1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các loại vaccine và sử dụng vaccine

14 197 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 42,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mỗi loại vacxin có những chống chỉ định riêng song không được dùng vacxin cho những đối tượng sau: + Những trường hợp đang bị sốt cao, song một số trường hợp sốt nhẹ vẫn có thể dùng được

Trang 1

I. SƠ LƯỢC VỀ VACXIN [1]

I.1. Khái niệm vaccine

Là chế phẩm có tính kháng nguyên dùng để tạo miễn dịch đặc hiệu chủ động, nhằm tăng sức đề kháng của cơ thể đối với một (số) tác nhân gây bệnh cụ thể Kháng nguyên này có nguồn gốc từ vi sinh vật gây bệnh hoặc vi sinh vật có cấu trúc kháng nguyên giống vi sinh vật gây bệnh và được bào chế để đảm bảo độ an toàn cần thiết I.2. Cơ chế tác dụng của vacxin

Vacxin khi vào cơ thể, do có chứa các kháng nguyên lạ với cơ thể nên kích thích cơ thể gây ra đáp ứng miễn dịch đối với các thành phần kháng nguyên đó Tùy theo từng loại vacxin mà cơ thể có miễn dịch dịch thể hay miễn dịch qua trung gian tế bào hay phối hợp

cả hai

I.3. Nguyên tắc sử dụng vacxin

I.3.1. Phạm vi tiêm chủng rộng, đạt tỷ lệ cao

- Phạm vi tiêm chủng được quy định tùy theo tình hình dịch tễ của từng bệnh Nói chung tiêm phòng vacxin càng rộng rãi càng tốt

- Tỷ lệ tiêm chủng: những khu vực có bệnh truyền nhiễm lưu hành thì tiêm chủng phải đạt trên 80% đối tượng cảm thụ mới có khả năng ngăn ngừa được dịch Tiêm chủng 50- 80% thì nguy cơ dịch vẫn xảy ra, dưới 50% thì không ngăn ngừa được dịch

I.3.2. Đối tượng tiêm vacxin

- Những người khả năng tiếp xúc với VSV gây bệnh mà chưa có miễn dịch đều được dùng vacxin

- Đối với trẻ em khi đã hiết miễn dịch thụ động từ người mẹ truyền cho thì nguy cơ mắc bệnh là rất cao, cần được tiêm chủng một cách triệt để bởi vì trẻ em càng nhỏ bệnh nhiễm VSV càng nặng và tỷ lệ tử vong càng cao

- Đối với người lớn đối tượng tiêm chủng ít hơn, thường chỉ tiêm chủng với người có nguy cơ cao

I.3.3. Điều kiện sức khỏe

Trang 2

Để đảm bảo vacxin có đủ điều kiện để gây đáp ứng miễn dịch nói chung nên dùng cho những người khỏe mạnh Mỗi loại vacxin có những chống chỉ định riêng song không được dùng vacxin cho những đối tượng sau:

+ Những trường hợp đang bị sốt cao, song một số trường hợp sốt nhẹ vẫn có thể dùng được vacxin

+ Những người đang bị bệnh dị ứng Những người có cơ địa dị ứng hoặc gia đình

có tiền sử dị ứng với vacxin cần được theo dõi cẩn thận

+ Những vacxin sống giảm độc lực không được dùng cho những người đang bị suy giảm miễn dịch, người đang dùng thuốc ức chế miễn dịch, những người đang mắc bệnh ác tính hoặc phụ nữ mang thai

I.3.4. Thời gian dùng vacxin

- Miễn dịch vacxin đòi hỏi phải có thời gian nhất định, thường phải sau 7 – 10 ngày mới gây được miễn dịch Vì vậy, muốn phòng được dịch thì phải dùng vacxin trước mùa dịch thường xảy ra Hiệu giá kháng thể đạt được cao nhất sau khoảng 2 tuần, đó là đáp ứng miễn dịch tiên phát

- Khoảng cách giữa các lần dùng vacxin: tùy theo từng loại vacxin mà có thể dùng một lần hoặc nhiều lần Đối với vacxin dùng nhiều lần thì khoảng cách tốt nhất giữa các lần là 1 tháng Nếu khoảng cách này ngắn hơn thì mặc dù dùng lần sau nhưng kết quả đáp ứng miễn dịch chỉ như lần tiên phát, nếu khoảng cách này dài hơn thì hiệu quả đáp ứng miễn dịch vẫn được đảm bảo

- Thời gian dùng nhắc lại: khi dùng nhắc lại vacxin thì thời gian gây ra đáp ứng miễn dịch sẽ ngắn lại, hiểu giá kháng thể sẽ đạt cao nhất sau một số ngày, nhờ những tế bào lympho ghi nhớ miễn dịch Đó là kết quả đáp ứng miễn dịch thứ phát Thời gian dùng nhắc lại vacxin tuy theo thời gian duy trì được đáp ứng miễn dịch của từng loại vacxin Ví dụ: đậu mùa 5 năm, bại liệt 3 năm, thương hàn 1 năm, tả 6 tháng

I.3.5. Đường dùng vacxin

- Tiêm dưới da: đa số các loại vacxin đưa vào cơ thể theo đường này, phương pháp này

có hiệu quả chắc chắn hơn nhưng dễ gây phản ứng phụ hơn, liều vacxin nhiều so với tiêm trong da là 0,5ml

- Tiêm trong da: phương pháp này chỉ cần 1 lượng vacxin nhỏ (0,1ml), ít gây phản ứng phụ nhưng phải chú ý đúng kỹ thuật nếu không tác dụng gây miễn dịch sẽ kém

- Tiêm bắp: hiện nay có một số loại vacxin tiêm bắp, ít biến chứng và hiệu lực cao

Trang 3

- Đường chủng: đó là hình thức rạch da đưa vacxin vào như vacxin phòng bệnh đậu mùa Đây là phương pháp thô sơ và cổ điển nhất

- Đường uống: đây là phương pháp sử dụng vacxin đơn giản và thuận lợi nhất tuy nhiên chỉ áp dụng cho những vacxin không bị phá hủy bởi đường tiêu hóa Ví dụ: vacxin Sabin phòng bại liệt

I.3.6. Các phản ứng phụ do vacxin

Khi dùng vacxin ở một số người có thể có các phản ứng phụ sau:

- Tại chỗ: có thể hơi đau, sưng hay nổi cục đỏ, hiện tượng này mất đi sau một vài ngày Nếu tiêm chủng không đảm bảo vô khuẩn có thể gặp viêm nhiễm, mủ, loét chỗ viêm

- Toàn thân: thường gặp nhiều nhất là sốt (10-20%), sốt thường hết sau vài ngày Có thể gặp tỷ lệ rất thấp bị co giật, sốc phản vệ

I.3.7. Bảo quản vacxin

Vacxin là một sinh phẩm nên rất dễ bị hỏng nếu không được bảo quản đúng Mỗi loại vacxin có điều kiện bảo quản riêng nhưng nói chung phải bảo quản ở điều kiện khô, tối và lạnh Nhiệt độ bảo quản tốt từ 2 – 8 C0

I.4. Lich tiêm chủng cho trẻ em [3]

Trang 4

thích: BCG (vacxin lao), VGB (vacxin viêm gan B), DPT ( Bạch hầu – ho gà – uốn ván), Hib (hymophylus influenza typ b), OPV (bại liệt)

II. Phân loại vacxin [4]

II.1. Ba loại vắc-xin kinh điển

Nuôi cấy virus cúm (chủng gây đại dịch năm 1918) phục vụ nghiên cứu và sản xuất vắc-xin

• Vắc-xin bất hoạt là các vi sinh vật độc hại bị giết bằng hóa chất hoặc bằng nhiệt Thí dụ: các vắc-xin chống cúm, tả, dịch hạch và viêm gan siêu vi A Hầu hết các vắc-xin loại này chỉ gây đáp ứng miễn dịch không hoàn toàn và ngắn hạn, cần phải tiêm nhắc nhiều lần

• Vắc-xin sống, giảm độc lực là các vi sinh vật được nuôi cấy dưới những điều kiện đặc biệt nhằm làm giảm đặc tính độc hại của chúng Vắc-xin điển hình loại này thường gây được đáp ứng miễn dịch dài hạn và là loại vắc-xin được ưa chuộng dành cho người lớn khỏe mạnh Các vắc-xin ngừa bệnh sốt vàng, sởi, bệnh ban đào

và quai bị đều thuộc loại này

• Các "toxoid" là các hợp chất độc bị bất hoạt trích từ các vi sinh vật (trong trường hợp chính các độc chất này là phương tiện gây bệnh của vi sinh vật) Thí dụ: các vắc-xin ngừa uốn ván và bạch hầu Vắc-xin sống ngừa bệnh lao không phải là dòng vi khuẩn lao gây bệnh, mà là một dòng lân cận được gọi là BCG

II.2. Một số loại vắc-xin mới đang nghiên cứu

STT Tuổi của trẻ Vắc xin sử dụng

- Viêm gan B (VGB) mũi 0 trong vòng 24 giờ

2 02 tháng - DPT-VGB-Hib mũi 1

- OPV lần 1

3 03 tháng - DPT-VGB-Hib mũi 2

- OPV lần 2

4 04 tháng - DPT-VGB-Hib mũi 3

- OPV lần 3

- Sởi mũi 2

Trang 5

Các vắc-xin này còn được xem là vắc-xin của tương lai, có 6 hướng phát triển chính hiện nay:

• Sử dụng các phụ gia (adjuvant) mới, nhằm gây ra loại đáp ứng miễn dịch mong

muốn Thí dụ, chất nhôm phosphate và các oligonucleotide chứa CpG demethyl hóa đưa vào vắc-xin khiến đáp ứng miễn dịch phát triển theo hướng dịch thể (tạo

kháng thể) thay vì tế bào

• Vắc-xin khảm: sử dụng một sinh thể quen biết để hạn chế hiện tượng "phản tác dụng", thí dụ dùng virus vaccinia mang một số yếu tố của virus viêm gan B hay virus dại

• Vắc-xin polypeptidique: tăng cường tính sinh miễn dịch nhờ liên kết tốt hơn với các phân tử MHC: peptide nhân tạo 1/2 giống virus, 1/2 kia gắn MHC; đoạn peptide mô phỏng 1 quyết định kháng nguyên (epitope)

• Anti-idiotype: idiotype là cấu trúc không gian của kháng thể tại vị trí gắn kháng nguyên, đặc hiệu với kháng nguyên tương ứng Anti-idiotype là các kháng thể đặc hiệu đối với idiotype, do đó anti-idiotype xét về mặt đặc hiệu lại tương tự với kháng nguyên Vậy, thay vì dùng kháng nguyên X làm vắc-xin, người ta dùng idiotype anti-anti-X

• Vắc-xin DNA: DNA của tác nhân gây bệnh sẽ được biểu hiện bởi tế bào người được chủng ngừa Lợi thế của DNA là rẻ, bền, dễ sản xuất ra số lượng lớn nên thích hợp cho những chương trình tiêm chủng rộng rãi Ngoài ra, vắc-xin DNA còn giúp định hướng đáp ứng miễn dịch: tác nhân gây bệnh ngoại bào được trình diện qua MHC loại II, dẫn đến đáp ứng CD4 (dịch thể và tế bào) Khi kháng nguyên của tác nhân đó được chính cơ thể người biểu hiện, nó sẽ được trình diện qua MHC loại I, lúc này đáp ứng miễn dịch tế bào qua CD8 được kích thích Tuy nhiên phương pháp này là con dao hai lưỡi bởi lẽ tế bào mang DNA lạ có nguy cơ bị nhận diện là "không ta", sinh ra bệnh tự miễn

• Sử dụng véc-tơ tái tổ hợp – dùng các vi khuẩn thuần tính hoặc các tế bào trình diện

muốn

II.3. Vắc-xin dùng để điều trị

Trang 6

Một trong những hướng nghiên cứu mới là miễn dịch liệu pháp, bao gồm miễn dịch liệu pháp thụ động và chủ động (tức vắc-xin liệu pháp) Người ta hy vọng là phương pháp này sẽ chữa được những bệnh như ung thư, AIDS và bệnh Alzheimer

III. CÁC LOẠI VACXIN ĐANG ĐƯỢC LƯU HÀNH HIỆN NAY

III.1. Viêm gan B [2]

Ngồn gốc và dạng thuốc

- Có 2 loại vaccin thương phẩm phòng bệnh viêm gan B:

+ Vaccin viêm gan B chế xuất từ huyết tương + vaccin viêm gan B tái tổ hợp gen từ nấm men

Cả 2 loại vaccin này đều là hỗn dịch kháng nguyên bề mặt virus viêm gan B (HBsAg) hấp phụ vào gel hydroxyd nhôm

- Hỗn dịch tiêm

Thời gian tiêm vacxin

- Trẻ sơ sinh 24h sau khi sinh

- 3 mũi tiếp theo trong vòng 1 năm

III.2. Vacxin viêm gan A[5]

Ngồn gốc

Từ virus viêm gan A bất hoạt

Chỉ định

Trẻ em 2 tuổi và người lớn

III.3. Vacxin Bạch hầu – ho gà – uốn ván hấp phụ (VACCIN DPT)

Nguồn gốc và dạng thuốc

Vaccin là một hỗn dịch vô khuẩn để tiêm, được điều chế bằng cách trộn các

lượng thích hợp giải độc tố vi khuẩn bạch hầu, uốn ván và vi khuẩn Bordetella pertussis tế bào hoặc không tế bào bất hoạt và được hấp phụ trên nhôm hydroxyd

Chỉ định

Chỉ dùng cho trẻ em từ 2 tháng đến 7 tuổi Không dùng cho trẻ em trên 7 tuổi; ưu tiên cho các trẻ em từ 2 - 6 tuổi để tạo miễn dịch cơ bản, lý tưởng nhất là từ 2 đến 3 tháng tuổi

III.4. Vacxin bại liệt bất hoạt (VACCIN SALK, IPV)[2]

Ngồn gốc và dạng thuốc

Vaccin thuộc loại virus bại liệt đã mất hoạt lực

Chủng virus: Salk hoặc Lepine (IVV)

Trang 7

Kháng nguyên virus bại liệt được điều chế dưới dạng hỗn dịch đậm đặc bao gồm 3 typ 1,2 và 3 của virus bại liệt đã mất hoạt lực bằng nhiệt và formaldehyd

Chỉ định

Phòng bệnh bại liệt cho trẻ nhỏ (6 - 12 tuần tuổi) và cho tất cả các trẻ em và thiếu niên độ tuổi 18 chưa được tiêm chủng, cho khách du lịch đến vùng có virus bại liệt hoang

dã thành dịch hay lưu hành, cho một số cán bộ y tế và cho những cá nhân suy giảm miễn dịch

III.5. Vacxin dại[2]

Nguồn gốc và dạng thuốc

Có 2 dạng thuốc được dùng: Dạng đông khô và dạng hỗn dịch tiêm

Dạng đông khô: Là một liều tạo miễn dịch có hoạt tính bảo vệ tương đương hoặc

lớn hơn 2,5 đơn vị quốc tế, trước và sau khi ủ ở 37oC trong vòng 1 tháng Virus dại (chủng dại Wistar PM/WI 38 - 1503) thu được do nuôi cấy dòng tế bào thường trực Vero, dùng beta propiolacton để bất hoạt Thêm maltose và albumin người vừa đủ cho 1 liều tạo miễn dịch Dung môi pha loãng natri clorid 0,4%, 0,5 ml

Dạng hỗn dịch: Vaccin được điều chế từ chủng CVS kissling/MDPH virus dại phát

triển trong dòng tế bào lưỡng bội bắt nguồn từ tế bào phổi bào thai khỉ rhesus Vaccin virus được bất hoạt bằng beta propiolacton và cô đặc bằng hấp phụ với nhôm phosphat

Chỉ định

Tạo miễn dịch trước khi nhiễm: Tiêm vaccin cho những người có nguy cơ cao

hơn bình thường vì lý do nghề nghiệp như nhân viên thú y, kiểm lâm, huấn luyện thú, nhân viên một số phòng thí nghiệm, và những người sống hoặc đi đến các nước có bệnh dại lưu hành và lưu lại đó trên 1 tháng Trẻ em đặc biệt có nhiều nguy cơ tiếp xúc với bệnh dại

Khi nhiễm: Trong trường hợp bị một con vật cắn nếu không bắt được nó để theo

dõi, thì cần phải tiêm ngay globulin miễn dịch kháng dại và vaccin dại Ðối với người đã tiêm phòng bệnh dại từ trước không tiêm globulin miễn dịch dại vì có thể

ức chế đáp ứng ký ức, mà chỉ tiêm phòng dại sau nhiễm

III.6. Vacxin lao (BCG) [2]

Trang 8

Nguồn gốc và dạng thuốc

Bột đông khô để tiêm

Vaccin BCG (BCG: Bacillus Calmette - Guerin) là chế phẩm dạng đông khô của

chủng Calmette - Guerin giảm hoạt lực, có nguồn gốc từ vi khuẩn Mycobacterium bovis.

Hiện có nhiều loại vaccin BCG lưu hành trên thế giới; vaccin BCG được điều chế bằng phương pháp đông khô hỗn dịch vi khuẩn nuôi cấy trong môi trường có chứa dextran, glucose và Triton WR 1339 hoặc có chứa glycerin, asparagin, acid citric, kali phosphat, magnesi sulphat và sắt ammoni citrat Sau khi pha để tiêm chủng qua da theo như chỉ dẫn, vaccin BCG chứa 100 - 800 triệu đơn vị tạo khuẩn lạc bacillus BCG trong 1ml; dịch thuốc tiêm không được có các loại vi khuẩn khác Vaccin BCG do Việt Nam sản xuất chứa 1 mg BCG trong 1 ống; dung dịch để pha tiêm là dung dịch natri clorid 0,9%, mỗi ống chứa 2 ml

Chỉ định

Vaccin BCG được khuyên dùng cho các nhóm người chưa được tiêm phòng (bằng chứng là chưa có một vết sẹo đặc trưng của vaccin BCG) hoặc những người có phản ứng tuberculin âm tính

Vaccin BCG được dùng để đề phòng và kiểm soát lao: Vaccin BCG tạo miễn dịch chủ động đối với bệnh lao ở những nước đang phát triển, nơi mà bệnh lao thành dịch và việc phòng ngắn ngày bằng các thuốc trị lao (như isoniazid) hoặc việc làm phản ứng tuberculin trên da để sàng lọc không thực hiện được, thì vaccin BCG được dùng một cách thường xuyên với mục đích kiểm soát bệnh lao Do đó, có chỉ định dùng vaccin BCG như một chiến lược thường quy để kiểm soát bệnh lao ở các nước đó Tổ chức y tế thế giới hiện nay khuyến cáo tiêm chủng BCG cho tất cả các trẻ sơ sinh ở các nước đang phát triển, bao gồm cả các trẻ em mắc HIV chưa có triệu chứng là những cháu có nhiều nguy

cơ mắc lao

Vaccin BCG được tiêm ngay khi sinh ra hoặc bất cứ thời gian nào sau đó, nhưng 3 tháng tuổi là tuổi tiêm phòng tốt nhất (đối với trẻ đẻ thiếu tháng, hoặc nhẹ cân) (theo lịch tiêm phòng của Việt Nam)

III.7. Vacxin liên hợp Haemophilus typ b [2]

Nguồn gốc và dạng thuốc

Trang 9

Vaccin chứa polysacarid hoặc oligosacarid có tính kháng nguyên chiết từ vỏ vi

khuẩn Haemophilus influenzae typ b (Hib) Những chất này là dẫn chất của polyribosyl

ribitol phosphat (PRP), yếu tố độc hại chủ yếu cho cơ thể; chúng được liên hợp với các kháng nguyên protein phụ thuộc tế bào T (là những chất mang)

Chỉ định

Vaccin được chỉ định tiêm chủng thường quy cho tất cả trẻ em từ 2 tháng đến 5

tuổi để phòng các bệnh do vi khuẩn Haemophilus influenzae typ b gây ra Vaccin này không bảo vệ được chống các bệnh do các typ khác của H influenzae gây ra (thí dụ các

chủng không có vỏ, thường gây viêm tai giữa và viêm xoang)

Tạo miễn dịch cho các trẻ em trên 5 tuổi, mắc một bệnh mạn tính được biết có

nguy cơ gia tăng nhiễm Haemophilus influenzae typ b Ðặc biệt những người thiếu lách

do cơ thể học hay do chức năng, thiếu máu hồng cầu hình liềm hay những người đã cắt bỏ lách thì cần tiêm vaccin Hib

III.8. Vacxin rubella

Nguồn gốc và dạng thuốc

Thuốc tiêm (mỗi lọ chứa một liều đơn dạng bột đông khô để pha thành 0,5 ml): Chế phẩm chứa chủng Wistar RA 27/3 của virus rubella đã làm giảm độc lực Mỗi liều chứa ≥ 1000 liều gây nhiễm mô cấy 50% (TCID50)

Có thể điều chế vaccin từ nuôi cấy tế bào thận thỏ hoặc phôi vịt hay các dòng tế bào lưỡng bội của người

Chỉ định

Vaccin rubella được chỉ định để tạo miễn dịch phòng rubella Mục đích chủ yếu tạo miễn dịch phòng rubella là để ngăn lây nhiễm thai nhi trong tử cung, có thể dẫn đến sẩy thai, đẻ non hoặc thai chết lưu, hoặc hội chứng rubella bẩm sinh ở trẻ sơ sinh

Chính sách chọn lọc nhằm bảo vệ phụ nữ độ tuổi sinh đẻ tránh các nguy cơ do rubella khi mang thai đã được thay thế bằng chính sách loại trừ rubella ở trẻ em Tiêm phòng thường được khuyến cáo thực hiện thường quy cho mọi người từ 12 tháng tuổi đến tuổi dậy thì

Vaccin tam liên sởi - quai bị - rubella là thuốc tạo miễn dịch được ưa dùng đối với phần lớn trẻ em và nhiều người lớn

Trang 10

III.9. Vacxin sởi [2]

Dạng thuốc và nguồn gốc

Vaccin sởi là chế phẩm đông khô virus sởi sống giảm độc lực Chế phẩm hiện có chứa dòng virus sởi Ender giảm độc lực hơn tách từ chủng Edmonston giảm độc lực bằng cách cấy truyền nhiều lần trên nuôi cấy tế bào phôi gà ở nhiệt độ thấp

Chỉ định

Tạo miễn dịch cơ bản thông thường cho trẻ em Tiêm liều đầu tiên vaccin virus sởi sống cho trẻ em 12 - 15 tháng tuổi (bao gồm cả các trẻ bị bệnh mạn tính, như bệnh nhày nhớt (xơ nang tuyến tụy), bệnh tim, hen và các bệnh phổi mạn tính khác, trẻ bị lao không hoạt động hoặc hoạt động đang điều trị) Ở Việt Nam, liều đầu tiên được thực hiện vào 9

-11 tháng tuổi Ở khu vực có nguy cơ sởi lan truyền cao trong số trẻ em trước tuổi đến trường, nên tiêm liều đầu tiên vào lúc 12 tháng tuổi Có thể tiêm liều thứ hai cho trẻ em vào lúc 4 - 6 tuổi hoặc 11 - 12 tuổi hoặc vào một thời gian nào đó miễn là sau liều thứ nhất ít nhất một tháng

Nên dùng vaccin sởi cho các trẻ em HIV dương tính

Nên dùng vaccin này cho các nhân viên y tế có nguy cơ cao bị lây nhiễm virus sởi.

III.10. Vacxin tả [2]

Nguồn gốc và dạng thuốc

Vaccin phòng bệnh tả là một hỗn dịch chứa vi khuẩn tả Vibrio cholerae bất

hoạt trong dung dịch đệm natri clorid dùng để tiêm Vaccin chứa những phần bằng

nhau các chủng Ogawa và Inaba của vi khuẩn tả Vibrio cholerae nhóm 01 được tách

chiết từ môi trường nuôi cấy có dung dịch đệm là natri clorid và làm bất hoạt vi khuẩn bằng phenol

Chỉ định

Vaccin tả được dùng để thúc đẩy quá trình miễn dịch chủ động đối với bệnh tả cho những người sinh sống và làm việc trong vùng tả lưu hành có điều kiện vệ sinh kém, cho nhân viên y tế hoặc xét nghiệm viên thường xuyên tiếp xúc với người bệnh hoặc đang vận

hành xử lý vi khuẩn V cholerae

Ngày đăng: 23/02/2018, 09:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w