năm qua, tá chất được sử dụng để làm tăng đáp ứng miễn dịch đối với KN Ramon (1926) lần đầu tiên đã chứng minh tá chất (bánh mỳ, thạch agar, tapioca, dầu tinh bột, lecithin hoặc saponin) có khả năng kích thích KN làm tăng mức độ tạo KT kháng độc
tố
Tá chất sử dụng cho vắc xin đang phát triển rất nhanh, vì:
- Nhiều loại vắc xin dự tuyển đã được nghiên cứu phát triển để chống lại tác nhân nhiễm khuẩn, ung thư, bệnh tự miễn, và dị ứng Trong số đó có nhiều vắc xin cần tá chất.
- Vì sức khỏe cộng đồng, năm 1990 CVI đã tăng cường trợ giúp và xây dựng mục tiêu với khát vọng là tăng sự có mặt của nhiều loại vắc xin và nghiên cứu phát triển vắc xin mới.
- Những tiến bộ trong lĩnh vực sinh hóa phân tích, tinh sạch đại phân tử, kỹ thuật tái tổ hợp và việc nâng cao những hiểu biết về cơ chế miễn dịch học và sinh bệnh học giúp hoàn thiện cơ sở kỹ thuật để phát triển ứng dụng tá chất.
Tá chất bao gồm:
- Muối nhôm hoặc calci.
- Các sản phẩm từ vi khuẩn và thảo mộc.
- Các tác nhân hoạt hóa bề mặt (surface active agents).
- Polyanion.
- Polyacrylic.
- Vitamin.
- Cytokin.
- Các hormon.
- Stearyl tyrosin.
Trang 7- Các cấu trúc KN tổng hợp thống nhất (unique synthetic antigen constructs)
Chất mang bao gồm:
- Giải độc tố vi khuẩn.
- Protein màng ngoài não mô cầu OMP.
- Acid béo.
- Độc tố tả.
- Các hạt giống vi rút Tyvirus (Tyvirus like particles)
- Nucleic acid vắc xin.
- Các vector sống.
Chất chuyển tải bao gồm:
- Nhũ tương dầu khoáng.
- Nhũ tương dầu thực vật.
- Nhũ tương squalen và squalan
- Nang chứa lipid.
- Các vi cầu polyme có thể phân giải sinh học.
- Protein coclet.
- Các thảo mộc ăn được.
Cơ chế hoạt động của tá chất
Cho đến nay, phần lớn các vắc xin thứ đơn vị là những KN yếu, dù chúng là những sản phẩm tự nhiên, sản phẩm tái tổ hợp, hoặc những peptid tổng hợp Các KN thứ đơn vị có đáp ứng miễn dịch kém vì nhiều lý do như xử lý không chính xác của hệ thống miễn dịch, thải trừ nhanh, kích thích sinh miễn dịch không thích đáng và thiếu các quyết định tố KN tế bào
T hoặc B chủ yếu Những trở ngại này có thể khắc phục bằng cách gắn KN thứ đơn vị với tá chất Ngược lại với vắc xin thứ đơn vị, những vắc xin sống truyền thống hoặc những vắc xin bất hoạt toàn thân tế bào vi sinh vật là những vắc xin có tính KN mạnh So với vắc xin thứ đơn vị, vắc xin truyền thống phức tạp hơn về cấu trúc và chứa đựng nhiều quyết định tố KN
dư thừa (không cần thiết) nên tạo được nhiều cơ hội để tránh sự ngăn cản di truyền của người tiêm vắc xin Chúng cung cấp một khối lượng KN lớn hơn, đặc biệt nếu chúng phát triển trong cơ thể Những KN của chúng có phân tử lượng lớn, số phận của chúng được xem như một protein tải và chức năng như 1 tá chất làm tăng cường tính sinh miễn dịch bằng việc cung cấp tế bào T hỗ trợ (Th).
Những lợi thế của tá chất
Tá chất của vắc xin ảnh hưởng đến tính sinh miễn dịch bằng một hoặc nhiều cách Giải phóng quyết định tố KN tế bào T đối với MHC lớp II bằng con đường của các tế bào trình diện KN giành cho đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào T-CD4 và tạo KT.
Trang 8PHẦN II
CÁC VẮC XIN HIỆN ĐANG ĐƯỢC LƯU HÀNH
I Tại Việt Nam
STT Tên sản phẩm Dạng bào chế Đơn vị tính Đóng gói Hạn dùng
(tháng)
1
VTVAXIM (vắc xin viêm
gan A bất hoạt hấp phụ + vắc
xin thương hàn)
dung dịch + hỗn dịch Hộp
Hộp 1 bơm tiêm 2 buồng nạp sẵn lml
36
2 ROUVAX (vắc xin sởi giảm
hoạt lực) - Đăng ký lại Bôt đông 'khô Hộp
Hộp 10 lọ bột đông khô X lơ liều vắc xin kèm 10 lọ X 5ml dung môi
36
3
sa-B-VAC 5fig/0.5ml (vắc
xin viên gan B) - Đãng ký
lai Dung dịch treo Lọ
Hộp 1 lọ 5jxg/0.5ĩĩìl 36
4
SCI-B-VAC 10jig/lml (vắc
xin viên gan B) - Đãng ký
lại
Dung dịch treo Lọ
Hộp 1 lọ 10[ig/lml 36
5
MMR (Vắc xin virus sống
phòng sởi, quai bị, rubella)
Đăng ký lại
Bột đông khô Lọ
Hộp 5 lọ, 10 lọ kèm dung dịch pha tiêm đơn liều
24
6
Twinrix™ (Vắc xin viêm gan
A bất hoạt và viêm gan B tái
tổ hợp) - Đăng ký lại Hỗn dịch pha tiêm Liều l.Oml
Hộp 1 xyianh đóng sẵn lễ0ml, hôp 1 lo i.Oml
36
7
Vắc xin bạch hầu - ho
gàuốn ván hấp phụ (DPT)
-Đãng ký lại
Nước Liều
Hôp 10 lo lQmi (20 liều) 30
8 r-HBvax (Vắc xin viêm B tái
tổ hợp) - Đãng ký lại Dung dịch tiêm mcg
Hộp 201ọ lml, Hôp 20 lọ 0.5rĩil 36
9 Okavax
(Vắc xin thuỷ đậu điều chế từ
virus sống làm giảm độc lực)
dung dịch tiêm, có được khi hồi chính bột đông khô với dung môi kèm
Liều 0,5ml Hộp 1 lọ bôt đông khô + 1 lọ dung
môi 0,7ml
24
Trang 910
Varicella
Vaccine-GCC
(Vắc xin Varicella sống)
Đông khô
Lọ 0,7ml Sầu khi hoàn nguyên
Hộp 1 lọ vắc xin đông khô+ 1 lọ nước pha
24
11 Shanvac®-B (Vắc xin viêm
gan B) dung dịch tiêm Lọ 0,5ml
12
JEVAX®
(Vắc xin viêm não Nhật Bản)
- Đăng ký lại)
dung dịch tiêm lml/liều
Hộp lO lọ xlml/lọ, hộp 10 lọ X 5ml/lọ
24
13 ORCVAX® (Vắc xin Tả
uống) - Đăng ký lại dung dịch uống l,5ml/liều
Hộp lO lọ x7,5ml/lọ (5 liều) 24
14
Verorab (vắc xin dại từ tế bào
vero) - Đăng ký lại Huyền dịch tiêm (khi hoànnguyên vắc xin dạng bột
đông khô với dung môi) Liều
Hộp 1 lọ 1 liều bột đông khô + 1 ampul 0.5ml dung môi, Hộp 5 lọ 1 liều + 5ampul 0,5mal, Hộp 350 lọ 1 liều + 570 ampul 0,5ml
36
15 Vắc xin uốn ván hấp phụ(TT) - Đăng ký lại Dung dịch tiêm 1 liều/ống Hộp chứa 20 ống 0,5ml, mỗi ốngchứa 1 liều 36
16 Vắc xin uốn ván hấp phụ(TT) - Đăng ký lại Dung dịch tiêm 20 liều/lọ Hộp 10 lọ 10ml, mỗi lọ chứa 20 liều 36
17 Morcvax - vắc xin tả uống Dung dịch uống Liều 1,5ml Hộp/10lọ 7,5ml-05 liều; Hộp/10Lọ1,5ml – 01 liều 24
18 Vắc xin thương hàn viPolysaccharide -Đăng ký lại Dung dịch tiêm liều Lọ chứa 0,5ml, lọ chứa 1ml, lọ chứa2,5ml, lọ chứa 10ml 36
19
Vắc xin sởi sống giảm độc
lực đông khô đông khô lọ
Hộp chứa 10lọ10ml vắc xinđông khô, kèm hộp chứa 10 lọ nước pha tiêm 6ml
24
20 Vắc xin uốn ván bạch hầuhấp phụ (Td) Dung dịch ống Hộp 20 ống vắc xin 0.5ml (1 liều) 30
21 Vắc xin uốn ván bạch hầuhấp phụ (Td) Dung dịch Lọ Hộp 10 lọ, mỗi lọ chứa 0.5ml (10liều) 30
22 Purified Diphtheria ToxoidBulk (Bán thành phẩm vắc
xin bạch hầu tinh chế)
Huyền dịch Nồng độ 1800– 2200Lf/ml Lọ (thể tích khác nhau) 36
23 Bulk of Pertussis (Bán thànhphẩm vắc xin ho gà) Huyền dịch Độ cản quang192OU/ml Lọ (thể tích khác nhau) 36
24
Quinvaxem Final Bulk (Bán
thành phẩm vắc xin phối hợp
5 thành phần
DPT-HepB-Hib)
Hỗn dịch Lọ Lọ 10 lít, 20 lít, 30 lít, 50 lít 12
Trang 1025 Pentaxim (Vắc xin bạch hầu,uốn ván, ho gà, bại liệt, Hib) Bột đông khô vắc xin Hib +hỗn dịch vắc xin bạch hầu,
ho gà, uốn ván, bại liệt
Liều 0.5 ml
- Hộp 1 lọ 1 liều vắc xin dạng bột +
1 bơm tiêm nạp 0,5ml vắc xin dạng hỗn dịch có gắn sẵn kim tiêm
- Hộp 1 lọ 1 liều vắc xin dạng bột +
1 bơm tiêm nạp 0,5ml vắc xin dạng hỗn dịch không gắn kim tiêm + 2 kim để riêng
36
26 Verorab (vắc xin dại) nguyên thành hỗn dịchBột + dung môi hoàn Liều 0.5 ml
- Hộp 1 lọ 1 liều vắc xin dạng bột +
1 bơm tiêm chứa 0,5ml dung môi
- Hộp 5 lọ 1 liều vắc xin dạng bột +
5 ống chứa 0,5ml dung môi
- Hộp 350 lọ 1 liều vắc xin dạng bột + hộp 570 ống chứa 0,5ml dung môi
- Hộp 1 lọ 1 liều vắc xin dạng bột +
1 ống chứa 0,5 ml dung môi
- Hộp 5 lọ vắc xin dạng bột 1 liều +
5 ống 0,5 ml dung môi
36
28 Typhim Vi (Vắc xin thươnghàn) Dung dịch tiêm Liều 0.5 ml Hộp 1 bơm nạp sẵn 1 liều vắc xin(0.5ml) 36
29 Typhim Vi (Vắc xin thươnghàn) Dung dịch tiêm Liều 0.5 ml Hộp 10 lọ, lọ 20 liều vắc xin (10ml) 36
30 Tetavax (giải độc tố uốn ván) Hỗn dịch tiêm Liều 0.5 ml Hộp 20 ống 1 liều vắc xin (0,5ml);Hộp 1 bơm tiêm nạp sẵn 1 liều vắc
xin (0.5ml)
36
31 Trimovax Merieux (R.O.R)(vắc xin sởi, quai bị, rubella) Bột và dung môi hợp thànhhỗn dịch tiêm Liều 0.5 ml
Hộp 1 lọ 1 liều vắc xin dạng bột và
1 bơm tiêm chứa 0.5ml dung môi;
Hộp 10 lọ 1 liều vắc xin dạng bột và hộp 10 bơm tiêm, mỗi bơm tiêm chứa 0.5ml dung môi
24
32 Trimovax Merieux (R.O.R)(vắc xin sởi, quai bị, rubella) Bột và dung môi hợp thànhhỗn dịch tiêm Liều 0.5 ml Hộp 10 lọ 10 liều vắc xin dạng bộtvà hộp 10 lọ, lọ chứa 10 liều (5ml)
dung môi
24
33
Polysaccharide
meningococcal A+C (Vắc
xin phòng bệnh do não mô
cầu typ A & C)
Bột và dung môi hợp thành hỗn dịch tiêm Liều 0.5 ml Hộp 1 lọ 1 liều vắc xin dạng bột và1 bơm tiêm chứa 0.5ml dung môi 36
34 Vắc xin sởi MVVAC Vắc xin đông khô 10 lọ liều, liều0.5ml Hộp 10 lọ 10 liều vắc xin + Hộp 10 lọ nước hồi chỉnh 6ml
24 tháng (vắc xin đông khô); 6 giờ (ở
2 – 80C): vắc xin sau khi
đã được hồi chỉnh
35 Vắc xin Rubella sống giảmđộc lực (đông khô) – 1 liều Đông khô Liều 0.5ml Hộp 50 lọ vắc xin 1 liều (0.5ml) + Hộp 5 vỉ, mỗi vỉ 10 ống nước hồi
chỉnh 0.5ml/ống
24
36 Bán thành phẩm cuối cùngvắc xin Quimi-Hib Dung dịch Chai Chai 20 lít 12