1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến doanh thu bán hàng trong nước và xuất khẩu của doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo tại việt nam

91 158 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyễn Khắc Minh 2015 nghiên cứu về tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, dao động tỷ giá, thị trường tài chính đến các doanh nghiệp của các ngành định hướng xuất khẩu: trường hợ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN ĐĂNG KHOA

TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐẾN DOANH THU BÁN HÀNG TRONG NƯỚC VÀ XUẤT KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP NGÀNH CHẾ

BIẾN, CHẾ TẠO TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ HỌC

TP Hồ Chí Minh, năm 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan rằng luận văn “Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến

doanh thu bán hàng trong nước và xuất khẩu của doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo tại Việt Nam” là bài nghiên cứu của chính tôi

Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hay được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác

Không có sản phẩm hay nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định

Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường Đại học hoặc cơ sở đào tạo khác

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2017

Nguyễn Đăng Khoa

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình giảng dạy và truyền đạt những kiến thức cần thiết để tôi

có thể hoàn thành khóa học này

Đặc biệt, tôi xin gửi lời tri ân chân thành đến PGS.TS Hạ Thị Thiều Dao và TS

Võ Hồng Đức đã tận tình hướng dẫn, định hướng và tạo điều kiện cho tôi suốt thời gian qua để tôi hoàn thành luận văn này

Xin cám ơn anh Tiến, các em Ngọc Thạch, Thế Anh đã nhiệt tình hỗ trợ, giúp

đỡ tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn

Sau cùng, tôi xin chân thành cảm ơn những người bạn học, bạn thân đã tận tình

hỗ trợ, góp ý, động viên và chia sẻ với tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu luận văn này

Kính chúc quý Thầy Cô, bạn bè và những người thân luôn vui vẻ, sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt

Trân trọng cảm ơn

Trang 4

TÓM TẮT

Đầu tư trực tiếp nước ngoài được xem là một nhân tố quan trọng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình tăng trưởng kinh tế của một đất nước Ngoài các nghiên cứu về mối quan hệ giữa vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế còn có các nghiên cứu về tác động lan tỏa của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến một số ngành, lĩnh vực khác nhau của nước nhận đầu tư Luận văn tiến hành phân tích và đánh giá tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến doanh thu trong nước và xuất khẩu để làm rõ hơn tác động lan tỏa của đầu tư nước ngoài đến sự phát triển của doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo Việt Nam

Nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu bảng cân bằng về khảo sát doanh nghiệp do Tổng cục Thống kê Việt Nam thực hiện qua các năm 2012, 2013, 2014 Phương pháp bình phương nhỏ nhất tổng quát khả thi (Feasible Gerneral Least Square- FGLS) được

sử dụng trong nghiên cứu này để kiểm tra tác động trên Kết quả nghiên cứu cho thấy: (1) đầu tư nước ngoài có tác động tích cực đến doanh thu bán hàng trong nước và xuất khẩu của doanh nghiệp chế biến chế tạo; (2) doanh thu bán hàng trong nước và xuất khẩu có tác động ngược chiều qua lại lẫn nhau

Bên cạnh đó, kết quả ước lượng cho thấy quy mô doanh nghiệp và vốn đầu tư tài sản cố định có ảnh hưởng tích cực cả về doanh thu tại thị trường trong nước và xuất khẩu Chi phí quảng cáo bán hàng có tác động tiêu cực đến doanh thu trong nước của doanh nghiệp

Kết quả nghiên cứu thực nghiệm trong đề tài giúp cho những nhà hoạch định chính sách có những chính sách kinh tế hợp lý nhằm gia tăng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có chất lượng, tạo cơ sở góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước Đồng thời giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam học hỏi và hưởng lợi nhiều hơn

từ các lan tỏa của đầu tư trực tiếp nước ngoài từ đó nâng cao sức cạnh tranh và phát triển của doanh nghiệp trên thị trường quốc tế

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ix

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt vấn đề và lý do nghiên cứu 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 5

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 5

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

1.5 Ý nghĩa nghiên cứu 5

1.6 Kết cấu luận văn 6

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ DOANH THU CỦA DOANH NGHIỆP 7

2.1 Các khái niệm 7

2.1.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài 7

2.1.2 Doanh thu bán hàng của doanh nghiệp 9

2.2 Tác động lan tỏa của đầu tư trực tiếp nước ngoài 11

2.3 Lý thuyết liên quan 15

2.3.1 Lý thuyết thương mại quốc tế 15

2.3.2 Lý thuyết về lợi thế độc quyền 16

Trang 6

2.3.3 Lý thuyết vòng đời của sản phẩm 16

2.3.4 Lý thuyết lựa chọn lợi thế hay mô hình OLI 17

2.3.5 Lý thuyết hiệu ứng tích tụ 21

2.4 Các nghiên cứu trước liên quan 22

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

3.1 Mô hình nghiên cứu 33

3.2 Giả thuyết nghiên cứu 36

3.3 Dữ liệu nghiên cứu 37

3.4 Quy trình hồi quy 38

3.5 Phương pháp phân tích dữ liệu 39

3.5.1 Thống kê mô tả dữ liệu 40

3.5.2 Phân tích tương quan giữa các biến trong mô hình 40

3.5.3 Kiểm định Hausman 40

3.5.4 Kiểm định phương sai sai số thay đổi 41

3.5.5 Kiểm định tự tương quan 41

3.5.6 Xử lý khuyết tật của mô hình 41

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 43

4.1 Thống kê mô tả các biến trong mô hình 43

4.2 Kiểm định tương quan giữa các biến trong mô hình và đa cộng tuyến 47

4.3 Lựa chọn mô hình hồi quy 49

4.4 Xử lý khuyết tật của mô hình 50

4.5 Phân tích và thảo luận kết quả hồi quy 51

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 59

Trang 7

5.1 Kết luận 59

5.2 Khuyến nghị chính sách 61

5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 63

TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

PHỤ LỤC 74

Trang 8

DANH MỤC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ

Hình 1.1: Kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp 4

Hình 2.1: Tác động cạnh tranh của FDI tới doanh nghiệp trong nước 15

Hình 3.1: Quy trình hồi quy 399

Hình 4.1: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thu hút được phân theo khu vực 45

Hình 4.2: Thống kê 8 đối tác đầu tư trên 10 tỷ USD 46

Hình 4.3: Biểu đồ cơ cấu vốn đầu tư vào các ngành tính đến năm 2014 47

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Yếu tố điều kiện “Đẩy – Kéo” của FDI 8

Bảng 2.2: Khuôn khổ Mô hình OLI 18

Bảng 2.3: Tổng hợp các nghiên cứu trước 28

Bảng 3.1: Bảng Tóm tắt biến và kỳ vọng dấu 355

Bảng 4.1: Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu 433

Bảng 4.2: Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hìnhError! Bookmark not defined.8 Bảng 4.3: Kết quả hồi quy FEM, REM 499

Bảng 4.4: Kết quả hồi quy theo mô hình GLS 51

Trang 10

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment)

FEM Mô hình tác động cố định (Fixed Effect Model)

GDP Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Products)

GLS Ước lượng bình phương tối thiểu tổng quát (Gereralised Method of

Moments) IMF Quỹ Tiền tệ Quốc tế (International Monetary Fund)

OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for Economic

Cooperation and Development) OLS Ước lượng bình phương nhỏ nhất (Ordinary Least Square)

REM Mô hình tác động ngẫu nhiên (Random Effect Model)

TFP Năng suất các nhân tố tổng hợp (Total Factor Productivity)

VIF Nhân tố phóng đại phương sai (Variance Inflation Factor)

Trang 11

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

Chương này giới thiệu chung về lý do nghiên cứu, các câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu Ngoài ra, chương 1 cũng giới thiệu một số nội dung về phạm vi, đối tượng và ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu Những điểm nổi bật của nghiên cứu và kết cấu của luận văn cũng được trình bày trong chương

1.1 Đặt vấn đề và lý do nghiên cứu

Những nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng Việt Nam đang trở thành điểm đến hấp dẫn và quan trọng của đầu tư trực tiếp nước ngoài tại khu vực Châu Á Đầu tư trực tiếp nước ngoài là bộ phận của hoạt động đầu tư quan trọng trên toàn cầu, bất kể đó là nền kinh tế phát triển nhất thế giới hay ở các quốc gia đang phát triển như Việt Nam Đầu

tư trực tiếp nước ngoài đóng góp tích cực vào tạo nguồn thu ngân sách và thúc đẩy Việt Nam hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới Đầu tư trực tiếp nước ngoài không những cung cấp lượng vốn đầu tư lớn, tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho xã hội mà còn thúc đẩy tăng năng suất và cạnh tranh của các ngành trong nước

Tại nhiều quốc gia trên thế giới, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được xem là một nguồn vốn quan trọng ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến tăng trưởng kinh tế Mối quan hệ hai chiều giữa vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế đã, đang và sẽ là một trong những vấn đề quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia Tuy nhiên, về mặt lý thuyết cũng như thực tiễn, vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về vai trò của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia tiếp nhận nguồn vốn đầu tư này Nhìn chung, đối với các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng kỳ vọng lớn nhất của việc thu hút đầu

tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế

Qua nhiều năm phát triển, kể từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đất nước cùng với việc thông qua Luật đầu tư nước ngoài vào ngày 29 tháng 12 năm 1987, Việt Nam

đã thu hút được một lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài khá lớn và luồng vốn này

đã có những đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế Đó là dấu hiệu lạc quan của

Trang 12

quá trình chuyển đổi kinh tế và các chính sách mà Việt Nam đã và đang thực hiện trước những thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế thế giới

Đã có nhiều các nghiên cứu trước về vai trò của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với nền kinh tế của Việt Nam, chủ yếu là nghiên cứu về mối quan hệ giữa vốn đầu

tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế Tiêu biểu, Nguyen và Haughton (2002); Parker, Phan và Nguyen (2005) nêu lên Hiệp định thương mại song phương giữa Việt Nam và Hoa Kỳ (2001) giúp thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam Nguyễn và Meyer (2005) chỉ ra yếu tố pháp lý có tác động đáng kể đến quyết định đầu

tư vốn nước ngoài vào Việt Nam Nguyễn Mại (2003), Freeman (2002) và Nguyễn Thị Phương Hoa (2001) đã nghiên cứu tổng quát hoạt động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam cho tới năm 2002 và đều đi đến kết luận chung rằng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế thông qua kênh đầu tư và cải thiện nguồn nhân lực

Ngoài các nghiên cứu về mối quan hệ giữa vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế còn có các nghiên cứu về tác động lan tỏa của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến 1 số ngành, lĩnh vực Tiêu biểu như Nguyễn Thị Tuệ Anh và các cộng

sự (2006) đã phân tích tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, tác giả tập trung vào đánh giá tác động lan tỏa trong ngành công nghiệp chế biến, tập trung sâu hơn vào ba nhóm ngành là dệt- may, chế biến thực phẩm và cơ khí- điện tử Nguyễn Khắc Minh (2015) nghiên cứu về tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, dao động tỷ giá, thị trường tài chính đến các doanh nghiệp của các ngành định hướng xuất khẩu: trường hợp Việt Nam thời kỳ 2000-2012, tác giả kết luận rằng không có chứng

cứ về ảnh hưởng lan tỏa ngang nhưng có chứng cứ về ảnh hưởng lan tỏa ngược, ảnh hưởng lan tỏa xuôi dương của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, ảnh hưởng âm của dao động tỷ giá và ảnh hưởng dương của thị trường tài chính Lê Thị Hà Thu (2015), nghiên cứu về hiệu ứng lan tỏa của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới doanh nghiệp ngành nông nghiệp Việt Nam đã kết luận có bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng lan tỏa

Trang 13

của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lên tăng trưởng năng suất của các doanh nghiệp thuộc ngành Nông nghiệp Việt Nam

Bên cạnh đó, một số nghiên cứu cho rằng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể ảnh hưởng đến sản lượng đầu ra cũng như kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp địa phương trong nền kinh tế của nước nhận đầu tư Tuy nhiên đối với hướng nghiên cứu này ở Việt Nam ít có nghiên cứu cụ thể Trong khi đó trên thế giới, Salomon và Shaver (2005) lập luận rằng hành vi xuất khẩu và bán hàng trong nước có liên quan đến nhau Các doanh nghiệp sẽ tối đa hóa lợi nhuận khi xác định doanh số bán hàng của họ tại thị trường trong nước và xuất khẩu cùng một lúc Các nghiên cứu đã được thực hiện trên thế giới cũng đã cung cấp bằng chứng để củng cố quan điểm rằng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng có thể ảnh hưởng đến đầu ra của doanh nghiệp trong nước thông qua gia tăng cạnh tranh và các hiệu ứng này có thể ảnh hưởng tiêu cực Tuy nhiên, thông qua các hiệu ứng lan tỏa năng suất liên quan, đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng có thể làm gia tăng sản lượng của doanh nghiệp trong nước (Blomström và Kokko, 1998) Một sự thay đổi đầu ra (output) ảnh hưởng đến doanh số bán hàng của doanh nghiệp ở cả thị trường trong nước và xuất khẩu Hơn nữa việc thay đổi doanh số bán hàng cũng có thể ảnh hưởng đến dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Nói cách khác, có một liên kết rõ ràng giữa tác động lan tỏa vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài liên quan đến doanh số bán hàng trong nước và xuất khẩu của các doanh nghiệp

Vì vậy, mặc dù có rất nhiều nghiên cứu về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện, tuy nhiên lại có rất ít nghiên nghiên cứu về tác động lan tỏa của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến việc tăng (giảm) doanh số bán hàng thị trường trong nước và xuất khẩu, quyết định tỷ lệ xuất khẩu trên sản lượng của doanh nghiệp, đặc biệt là trong bối cảnh của Việt Nam Bên cạnh đó, số liệu thống kê về xuất khẩu cũng cho thấy rằng sản lượng xuất khẩu của doanh nghiệp vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng cao hơn so với doanh nghiệp trong nước

Theo báo cáo của Tổng cục Hải quan về xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam qua giai đoạn 2010-2015 cho thấy, kim ngạch xuất khẩu từ năm 2010 đến năm

Trang 14

2015 đều tăng, tuy nhiên lượng xuất khẩu chủ yếu thuộc các doanh nghiệp có vốn đầu

tư trực tiếp nước ngoài và có xu hướng ngày càng tăng xuất khẩu, các doanh nghiệp trong nước lượng xuất khẩu ít hơn doanh nghiệp vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Hình 1.1: Kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp

Đơn vị tính: tỷ USD

Nguồn: Tổng cục Hải quan (2015) Ngoài ra, trong tất cả các ngành kinh tế thì ngành chế biến chế tạo là một trong ngành thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài nhất trong thời gian qua và cũng có đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế của đất nước Theo điều tra của Tổng cục Thống

kê từ năm 2005 đến 2015 thì bình quân ngành công nghiệp chế biến, chế tạo hiện đóng góp khoảng 16% vào GDP của cả nước, góp phần thúc đẩy tăng trưởng của cả nước Bên cạnh đó, đến thời điểm 31/12/2015, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có 10.764 dự án được cấp phép với tổng số vốn đăng ký là 163 tỷ USD chiếm 54% số dự

án và 58% về vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam Xét về số lao động thì ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có khoảng 8 triệu lao động đang làm việc trong ngành, chiếm bình quân 14% cơ cấu lao động trong toàn bộ nền kinh tế (chỉ sau ngành nông, lâm nghiệp)

Trang 15

Do đó, trong bối cảnh hội nhập toàn cầu khi Việt Nam gia nhập Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương cũng như các hiệp định thương mại tự do khác, nhằm tìm hiểu sức mạnh của doanh nghiệp thông qua các số liệu về doanh thu trong nước và xuất

khẩu dưới tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, đề tài nghiên cứu “Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đến doanh thu trong nước và xuất khẩu của doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo tại Việt Nam” đã được lựa chọn

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Sau khi đặt câu hỏi nghiên cứu, đề tài nghiên cứu sẽ hướng đến và mong muốn

đạt được mục tiêu:“Đo lường tác động của sự hiện diện của vốn đầu tư nước ngoài

đến doanh thu bán hàng trong nước và xuất khẩu của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại Việt Nam và gợi ý chính sách về việc thu hút đầu tư trực

tiếp nước ngoài ”

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục đích cung cấp các bằng chứng khoa học

định lượng để trả lời câu hỏi: “Sự hiện diện của vốn đầu tư nước ngoài tác động như

thế nào đến doanh thu bán hàng trong nước và xuất khẩu của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại Việt Nam?”

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: các doanh nghiệp hoạt động sản xuất trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại Việt Nam

Không gian nghiên cứu: dữ liệu thứ cấp từ kết quả của các cuộc điều tra doanh nghiệp hàng năm do Tổng cục Thống kê Việt Nam thực hiện hàng năm

Thời gian nghiên cứu: kết quả của các cuộc điều tra doanh nghiệp hàng năm do Tổng cục Thống kê Việt Nam thực hiện trong các năm 2012, 2013, 2014

1.5 Ý nghĩa nghiên cứu

Nghiên cứu này tiến hành phân tích, tổng hợp một cách có hệ thống những vấn

đề lý luận và thực tiễn về sự tác động đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đến doanh thu

Trang 16

bán hàng trong nước và xuất khẩu của các doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo tại Việt Nam trong 3 năm (2012, 2013, 2014)

Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận văn đưa ra gợi ý chính sách đối với các nhà thực thi chính sách về việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và phát triển các doanh nghiệp chế biến chế tạo để từ đó ngành chế biến chế tạo có thể trở thành ngành kinh tế chủ lực, mũi nhọn đưa Việt Nam nhanh chóng hội nhập sâu, rộng với khu vực

và thế giới

1.6 Kết cấu luận văn

Ngoài chương mở đầu, phụ lục và các danh mục tài liệu tham khảo, nghiên cứu này được chia thành 5 chương:

Chương 1: Giới thiệu tổng quan về vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu,

câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài

Chương 2: Tổng quan cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước Chương này trình bày các khái niệm, cơ sở lý thuyết của đầu tư trực tiếp nước ngoài và điểm qua

các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trình bày các giả thuyết nghiên cứu mô hình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, mô tả số liệu

Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu Chương này tác giả phân tích kết quả thống kê mô tả, kết quả hồi quy và đưa ra các thảo luận của kết quả nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách Trình bày tóm tắt các kết quả đã đạt

được Đề ra các hàm ý chính sách và hạn chế cũng như hướng nghiên cứu tiếp theo của

đề tài

Trang 17

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

VÀ DOANH THU CỦA DOANH NGHIỆP

Trong chương này, tác giả tập trung nêu các khái niệm và lý thuyết nền của bài nghiên cứu Ngoài việc nghiên cứu lý thuyết tác giả còn tổng hợp một số nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến nội dung bài viết Chính việc tổng hợp lý thuyết và thực nghiệm giúp tác giả xây dựng được các giả thuyết nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và

là nền tảng để giải thích kết quả bài nghiên cứu

2.1 Các khái niệm

2.1.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài

Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF, 1993): “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là

hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp”

Đối với quyền quản lý doanh nghiệp FDI, theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD, 1996) có thể thực hiện bằng các cách như: thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư; mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có; tham gia vào một doanh nghiệp mới; cấp tín dụng dài hạn (> 5 năm) Để có quyền kiểm soát nhà đầu tư cần nắm từ 10% cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết trở lên

Dunning (1970) sử dụng một định nghĩa ngắn cho các công ty đa quốc gia (MNEs) là: "bất cứ công ty thực hiện hoạt động sản xuất tại nhiều hơn một quốc gia" Những người khác, chẳng hạn như Vernon (1971) đã nhấn mạnh thêm vấn đề quy mô

và cơ cấu tổ chức của các MNEs Cụ thể, “Các tập đoàn đa quốc gia là các công ty lớn

tổ chức các hoạt động của họ ở nước ngoài thông qua một bộ phận tổ chức tích hợp, được lan truyền quốc tế và việc đầu tư của họ được dựa trên các sản phẩm và thị trường tiêu thụ”

Trang 18

Lý thuyết đã chỉ ra rằng FDI thường được hình thành và sinh ra từ sự tương tác giữa lực lượng của nước chủ đầu tư và nước thu hút (ví dụ, Dunning, 1981, 1988; UNCTAD, 2006) Dòng vốn FDI sẽ chảy từ nước này sang nước khác và FDI xảy ra có thể chung qui là do ảnh hưởng của các yếu tố đẩy từ nước chủ đầu tư và yếu tố kéo của nước thu hút Một số yếu tố trong nước chủ đầu tư có xu hướng tạo động lực thúc đẩy hành vi đầu tư ra bên ngoài của FDI nhằm tìm kiếm một thị trường tiềm năng hơn hay tăng hiệu quả kinh doanh với chi phí sản xuất thấp hơn… ở nước thu hút Sau đây là bảng mô tả các yếu tố “đẩy” và “kéo” dẫn đến xu hướng đầu tư của FDI

Bảng 2.1: Yếu tố điều kiện “Đẩy – Kéo” của FDI

Yếu tố “Đẩy” - Nước chủ đầu tư Yếu tố “Kéo” - Nước thu hút Thị trường

và Thương

mại

Thị trường nước chủ đầu tư hạn chế buộc công ty phải tìm kiếm một thị trường mới

Thị trường lớn và phát triển là điều kiện tốt để thu hút các nhà đầu tư

Chi phí sản

xuất

Sự khan hiếm các yếu tố đầu vào như nguồn tài nguyên, chi phí lao động cao gây ra xu hướng đầu tư ra nước ngoài

Nguồn lực tài nguyên sẵn có, chi phí lao động thấp giúp giảm chi phí sản xuất nên sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư

ty tìm kiếm thị trường nước ngoài

Những Hiệp ước thương mại, Đầu

tư song phương, đa phương tạo điều kiện thuận lợi cho vốn đầu tư nước ngoài

Thể chế

Chính sách hỗ trợ như cắt giảm chi phí, nâng cao các khả năng hoạt động doanh nghiệp

Chính sách ưu đãi thu hút đầu tư như chính sách tự do hóa và tư nhân hóa, ổn định chính trị, quản trị minh bạch, đầu tư cơ sở hạ tầng, quyền sở hữu, v.v…

Nguồn: UNCTAD (2006)

Trang 19

Như vậy, FDI có thể xảy ra theo xu hướng tác động của cả hai nhóm yếu tố: yếu

tố “đẩy” của nước chủ đầu tư và yếu tố “kéo” của nước thu hút cùng với sự quan tâm

từ cả hai phía chính phủ của các quốc gia này Các chính sách ưu đãi vốn đầu tư nước ngoài được đưa ra bởi nước sở tại để thu hút vốn đầu tư nước ngoài chủ yếu chỉ dựa trên các yếu tố có lợi thế cạnh tranh cao, chẳng hạn như sự sẵn có của nguồn tài nguyên thiên nhiên hoặc hứa hẹn lợi nhuận đầu tư cao hơn từ chi phí sản xuất thấp hơn Tuy nhiên, những chính sách khuyến khích đơn giản như vậy thường không đủ và ít có tác động tốt trong việc thúc đẩy thu hút hơn nữa vốn đầu tư nước ngoài Nước chủ đầu

tư, tốt hơn hết, nên mở rộng sự hiểu biết của mình với một danh sách mở rộng hơn các yếu tố thúc đẩy hoặc khuyến khích doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài, trong khi đó nước thu hút cần tạo ra một môi trường đầu tư thông thoáng, hiệu quả Cuối cùng tác động hỗ trợ từ cả hai phía hình thành những đặc điểm tiềm năng của dòng vốn FDI trong tương lai Một chính sách khuyến khích phải được xây dựng với sự cân nhắc và nghiên cứu đầy đủ nhằm thu hút tối ưu hóa số lượng và chất lượng FDI

Theo Điều 3 Luật đầu tư năm 2005 mà Quốc hội khoá XI Việt Nam đã thông qua ngày 29-11-2005 có các khái niệm về “đầu tư”, “đầu tư trực tiếp”, “đầu tư nước ngoài”, “đầu tư ra nước ngoài” nhưng không có khái niệm “đầu tư trực tiếp nước

ngoài” Tuy nhiên, có thể “gộp” các khái niệm trên lại và có thể hiểu: “FDI là hình

thức đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở Việt Nam hoặc nhà đầu tư Việt Nam bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở nước ngoài theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”

2.1.2 Doanh thu bán hàng của doanh nghiệp

Theo chuẩn mực kế toán số 14 về doanh thu và thu nhập khác được Ban hành và

công bố theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Bộ

trưởng Bộ Tài chính, và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2002, khái niệm liên quan đến doanh thu như sau:

Trang 20

Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu

Doanh thu được xác định như sau:

Doanh thu được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc sẽ thu được

Doanh thu phát sinh từ giao dịch được xác định bởi thỏa thuận giữa doanh nghiệp với bên mua hoặc bên sử dụng tài sản Nó được xác định bằng giá trị hợp lý của các khoản đã thu được hoặc sẽ thu được sau khi trừ (-) các khoản chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán, giảm giá hàng bán và giá trị hàng bán bị trả lại

Đối với các khoản tiền hoặc tương đương tiền không được nhận ngay thì doanh thu được xác định bằng cách quy đổi giá trị danh nghĩa của các khoản sẽ thu được trong tương lai về giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu theo tỷ lệ lãi suất hiện hành Giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu có thể nhỏ hơn giá trị danh nghĩa

sẽ thu được trong tương lai

Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ tương tự

về bản chất và giá trị thì việc trao đổi đó không được coi là một giao dịch tạo ra doanh thu

Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ khác không tương tự thì việc trao đổi đó được coi là một giao dịch tạo ra doanh thu Trường hợp này doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ nhận

về, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu thêm Khi không xác định được giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ nhận về thì doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ đem trao đổi, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu thêm

Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn tất cả năm (5) điều kiện sau:

Trang 21

 Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền

sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua;

 Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa;

 Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn;

 Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng;

 Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng

Doanh thu bán hàng được ghi nhận chỉ khi đảm bảo là doanh nghiệp nhận được lợi ích kinh tế từ giao dịch Trường hợp lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng còn phụ thuộc yếu tố không chắc chắn thì chỉ ghi nhận doanh thu khi yếu tố không chắc chắn này đã xử lý xong (ví dụ, khi doanh nghiệp không chắc chắn là Chính phủ nước sở tại

có chấp nhận chuyển tiền bán hàng ở nước ngoài về hay không) Nếu doanh thu đã được ghi nhận trong trường hợp chưa thu được tiền thì khi xác định khoản tiền nợ phải thu này là không thu được thì phải hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ

mà không được ghi giảm doanh thu Khi xác định khoản phải thu là không chắc chắn thu được (Nợ phải thu khó đòi) thì phải lập dự phòng nợ phải thu khó đòi mà không ghi giảm doanh thu Các khoản nợ phải thu khó đòi khi xác định thực sự là không đòi được thì được bù đắp bằng nguồn dự phòng nợ phải thu khó đòi

2.2 Tác động lan tỏa của đầu tư trực tiếp nước ngoài

Theo Lê Xuân Bá và ctg (2006), bên cạnh tác động trực tiếp tới tăng trưởng của

cả nền kinh tế, sự có mặt của các doanh nghiệp FDI còn tác động gián tiếp tới các doanh nghiệp trong nước như tăng áp lực cạnh tranh, buộc các doanh nghiệp trong nước phải tăng hiệu quả kinh doanh, thúc đẩy quá trình phổ biến và chuyển giao công nghệ v.v Các tác động này còn được gọi là tác động tỏa của FDI Sự xuất hiện của tác động lan tỏa của FDI có thể lý giải qua sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các

Trang 22

công ty đa quốc gia- là các công ty có thế mạnh về vốn và công nghệ Nhờ đó các công

ty con hoặc liên doanh do các công ty đa quốc gia thành lập thường có lợi thế về cạnh tranh so với các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là các nước kém phát triển Sự xuất hiện của các doanh nghiệp nước ngoài trước hết làm mất cân bằng trên thị trường và buộc các doanh nghiệp trong nước phải điều chỉnh hành vi của mình nhằm duy trì thị phần và lợi nhuận Vì vậy, tác động lan tỏa có thể được coi là kết quả của hoạt động của các công ty nước ngoài diễn ra đồng thời với quá trình điều chỉnh hành vi của các doanh nghiệp trong nước

Có thể phân ra bốn loại tác động lan tỏa: (1) tác động liên quan tới cơ cấu đầu ra- đầu vào của doanh nghiệp, (2) tác động liên quan đến phổ biến và chuyển giao công nghệ, (3) tác động liên quan đến thị phần trong nước hay tác động cạnh tranh và (4) tác động liên quan đến trình độ lao động (hay vốn con người) Các tác động lan tỏa nêu trên có thể ảnh hưởng tới năng suất của các doanh nghiệp trong nước Do giá trị gia tăng của cả nền kinh tế được tạo ra chủ yếu bởi các doanh nghiệp, nên có thể hình dung

ra mối quan hệ gián tiếp giữa tăng trưởng và tác động lan tỏa của FDI

Tác động lan tỏa loại thứ nhất xuất hiện khi có sự trao đổi hoặc mua bán nguyên vật liệu hoặc hàng hoá trung gian giữa các doanh nghiệp FDI và các doanh nghiệp trong nước Loại tác động này có thể sinh ra theo hai chiều: tác động xuôi chiều (forward effect) xuất hiện nếu doanh nghiệp trong nước sử dụng hàng hoá trung gian của doanh nghiệp FDI và ngược lại tác động ngược chiều (backward effect) có thể xuất hiện khi các doanh nghiệp FDI sử dụng hàng hóa trung gian do các doanh nghiệp trong nước sản xuất Việc các doanh nghiệp trong nước cung cấp hàng hoá trung gian cho doanh nghiệp FDI sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này mở rộng sản xuất và giảm chi phí trên một đơn vị sản phẩm Đồng thời để duy trì mối quan hệ bạn hàng lâu dài, các doanh nghiệp trong nước phải đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp FDI, nhất là

về chất lượng sản phẩm nên có xu hướng áp dụng các tiêu chuẩn chất lượng mới trong sản xuất Chính hành vi này giúp doanh nghiệp trong nước tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường sản phẩm trong trung và dài hạn Nhiều nghiên cứu thực tiễn cho rằng

Trang 23

hầu hết các doanh nghiệp trong nước khó trở thành nhà cung cấp nguyên liệu, hàng hoá trung gian đầu vào cho doanh nghiệp FDI do không đáp ứng được yêu cầu do phía cầu đưa ra Tuy nhiên, nếu tác động ngược chiều xảy ra thì các doanh nghiệp trong nước có khả năng bứt lên và tiến hành xuất khẩu hoặc chiếm lĩnh dần thị phần sản phẩm mà trước đây do các doanh nghiệp FDI thống lĩnh Vì vậy, tác động ngược chiều này là mong muốn và rất có ý nghĩa đối với các nước chậm phát triển

Tác động lan tỏa liên quan đến phổ biến và chuyển giao công nghệ thường được coi là một mục tiêu quan trọng của các nước nghèo Thông qua FDI, các công ty nước ngoài sẽ đem công nghệ tiên tiến hơn từ công ty mẹ vào sản xuất tại nước sở tại thông qua thành lập các công ty con hay chi nhánh Sự xuất hiện của các công ty nước ngoài tuy nhiên xuất phát từ mục tiêu lợi nhuận trên cơ sở tận dụng những lợi thế có được từ công ty mẹ để sẵn sàng cạnh tranh với doanh nghiệp trong nước Vì vậy, hoạt động của các doanh nghiệp FDI sẽ khuyến khích nhưng cũng gây áp lực về đổi mới công nghệ nhằm tăng năng lực cạnh tranh đối với các doanh nghiệp trong nước Về phía doanh nghiệp trong nước, một mặt do năng lực yếu kém về đổi mới công nghệ, mặt khác công nghệ tiên tiến đều do các công ty qui mô lớn có tiềm năng công nghệ trên thế giới nắm giữ, để vượt qua yếu điểm này họ có xu hướng muốn được áp dụng ngay công nghệ tiên tiến hoặc trực tiếp thông qua thành lập các liên doanh với đối tác nước ngoài hoặc gián tiếp thông qua phổ biến và chuyển giao công nghệ từ các doanh nghiệp FDI Các doanh nghiệp FDI mặc dù không muốn tiết lộ bí quyết công nghệ cho đối thủ trong nước nhưng cũng sẵn sàng bắt tay với đối tác trong nước để thành lập liên doanh, qua đó diễn ra quá trình rò rỉ công nghệ Tuy nhiên, vấn đề đặt ra đối với các nước nghèo là liệu các điều kiện trong nước có đủ để đón nhận phổ biến và chuyển giao công nghệ hay không Kết quả từ nhiều mô hình lý thuyết cũng rút ra là mức độ phổ biến và chuyển giao công nghệ còn phụ thuộc vào khả năng hấp thụ của doanh nghiệp trong nước

Loại tác động lan tỏa tiếp theo cũng được coi là rất quan trọng đối với các nước chậm phát triển là sự có mặt của doanh nghiệp FDI tạo ra tác động cạnh tranh cho các

Trang 24

doanh nghiệp trong nước Tuy nhiên, tác động này lại phụ thuộc vào cấu trúc thị trường

và trình độ công nghệ của nước nhận đầu tư Đối với các nước chậm phát triển, trong nhiều trường hợp tác động cạnh tranh của FDI là rất khốc liệt trước khi nó mang lại tác động lan tỏa tích cực khác Ví dụ, các doanh nghiệp FDI tung ra thị trường một loại sản phẩm mới có tính chất thay thế cho sản phẩm trước đây sản xuất bởi doanh nghiệp trong nước, qua đó ảnh hưởng lớn tới sự tồn tại của doanh nghiệp trong nước Sự hiện diện của FDI chính là một tác nhân thúc đẩy cạnh tranh và trong nhiều trường hợp, tác động lan tỏa có thể dẫn đến tình trạng giảm sản lượng của doanh nghiệp trong nước trong ngắn hạn Kết quả là các doanh nghiệp trong nước bị tác động hoặc phải rời khỏi thị trường hoặc sống sót nếu vượt qua được giai đoạn điều chỉnh cơ cấu để thích nghi với môi trường cạnh tranh

Ngoài việc tạo thêm việc làm, FDI còn là một tác nhân truyền bá kiến thức quản

lý và kỹ năng tay nghề cho lao động của nước nhận FDI Tác động lan tỏa này xuất hiện khi các doanh nghiệp FDI tuyển dụng lao động nước sở tại đảm nhận các vị trí quản lý, các công việc chuyên môn hoặc tham gia nghiên cứu và triển khai Việc truyền bá kiến thức cũng diễn ra thông qua kênh đào tạo công nhân kỹ thuật ở trong nước và tại công ty mẹ Tác động lan tỏa tuy nhiên chỉ phát huy tác dụng khi đội ngũ lao động có trình độ này ra khỏi doanh nghiệp FDI và chuyển sang làm việc tại các doanh nghiệp trong nước hoặc tự thành lập doanh nghiệp và sử dụng những kiến thức tích luỹ được trong quá trình làm việc cho các công ty con hoặc liên doanh với nứơc ngoài vào công việc kinh doanh tiếp đó Song mức độ di chuyển lao động còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như sự phát triển của thị trường lao động, cầu về lao động

có trình độ kỹ năng cũng như các điều kiện gia nhập thị trường khi muốn khởi sự doanh nghiệp Đây cũng chính là cản trở lớn mà các nước chậm phát triển đang phải đối mặt Trên thực tế, loại tác động lan tỏa do di chuyển lao động tuy nhiên rất khó đánh giá với nhiều lý do Chẳng hạn, doanh nghiệp trong nước tiếp nhận lao động chuyển sang không có điều kiện hoặc không tạo điều kiện cho số lao động này phát huy năng lực của mình Năng suất lao động của doanh nghiệp tăng lên còn do nhiều yếu tố khác, phụ thuộc vào quy mô vốn, cơ hội thị trường và năng lực cạnh tranh của

Trang 25

doanh nghiệp

Hình 2.1: Tác động cạnh tranh của FDI tới doanh nghiệp trong nước

Nguồn: Aitken và Harrison (1999)

Hình trên là một ví dụ thể hiện phản ứng (hay là kết quả của tác động lan tỏa) của doanh nghiệp trong nước trước sự xuất hiện của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cùng ngành trong ngắn hạn Sự lấn át thị trường của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài làm thu hẹp thị phần của doanh nghiệp trong nước và đẩy chi phí cố định lên cao Trước tác động này, Doanh nghiệp trong nước có xu hướng điều chỉnh giảm chi phí trung bình từ AC1 xuống AC2 Nhưng nếu áp lực cạnh tranh ban đầu từ doanh nghiệp FDI đủ mạnh, doanh nghiệp sẽ buộc giảm sản lượng (từ

Q1 và Q2) và tác động cuối cùng là làm tăng giá thành trên một đơn vị sản phẩm

2.3 Lý thuyết liên quan

2.3.1 Lý thuyết thương mại quốc tế

Mô hình lý thuyết đầu tiên giải thích hoạt động đầu tư nước ngoài dựa trên lý thuyết thương mại quốc tế là mô hình Heckscher-Ohlin do Heckscher (1919) và Bertil

Ohlin (1933) xây dựng Theo Lancaster (1957, trang 19), lần đầu tiên mô hình Heckscher-Ohlin đã cung cấp một phân tích phù hợp các yếu tố thị trường vào lý thuyết thương mại quốc tế Đây là mô hình cân bằng tổng thể nhằm xác định lợi thế so

sánh của một quốc gia Mô hình dùng để dự báo xem quốc gia nào sẽ sản xuất mặt

AC1 AC2

Trang 26

hàng gì trên cơ sở những yếu tố sản xuất sẵn có của quốc gia, đồng thời mô hình đưa ra kết luận sau: Quốc gia có nhiều yếu tố đầu vào tốt hơn nên xuất khẩu các sản phẩm thâm dụng yếu tố đầu vào đó và nhập khẩu các sản phẩm thâm dụng yếu tố đầu vào kia, kết luận này được gọi là Định lý Heckscher-Ohlin Điều này cung cấp một lời giải thích ban đầu về đầu tư trực tiếp nước ngoài

2.3.2 Lý thuyết về lợi thế độc quyền

Lý thuyết này được khởi xướng bởi Hymer (năm 1960), đây là nỗ lực đầu tiên xây dựng một lý thuyết độc lập nhằm giải thích xu hướng đầu tư nước ngoài Hymer đưa ra quan điểm của mình xuất phát từ các nền kinh tế công nghiệp và khẳng định rằng một công ty muốn vượt qua các rào cản quốc tế, tham gia vào quá trình sản xuất khi công ty phải có lợi thế độc quyền

Khi đầu tư ra nước ngoài, chủ đầu tư có một số bất lợi như: khoảng cách địa lý làm tăng chi phí vận chuyển các nguồn lực, thiếu hiểu biết về môi trường mới làm tăng chi phí thông tin, thiết lập mối quan hệ khách hàng mới và hệ thống cung cấp mới cũng mất nhiều chi phí so với các công ty bản địa Tuy vậy, họ vẫn nên tiến hành đầu tư ra nước ngoài khi có những lợi thế độc quyền vì dựa vào những lợi thế này họ có thể giảm được chi phí kinh doanh và tăng doanh thu so với các công ty bản địa Các lợi thế độc quyền có thể là công nghệ hay nhãn hiệu

Như vậy, Hymer quan sát thấy rằng FDI xảy ra khi một công ty sở hữu lợi thế độc quyền hơn các đối thủ cạnh tranh trong một ngành công nghiệp, cho phép các công

ty gia nhập thị trường ở các nước khác

2.3.3 Lý thuyết vòng đời của sản phẩm

Lý thuyết này được Hirsch đưa ra trước tiên năm 1965 và sau đó được Vernon phát triển một cách có hệ thống từ năm 1966 Lý thuyết này lý giải cả đầu tư quốc tế lẫn thương mại quốc tế, coi đầu tư quốc tế là một giai đoạn tự nhiên trong vòng đời sản phẩm Lý thuyết này cho thấy vai trò của các phát minh, sáng chế trong thương mại và đầu tư quốc tế bằng cách phân tích quá trình quốc tế hoá sản xuất theo các giai đoạn

Trang 27

nối tiếp nhau Ưu điểm của lý thuyết này là đưa vào được nhiều yếu tố cho phép lý giải

sự thay đổi theo ngành hoặc việc dịch chuyển dần các hoạt động công nghiệp của các nước tiên phong về công nghệ, trước tiên là đến các nước "bắt chước sớm" sau đó đến các nước "bắt chước muộn"

Theo lý thuyết này, ban đầu phần lớn các sản phẩm mới được sản xuất tại nước phát minh ra nó và được xuất khẩu đi các nước khác Nhưng khi sản phẩm mới đã được chấp nhận rộng rãi trên thị trường thế giới thì sản phẩm bắt đầu được sản xuất ở các nước khác Kết quả rất có thể là sản phẩm sau đó sẽ được xuất khẩu trở lại nước phát minh ra nó

2.3.4 Lý thuyết lựa chọn lợi thế hay mô hình OLI

Đây là một mô hình được xây dựng khá công phu của Dunning (1977, 1979,

1981, 1988, 1996, 1998, 2000, 2001) Mô hình này đã tổng hợp các yếu tố chính của nhiều công trình nghiên cứu trước đó nhằm lý giải về FDI Theo Dunning, một công ty tiến hành đầu tư nước ngoài khi có các lợi thế OLI- bao gồm Ownership Advantage (lợi thế sở hữu), Location Advantage (lợi thế về vị trí), và Internalization Incentives (lợi thế nội bộ hóa) Cụ thể, Dunning cho rằng các công ty có lợi thế sở hữu (O), (như được thảo luận bởi Hymer) về các yếu tố cạnh tranh trong quá trình sản xuất so với các đối thủ nước ngoài, chẳng hạn như bằng sáng chế, công nghệ mới, thương hiệu hoặc khả năng quản lý nên duy trì lợi thế cho lợi ích riêng của họ thay vì bán hoặc cấp giấy phép sử dụng lợi thế đó cho các công ty khác Những công ty có lợi thế nội bộ hóa nếu

ký kết hợp đồng với các công ty ở thị trường nước ngoài là một lựa chọn nguy hiểm

Nó có thể dẫn đến tiết lộ lợi thế sở hữu cụ thể cho các công ty ở thị trường nước ngoài,

và do đó các công ty liên doanh hiện tại có thể là đối thủ cạnh tranh tiềm năng trong tương lai Bổ sung lợi thế về quyền sở hữu và lợi thế nội bộ hóa, Dunning đưa thêm vào mô hình lợi thế về vị trí cụ thể (L) Lợi thế vị trí cụ thể hàm ý rằng các công ty cần phải thu được lợi ích từ việc đầu tư tại một vị trí ở nước ngoài, nếu không họ sẽ không cần phải thực hiện đầu tư ra nước ngoài

Trang 28

Tóm lại, mô hình OLI nhấn mạnh rằng một công ty nên đầu tư ra nước ngoài khi có lợi thế sở hữu, cần phải nội bộ hóa trong công ty và thu được lợi ích từ vị trí ở nước ngoài, cụ thể như sau:

Bảng 2.2: Khuôn khổ Mô hình OLI

1 Lợi thế quyền sở hữu (O)

- Khuôn khổ thể chế (thương mại, pháp lý, quan liêu)

- Lao động giá rẻ và có tay nghề cao

- Quy mô thị trường và khả năng tăng trưởng

- Điều kiện kinh tế vĩ mô

- Tài nguyên thiên nhiên

3 Lợi thế nội bộ hóa (I)

- Để giảm chi phí giao dịch

- Để tránh hoặc khai thác sự can thiệp của Chính phủ (hạn ngạch, kiểm soát giá

cả, chênh lệch thuế, v.v.)

Trang 29

- Để đạt được các hiệp đồng kinh tế

- Để kiểm soát nguồn cung cấp đầu vào

- Để kiểm soát các cửa hàng thị trường

Nguồn: Dunning (1993)

Theo đó, “Mô hình OLI của Dunning đã cung cấp một khuôn khổ so sánh giữa các lý thuyết bằng cách thiết lập mặt bằng chung, các điểm tiếp xúc giữa chúng, làm rõ mối quan hệ giữa các cấp độ khác nhau trong phân tích và các câu hỏi của các nhà kinh

tế khác nhau đã được quan tâm để giải quyết (Cantwell và Narula, 2001 p.156) Ngoài

ra theo Galán and Benito (2001) mô hình OLI của Dunning đã cung cấp một khuôn khổ toàn diện nhất để giải thích FDI, trong đó tập trung giải quyết thỏa đáng 3 câu hỏi đặt ra đối với hoạt động đầu tư nước ngoài của các công ty đa quốc gia: Tại sao phải đầu tư ra nước ngoài – Why? Tại sao các công ty lại lựa chọn FDI thay vì những hình thức khác – How? và Hoạt động đầu tư được đặt tại đâu – Where?

Theo Rugman and Verbeke (2001), mô hình OLI của Dunning được xem là khuôn khổ khái niệm hàng đầu trong phân tích các yếu tố quyết định vị trí FDI thông qua hai đóng góp quan trọng Một là, lợi thế cạnh tranh về vị trí của các nước là khác nhau Đóng góp thứ hai của mô hình OLI cho phép xác định ba động cơ khác nhau của FDI: tìm kiếm tài nguyên thiên nhiên, tìm kiếm thị trường và tìm kiếm hiệu quả (1) Tìm kiếm tài nguyên: đầu tư nước ngoài xảy ra khi các công ty xác định vị trí quốc gia

có nguồn tài nguyên thiên nhiên hấp dẫn, ví dụ như khoáng sản, các sản phẩm nông nghiệp… (2) Tìm kiếm thị trường: các công ty đầu tư ra nước ngoài để tìm kiếm thị trường tiêu thụ, nó có tác dụng thay thế nhập khẩu và hỗ trợ hoạt động thương mại trong nước (3) Tìm kiếm hiệu quả: đầu tư nước ngoài được thực hiện để thúc đẩy chuyên môn hóa nguồn lực hiện có bao gồm lao động, tài sản ở trong nước và nước ngoài của các công ty đa quốc gia hiệu quả hơn Đây là loại hình đầu tư nhằm hợp lý hóa hoạt động các công ty đa quốc gia và xu hướng chuyên môn hóa các chi nhánh

Trang 30

trong mạng lưới nội bộ của các công ty này (Dunning, 2000; Rugman and Verbeke, 2001)

Trên thực tế mô hình OLI của Dunning đã được sử dụng rộng rãi như là một khuôn khổ lý thuyết toàn diện trong các nghiên cứu thực nghiệm nhằm xác định yếu tố quyết định vị trí FDI cũng như giải thích các hoạt động của các công ty bên ngoài ranh giới quốc gia Nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên nhằm hỗ trợ khuôn khổ lý thuyết OLI được thực hiện bởi Dunning (1981) Mẫu nghiên cứu bao gồm 81 công ty đa quốc gia

từ 22 quốc gia và 1.025 khách sạn nước ngoài Kết quả nghiên cứu đã cung cấp thông tin hữu ích trong giải thích lý do tham gia của các công ty nước ngoài trong ngành công nghiệp, trong đó lợi thế sở hữu được xác định có ảnh hưởng lớn đến các quyết định của

họ Năm 2001, cũng trên khuôn khổ mô hình lý thuyết OLI, Galán and Benito cũng đạt được kết quả nghiên cứu tương tự về lợi thế sở hữu như Dunning and Queen khi kiểm tra mẫu 103 công ty đa quốc gia Tây Ban Nha Dựa trên cơ sở mô hình lý thuyết OLI, Driffield (2002) đã phân tích những yếu tố ảnh hưởng thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Vương quốc Anh Kết quả nghiên cứu cho thấy bên cạnh lợi thế sở hữu lợi thế vị trí cũng ảnh hưởng đến quyết định của các công ty nước ngoài Gần đây, Pheng and Hongbin (2006) đã nghiên cứu quyết định đầu tư của 31 công ty đa quốc gia ngành xây dựng tại Trung Quốc trong năm 2001 nhằm hỗ trợ mô hình lý thuyết OLI của Dunning Những lợi thế sở hữu đã ảnh hưởng đến quyết định đầu tư nước ngoài của các công ty Trung Quốc Đối với lợi thế vị trí, kết quả nghiên cứu cho thấy một nhóm lớn các công

ty đa quốc gia Trung Quốc ở nước sở tại ảnh hưởng đến quyết định của các công ty đa quốc gia Trung Quốc khác

Đặc biệt, trên cơ sở khung lý thuyết OLI của Dunning, tổ chức UNCTAD (1998) đã đưa ra ba nhóm yếu tố ảnh hưởng môi trường đầu tư của nước sở tại, trong

đó bao gồm nhóm yếu tố khung chính sách cho đầu tư nước ngoài; nhóm yếu tố kinh tế

và nhóm yếu tố thứ ba là tạo điều kiện kinh doanh thuận lợi Căn cứ vào ba nhóm yếu

tố này tổ chức UNCTAD đã có các cuộc điều tra thường niên từ năm 1998 cho đến nay nhằm đánh giá, xếp điểm cạnh tranh giữa các quốc gia trong thu hút FDI Đây là cơ sở rất quan trọng được các nhà khoa học cũng như chính phủ các nước đánh giá cao trong

Trang 31

việc sử dụng để đánh giá hiệu quả về cải thiện môi trường đầu tư nhằm thu hút FDI ở cấp độ quốc gia

Tóm lại, mô hình OLI của Dunning cũng như những nghiên cứu thực nghiệm hỗ trợ mô hình lý thuyết này đã cho thấy ảnh hưởng của lợi thế sở hữu (O), lợi thế vị trí (L) và lợi thế nội bộ hóa (I) đến quyết định đầu tư ra nước ngoài của các công ty đa quốc gia Trong đó, lợi thế sở hữu (O) và lợi thế nội bộ hóa (I) phản ánh lợi thế thuộc

về các công ty đa quốc gia, nó nằm ngoài sự kiểm soát của nước thu hút đầu tư, ngược lại lợi thế vị trí (L) lại là nền tảng cho sự can thiệp của chính phủ trong quá trình cải thiện môi trường đầu tư nhằm tăng cường thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, cụ thể theo UNCTAD có 03 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến môi trường đầu tư tại một quốc gia bao gồm nhóm yếu tố về chính sách, nhóm yếu tố về kinh tế và nhóm yếu

tố về tạo điều kiện kinh doanh

2.3.5 Lý thuyết hiệu ứng tích tụ

Lý thuyết nền tảng đầu tiên liên quan đến các yếu tố phân bố không gian của FDI giữa các vùng trong một quốc gia là lý thuyết hiệu ứng tích tụ rất phổ biến của Krugman (1991) Sự tích tụ đề cập đến sự tập trung về vị trí của các hoạt động kinh tế làm phát sinh nền kinh tế quy mô và ngoại tác tích cực Krugman lập luận rằng các công ty sẽ được hưởng lợi từ các doanh nghiệp khác trong cùng ngành nằm ở những vị trí vùng, khu vực lân cận bởi sự kết hợp quy mô sản xuất và chi phí vận chuyển, nó sẽ khuyến khích người tiêu dùng và nhà cung cấp đầu vào trung gian co cụm gần nhau hơn

Tích tụ sẽ giúp làm giảm tổng chi phí vận chuyển và hình thành các trung tâm sản xuất lớn cũng như các nhà cung cấp đa dạng hơn Điều này sẽ khuyến khích các doanh nghiệp trong cùng một ngành công nghiệp tập trung tại một khu vực địa điểm Tác động tích tụ theo đó sẽ ảnh hưởng đến FDI thông qua một số cách: (1) đầu tư FDI tại nơi các công ty khác trong cùng ngành tồn tại (2) đầu tư FDI mới nằm gần các doanh nghiệp FDI hiện có (3) đầu tư FDI mới nằm gần các doanh nghiệp FDI có cùng

Trang 32

Nền tảng lý thuyết được tìm thấy liên quan các yếu tố lợi thế kinh tế truyền thống, bao gồm các yếu tố như quy mô thị trường, chất lượng nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng… có thể ảnh hưởng đến động cơ và hiệu quả đầu tư của các tập đoàn đa quốc gia Trong mô hình lý thuyết OLI của mình Dunning (1993) đã đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn vị trí của các doanh nghiệp FDI Hầu như các yếu tố kinh tế thường được tìm thấy có tác động ảnh hưởng thu hút FDI ở cấp độ địa phương, chẳng hạn trong các nghiên cứu tại Hoa Kỳ của Coughlin và ctg (1991) và Head và ctg (1995) Đối với Trung Quốc điển hình là các nghiên cứu của Chenga and Kwan (2000); Sun và ctg (2002) và Chen (2009) cũng có kết quả tương tự

2.4 Các nghiên cứu trước liên quan

Đối với Việt Nam, trong nghiên cứu của Anwar and Nguyen (2011) từ dữ liệu bảng của 19 đối tác thương mại lớn của Việt Nam trong giai đoạn 1990-2007 cho thấy tồn tại mối quan hệ giữa xuất khẩu, nhập khẩu và dòng vốn FDI Theo đó, dòng vốn FDI vào Việt Nam đã góp phần gia tăng đáng kể cho cả hoạt động xuất khẩu lẫn nhập khẩu Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Đào (2012) về hiệu ứng lan toả xuất khẩu từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đến các doanh nghiệp chế biến của Việt Nam Mô hình chọn mẫu của Heckman được ước lượng dựa trên bộ dữ liệu điều tra doanh nghiệp của Ngân hàng Thế giới Kết quả nghiên cứu thấy rằng: (1) Đặc trưng doanh nghiệp có ảnh hưởng quan trọng đến hành vi xuất khẩu; (2) sự hiện diện của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động lan tỏa đến

tỷ trọng xuất khẩu của doanh nghiệp; và (3) phạm vi lan toả xuất khẩu đa dạng và phụ thuộc vào đặc trưng riêng của doanh nghiệp Theo đó, độ tuổi, loại hình sở hữu tư nhân, mức lương bình quân và tỷ trọng nhập khẩu có tác động cùng chiều đến phạm vi lan tỏa, trong khi quy mô doanh nghiệp và áp lực cạnh tranh tại thị trường trong nước

có tác động ngược chiều

Nghiên cứu Lê Thị Hà Thu (2015) nói về hiệu ứng lan tỏa của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới doanh nghiệp ngành nông nghiệp Việt Nam Tác giả đã sử dụng phương pháp bán tham số để tránh tính chệch đồng thời nhờ đó có thể dự báo nhân tố năng suất

Trang 33

tổng hợp TFP Sử dụng bảng I-O năm 2007 để cấu trúc mối liên hệ giữa các doanh nghiệp nội địa và doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài thông qua ảnh hưởng lan tỏa của đầu tư trực tiếp nước ngoài lên các doanh nghiệp nội địa Với dữ liệu của ngành nông nghiệp từ năm 2000 đến năm 2012, tác giả đã ước lượng tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài lên TFP và so sánh tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài lên TFP theo vùng và theo loại hình doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu là có bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng lan tỏa của đầu tư trực tiếp nước ngoài lên tăng trưởng năng suất của các doanh nghiệp thuộc ngành nông nghiệp Việt Nam

Aitken, Hanson, và Harrison (1997) nghiên cứu FDI ảnh hưởng như thế nào đến các quyết định xuất khẩu của doanh nghiệp nội địa tại Mexico Sử dụng dữ liệu cấp độ doanh nghiệp từ 1986-1990, họ thấy rằng nếu có sự gần về mặt địa lý với các doanh nghiệp FDI trong cùng ngành công nghiệp sẽ làm tăng khả năng mà một doanh nghiệp trong nước sẽ bắt đầu xuất khẩu Kokko, Zejan, và Tansini (2001) cũng nghiên cứu và

đi đến một kết luận tương tự khi sử dụng dữ liệu từ Uruguay

Nghiên cứu cho trường hợp của Trung Quốc, sử dụng dữ liệu cấp độ doanh nghiệp từ 2000- 2003 tại Trung Quốc, Sun (2009) đã kiểm tra FDI ảnh hưởng như thế nào đến tỷ trọng xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nước trong ngành công nghiệp sản xuất sản phẩm văn hóa, giáo dục và thể thao Các phân tích thực nghiệm cho thấy rằng FDI tạo ra sự lan tỏa xuất khẩu đáng kể đến các doanh nghiệp trong nước Những tác động lan tỏa không chỉ không đồng nhất về độ lớn mà còn phụ thuộc vào đặc điểm công ty Tính không đồng nhất của các tác động lan tỏa xuất khẩu từ FDI cũng đã được tìm thấy trong nghiên cứu của Sun (2010), trong đó mở rộng nghiên cứu trước trước đây cho toàn bộ khu vực sản xuất ở Trung Quốc trong giai đoạn từ 2000- 2003

Chen, Sheng, và Findlay (2013) sử dụng các số liệu tương tự để kiểm tra sự hiện diện của các liên kết xuất khẩu ngang và dọc của FDI trong lĩnh vực sản xuất của Trung Quốc từ năm 2000 đến năm 2003 Họ kết luận rằng FDI có tác động cùng chiều đến hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp Sử dụng một mô hình lý thuyết tương

tự, Sun (2012) thấy rằng các doanh nghiệp trong nước đối phó với sự gia tăng FDI

Trang 34

bằng cách tăng xuất khẩu của họ, trong đó xảy ra chủ yếu là do sự lan truyền thông tin sản xuất và xuất khẩu Kết quả thực nghiệm của nghiên cứu khẳng định sự hiện diện của các lan tỏa xuất khẩu đó

Các dữ liệu nghiên cứu cấp doanh nghiệp khác gồm Claro (2009), Fu (2011), và Mayneris và Poncet (2013) Sử dụng dữ liệu 2007- 2011, Fu (2011) tập trung vào tác động lan tỏa xuất khẩu từ FDI đến trao đổi thương mại Theo đó, quan hệ giữa FDI và trao đổi thương mại làm tăng cường khả năng xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nước Một tác động tích cực tương tự cũng được tìm thấy bởi Mayneris và Poncet (2013) và Claro (2009) Sử dụng số liệu 1997-2007, Mayneris và Poncet kết luận rằng FDI khuyến khích các doanh nghiệp trong nước xuất khẩu Trong đó tập trung vào lợi thế so sánh của Trung Quốc trong các ngành sử dụng nhiều lao động, Claro cho thấy rằng tự do hóa FDI thúc đẩy lợi thế so sánh, đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nước

Ngoài việc nghiên cứu ở cấp độ doanh nghiệp, một số nghiên cứu còn xem xét tác động của FDI đến nền kinh tế của Trung Quốc khi sử dụng dữ liệu tổng hợp quốc gia hoặc cấp tỉnh Điển hình như Gu, Zhou, và Rabiul Alam Beg (2014) đã sử dụng dữ liệu cấp quốc gia, trong khi đó Zhang và Song (2001) và Sun (2001) đã sử dụng dữ liệu của tỉnh, Liu và Shu (2003) đã sử dụng dữ liệu cấp ngành Nói chung, các nghiên cứu dựa trên dữ liệu tổng hợp cũng cho thấy rằng FDI có tác động tích cực và quan trọng đến xuất khẩu Nghiên cứu dựa trên dữ liệu tổng hợp có xu hướng khám phá những tác động của dòng vốn FDI vào xuất khẩu và thương mại dựa trên dữ liệu chuỗi thời gian Các kỹ thuật chuỗi thời gian được sử dụng bao gồm Granger đã dùng phương pháp phân tích quan hệ nhân quả và đồng liên kết Sử dụng các kỹ thuật như vậy, Zhang và Felmingham (2001), Liu, Burridge, và Sinclair (2002), và Liu Wang, và Wei (2001), cũng đưa ra kết luận có tồn tại mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa FDI và xuất khẩu

Trong hầu hết các nền kinh tế thực, nhiều doanh nghiệp địa phương kinh doanh

ở cả thị trường trong nước và xuất khẩu Tuy nhiên, rất ít nghiên cứu hiện nay đã cố gắng kiểm tra tác động của FDI vào thị trường bán hàng trong nước và xuất khẩu của

Trang 35

các doanh nghiệp trong nước cùng một lúc Sử dụng số liệu khảo sát năm 2002, Bao, Wang, và Huang (2013) nhận thấy rằng các công ty nước ngoài đầu tư ở Trung Quốc

từ lâu không chỉ tăng năng suất mà còn làm tăng doanh số bán hàng của thị trường trong nước Tuy nhiên, họ phát hiện ra rằng các tác động đến xuất khẩu của các công ty

có vốn đầu tư nước ngoài tại Trung Quốc là không đáng kể về mặt thống kê Sử dụng

dữ liệu cấp độ doanh nghiệp qua các thời kỳ năm 2001- 2002 và 2005- 2007, trong đó bao gồm toàn bộ khu vực sản xuất, Wang và ctg (2014) phát hiện ra rằng dòng vốn FDI làm tăng doanh số thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước tại các chi phí của doanh thu thị trường trong nước Ngược lại, trong một nghiên cứu phân tách cấp ngành, Sun và Anwar (2016) thấy rằng FDI có thể có một tác động tích cực trên cả hai thị trường bán hàng trong nước và xuất khẩu của các doanh nghiệp địa phương Tuy nhiên, không ai trong số các nghiên cứu hiện tại tập trung vào các khía cạnh địa lý của FDI ở Trung Quốc

Một vấn đề quan trọng mà các nhà nghiên cứu quan tâm đến kiểm tra tác động của FDI trong nền kinh tế chủ nhà là đo lường sự hiện diện FDI Trong bối cảnh của nghiên cứu cấp độ doanh nghiệp, cũng như những đánh giá trên, sự hiện diện của FDI trong một ngành công nghiệp thường được đo bằng tỷ trọng sản lượng của các công ty

có vốn đầu tư nước ngoài trong các ngành công nghiệp có liên quan Biện pháp này không tính đến các khía cạnh khu vực của sự hiện diện FDI Sự gần gũi địa lý đóng một vai trò quan trọng sự lan tỏa của FDI (Sun, Song, và Drysdale 2011)

Ngoài ra, dựa trên nghiên cứu về tác động lan tỏa của FDI, các căn cứ cho rằng FDI trong nền kinh tế chủ nhà có thể ảnh hưởng đến năng suất của các doanh nghiệp trong nước thông qua một số kênh, điều này không phải là đáng ngạc nhiên rằng FDI cũng ảnh hưởng đến doanh thu của doanh nghiệp trong nước Với sự lan tỏa năng suất tích cực liên quan đến sự hiện diện của FDI, chi phí cận biên sản xuất của doanh nghiệp trong nước giảm, dẫn đến kết quả doanh số của thị trường trong nước và xuất khẩu của các doanh nghiệp địa phương đạt lợi nhuận tối đa Mặt khác, xuất hiện tác động tiêu cực hiệu ứng lan tỏa năng suất, các doanh nghiệp trong nước sẽ có sự gia

Trang 36

tăng trong chi phí cận biên của họ về sản xuất, dẫn đến giảm doanh thu của họ trong cả hai thị trường trong nước và xuất khẩu Do đó, hành vi bán hàng của doanh nghiệp trong nước có liên quan chặt chẽ đến tác động lan tỏa năng suất liên quan đến sự hiện diện FDI

Trong nền kinh tế thực, do tính không đồng nhất của công ty, ảnh hưởng của tác động lan tỏa liên quan của FDI đến các doanh nghiệp trong nước có thể khác nhau đáng kể giữa các doanh nghiệp Kể từ khi công trình nghiên cứu đầu tiên của Melitz (2003), tính không đồng nhất doanh nghiệp đã được sử dụng rộng rãi để giải thích các hành vi khác nhau của các doanh nghiệp thậm chí trong một phân loại ngành hạn hẹp

Ví dụ, do khả năng khác nhau, một số doanh nghiệp có thể xuất khẩu sản phẩm trong khi số khác có thể không Trong các nghiên cứu thực nghiệm, trong đó tác động của FDI đến các doanh nghiệp trong nước được ước lượng, tính không đồng nhất của công

ty có thể làm giảm tác động ước lượng của FDI Nếu FDI tạo ra tác động năng suất dương (và bán hàng), sau đó công ty hoạt động tương đối không hiệu quả mà dù ban đầu có thể tồn tại trong ngành công nghiệp hiện nay có thể sống sót Sự tham gia của các doanh nghiệp mới, do tác động lan tỏa tích cực có liên quan của FDI, có thể làm giảm năng suất trung bình (và bán hàng) của các công ty trong ngành Tương tự như vậy, với sự hiện diện của các tác động lan toản tiêu cực từ FDI, một số doanh nghiệp trong nước có khả năng thấp hơn có thể rời khỏi ngành, trong đó có thể góp phần tăng năng suất trung bình (và do đó doanh thu) của các công ty còn lại trong ngành công nghiệp

Tác động của FDI đến doanh thu bán hàng tại thị trường trong nước và xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nước cũng phụ thuộc vào vị trí địa lý của các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp được nước ngoài đầu tư Các mối liên lạc trực tiếp với các nhà cung cấp và nhà phân phối gần nhau không chỉ làm giảm vận tải và chi phí thông tin liên lạc (Girma và Wakelin 2001) mà còn cải thiện mối quan hệ của các liên kết ngược và xuôi giữa các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có nước ngoài đầu tư Sự gần gũi địa lý cũng làm tăng khả năng của người lao động di chuyển từ các

Trang 37

doanh nghiệp FDI đến doanh nghiệp trong nước Gaelotti (2008) cho thấy rằng kích thước của tác động lan tỏa liên quan đến FDI phát sinh từ di chuyển của lao động bị ảnh hưởng đáng kể bởi khoảng cách địa lý Khoảng cách địa lý xa có thể làm giảm kích thước của các tác động lan tỏa liên quan đến FDI Khoảng cách địa lý cũng có thể ảnh hưởng đến kích thước của các tác động lan tỏa do phát sinh hiệu ứng bắt chước và cạnh tranh Doanh nghiệp trong nước được đặt gần với các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài cũng có thể tương đối dễ dàng để quan sát và bắt chước họ Khoảng cách địa lý có ảnh hưởng trực tiếp vào mức độ cạnh tranh trên thị trường Sun, Song, và Drysdale (2011) báo cáo rằng sự gần gũi địa lý đã dẫn đến sự lan tỏa năng suất tích cực từ doanh nghiệp FDI đến các doanh nghiệp trong nước trong lĩnh vực sản xuất của Trung Quốc

Tóm lại, dựa trên nghiên cứu tài liệu ngắn gọn trình bày ở trên, Sun và Anwar (2016) nhận thấy có hai thiếu sót trong các nghiên cứu hiện nay Thứ nhất, chỉ có một

số nghiên cứu đã xem xét các tác động của sự hiện diện FDI đến các hành vi xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước, một vài nghiên cứu đã xem xét tác động của nó đối với doanh số bán hàng của doanh nghiệp tại thị trường trong nước trong cùng một thời điểm Một nghiên cứu sâu hơn về tác động của sự hiện diện của FDI đến doanh số của các doanh nghiệp địa phương ở cả thị trường trong nước và xuất khẩu cho phép chúng

ta hiểu biết thêm hơn về vai trò của FDI trong sự phát triển ngành đó Một phân tích như vậy cũng có thể gợi ý những chính sách quan trọng trong việc thu hút FDI Thứ hai, hầu hết các nghiên cứu hiện tại xem xét đối phó với tác động lan tỏa FDI liên quan

mà không xem xét khía cạnh khu vực của mình Các kích thước của khu vực FDI là quan trọng bởi vì sự gần gũi địa lý với các doanh nghiệp trong nước đóng một vai trò quan trọng trong việc truyền tải tác động lan tỏa FDI Bằng cách kiểm tra tác động của FDI vào thị trường bán hàng trong nước và xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nước trong hai ngành công nghiệp sản xuất của Trung Quốc, trong đó sự hiện diện của FDI được đo bằng tỷ lệ đầu ra doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên sản lượng đầu ra của toàn tỉnh, Sun và Anwar (2016) cố gắng hoàn thiện hai lỗ hổng này trong các nghiên cứu hiện nay

Trang 38

Bảng 2.3: Tổng hợp các nghiên cứu trước

Anwar and

Nguyen (2011)

Dữ liệu bảng của 19 đối tác thương mại lớn của Việt Nam trong giai đoạn 1990-2007

Hồi quy dữ liệu bảng với kỹ thuật hồi quy GLS

Biến độc lập: Xuất khẩu, nhập khẩu, xuất khẩu ròng

Biến phụ thuộc: FDI, GDP của

Việt Nam, GDP của các nước đối tác, khoảng cách địa lý giữa Việt

Nam và đối tác

Tồn tại mối quan hệ giữa xuất khẩu, nhập khẩu và dòng vốn FDI Theo đó, dòng vốn FDI vào Việt Nam đã góp phần gia tăng đáng kể cho cả hoạt động xuất khẩu lẫn nhập khẩu

Biến độc lập: quyết định xuất

khẩu của doanh nghiệp, Tỷ trọng

xuất khẩu của doanh nghiệp Biến phụ thuộc: Độ tuổi, quy

mô, loại hình sở hữu, tỷ lệ vốn hóa, mức lương bình quân, tỷ trọng nhập khẩu, sự canh tranh,

yếu tố nước ngoài

Kết quả nghiên cứu thấy rằng: (1) Đặc trưng doanh nghiệp có ảnh hưởng quan trọng đến hành vi xuất khẩu; (2) sự hiện diện của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động lan tỏa đến tỷ trọng xuất khẩu của doanh nghiệp; và (3) phạm vi lan toả xuất khẩu

đa dạng và phụ thuộc vào đặc trưng riêng của doanh nghiệp

Lê Thị Hà Thu

(2015)

Dữ liệu vi mô ngành nông nghiệp từ các cuộc điều tra doanh nghiệp hàng năm do Tổng cục Thống kê thực hiện từ năm 2000

Phương pháp bán tham số (Levin-shon- Petrin)

Biến độc lập: Giá trị sản lượng

đầu ra thực (hoặc giá trị gia tăng)

của doanh nghiệp Biến phụ thuộc: Vốn của doanh

nghiệp, Lao động của doanh nghiệp, Đầu vào trung gian của

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, sự hiện diện của doanh nghiệp FDI không có tác động lan tỏa đối với các hiệu ứng cạnh tranh với các doanh nghiệp trong lĩnh vục nông nghiệp trong nước

Trang 39

đến năm 2013 doanh nghiệp, phần chia vốn của

nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp trong ngành, Các tác động lan tỏa ngang, dọc, xuôi của FDI; Tỷ lệ các đầu vào của

Hồi quy bình phương nhỏ nhất

số giá sản xuất, lương bình quân, quy mô nhà máy, thuế đầu vào, thuế đầu ra, hạn mức nhập khẩu, hạn mức xuất khẩu

Trong cùng ngành công nghiệp, sự gần gũi về mặt địa lý, các doanh nghiệp FDI

sẽ tác động lan tỏa làm tăng khả năng

mà một doanh nghiệp trong nước sẽ bắt đầu xuất khẩu

Sun (2009) Dữ liệu ngành công

nghiệp sản xuất sản phẩm văn hóa, giáo dục và thể thao ở Trung Quốc giai đoạn 2000-2003

Phương pháp lựa chọn mẫu

Heckman

Biến độc lập: Quyết định xuất

khẩu, năng lực xuất khẩu

Biến phụ thuộc: Quy mô doanh

nghiệp, tỷ lệ vốn trên lao động, chi phí sản xuất đơn vị, chi phí lao động đơn vị, Tiền lương, tỷ lệ chi phí bán hàng trên doanh thu,

FDI tạo ra sự lan tỏa xuất khẩu đáng kể đến doanh nghiệp trong nước Những tác động lan tỏa không chỉ không đồng nhất về độ lớn mà còn phụ thuộc vào đặc điểm công ty

Trang 40

cơ cấu sở hữu, thời gian hoạt động của doanh nghiệp, khu vực địa lý doanh nghiệp tọa lạc, cơ cấu thị trường, kích thức doanh nghiệp, sự hiện diện của nước

Phương pháp lựa chọn mẫu Heckman và Hồi quy bình

phương nhỏ nhất OLS

Biến độc lập: doanh thu xuất

khẩu

Biến phụ thuộc: các tác động lan

tỏa FDI (lan tỏa ngang, xuôi, ngược), năng suất nhân tố tổng hợp TFP, vốn trên lao động, quy

mô doanh nghiệp, đầu tư gián tiếp nước ngoài

FDI đã có tác động tích cực đến giá trị xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước thông qua tác động lan tỏa ngược về công nghệ và tác động tích cực đến tỷ lệ xuất khẩu thông qua tác động lan tỏa liên kết ngang

Fu (2011) Dữ liệu lấy từ cuộc

điều tra doanh nghiệp của Cục thống kê quốc gia Trung Quốc giai đoạn 2000-2007

Hồi quy bình phương nhỏ nhất

OLS

Biến độc lập: quyết định xuất

khẩu, giá trị xuất khẩu

Biến phụ thuộc: các tác động lan

tỏa thông tin xuất khẩu từ FDI, tác động lan tỏa công nghệ, năng suất lao động, quy mô công ty, đầu tư cố định trên lao động, tiền

Liu và Shu

(2003)

Khảo sát doanh nghiệp Trung Quốc

Hồi quy dữ liệu chuỗi thời gian với phương pháp phân tích quan

Biến độc lập: hoạt động xuất

khẩu

Hoạt động xuất khẩu trong các ngành công nghiệp khác nhau bị tác động bởi

Ngày đăng: 22/02/2018, 23:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm