- Nợ xấu là một vấn đề đã tồn tại khá lâu ở Trung Quốc và là một trở ngại lớn cho sự phát triển của các ngân hàng nội địa.. Bài nghiên cứu kỳ vọng đóng góp một cái nhìn chung về vấn
Trang 1NỢ XẤU, RỦI RO ĐẠO ĐỨC VÀ CÁC QUY
ĐỊNH CỦA HỆ THỐNG NHTM
TRUNG QUỐC
1 Hồ Thị Kim Yến
2 Trần Thị Thúy Vân.
3 Nguyễn Thị Phương.
DANH SÁCH NHÓM
Môn : QUẢN TRỊ RỦI RO TÀI CHÍNH GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Trang
Trang 31 Giới thiệu
• Lý do chọn đề tài:
- Trong ngành ngân hàng, sự thất bại của một ngân hàng có thể tác động đến nhiều ngân hàng khác, từ đó gây ra một hiệu ứng dây chuyền và có thể gây mất ổn định cho toàn bộ hệ thống ngân hàng trong nước hoặc thậm chí là toàn cầu.
- Nợ xấu là một vấn đề đã tồn tại khá lâu ở Trung Quốc và là một trở ngại lớn cho sự phát triển của các ngân hàng nội địa.
- Những nghiên cứu trước đây cho thấy nợ xấu là dấu hiệu của vấn đề tài chính trong tương lai của các ngân hàng Demirguc-Kunt (1989) và Barr cùng cộng sự (1994) đã kết luận các ngân hàng trước khi bị phá sản thường có một mức độ nợ xấu rất cao
Trang 41 Giới thiệu
• Lý do chọn đề tài:
- Nợ xấu là một trong những mục tiêu quan trọng trong công cuộc cải cách ngành ngân hàng ở Trung Quốc, đó là làm giảm tỷ lệ nợ xấu ngày càng tăng cao Một phần của những nỗ lực này là việc ông Li Keqiang, Thủ tướng chính phủ Trung Quốc
thông qua “Luật bảo hiểm tiền gửi ngân hàng”, luật này có hiệu lực vào ngày 1
tháng 5 năm 2015.
- Năm 2003, một chính sách nhằm cải cách lĩnh vực ngân hàng, chính phủ Trung
Quốc đã bơm một lượng vốn đáng kể vào ngành ngân hàng (Jiang và các cộng sự, 2013), điều này đã dẫn đến một sự suy giảm trong tỷ lệ nợ xấu Tỷ lệ nợ xấu trung bình gần đây được duy trì trong khoảng 2% ở tất cả các ngân hàng
Trang 51 Giới thiệu
• Lý do chọn đề tài:
- Nợ xấu vẫn là một trở ngại trong tương lai Dẫn chứng cho thấy đó chính là một dấu hiệu của sự gia tăng trở lại của nợ xấu được tìm thấy vào năm 2014 do suy thoái kinh tế Nợ xấu đã lên tới 842 6 tỷ nhân dân tệ vào cuối năm 2014, cao hơn 255 5
tỷ nhân dân tệ so với đầu năm Mặc dù tỷ lệ nợ xấu trung bình là khoảng 1,25%, các khoản cho vay kém hiệu quả có tỷ lệ nợ xấu đạt đến 3,11%, tương ứng với tỷ lệ nợ xấu tiềm ẩn là 4,36%.
Bài nghiên cứu kỳ vọng đóng góp một cái nhìn chung về vấn đề nợ xấu, cụ thể là mối quan hệ nhân quả giữa rủi ro đạo đức từ hành vi cho vay của các ngân hàng với mức độ nợ xấu thông qua việc xác định một mức ngưỡng nợ xấu nhất định.
Trang 61 Giới thiệu
• Mục tiêu nghiên cứu:
Bài nghiên cứu này nhằm mục đích kiểm tra mức độ mà các ngân hàng ở Trung
Quốc phải đối mặt với những thách thức trong quan hệ cho vay, và sự tham gia của
họ vào các hành vi rủi ro, vì điều này có thể làm tăng thêm các vấn đề rủi ro đạo đức của ngành ngân hàng trong tương lai gần
Phương pháp đề xuất và các phát hiện thực nghiệm của nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng đối với hệ thống ngân hàng Trung Quốc khi đang phải đối mặt với tình trạng nợ xấu cao và các vấn đề rủi ro đạo đức tiềm ẩn trong khu vực này
Trang 71 Giới thiệu
• Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu:
Sử dụng mô hình hồi quy ngưỡng và một bộ dữ liệu bao gồm 60 ngân hàng thương mại thành phố, 16 ngân hàng nhà nước và các ngân hàng cổ phần,11 ngân hàng thương mại nông thôn trong giai đoạn 2006-2012
Ngoài nợ xấu, bài viết này cũng xem xét lợi ích của hệ số đảm bảo an toàn vốn (CAR) như là một biện pháp quản lý được đẩy manh thực hiện bởi những thay đổi pháp lý lớn gần đây ở Trung Quốc
Sử dụng phương pháp tiếp cận ngưỡng tác giả cung cấp rõ hơn về việc liệu việc sử
dụng cả tỷ lệ nợ xấu và tỷ lệ CAR có hữu ích cho nhà quản lý Trung Quốc khi họ muốn tìm hiểu mức độ rủi ro của ngân hàng và giám sát rủi ro hay không.
Trang 82 Tổng quan lý thuyết
Nợ xấu (NPLs) là các khoản tiền vay khi mà những người đi vay đã không
thực hiện thanh toán theo lịch trình của mình trong ít nhất 90 ngày.
Định nghĩa đầy đủ hơn được Phòng Thống kê – Liên hợp quốc xác định
“một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thoả thuận”
Ở Việt Nam, nợ xấu được định nghĩa trong Quyết định 493/2005/QĐ-Ngân hàng Nhà nước : “Nợ xấu là những khoản nợ thuộc các nhóm 3, nhóm 4 và nhóm 5 Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ để đánh giá chất lượng tín dụng của tổ chức tín dụng”.
Vấn đề rủi ro đạo đức và nợ xấu
Trang 92 Tổng quan lý thuyết
Rủi ro đạo đức: Rủi ro đạo đức nảy sinh khi bên có ưu thế thông tin
hiểu được tình thế thông tin không đối xứng giữa các bên giao dịch và tự nhiên hình thành động cơ hành động theo hướng làm lợi cho bản thân bất kể hành động đó có thể làm hại cho bên kém ưu thế thông tin
Trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, rủi ro đạo đức được hiểu
là “trường hợp khi một bên đưa ra các quyết định liên quan tới mức độ
chấp nhận rủi ro, trong khi bên kia phải chịu tổn thất nếu các quyết định
đó thất bại”
Vấn đề rủi ro đạo đức và nợ xấu
Trang 102 Tổng quan lý thuyết
Jensen và Meckling (1976) cho rằng có hai loại rủi ro đạo đức tạo ra hành vi này.
• Một là hoạt động trục lợi (managerial rent-seeking), diễn ra khi các nhà quản
lý theo đuổi lợi ích riêng của họ bằng cách đầu tư vào các dự án ưu thích hoặc thiếu sự giám sát chặt chẽ trong quá trình cho vay
• Vấn đề rủi ro đạo đức khác phát sinh từ cuộc xung đột về lợi ích giữa cổ đông
và chủ nợ Cổ đông có thể muốn chấp nhận các khoản vay rủi ro nhưng cuối cùng phần rủi ro đó được chuyển cho những người gửi tiền.
Lý thuyết của Jensen và Meckling (1976) cho thấy rằng cả hai vấn đề rủi ro đạo đức này đều dẫn đến một tỷ lệ tăng trưởng tín dụng cao và một số lượng lớn nợ xấu
Vấn đề rủi ro đạo đức và nợ xấu
Vấn đề rủi ro đạo đức và nợ xấu
Trang 112 Tổng quan lý thuyết
• Ngoài ra rủi ro đạo đức của các tổ chức tài chính tín dụng nảy sinh từ chính sự hậu thuẫn của chính phủ nhằm cứu giúp các tổ chức tài chính tín dụng lớn thoát khỏi sự sụp đổ, đây là một trong những yếu tố khiến các tổ chức này thực hiện các hành vi đầu tư ẩn chứa rủi ro đạo đức
• Rủi ro đạo đức là không trực tiếp quan sát được nhưng có thể được suy ra từ việc quan sát hành vi của ngân hàng.
Vấn đề rủi ro đạo đức và nợ xấu
Trang 122 Tổng quan lý thuyết
• Foos và các cộng sự (2010) khi nghiên cứu ở Mỹ, Canada, Nhật Bản, và các ngân hàng châu Âu trong giai đoạn 1997-2007, nhận thấy rằng sự tăng trưởng tín dụng dẫn đến sự gia tăng rủi ro tín dụng trong ba năm tiếp theo, gây ra một sự suy giảm trong thu nhập từ lãi và tỷ suất vốn
• Bernanke và Gertler (1986) đã chỉ ra rằng các khoản nợ xấu của các ngân hàng có thể gây ra các hành vi khác nhau tùy theo khẩu vị rủi ro của các ngân hàng Những ngân hàng thận trọng có xu hướng cẩn thận hơn khi đối mặt với sự gia tăng mức nợ xấu Tuy nhiên, khi tỷ lệ nợ xấu
là quá cao, cả cổ đông và các nhà quản lý ngân hàng có động cơ dịch chuyển rủi ro
Vấn đề rủi ro đạo đức và nợ xấu
Trang 132 Tổng quan lý thuyết
• Eisdorfer (2008) tìm ra những bằng chứng cho thấy các công ty đang trong tình trạng kiệt quệ tài chính có hành vi chuyển dịch rủi ro lớn hơn
• Khi nghiên cứu các ngân hàng Mỹ, Koudstaal và Wijnbergen (2012) tìm thấy rằng các ngân hàng càng có nhiều nợ xấu thì càng có xu hướng chấp nhận rủi ro
Vấn đề rủi ro đạo đức và nợ xấu
Trang 142 Tổng quan lý thuyết
• Bruche và Llobet (2011) lập luận rằng khi các ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ phá sản, họ có xu hướng đảo nợ để tăng cơ hội phục hồi
• Boyd và Graham (1998) và Nier và Baumann (2006) lập luận rằng khi các ngân hàng cảm thấy "quá lớn để sụp đổ" (too big to fail) vì sức mạnh thị trường quá lớn, hoặc khi những ngân hàng này mong đợi một sự giải cứu trong trường hợp phá sản, vấn đề rủi ro đạo đức càng trở nên dữ dội hơn
Bằng chứng từ các nghiên cứu trên chỉ ra mức độ nợ xấu có thể là một yếu tố quan trọng quyết định hành vi của các ngân hàng đưa đến việc họ có những hành vi khác nhau khi đối mặt với nợ xấu cao hơn mức chuẩn
Vấn đề rủi ro đạo đức và nợ xấu
Trang 152 Tổng quan lý thuyết
Hệ thống NH thương mại và những quy định ở Trung Quốc
Trong lịch sử,ngân hàng hàng Nhân dân Trung Quốc (PBC) là ngân hàng duy nhất ở Trung Quốc có vai trò vừa là một ngân hàng trung ương và vừa
là một ngân hàng thương mại (hệ thống mono-bank, Lin và Zhang, 2009)
Nằm trong chính sách cải cách nền kinh tế thị trường nên từ năm
1979, các Ngân hàng Trung Quốc, Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc và Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc đã được thành lập
Năm 1984, Ngân hàng Công nghiệp Trung Quốc được tách ra từ PBC
và cùng với 3 ngân hàng trên tạo thành 4 ngân hàng nhà nước lớn nhất
Hiện nay, các ngân hàng này tạo thành nền tảng của hệ thống ngân hàng thương mại ở Trung Quốc
Trang 162 Tổng quan lý thuyết
Hệ thống NH thương mại và những quy định ở Trung Quốc
Một cuộc cải cách về cơ cấu sở hữu đã được diễn ra từ giữa những năm 1980 Và ra đời hàng loạt các ngân hàng cổ phần (Liang và các cộng
sự năm 2013), điển hình là ngân hàng truyền thông được thành lập vào năm
1986 được xem như là ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên; Ngân hàng TNHH Phát triển Shenzhen được thành lập vào năm 1987 là ngân hàng niêm yết công khai đầu tiên; và Ngân hàng TNHH thương nhân Trung Quốc được thành lập vào năm 1987 là ngân hàng thuộc sở hữu doanh nghiệp đầu tiên
Hiện nay tổng cộng có 12 ngân hàng cổ phần quốc gia
Trang 172 Tổng quan lý thuyết
Hệ thống NH thương mại và những quy định ở Trung Quốc
Cuộc cải cách trong hệ thống NHTM ở Trung Quốc đã tiến triển hơn nữa kể từ năm 1994, thể hiện ở việc thành lập ngân hàng chính sách và ban hành luật ngân hàng ( Luật Ngân Hàng Trung ương và Luật Ngân Hàng Thương Mại )
Tính đến cuối năm 2012, có tổng cộng 144 NHTM thành phố và 337 NHTM nông thôn hoạt động hầu hết ở tất cả các tỉnh với hơn mười ngàn chi nhánh trên khắp Trung Quốc Các ngân hàng này đã đóng một vai trò khá quan trọng trong sự phát triển kinh tế khu vực của Trung Quốc
Trong năm 2012, giá trị tài sản của các ngân hàng thương mại địa phương chiếm khoảng 14% tương ứng với tổng giá trị hơn 18 nghìn tỷ nhân dân tệ (khoảng 3 nghìn tỷ USD)
Trang 182 Tổng quan lý thuyết
Hệ thống NH thương mại và những quy định ở Trung Quốc
Sự mở rộng nhanh chóng của ngành ngân hàng đòi hỏi phải có một hệ thống pháp lý phức tạp hơn
Ngày 25 tháng 4 năm 2003, Ủy ban giám sát quản lý NH Trung Quốc (CBRC) được thành lập dưới sự quản lý trực tiếp của Quốc hội
Vai trò chính của CBRC là quản lý các tổ chức NH thông qua xây dựng các quy tắc,quy định giám sát,cho phép sự thành lập các tổ chức NH, kiểm tra và thực thi các quy định,thu thập thông tin và tìm kiếm cách giải quyết
Khi lĩnh vực ngân hàng ngày càng phát triển, vấn đề về các quy định quản lý trở nên phức tạp hơn Quản trị yếu kém và chấp nhận rủi ro quá mức có thể gây ra sự mất ổn định trong hệ thống ngân hàng và góp phần đẫn đến khủng hoảng kinh tế
Trang 192 Tổng quan lý thuyết
Nợ xấu, rủi ro đạo đức và hệ thống ngân hàng Trung Quốc
Cuối năm 2005, CBRC đưa ra “Các chỉ số cơ bản về quy chế và giám sát rủi ro trong NHTM” : tỷ lệ NPL phải thấp hơn 5% và nonperforming asset ratio thấp hơn 4%
Ngân hàng ở TQ được coi là mong manh do tỷ lệ nợ xấu cao và tỷ lệ
an toàn vốn thấp do sự độc quyền của công ty nhà nước và ảnh hưởng
mạnh của Chính Phủ
Mức tỷ lệ nợ xấu cho các ngân hàng nhà nước tại Trung Quốc đã phát triển trong thời kỳ trước đổi mới đạt trung bình 9,22%
Trang 202 Tổng quan lý thuyết
Nợ xấu, rủi ro đạo đức và hệ thống ngân hàng Trung Quốc
Chính phủ Trung Quốc đã trợ cấp lượng lớn vốn điều lệ vào hệ thống ngân hàng trong thời gian 2003 -2008, cho phép các ngân hàng để thự hiện các khoản cho vay và hạn chế nợ xấu trong thời gian đó
Hỗ trợ từ chính phủ có thể gây ra rủi ro đạo đức do các ngân hàng trở nên hoạt động ít hiệu quả hơn và tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn
Trang 213 Phương pháp
Cơ sở lý thuyết xây dựng mô hình:
Các ngân hàng có thể phát hiện tỷ lệ nợ xấu của họ tăng là do kém may mắn hay là do quản lý kém (Berger và DeYoung, 1997).
Đi sâu hơn về mối liên kết nợ xấu với các vấn đề rủi ro đạo đức, bài nghiên cứu đã xem lại lý thuyết của Jensen và Meckling (1976) về các động cơ chấp nhận rủi ro.
Những động cơ xuất hiện rủi ro đạo đức.
Rủi ro đạo đức có thể gây ra việc chấp nhận rủi ro quá mức, vì vậy sẽ làm giảm chất lượng tài sản, từ đó dẫn đến việc các tổ chức này sụp đổ Rủi ro đạo đức xảy ra khi các nhà quản
lý (người đại diện cho lợi ích cho cổ đông) nỗ lực để tối đa hóa lợi ích riêng của họ thay vì lợi ích của các chủ sở hữu.
+ Các nhà quản lý (người đại diện) có thể nhận toàn bộ lợi ích từ những thành quả tích cực, nhưng chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn khi họ thất bại (Keeley (1990)
Trang 223 Phương pháp
Cơ sở lý thuyết xây dựng mô hình:
Những động cơ xuất hiện rủi ro đạo đức.
+ Các NHTM được đảo bảo ngầm bởi chính phủ Trung Quốc
+ Lý thuyết triển vọng của Kahneman và Tversky (1979) cũng gợi ý rằng các nhà quản lý thì e ngại rủi ro khi đối mặt với khoản lời chắc chắn, nhưng họ sẽ trở nên tìm kiếm rủi ro khi phải đối mặt với những khoản thiệt hại rõ ràng bởi tâm lý e ngại thua lỗ Lý giải được rằng các nhà quản lý ngân hàng có động cơ để tăng mức chấp nhận rủi ro khi rơi vào tình huống kiệt quệ (hay khó khăn về mặt tài chính)
+ Mang lại lợi ích cho các ngân hàng trong việc đạt được lợi nhuận cao hơn và cải thiện danh tiếng hoặc đem lại lợi ích cho các nhà quản lý như nhận được thù lao hoặc cơ hội thăng tiến cao hơn.
Trang 233 Phương pháp
Cơ sở lý thuyết xây dựng mô hình:
+ Nhà quản lý có thể được hưởng lợi từ hiệu quả hoạt động tốt hơn và có động cơ rõ ràng
để đánh bóng hiệu suất của mình để đạt được sự ủng hộ về mặt chính trị và thăng tiến Các nhà quản lý có thể chấp nhận các dự án rủi ro cao như là một biện pháp cuối cùng để thay đổi thành quả khi phải đối mặt với khó khăn về tài chính Ví dụ, Miguel và Ana (2015) đã nghiên cứu hệ thống ngân hàng của các thành viên chủ chốt ở Liên Minh châu Âu (EU) cũng cho thấy có sự tồn tại của rủi ro đạo đức.
+ Các thiết kế hợp đồng thù lao cho CEO cũng góp phần cho việc chấp nhận rủi ro quá mức hơn so với mức tối ưu của xã hội.(Pierre (2013))
+ Kim và cộng sự (2014) phát hiện ra các ngân hàng ở các nước ASEAN tích cực chấp nhận rủi ro khi có sự hiện diện của bảo hiểm tiền gửi (DI), đây cũng là nguyên nhân dẫn đến rủi ro đạo đức.
Trang 243 Phương pháp
Cơ sở lý thuyết xây dựng mô hình:
Các nhà quản lý ngân hàng tin rằng chính phủ sẽ giải cứu các ngân hàng gặp khó khăn, thì
họ có thể gia tăng thêm việc nhận rủi ro vượt mức và coi nhẹ việc xem xét khía cạnh chi phí Hoặc nếu các ngân hàng dự đoán rằng chính phủ có thể can thiệp ở mức ngưỡng nguy hiểm để bảo vệ các ngân hàng khỏi sự vỡ nợ khi nợ xấu đạt đến một mức độ nhất định, thì các ngân hàng thậm chí có thể còn tăng tỷ lệ nợ xấu đến mức độ đó.
Sự hiện diện của rủi ro đạo đức đã đặt ra câu hỏi “Liệu rằng có một giá trị ngưỡng đặc biệt của tỷ lệ Nợ xấu, mà nếu vượt qua ngưỡng này thì rủi ro đạo đức xuất hiện, dẫn đến tình hình càng trở nên tồi tệ hơn”.
Với những lập luận trên tác giả cho rằng các ngân hàng với tỷ lệ nợ xấu trên một ngưỡng cụ thể sẽ thực hiện một quyết định cho vay rủi ro cao hơn so với những ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu nằm dưới ngưỡng Do đó bài nghiên cứu này sử dụng mô hình hồi quy ngưỡng để xác định các vấn đề rủi ro đạo đức.
Trang 253.Phương pháp
Mô hình tác giả sử dụng dựa trên Hansen (1999)
- Phương trình cơ bản như sau:
Trong đó: - I(.) là hàm chỉ số có giá trị bằng 1 nếu giá trị trong dấu ngoặc
là đúng, và ngược lại thì bằng 0,
- qi,t là biến đại diện cho ngưỡng,
- mô hình cho phép hiện tượng nội sinh, hiệu ứng ngưỡng một phần
Trang 263.Phương pháp
- Phương trình ước lượng như sau:
Trong đó: - giá trị ngưỡng ɣ (xây dựng trên tỷ lệ Nợ xấu ở kỳ cuối),
- ngân hàng từng có tỷ lệ Nợ xấu cao, LGR tác động đến NPL thông qua β2 thay vì β1
Trang 273.Phương pháp
• Biến phụ thuộc: NPLt: Tỷ lệ nợ xấu năm t
• Biến ngưỡng: NPLt-1 : Tỷ lệ nợ xấu năm t-1
• Biến giải thích: gồm
- Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng (LGR)
- Quy mô ngân hàng (Size)
- Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (ER)
- Tỷ lệ tăng trưởng huy động (DGR)
- Biến giả đại diện cho khủng hoảng: Dt
Mô ta biến
Trang 284 Dữ liệu và thống kê mô ta
Mẫu dữ liệu là 87 ngân hàng thương mại trong giai đoạn từ năm
2006 đến năm 2012 (Bộ dữ liệu của tác giả bao gồm 16 ngân hàng nhà nước và các ngân hàng cổ phần, 60 ngân hàng thương mại thành phố và 11 ngân hàng thương mại nông thôn)
Tổng số 609 quan sát
Để tránh các kết luận bị ảnh hưởng do giá trị bất thường, tác giả tiếp tục lược bỏ dữ liệu ở mức 1% Các biến số chính chủ yếu thu thập từ bảng cân đối kế toán (xem bảng 1 là các mô tả thống kê
số liệu)
Trang 294 Dữ liệu và thống kê mô ta
Trang 305 Kết qua thực nghiệm
Nghiên cứu này sử dụng 4 mô hình ngưỡng (mô hình 2-5):
- Mô hình 1: Mô hình tuyến tính chuẩn (so sánh);
- Mô hình 2: Mô hình với LGR hiện tại
- Mô hình 3: Mô hình với LGR có độ trễ;
- Mô hình 4: Mô hình với LGR hiện tại và có độ trễ
- Mô hình 5: Mô hình thay thế ER bằng CAR (kiểm tra
sự ổn định của mô hình 4).
Trang 315 Kết qua thực nghiệm
5.1 Ước lượng ngưỡng