1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá tác động của các yếu tố rào cản thương mại đến kim ngạch xuất khẩu thủy sản của nhóm quốc gia asean 6 bằng mô hình trọng lực

95 307 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 2,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng, luận văn: “Đánh giá tác động của các yếu tố rào cản thương mại đến kim ngạch xuất khẩu thủy sản của nhóm quốc gia ASEAN-6 bằng mô hình trọng lực” này

Trang 1

T ƠN M ẾN K M N XUẤT K ẨU

T ỦY SẢN ỦA N ÓM QU A ASEAN-6

ẰN MÔ ÌN TR N LỰ

LU N V N T S K N TẾ

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, luận văn: “Đánh giá tác động của các yếu tố rào cản thương mại đến kim ngạch xuất khẩu thủy sản của nhóm quốc gia ASEAN-6 bằng

mô hình trọng lực” này là bài nghiên cứu của chính tôi

Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn, tôi cam đoan rằng, toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác

Không có nghiên cứu, luận văn, tài liệu nào của người khác được sử dụng trong luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định

Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến sự giúp đỡ của TS

Phạm Đình Long, người Thầy tâm huyết đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều thời

gian định hướng và góp ý cho Tôi trong suốt quá trình thực hiện để hoàn thành luận văn này

Xin cảm ơn Quý Thầy, Cô Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, những người đã trang bị cho tôi những kiến thức quý báu trong thời gian Tôi theo học tại Trường

Và cuối cùng, Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả những người thân trong gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã tận tình hỗ trợ, góp ý và động viên Tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu

Một lần nữa xin gửi lời tri ân đến toàn thể quý Thầy Cô, đồng nghiệp, bạn bè

và gia đình

TP Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2017

Trang 4

TÓM TẮT

Xuất khẩu thủy hải sản được xác định là ngành mũi nhọn, tạo động lực cho việc phát triển các lĩnh vực khai thác, nuôi trồng và dịch vụ hậu cần thủy sản, góp phần thu ngoại tệ cho nền kinh tế Trên thế giới và trong nước đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến các nhân tố tác động đến kim ngạch xuất khẩu nói chung và xuất khẩu thủy hải sản nói riêng Nhưng hiện nay vấn đề này vẫn còn tranh cãi bởi chưa đưa được tất cả các nhân tố vào phân tích cũng như chưa đánh giá được sự tương tác của các nhân tố có ảnh hưởng như thế nào đến xuất khẩu thủy hải sản của các quốc gia nhóm ASEAN-6

Nghiên cứu với dữ liệu xuất khẩu thủy hải sản được tổng hợp từ bộ dữ liệu Ngân hàng Thế giới của các quốc gia trong nhóm ASEAN-6 bao gồm Việt Nam, Malaysia, Philippines, Indonesia, Singapore, Thái Lan đến 28 nước Châu Âu, Hoa

Kỳ và Nhật Bản trong giai đoạn 2000-2014 Nghiên cứu sử dụng mô hình trọng lực hấp dẫn tìm hiểu phân tích ảnh hưởng của các nhân tố GDP, dân số, khoảng cách địa lý, độ mở nền kinh tế, tần số áp dụng các rào cản vệ sinh dịch tễ, Hiệp định thương mại tự do, thành viên WTO đến kim ngạch xuất khẩu thủy hải sản ASEAN-

6 Mục tiêu chính của nghiên cứu là phân tích các nhân tố tác động lên dòng chảy thương mại ngành thủy hải sản Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố trên đã có tác động mạnh đến kim ngạch xuất khẩu Thủy hải sản của các nước ASEAN-6 Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các rào cản phi thuế quan có tác động hết sức tiêu cực đến sản lượng xuất khẩu, đặc biệt là rào cản về vệ sinh an toàn dịch tễ Vì vậy, các quốc gia trong nhóm ASEAN-6 cần đầu tư công nghệ thiết bị để đáp ứng các tiêu chuẩn rất nghiêm nghặt đối với mặt hàng thủy hải sản đáp nhập khẩu vào thị trường EU, Hoa Kỳ và Nhật Bản

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC HÌNH - ĐỒ THỊ vii

DANH MỤC BẢNG BIỂU viii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT xi

CHƯƠNG I GIỚI THIỆU TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1

1.1 Lý do nghiên cứu 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

1.4 Dữ liệu nghiên cứu 3

1.5 Phương pháp nghiên cứu 3

1.6 Ý nghĩa của đề tài 3

1.7 Kết cấu luận văn 4

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 5

2.1 Lý thuyết về mô hình trọng lực 5

2.2 Cơ sở lý thuyết về thương mại ngành thủy sản 6

2.3 Những nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu thủy hải sản 12

2.4 Tính mới của đề tài: 21

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 22

3.1 Mô hình nghiên cứu 22

3.1.1 Cơ sở lựa chọn các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu thủy hải sản 22

3.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu thủy hải sản 23

3.1.3 Đề xuất mô hình nghiên cứu 28

3.1.4 Mô tả các biến trong mô hình và giả thuyết nghiên cứu 31

3.2 Dữ liệu nghiên cứu 36

Trang 6

3.2.2 Cách lấy dữ liệu 36

3.2.3 Mô tả mẫu nghiên cứu 36

3.3 Quy trình nghiên cứu 38

3.4 Phương pháp nghiên cứu 39

3.4.1 Phương pháp phân tích thống kê mô tả 39

3.4.2 Phương pháp phân tích hồi quy 39

3.4.3 Xử lý hiện tượng phương sai sai số thay đổi 40

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH HỒI QUY 42

4.1 Giới thiệu sơ lược về các quốc gia ASEAN-6 42

4.2 Kết quả hồi quy 53

4.2.1 Phân tích biểu đồ phân tán 53

4.2.2 Mô tả các biến sử dụng trong mô hình(Expijt) 54

4.2.3 Phân tích tương quan và hiện tượng đa cộng tuyến 56

4.2.4 Kết quả hồi quy ban đầu 57

4.2.5 Lựa chọn mô hình 59

4.2.6 Kiểm định khuyết tật có khả năng xảy ra trong FEM 62

4.3 Tổng hợp kết quả kỳ vọng 65

4.4 Phân tích kết quả nghiên cứu 65

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 69

5.1 Kết luận từ câu hỏi nghiên cứu 70

5.2 Khuyến nghị một số chính sách 70

5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 72

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

Phụ lục 1 - Thống kê mô tả số liệu 78

Phụ lục 2: Kiểm tra đa cộng tuyến 78

Phụ lục 3: Kiểm tra tính tự tương quan của các biến 79

Phụ lục 4: Kết quả hồi quy ước lượng OLS 79

Phụ lục 5: Kết quả hồi quy ước lượng tác động cố định (FEM) 80

Phụ lục 6: Kết quả hồi quy ước lượng tác động cố định (REM) 80

Trang 7

Phụ lục 7: Kết quả kiểm định sự khác biệt giữa FEM và REM 81

Phụ lục 9: Kiểm định hiện tượng tương quan chuỗi trong mô hình hiệu ứng tác động cố định (FEM) 82

Phụ lục 10- Kết quả hồi quy ước lượng tác động cố định (FEM) tùy chọn

robust 82

Trang 8

DANH MỤC HÌNH -ĐỒ THỊ

Hình 4.1 Luồng thương mại thuỷ sản trên phạm vi toàn cầu 42

Hình 4.2 EU dẫn đầu các nước nhập khẩu thuỷ sản, 2000 – 2013 43

Biểu đồ 4.1 Tổng hợp số liệu xuất khẩu thủy sản của Việt Nam từ 2000-2014 44

Biểu đồ 4.2 GDP bình quân đầu người của Thái Lan giai đoạn 2000-2014 47

Biểu đồ 4.3 GDP bình quân đầu người của Indonesia giai đoạn 2000-2014 48

Biểu đồ 4.4 Kim ngạch xuất khẩu của Malaysia giai đoạn 2000-2014 50

Biểu đồ 4.5 GDP bình quân đầu người của Philippine giai đoạn 2006-2016 51

Biểu đồ 4.6 Kim ngạch xuất khẩu thủy sản ASEAN-6 2000-2014 52

Biểu đồ 4.7 GDP bình quân đầu người ASEAN-6 2000-2014 52

Biểu đồ 4.8 Tương quan giữa EXPijt và LnINFit 59

Biểu đồ 4.9 Tương quan giữa EXPijt và LnGDPit 59

Biểu đồ 4.10 Tương quan giữa EXPijt và LnEdis_ijt 59

Biểu đồ 4.11 Tương quan giữa EXPijt và LnPOP_j 59

Biểu đồ 4.12 Tương quan giữa EXPijt và LnTRADECOSTijt 60

Biểu đồ 4.13 Tương quan giữa EXPijt và OPEN_jt 60

Biểu đồ 4.14 Quy mô nền kinh tế các quốc gia khu vực ASEAN-6 55

Biểu đồ 4.15 Quy mô dân số các quốc gia khu vực ASEAN-6 56

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Sự cân bằng giá các yếu tố sản xuất 9

Bảng 2.2 Quá trình phát triển của các học thuyết về thương mại quốc tế 11

Bảng 2.3: Tóm tắt các mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và biến độc lập 19

Bảng 3.1 Mô hình trọng lực trong xuất nhập khẩu thủy hải sản 22

Bảng 3.2 Tổng hợp các giả thuyết về xu hướng tác động của các biến trong mô hình trọng lực đề xuất 34

Bảng 3.3 Danh sách các quốc gia thuộc đối tượng nghiên cứu 37

Bảng 3.4 Quy trình nghiên cứu 38

Bảng 4.1 Tổng hợp tình hình xuất nhập khẩu của Singapore từ 2000-2014 45

Bảng 4.2 Kim ngạch xuất khẩu của Thái Lan giai đoạn 2000-2014 46

Bảng 4.3 Kim ngạch xuất khẩu của Indonesia giai đoạn 2000-2014 49

Bảng 4.4 Mô tả các biến được sử dụng trong mô hình trọng lực thủy sản 61

Bảng 4.5 Kết quả kiểm tra đa cộng tuyến với nhân tử phóng đại phương sai 57

Bảng 4.6 Kết quả hồi quy FEM, REM 61

Bảng 4.7 Kết quả kiểm tra phương sai thay đổi mô hình 622

Bảng 4.8 Kết quả kiểm tra hiện tượng tự tương quan 63

Bảng 4.9 Kết quả hồi quy FEM robust 63

Trang 10

FMOLS Fully Modified OLS Fully Modified OLS

HACCP Hazard Analysis and Critical

Control Points

Hệ thống phân tích mối nguy và kiểm soát điểm tới hạn

nhiên

SPS

Sanitary and phytosanitary

WITS World Integrated Trade

Trang 11

Tiếng việt

Từ viết tắt Nghĩa đầy đủ Tiếng Anh

ATTP An toàn thực phẩm

Trang 12

CHƯƠNG I GIỚI THIỆU TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1 Lý do nghiên cứu

Khai thác, nuôi trồng và chế biến thủy sản đã đóng góp đáng kể cho nền kinh

tế ở các quốc gia khu vực Đông Nam Á tạo nên trụ cột vững chắc quan trọng của nền kinh tế khu vực này Trong đó Philippines, Inđônêxia, Việt Nam và Thái Lan là những nước góp phần đáng kể nhất trong việc phát triển nghề cá thế giới theo hướng sản xuất thủy sản nuôi quy mô lớn Trong bối cảnh dịch cúm gia cầm tăng mạnh ở nhiều quốc gia, trong đó có Mỹ, thì các nước có nghề cá đang phát triển lại

có cơ hội lớn để bù đắp phần thiếu nguồn cung ở những thị trường khổng lồ như

Mỹ, EU Lượng thủy hải sản được tiêu thụ mạnh và không ngừng tăng nhanh qua các năm Năm 2015, tổng kim ngạch nhập khẩu thủy hải sản vào thị trường Hoa Kỳ lên đến 15,498,425,775 USD, không kể sản lượng nuôi trồng trong nước Năm

2016, kim ngạch nhập khẩu thủy hải sản vào Hoa Kỳ tăng lên 16,380,167,977 USD Thị trường EU luôn là điểm đến tiềm năng của thị trường xuất khẩu thế giới nói chung và Châu Á nói riêng, cụ thể năm 2014, tổng kim ngạch nhập khẩu thủy hải sản vào thị trường EU-28 lên đến 21,935,424,330USD, năm 2015 kim ngạch nhập khẩu thủy sản vào thị trường này có giảm đi, nhưng vẫn còn rất cao với mức 19,751,364,080 USD

Thị trường EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản luôn là những thị trường có sức tiêu thụ mạnh, là thị trường trọng điểm cho các Doanh nghiệp trong khu vực hướng tới Tuy nhiên, bên cạnh thuận lợi về nhu cầu tiêu thụ, về chính sách thương mại mở cửa thì các thị trường này luôn hàm chứa nhiều thách thức đối với các quốc gia xuất khẩu

về sự đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong tất cả các công đoạn sản xuất, chế biến và phân phối Tuân thủ các quy định

về rào cản trong đó có rào cản vệ sinh dịch tễ, rào cản về chi phí thương mại là điều kiện tiên quyết cho thành công của các quốc gia khi xuất khẩu thủy sản vào thị trường khó tính này Xuất phát từ thực tiễn và mong muốn nghiên cứu sâu hơn về các nhân tố tác động đến hiệu quả xuất khẩu thủy sản của nhóm quốc gia ASEAN,

Trang 13

tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu “Đánh giá tác động của các yếu tố rào cản thương mại đến kim ngạch xuất khẩu thủy sản của nhóm quốc gia ASEAN-6 bằng

mô hình trọng lực”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu này nhằm bổ sung vào các nghiên cứu trước đây tiến hành thực hiện các mục tiêu:

- Tìm ra các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu nhóm hàng thủy hải sản của ASEAN-6 đến các quốc gia trong cộng đồng EU-28, Hoa Kỳ và Nhật Bản;

- Đưa ra các khuyến nghị đẩy mạnh tác động tích cực, cũng như hạn chế các tác động tiêu cực từ các nhân tố ảnh hưởng

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: luận văn hướng đến là tác động của các nhân tố ảnh

hưởng đến sản lượng xuất khẩu Thủy hải sản của Nhóm Quốc gia ASEAN-6

Về không gian nghiên cứu

Các quốc gia ASEAN-6 đã xuất khẩu sang hầu hết các châu lục trên thế giới

và gia nhập các tổ chức Kinh tế Tuy nhiên, nghiên cứu không bao gồm tất cả các quốc gia đã tham gia trao đổi thương mại với nhóm quốc gia này do hạn chế dữ liệu trong thời gian kiểm tra Việc giới hạn phạm vi nghiên cứu sẽ có ảnh hưởng đến thương mại quốc tế ngành thủy sản của nhóm ASEAN-6 bao gồm 6 quốc gia Việt Nam, Inđônêsia, Philippines, Malaysia, Singapore, Thái Lan; lý do các quốc gia này đều nằm ở khu vực Đông Nam Á, đều có tiềm năng và tiếp giáp biển cùng điều kiện

tự nhiên thuận lợi để phát triển ngành thủy sản Các quốc gia nhập khẩu là EU-28, Hoa Kỳ, Nhật Bản Nghiên cứu thiết kế nên được hình ảnh gần nhất hiện thực nhất các để đánh giá các tác động của rào cản thương mại đến kim ngạch xuất khẩu ngành thủy sản của các quốc gia trên

Về thời gian

Số liệu được cung cấp bởi các quốc gia giới hạn trong giai đoạn 2000-2014

do Ngân hàng Thế giới công bố

Trang 14

1.4 Dữ liệu nghiên cứu

Dữ liệu nghiên cứu được thu thập cho các quốc gia thuộc khối ASEAN-6 từ năm 2000-2014 xuất khẩu thủy sản sang thị trường EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản Cách chọn mẫu là lấy tất cả số liệu kim ngạch xuất khẩu thủy sản của nhóm quốc gia ASEAN vào thị trường EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản do tổ chức World intergrated trade

solution thống kê

Các dữ liệu về chỉ số lạm phát, GDP, Chi phí thương mại của tất cả các nước được thu thập từ cơ sở dữ liệu của Ngân hàng Thế giới Số liệu về khoảng cách địa

lý giữa các nước được lấy từ CEPII, số liệu về rào cản vệ sinh dịch tễ được tập hợp

từ Tổ chức tích hợp các giải pháp thương mại thế giới (WITS) và được tác giả tính toán lại

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu thủy sản, tác giả sử dụng phương pháp chính là phân tích định lượng từ dữ liệu bảng

Mô hình chính được sử dụng trong nghiên cứu: Mô hình trọng lực hấp dẫn Thực hiện kiểm định mô hình theo phương pháp Pooled OLS, FEM và REM

để lựa chọn giữa RE, FE hoặc Pooled OLS

1.6 Ý nghĩa của đề tài

Các bước nghiên cứu mô hình được thực hiện tuần tự cho thấy mối liên hệ giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc của mô hình

Mục đích chính của nghiên cứu này là đánh giá tác động của các nhân tố đến đến dòng chảy thương mại ngành thủy sản giữa các nước Đông Nam Á với các đối tác quốc gia trong khu vực EU-28, Hoa Kỳ, Nhật Bản; và xem xét tiềm năng cho sự phát triển thương mại ngành thủy hải sản của nhóm quốc gia trên và các nước trong nghiên cứu Mô hình trọng lực hấp dẫn đã được ước tính với dữ liệu từ 28 quốc gia trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2014

Nghiên cứu này sẽ cung cấp một kết quả thú vị và có thể giúp các nhà hoạch định chính sách để có được cái nhìn rõ hơn về các rào cản trong thương mại Kết quả nghiên cứu của luận văn cho thấy ý nghĩa của việc vận dụng các kiến thức về kinh tế quốc tế, kinh tế học để phân tích tác động của các yếu tố lên tăng trưởng

Trang 15

1.7 Kết cấu luận văn

Luận văn nghiên cứu gồm có năm chương và được trình bày cụ thể như sau

Chương 1: Giới thiệu

Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu gồm các vấn đề được nghiên cứu, câu hỏi, mục tiêu, đối tượng cần nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu, tóm tắt kết quả nghiên cứu và những đóng góp từ kết quả nghiên cứu của luận văn

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước

Chương này, luận văn trình bày các khái niệm về thủy sản, nuôi trồng thủy sản, xuất khẩu thủy sản

Đồng thời trình bày tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài để làm cơ sở đưa ra mô hình nghiên cứu

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu

Trên nền tảng lý thuyết trình bày ở chương 2 và các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan, luận văn xây dựng mô hình nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu, cách thức đo lường các biến trong mô hình, các kỹ thuật phân tích số liệu cũng được trình bày trong chương này

Chương 4: Kết quả phân tích hồi quy tác động của các nhân tố đến xuất khẩu thủy sản

Chương trình sẽ trình bày thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu, phân tích các kết quả nghiên cứu đạt được để trả lời các câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu và kiểm định các giả thuyết được đưa ra

Chương 5: Kết luận về kết quả nghiên cứu, khuyến nghị một số giải pháp từ kết quả nghiên cứu và những hạn chế của đề tài Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo

Trình bày tóm tắt các kết quả nghiên cứu và đưa ra khuyến nghị nhằm hạn chế các rào cản đến xuất khẩu thủy sản của các nước Đông Nam Á

Luận văn cũng chỉ ra các giới hạn trong nghiên cứu này và đề xuất gợi ý cho hướng nghiên cứu tiếp theo

Trang 16

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

Chương này trình bày các khái niệm và cơ sở lý thuyết về xuất khẩu thủy sản, các nhân tố tác động đến xuất khẩu thủy sản và lý thuyết về thương mại quốc tế Sau đó, luận văn sẽ tiến hành phân tích và nhận xét các kết quả nghiên cứu thực nghiệm có trước liên quan đến vấn đề nghiên cứu để có cơ sở đưa ra mô hình nghiên cứu ở chương 3

2.1 Lý thuyết về mô hình trọng lực

Mô hình trọng lực từ lâu đã là một trong những mô hình thực nghiệm thành công nhất trong kinh tế Kết hợp các nền tảng lý thuyết về trọng lực vào thực tế gần đây đã dẫn đến một ước lượng phong phú hơn và chính xác hơn, giải thích các quan

hệ không gian được mô tả bằng trọng lực Thông qua nhiều nghiên cứu thực nghiệm

về thương mại quốc tế và các đo lường tác động trong rào cản phi thuế quan, Đỗ Thái Trí (2007), Nguyễn Xuân Bắc (2010), Nguyễn Văn Hồng (2012), James Cassing cùng các tác giả (2010), Shujiro Urata và Misa Okabe (2007), Tang Yihong

và Wang Weiwei (2004) đều sử dụng mô hình trọng lực để nghiên cứu, tiếp cận và đưa ra những đánh giá tích cực về tính thuyết phục của mô hình Cho đến nay đây là

mô hình được ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực thương mại quốc tế, là một công cụ hữu hiệu trong việc giải thích khối lượng và chiều hướng thương mại song phương giữa các nước

Mô hình trọng lực nghiên cứu dự đoán về dòng thương mại song phương phụ thuộc vào quy mô nền kinh tế và khoảng cách giữa các nước Cụ thể là cường độ thương mại giữa 2 nước có quan hệ thuận với quy mô và quan hệ nghịch với khoảng cách của 2 nước Phương trình chuẩn là:

Fij = G*(MiMj)/Dij

Trong đó Fij là luồng thương mại giữa nước i và j, M là biến số đo khối lượng (kích cỡ), D là “khoảng cách” giữa các nước (không chỉ là khoảng cách vật lý như chi phí vận chuyển, hoặc sự khác biệt về ngôn ngữ tạo “khoảng cách” giữa 2 quốc gia) và G là một hằng số Trong nghiên cứu kinh tế, mô hình trọng lực thường

Trang 17

được đưa về dạng Log để giảm bớt biên độ biến động Các biến thường được đưa vào mô hình áp dụng cho nghiên cứu về dòng thương mại như sau:

Ln(trade flows) = a0 + a1lnX1 + a2lnX2 + …+ eijt

Các biến chính của mô hình: GDP của từng quốc gia, dân số, khoảng cách giữa 2 thủ đô hoặc giữa 2 thành phố là trung tâm kinh tế của quốc gia đó, các sự kiện như ký kết các hiệp định thương mại hoặc ban hành các rào cản thương mại giữa các nước được đưa vào mô hình bằng biến giả

2.2 Cơ sở lý thuyết về thương mại ngành thủy sản

 Khái niệm về nuôi trồng thủy sản

Theo định nghĩa của FAO thì nuôi trồng thuỷ hải sản là các hoạt động canh tác trên đối tượng sinh vật thuỷ sinh như nhuyễn thể, giáp xác, thực vật thuỷ sinh Quá trình này bắt đầu từ thả giống, chăm sóc nuôi lớn cho tới khi thu hoạch xong

Có thể nuôi từng cá thể hay cả quần thể với nhiều hình thức nuôi theo các mức độ thâm canh khác nhau như quảng canh, bán thâm canh và thâm canh Phát triển nuôi trồng thủy sản có thể diễn ra theo hai xu hướng là phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu Phát triển nuôi trồng thuỷ sản theo chiều rộng là nhằm tăng sản lượng thuỷ sản nuôi trồng bằng cách mở rộng diện tích đất đai, mặt nước, với cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ nuôi trồng thuỷ sản thấp kém, sử dụng những kỹ thuật sản xuất giống giản đơn, kết quả nuôi trồng thuỷ sản đạt được chủ yếu nhờ vào độ phì nhiêu đất đai, thuỷ vực và sự thuận lợi của các điều kiện tự nhiên, hiệu quả sản xuất thấp Phát triển nuôi trồng thuỷ sản theo chiều sâu là tăng sản lượng nuôi trồng thuỷ sản dựa trên cơ sở đầu tư thêm vốn, ứng dụng kỹ thuật, công nghệ mới, xây dựng cơ

sở hạ tầng nuôi trồng thuỷ sản phù hợp với mỗi hình thức nuôi Như vậy phát triển nuôi trồng theo chiều sâu là làm tăng sản lượng và hiệu quả nuôi trồng thuỷ sản trên một đơn vị diện tích bằng cách đầu tư thêm vốn, kỹ thuật và lao động

 Lý thuyết lợi thế so sánh, 1815

Thực tiễn cho thấy, các quốc gia trên thế giới tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế vì hai lý do chính, xét trên phương diện nào thì mỗi lý do đều nói lên

Trang 18

khác nhau Mỗi quốc gia đều có thể hưởng lợi từ sự khác biệt thông qua đạt được thỏa thuận sao cho mỗi nước sẽ chuyên sản xuất và xuất khẩu những gì họ tương đối giỏi hơn các nước khác Lý do thứ hai, các quốc gia hoạt động thương mại để đạt được lợi thế theo quy mô trong sản xuất Nghĩa là, nếu mỗi nước sản xuất một tập hợp hàng hóa có hạn, họ sẽ sản xuất từng loại hàng hóa trên quy mô lớn hơn và qua đó sẽ hoạt động hiệu quả hơn so với khi họ cố gắng sản xuất đủ mọi thứ Mô thức trao đổi thương mại quốc tế phản ánh sự tương tác của cả hai động cơ này

Ví dụ điển hình về lợi thế so sánh của Ricardo là ví dụ về trao đổi bông/rượu giữa Bồ Đào Nha và Anh Nếu là Bồ Đào Nha không thể sản xuất vải trong những điều kiện thuận lợi như ở Anh, nghĩa là nếu họ phải dành nhiều thời gian và lao động hơn Anh, thì họ lại có lợi thế trong việc sản xuất rượu vang và họ dùng phương tiện trao đổi để mua vải bông ở Anh, trong khi nước này không thể sản xuất rượu vang trong những điều kiện thuận lợi như ở Bồ Đào Nha Ông đã chứng minh rằng sau khi có thương mại mỗi nước chỉ tập trung sản xuất hoàng hóa mà mình có lợi thuế so sánh, tổng sản lượng của cả hai nước đều tăng hơn trước so với trước khi

có thương mại

Lý thuyết này được phát triển dựa trên quan điểm lợi thế tuyệt đối của Adam Smith Theo đó, Ricardo đã nhấn mạnh: Những nước có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn hẳn các nước khác, hoặc bị kém lợi thế tuyệt đối so với các nước khác trong sản xuất mọi sản phẩm, thì vẫn có thể và vẫn có lợi khi tham gia vào phân công lao động và thương mại quốc tế bởi vì mỗi nước có một lợi thế so sánh nhất định về sản xuất một số sản phẩm và kém lợi thế so sánh nhất định về sản xuất các sản phẩm khác Bằng việc chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu sản phẩm mà nước đó có lợi thế so sánh, mức sản lượng và tiêu dùng trên thế giới sẽ tăng lên, kết quả là mỗi nước đều có lợi ích từ thương mại Như vậy lợi thế so sánh là cơ sở để các nước buôn bán với nhau và là cơ sở để thực hiện phân công lao động quốc tế Lý thuyết của Ricardo được xây dựng trên một số giả thiết:

- Mọi nước có lợi về một loại tài nguyên và tất cả các tài nguyên đã được xác định;

Trang 19

- Các yếu tố sản xuất dịch chuyển trong phạm vi 1 quốc gia;

- Các yếu tố sản xuất không được dịch chuyển ra bên ngoài; Mô hình của Ricardo dựa trên học thuyết về

được thuê mướn toàn bộ); Nền

kinh tế cạnh tranh hoàn hảo;

- Chính phủ không can thiệp vào nền kinh tế;

- Chi phí vận chuyển bằng không;

- Phân tích mô hình thương mại có hai quốc gia và hai hàng hoá

- Và chính những giả định này là hạn chế của mô hình này Ví dụ giả định rằng các nhân số sản xuất có thể dịch chuyển hoàn hảo nảy sinh hạn chế nếu trên thực tế không được như vậy Những người sản xuất rượu vang của Anh có thể không dễ dàng tìm được việc làm (chuyển sang sản xuất bông) khi nước Anh không sản xuất rượu vang nữa sẽ thất nghiệp Nền kinh tế vì vậy sẽ không toàn dụng nhân công làm cho sản lượng giảm sút Chính vì thế mặc dù nguyên tắc lợi thế so sánh có thể được tổng quát hóa cho bất kỳ quốc gia nào, với nhiều loại hàng hóa, nhiều loại đầu vào, tỷ lệ các nhân tổ sản xuất thay đổi, lợi suất giảm dần khi quy mô tăng…và

là nền tàng của thương mại tự do nhưng những hạn chế như ví dụ vừa nêu lại lập luận để bảo vệ thuế quan cũng nhưng các rào cản thương mại khác

o Thuyết Tỷ lệ các yếu tố: Mô hình Heckscher-Ohlin, 1919:

Nếu nguồn lực là yếu tố sản xuất duy nhất, như theo giả định của mô hình Ricardo, thì lợi thế so sánh chỉ có thể phát sinh do sự khác biệt quốc tế về năng suất lao động Tuy nhiên, trong thực tế, khi ngoại thương được giải thích một phần bởi

sự khác biệt năng suất lao động, ngoại thương còn phản ánh sự khác biệt nguồn lực

Trang 20

của các nước Mô hình Hechsher-Ohlin nhấn mạnh sự khác biệt về nguồn lực (lao động, vốn, đất đai) là nguồn gốc cuả ngoại thương

Mô hình H-O cho thấy lợi thế so sánh chịu sự ảnh hưởng của sự tương tác giữa nguồn lực các nước hay nói rõ hơn là sự dồi dào yếu tố sản xuất tương đối và công nghệ sản xuất Sự lựa chọn các sản phẩm xuất khẩu phù hợp với các lợi thế so sánh về các nguồn lực sản xuất vốn có theo thuyết H-O sẽ là điều kiện cần thiết để các nước đang phát triển có thể nhanh chóng hội nhập vào sự phân công lao động

và hợp tác TMQT, và trên cơ sở lợi ích thương mại thu được sẽ thúc đẩy nhanh sự tăng trưởng và phát triển kinh tế ở những nước này

Định lý Heckscher-Ohlin: Đất nước dồi dào một yếu tố sản xuất sẽ xuất khẩu hàng hóa thâm dụng yếu tố sản xuất đó

Bảng 2.1 Sự cân bằng giá các yếu tố sản xuất

• Không như mô hình Ricardo,

mô hình Heckscher-Ohlin dự báo rằng

giá yếu tố sản xuất sẽ được cân bằng

giữa các quốc gia có thương mại với

nhau

• Thương mại tự do cân bằng giá

sản phẩm tương đối Do có sự liên kết

giữa giá sản phẩm và giá yếu tố, giá

các yếu tố cũng sẽ được cân bằng

• Thương mại làm tăng nhu cầu

đối với sản phẩm được sản xuất bằng

các yếu tố sản xuất tương đối dồi dào,

một cách gián tiếp tăng nhu cầu đối

với các yếu tố này, làm tăng giá các

yếu tố sản xuất này

• Trong thế giới thực, giá các yếu tố không bằng nhau giữa các nước

• Mô hình giả định rằng các nước giao thương sản xuất sản phẩm giống nhau, nhưng các nước có thể sản xuất sản phẩm khác nhau nếu tỷ lệ các yếu tố khác nhau một cách căn bản

• Mô hình cũng giả định rằng các nước giao thương có cùng công nghệ nhưng

sự khác nhau về công nghệ có thể ảnh hưởng đến năng suất của các yếu tố và

do đó tiền lương/chi phí trả cho các yếu

tố này cũng khác nhau

• Và, tồn tại các rào cản thương mại

Trang 21

o Mô hình ngoại thương tiêu chuẩn

Mô hình ngoại thương tiêu chuẩn được xây dựng dựa trên bốn mối quan hệ cơ bản: Mối quan hệ giữa đường giới hạn khả năng sản xuất và đường cung tương đối; Mối quan hệ giữa giá tương đối và cầu tương đối;

Việc xác định trạng thái cân bằng thế giới bằng đường cung thế giới tương đối và đường cầu thế giới tương đối;

Ảnh hưởng của tỷ số giá ngoại thương –giá hàng xuất khẩu chia cho giá hàng nhập khẩu của một nước đối với phúc lợi của đất nước

Trang 22

Bảng 2.2 Quá trình phát triển của các học thuyết về thương mại quốc tế

Nội dung Học thuyết Adam

TMQT mang lại lợi ích cho các bên tham gia, hướng tới sự tự do hóa thương mại và xóa bỏ chính sách bảo hộ mậu dịch

TMQT là tự do hóa thương mại nhằm mang lại lợi ích cho các quốc gia

Lợi ích của

TMQT

Dựa trên cơ sở khai thác các lợi thế tuyệt đối của một quốc gia (tài nguyên, khí hậu, đất đai,…)

Dựa trên cơ sở khai thác lợi thế so sánh của một quốc gia (bản chất là năng suất lao động)

Khai thác các lợi thế

so sánh dựa trên các nguồn lực mà một quốc gia sẵn có nhƣ đất đai, lao động và vốn

CMH trong trao đổi giữa các quốc gia

Giải thích được nguyên nhân của TMQT giữa các quốc gia là do (i) các quốc gia buôn bán với nhau vì

họ khác nhau; (ii) các quốc gia buôn bán với nhau để đạt được lợi thế nhờ quy

mô sản xuất; (iii) lợi ích của TMQT bắt nguồn từ lợi thế so sánh

Giải thích được bản chất của trao đổi thương mại là sự trao đổi các yếu tố

dư thừa để lấy các yếu tố khan hiếm -

Lý thuyết H-O còn gọi là lý thuyết so sánh các nguồn lực vốn có

Trang 23

Hạn chế Chưa giải thích được

hiện tượng trao đổi thương mại vẫn diễn ra với những nước có lợi thế hơn hẳn những nước khác ở mọi sản phẩm hoặc những nước không có lợi thế tuyệt đối về tất cả sản phẩm

-Mới giải thích được lợi thế so sánh tồn tại là do sự khác nhau về năng suất lao động giữa các quốc gia

- Chưa giải thích được vì sao các nước khác nhau lại

có chi phí cơ hội khác nhau lại có chi phí cơ hội khác nhau?

Lý thuyết H-O cho thấy những khiếm khuyết về mặt lý luận trước thực tiễn phát triển phức tạp của TMQT ngày nay

Nguồn: Tác giả nghiên cứu và tổng hợp

2.3 Những nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu thủy hải sản

2.3.1 Khái niệm về rào cản trong thương mại quốc tế

Rào cản thương mại có thể hiểu là biện pháp hành hành động, chính sách gây cản trở đối với thương mại quốc tế Rào cản thương mại quốc tế rất đa dạng, phức tạp và được quy định bởi cả hệ thống pháp luật quốc tế, cũng như luật pháp của từng quốc gia, được sử dụng không giống nhau ở các quốc gia và vùng lãnh thổ

Rào cản phi thuế quan là rào cản không dùng thuế quan mà sử dụng các biện pháp hành chính hoặc biện pháp kỹ thuật để phân biệt đối xử, chống lại sự thâm nhập của hàng hóa nước ngoài, bảo vệ hàng hóa trong nước Hàng rào thuế quan giữa các quốc gia ngày càng được dỡ bỏ dần, thì ngày càng xuất hiện nhiều hình thức rào cản thương mại mang tính kỹ thuật như các rào cản về vệ sinh, kỹ thuật, bao bì, môi trường, tiêu chuẩn sản phẩm…

Các biện pháp vệ sinh động thực vật (SPS): Những điều khoản này được trình bày trong Hiệp định của WTO với tên gọi là Hiệp định về áp dụng các biện pháp vệ sinh độngvật và vệ sinh thực vật- Hiệp định SPS Hiệp định SPS điều chỉnh đối với lĩnh vực mang tính sống còn của mỗi quốc gia, đó là an toàn, sức khỏe của con người cũng như là của vật nuôi, cây trồng - nguồn thực phẩm hàng ngày của con người Theo SPS thì các biện pháp vệ sinh động thực vật bao gồm tất cả luật,

Trang 24

nghị định, quy định, yêu cầu và thủ tục, kể cả các tiêu chí sản phẩm cuối cùng; các quá trình và phương pháp sản xuất, thử nghiệm, thanh tra, chứng nhận và làm thủ tục chấp thuận; xử lý kiểm dịch kể cả yêu cầu về vận chuyển động thực vật hay nguyên liệu cần thiết cho sự tồn tại của chúng trong khi vận chuyển; thủ tục lấy mẫu

và đánh giá nguy cơ; các yêu cầu đóng gói và nhãn mác liên quan trực tiếp đến an toàn thực phẩm Các quy định về vệ sinh động thực vật của WTO rất chung chung nên các nước công nghiệp phát triển thường đưa ra các yêu cầu ở mức cao khiến hàng hóa các nước đang phát triển khó khăn thâm nhập Chính vì vậy, nó trở thành rào cản trong thương mại quốc tế và đây là rào cản phổ biến nhất hiện nay với mức

độ tinh vi ngày càng cao

Rào cản thuế quan là sử dụng công cụ thuế quan hay cụ thể hơn là một loại thuế đánh vào một đơn vị hàng hóa xuất khẩu hay nhập khẩu của mỗi quốc gia Thuế quan là rào cản truyền thống và phổ biến nhất trong thương mại quốc tế Tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu chỉ đề cập đến các rào cản phi thuế quan cụ thể là rào cản về vệ sinh dịch tễ

Như vậy, khi các quốc gia ngày càng nâng cao vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế bên cạnh những thuận lợi về quy mô và nhu cầu thị trường thì các quốc gia xuất khẩu gặp nhiều khó khăn khi đối mặt với hệ thống rào cản nói chung và đặt biệt là rào cản vệ sinh dịch tễ đối với ngành thủy sản nói riêng Các quốc gia EU-28, Hoa Kỳ, Nhật Bản đã xây dựng những rào cản hết sức chặt chẽ, tinh vi và đây là vấn đề cấp bách mà các quốc gia xuất khẩu cần nghiên cứu để tránh các rủi ro có thể phát sinh từ các mối nguy không thể dự đoán và kiểm soát được này

2.3.2 Vai trò của rào cản thương mại đến thương mại quốc tế

Rào cản thương mại hình thành từ nhiều nguyên nhân khác nhau và xuất phát

từ nhiều chủ thể khác nhau Mục đích chính phủ ban hành chính sách rào cản là để bảo hộ các ngành sản xuất trong nước hoặc để thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội của quốc gia Đối với doanh nghiệp trong nước được Nhà nước bảo hộ, tránh được sự cạnh tranh của nước ngoài Đối với người tiêu dùng và người

Trang 25

lao động (trong ngành được bảo hộ) có công ăn việc làm, có thu nhập ổn định, bảo

vệ sức khỏe người tiêu dùng, bảo vệ động thực vật hay bảo vệ môi trường…

2.3.3 Những nghiên cứu về các nhân tố tác động đến xuất khẩu thủy sản

Trong nghiên cứu về đo lường tác động rào cản phi thuế quan thương mại ở Mauritius của Jordan (2013) tập trung vào việc đo lường mức độ tác động của rào cản phi thuế quan đối với thương mại tổng hợp thông qua mô hình trọng lực hấp dẫn Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng lợi nhuận của thương mại quốc tế chủ yếu dựa vào sự vắng mặt của các hạn chế thương mại giữa các quốc gia Nghiên cứu của Jordan đã phát triển mô hình thực nghiệm để đánh giá tác động của các biện pháp phi thuế quan vào khối lượng thương mại ở Mauritius Với 20 nước nhập khẩu chính từ Mauritius, nghiên cứu đưa vào phân tích để xác định tác động của thuế quan và các hàng rào phi thuế quan Sử dụng chỉ số tự do thương mại là biến đại diện cho các hạn chế thương mại, khối lượng của dòng chảy xuất khẩu Mauritius thấp hơn nhiều do các rào cản thương mại của các đối tác nhập khẩu áp lên hàng hóa nhập khẩu từ Mauritius

Khác với mục tiêu nghiên cứu của nhóm tác giả Jordan (2013) Trong nghiên cứu về các nhân tố tác động đến thương mại quốc tế ngành thủy sản của nhóm tác giả Borello và Motova (2014) cho rằng do sản phẩm nghề cá và nuôi trồng thủy sản chiếm thị phần cao trong thương mại quốc tế nên phân tích thương mại thủy sản là rất quan trọng Nghiên cứu n đã sử dụng mô hình lực hấp dẫn để khám phá những yếu tố ảnh hưởng đến các khâu thương mại gồm các yếu tố như dân số, thu nhập, GDP, hiệp định thương mại và khoảng cách địa lý Kết quả của mô hình chỉ ra những đặc thù của thương mại thủy sản, đa dạng hóa tối đa các yếu tố thương mại liên kết quyết định đến các đặc tính thương mại của sản phẩm thủy sản Thương mại thủy sản bị thu hút bởi một trong hai quốc gia có sở thích hải sản hoặc của các nước

có chi phí lao động thấp để chế biến tiếp, trong khi xuất khẩu thịt được ưa chuộng bởi thu nhập đầu người của quốc gia nhập khẩu và xuất khẩu đều cao Mô hình nhóm tác giả nghiên cứu như sau:

Trang 26

LnX ijt = α 1 + α 2 lnGDP it + α 3 lnGDP jt + α 4 lnINC it + α 5 lnINC jt + α 6 lnPROD it

+ α 7 lnFOOD Jt + α 8( lnDIST ij – lnDIST PiPj ) + α 9 (lnRTAijt - ln RTAP i P jt ) + u ijt ( 2.1)

Bằng mô hình trọng lực hấp dẫn, Rial (2014) nghiên cứu các ảnh hưởng của việc đo lường rào cản phi thuế quan trung bình, và các dữ liệu được chọn trong nghiên cứu này là số liệu tồn kho dựa trên các quy định chính thức về kiểm soát thương mại Các nguồn dữ liệu là cơ sở dữ liệu TRAINS của UNCTAD, đó là từ năm 2009, thu thập các biện pháp trực tiếp từ các nguồn hợp pháp chính thức tại mỗi quốc gia Nghiên cứu ghi lại các biện pháp đã được công bố như các yêu cầu pháp lý chính thức theo phân loại mới (phát triển 2007-2009) Các dữ liệu không chỉ ra tầm quan trọng của bất kỳ hạn chế hoặc rào cản nào mà chỉ liệt kê các biện pháp kiểm soát thương mại, kết hợp với các sản phẩm bị ảnh hưởng tương ứng Đo lường sự hạn chế của rào cản phi thuế quan là một nhiệm vụ phức tạp, liên quan đến việc gán một giá trị cho các tác động của chúng có thể gây ra đối với thương mại Thông thường, một trong hai yếu tố là giá hoặc khối lượng giao dịch bị thay đổi khi rào cản thương mại được đưa ra Nghiên cứu ứng dụng mô hình:

lnmEUk,j = c +

(2.2)

Theo nghiên cứu này, rào cản thương mại sẽ hình thành dưới hình thức chi phí phát sinh khác nhau cho các công ty xuất khẩu ở bất kỳ khu vực hoặc quốc gia thương mại nào Và nghiên cứu sử dụng mức chi phí trung bình để đưa vào đánh giá Với biến phụ thuộc là giá trị nhập khẩu của thị trường EU, biến độc lập là rào cản vệ sinh dịch tễ được định nghĩa là tổng số các biện pháp rào cản vệ sinh dịch tễ, biến giả để đánh giá rào cản vệ sinh dịch tễ tác động đến các nước kém phát triển hay không, tần số các nước kém phát triển áp dụng rào cản thương mại, và các biến phụ thuộc khác gồm quy mô thị trường nhập khẩu, khoảng cách giữa nước xuất khẩu và nhập khẩu v.v Với các thông số và dữ liệu được chọn lọc và đề cập nghiên cứu đã cung cấp thêm kiến thức về tác động khác nhau của rào cản thương mại

Genç và Law (2014) với nghiên cứu Mô hình trọng lực hấp dẫn của rào cản thương mại New Zealand cũng chỉ ra rằng có rất nhiều chi phí liên quan đến thương

Trang 27

mại quốc tế Những chi phí này hoạt động như các rào cản đối với thương mại và ảnh hưởng đến mức độ thương mại Nghiên cứu cung cấp thông tin ngắn gọn về tình trạng sử dụng các phương pháp để đo lường chi phí thương mại và để định lượng tác động của chúng đối với thương mại Sau đó thực nghiệm điều tra vai trò của một loạt các rào cản đối với thương mại của New Zealand trong khuôn khổ của

mô hình lực hấp dẫn Các phân tích bao gồm thương mại của New Zealand với khoảng 200 đối tác thương mại trong những năm 2001-2006, bao gồm thuế và một

số yếu tố chính sách phi thương mại như quyền sở hữu, sự tinh tế của thị trường tài chính, tham nhũng, và một loạt các biện pháp liên quan đến chất lượng cơ sở hạ tầng Các bằng chứng thực nghiệm trong nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng ngày càng tăng của các hàng rào phi thuế quan gây ra đối với thương mại thông qua

mô hình trọng lực hấp dẫn tổng quát:

LnXij = lnG + (2.3)

Nghiên cứu đưa ra kết luận: Thuế quan đã có tác động tiêu cực đến xuất khẩu hàng hóa của New Zealand với hệ số -0.2 Trong một số nghiên cứu khác cho rằng, quyền sở hữu, tính tinh tế của thị trường tài chính và cơ sở hạ tầng của nước nhập khẩu tốt hơn sẽ tác động mạnh mẽ lên kim ngạch xuất khẩu từ New Zealand đến các nước khác Phần lớn các nghiên cứu thực nghiệm gần đây trong lĩnh vực thương mại quốc tế đã tập trung vào tác động của các rào cản thương mại đối với khối lượng thương mại Các nhà hoạch định chính sách đều muốn biết tác động của các rào cản thương mại khác nhau trên dòng chảy thương mại Bằng chứng thực nghiệm được trình bày trong các nghiên cứu cho thấy rằng các chi phí liên quan đến các yếu tố chính sách phi thương mại có thể quan trọng hơn so với chi phí áp đặt bởi các chính sách thương mại

Guillotreau (2000), Pehridy (2000), Nghiên cứu tác động của rào cản và nhập khẩu thủy sản vào thị trường Châu Âu Nghiên cứu chỉ 3 nhân tố (giá hàng nhập khẩu, khoảng cách địa lý, tỷ giá hối đoái) có tác động đến sự thay đổi sản lượng nhập khẩu thủy sản vào thị trường Châu Âu qua mô hình

Trang 28

Log Qi,j,t = a + b Log Qi,j,t-1 + c Log PIMPi,j,t + d Log INCt + e Log EQUIi,j,t +

f Log DISTj + g Log CHGj,t + Log DPRICEii,t + hei,j,t, (2.4)

Khác với Guillotreau và các cộng sự (2015) qua nghiên cứu giá trị thủy sản xuất khẩu trên thế giới giai đoạn 1990 – 2010 tập trung nghiên cứu các nhân tố về lượng thực phẩm tiêu thụ, dân số, thu nhập bình quân đầu người, GDP, khoảng cách địa lý và các hiệp định thương mại Trong đó kết quả cho thấy chỉ có nhân tố khoảng cách địa lý là tác động ngược chiều lên sản lượng thủy hải sản của nước nhập khẩu

Oleksandr (2015), thực hiện nghiên cứu hiệu quả của các biện pháp phi thuế quan đối với mở rộng và chuyên sâu biên độ của xuất khẩu hải sản Trong nghiên cứu này Oleksandr (2015) chọn các nhân tố thị phần xuất khẩu, GDP nước xuất và nước nhập, khoảng cách địa lý giữa hai nước, quan hệ thuộc địa giữa hai nước, hai quốc gia có ngôn ngữ chung, chi phí vận chuyển tàu biển, rào cản phi thuế quan về

vệ sinh an toàn dịch tễ và rào cản kỹ thuật Kết quả nghiên cứu cho thấy rào cản kỹ thuật, khoảng cách địa lý, chi phí vận chuyển tỷ lệ nghịch với quy mô xuất khẩu thủy sản thế giới giai đoạn 1996-2010 Các nhân tố còn lại có ảnh hưởng tích cực đến xuất khẩu thủy sản thế giới giai đoạn này

Rahmann (2009), nghiên cứu về dòng thương mại giữa Bangladesh và các nước đối tác thương mại tiềm năng Nghiên cứu đã đi đến kết luận hoạt động thương mại của Bangladesh chịu sự tác động của quy mô nền kinh tế, tổng thu nhập quốc dân, khoảng cách và độ mở của nền kinh tế

Nguyễn Hải Thọ (2013) đã sử dụng mô hình lực hấp dẫn để điều tra và phân tích các yếu tố quyết định hàng xuất khẩu của Việt Nam đến 40 thị trường xuất khẩu lớn trong giai đoạn 17 năm, từ năm 1995 đến năm 2011 Kiểm định Hausman cho thấy mô hình tác động cố định là phương pháp thích hợp nhất để ước tính trọng lực hồi quy Kết quả cho thấy mô hình xuất khẩu của Việt Nam theo mô hình trọng lực cơ bản Nói cách khác, xuất khẩu của Việt Nam tăng lên khi GDP của các nước nhập khẩu tăng lên Ngược lại, chi phí vận chuyển, như đại diện bởi khoảng cách địa lý, đã tác động tiêu cực đến xuất khẩu của Việt Nam FDI có tác động ngược

Trang 29

chiều với hàng xuất khẩu của Việt Nam Kết quả của nghiên cứu đã khẳng định mối quan hệ tiêu cực giữa xuất khẩu và tỷ giá hối đoái song phương thực, sự mất giá của đồng Việt Nam với đồng tiền của các nước nhập khẩu tác động tích cực đến kim ngạch xuất khẩu GDP bình quân đầu người của nước nhập khẩu và các Hiệp định Thương mại Tự do không có ảnh hưởng đáng kể về mặt thống kê hàng xuất khẩu của Việt Nam

Đỗ Thái Trí (2006) đã tiến hành nghiên cứu dòng chảy thương mại giữa Việt Nam và 23 nước Châu Âu giai đoạn 1993 -2004 Ước tính chỉ ra quy mô kinh tế, quy mô thị trường, tỷ giá hối đoái thực của Việt Nam và 23 nước Châu Âu tác động tích cực đến giá trị xuất khẩu của Việt Nam Trong khi đó, khoảng cách địa lý và sự tương đồng về các yếu tố lịch sử lại không có ý nghĩa thống kê trong quan hệ thương mại song phương giữa hai đối tượng nghiên cứu này

MUTRAP III (2010) đã tiến hành nghiên cứu đánh giá tác động của các hiệp định thương mại tự do (FTAs) tới nền kinh tế Việt Nam Nghiên cứu đánh giá các tác động sau khi hình thành các hiệp định thương mại tự do thông qua việc sử dụng

mô hình trọng lực Các mô hình trọng lực được áp dụng phân tích cho xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam với các nước đối tác, sử dụng biến giả về FTA đối với Khu vực thương mại tự do Đông Nam Á (AFTA) Kết quả ước lượng cho thấy các biến như quy mô của nền kinh tế, khoảng cách địa lý, biến động của tỷ giá hối đoái

và mức độ dễ dàng khi thực hiện các hoạt động kinh doanh đều có ý nghĩa trong nghiên cứu Biến giả FTA có dấu dương ở trong cả mô hình xuất khẩu và nhập khẩu cho thấy việc thành lập Khư vượng thương mại tự do Đông Nam Á dẫn đến tăng trưởng thương mại không chỉ trong khối các quốc gia Đông Nam Á mà còn có cả thương mại của các quốc gia trong khối với các nước ở ngoài khối

Nguyễn Tiến Dũng (2011) đã phân tích tác động của khu vực thương mại tự

do ASEAN và Hàn Quốc đến thương mại của Việt Nam với nguồn số liệu thứ cấp trong giai đoạn 2001-2009 Trong nghiên cứu, tác giả đã sử dụng mô hình trọng lực

để phân tích tác động của các nhân tố như GDP, GDP bình quân đầu người, chênh lệch về thu nhập, khoảng cách, tỷ giá hối đoái và FTA (biến giả) đến kim ngạch

Trang 30

xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu Việt Nam Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra các biến

về GDP có tác động cùng chiều đến cả xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam, biến khoảng cách có tác động âm, biến tỷ giá hối đoái có tác động cùng chiều với xuất khẩu và ngược chiều với nhập khẩu, các biến giả nhận hệ số dương trong cả mô hình xuất khẩu và nhập khẩu,… Về cơ bản, kết quả của nghiên cứu này khá phù hợp

cả trên phương diện lý thuyết lẫn thực tế

Như vậy, bằng mô hình trọng lực và các nghiên cứu trên đã chỉ ra những nhân tố tác động đến xuất khẩu thủy hải sản tại các quốc gia, trong đó cụ thể là GDP, Dân số, GDP bình quân/người, độ mở của nền kinh tế, tỷ giá hối đoái, khoảng cách địa lý, đường biên giới chung, ngôn ngữ chung và tham gia các Hiệp định thương mại hoặc tham gia các tổ chức quốc tế Với nhiều cách tiếp cận khác nhau

và đề cập đến các khía cạnh khác nhau của hoạt động xuất khẩu nhưng đều thông qua mô hình trọng lực để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng hóa nói chung và thủy sải sản nói riêng Do việc nghiên cứu được thực hiện trong điều kiện thời gian và không gian khác nhau nên các nhân tố trong mỗi mô hình đưa ra

có thể trùng nhau hoặc không trùng nhau Dưới đây là bảng tóm lược các nhân tố tác động đến xuất khẩu từ trước đến nay

Bảng 2.3: Tóm tắt các mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và biến độc lập

Trang 31

và Felicitas Lehman D.(2003)

Nowak-• Jackob A.Bikker(2009)

• Đỗ Thái Trí (2006)

Tham gia các

khu mậu dịch tự

do, FTA, WTO

• Ce’line Carrele(2003) (NAFTA, ASEAN, CACM)

Từ Thúy Anh VÀ Đào Nguyên Thắng(2008) (ASEAN), Céline Carrere(2003)(MECORSUR)

Khoảng cách

kinh tế

• Effer(2000),

• Di Mauro(2000), Freund(2000)

• Inmaculada Zarzoso và Felicitas Nowak-Lehman D.(2003),

Martinez-• Jackob A.Bikker(2009)

Trang 32

2.4 Tính mới của đề tài:

Trong bối cảnh thực tế của các quốc gia châu Á và thế giới, nghiên cứu này kỳ vọng

Trang 33

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU

Trên nền tảng lý thuyết trình bày ở chương 2 và các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan, luận văn xây dựng mô hình nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu, cách thức đo lường các biến trong mô hình, các kỹ thuật phân tích số liệu cũng được trình bày trong chương này

3.1 Mô hình nghiên cứu

3.1.1 Cơ sở lựa chọn các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu thủy hải sản

Xuất khẩu là một trong hai hoạt động không thể tách rời nhau trong khi hình thành luồng thương mại quốc tế nói chung Điển hình cụ thể, quốc gia A xuất khẩu hàng hóa thủy hải sản sang quốc gia B thì cũng chính là quốc gia B nhập khẩu lượng hàng hóa thủy hải sản từ quốc gia A Vì vậy, khi nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu một quốc gia sẽ không đơn thuần chỉ nghiên cứu các nhân

tố tác động bên trong quốc gia đó mà cần phải nghiên cứu các nhân tố liên quan trực tiếp đến quốc gia nhập khẩu Nghiên cứu của Đào Ngọc Tiến (2008) đã mô phỏng đựợc các nhân tố ảnh hưởng đến luồng TMQT bằng 3 nhóm nhân tố chính và được

cụ thể qua sơ đồ sau:

Bảng 3.1 Mô hình trọng lực trong xuất nhập khẩu thủy hải sản

Trang 34

Trong đó, nhóm các nhân tố ảnh hưởng đến cung của nước xuất khẩu (thể hiện năng lực sản xuất của nước xuất khẩu) bao gồm: quy mô nền kinh tế (GDP); nhóm nhân tố ảnh hưởng đến cầu của nước nhập khẩu (thể hiện sức mua của thị trường nước nhập khẩu) bao gồm quy mô dân số, quy mô nền kinh tế (GDP); nhóm các nhân tố hấp dẫn/cản trở bao gồm các chính sách quản lý hoặc khuyến khích xuất khẩu/nhập khẩu, khoảng cách giữa hai quốc gia (thường xét trên hai khía cạnh là khoảng cách địa lý và khoảng cách trình độ phát triển kinh tế) Cả ba nhóm nhân tố trên có vai trò rất quan trọng trong hoạt động trao đổi, lưu thông hàng hóa giữa các quốc gia, chúng vừa có tác động hút (nước nhập khẩu) và cũng có tác động đẩy (nước xuất khẩu) giúp quá trình lưu thông hàng hóa diễn ra nhanh và hiệu quả hơn

3.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu thủy hải sản

Quy mô nền kinh tế của nước xuất khẩu (GDP)

Theo lý thuyết kinh tế, khi tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ sản xuất trong lãnh thổ một quốc gia tăng lên sẽ đồng nghĩa với lượng cung hàng tăng lên và cơ

hội xuất khẩu hàng hóa sẽ nhiều hơn

Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của nhân tố này đối với khả năng xuất khẩu của từng nước và mặt hàng khác nhau lại có sự khác nhau Chẳng hạn: với nền kinh

tế lấy xuất khẩu làm động lực phát triển thì kim ngạch xuất khẩu và GDP có quan

hệ chặt chẽ với nhau Song, với nền kinh tế không lấy xuất khẩu làm mục tiêu chính thì lượng hàng hóa, dịch vụ sản xuất ra trong nước chưa hẳn đã phục vụ cho hoạt động xuất khẩu - tức là kim ngạch xuất khẩu và GDP ít có liên quan tới nhau hay nói khác hơn là khi giá trị sản xuất gia tăng lên chưa hẳn đã ảnh hưởng nhiều đến giá trị xuất khẩu hàng hóa

Trường hợp khi khả năng sản xuất tăng, giá trị sản xuất của quốc gia giảm xuống thì trường hợp này GDP sẽ có tác động ngược chiều với kim ngạch xuất khẩu Về mặt lý thuyết có thể đưa ra nhiều tình huống khác nhau với mức độ tác động của quy mô nền kinh tế của quốc gia xuất khẩu đến kim ngạch xuất khẩu Song trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, hai nhân tố này cho thấy mối quan hệ cùng chiều và chặt chẽ với nhau

Trang 35

Dân số nước nhập khẩu Dân số ở nước nhập khẩu cũng tác động lên nhu

cầu hàng hóa trong nước thông qua đó ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu của quốc gia đối tác Khi quy mô dân số tăng sẽ kéo theo cầu hàng hóa tăng lên, gây ra những ảnh hưởng nhất định đến kim ngạch xuất khẩu của quốc gia đối tác Tuy vậy, mức độ tác động của nhân tố này là cùng chiều hay ngược chiều lại phụ thuộc vào

điều kiện cụ thể cũng như chất lượng nguồn lao động của mỗi quốc gia Cụ thể:

Nhiều nghiên cứu khi đánh giá đã gộp chung tác động của nhân tố này và nhân tố dân số nước xuất khẩu và nhận được tác động tổng hợp là cùng chiều nên kết luận chung là yếu tố dân số nước nhập khẩu và xuất khẩu đều tác động tích cực lên xuất khẩu như các nghiên cứu của Đào Ngọc Tiến (2009), của Đỗ Thái Trí (2006) cho Việt Nam…

Một số nghiên cứu khác thì tách riêng yếu tố dân số nước nhập và dân số nước xuất đã chỉ ra rằng tác động của yếu tố này lên giá trị xuất khẩu của nước đối tác là ngược chiều như nghiên cứu của Martínez-Zarzoso và Nowak-Lehmann D.(2003), của Carrere(2006) Điều này được lý giải bởi yếu tố dân số của nước nhập khẩu cũng đồng thời là cung lao động của nước đó, cung lao động lớn có thể khiến cho hàng hóa trong nước rẻ tương đối so với hàng nhập khẩu và do đó lại làm giảm giá trị nhập khẩu

Chính sách khuyến khích/quản lý xuất khẩu Chính sách liên quan đến

điều chỉnh những rào cản thương mại, các rào cản thương mại quốc tế bao gồm những biện pháp thuế quan và phi thuế quan, những rào cản này gây ảnh hưởng đến xuất nhập khẩu một cách rõ ràng Khi các rào cản thương mại tăng lên như tăng

Trang 36

thuế nhập khẩu hay yêu cầu các tiêu chuẩn đối với hàng hóa nhập khẩu cao hơn thì

sẽ dẫn đến việc cản trở hạn chế luồng hàng hóa xuất nhập khẩu Ngược lại khi các rào cản này giảm đi trường hợp các quốc gia tham gia vào các khu vực mậu dịch tự

do, ký kết các hiệp định hợp tác thương mại quốc tế, do vậy sẽ thúc đẩy kim ngạch xuất khẩu nói chung Một số nghiên cứu thực nghiệm đều chỉ ra thuế có tác động ngược chiều đến giá trị xuất khẩu Với trường hợp của Việt Nam có nghiên cứu của Đào Ngọc Tiến (2009) cũng chỉ ra rằng thuế có tác động tiêu cực tới tổng giá trị xuất khẩu nhưng tác động ấy không đáng kể so với các rào cản thương mại khác Bên cạnh đó cũng có nhiều nghiên cứu chỉ ra những tác động trái chiều nhau của việc giảm rào cản thương mại thông qua tham gia hợp tác kinh tế hay các khu vực mậu dịch tự do Như nghiên cứu của Carrere (2003) chỉ ra giá trị trao đổi thương mại giữa hai quốc gia sẽ chịu tác động có thể cả tích cực và tiêu cực bởi tham gia vào cùng một khối kinh tế Nghiên cứu của K.Doanh Nguyen và Yoon Heo (2009) lại chỉ ra tác động của việc tham gia AFTA trong ASEAN tới xuất khẩu của Việt Nam tới các nước trong khối là tích cực Như vậy có thể các nghiên cứu chưa thống nhất nhau ở điểm này Hơn nữa chưa có nghiên cứu nào chỉ ra được tác động cụ thể của thuế sẽ khác nhau như thế nào? Các chính sách rào cản thương mại sẽ có tác

động đến nhóm hàng nào nhiều hơn?

Khoảng cách giữa hai quốc gia Khoảng cách giữa hai quốc gia được đề cập

tới ở đây sẽ không chỉ là khoảng cách theo nghĩa đen - tức là khoảng cách về địa lý

mà còn bao gồm cả khoảng cách về một số điểm khác như trình độ phát triển kinh

tế, trình độ phát triển khoa học kỹ thuật, khoảng cách về văn hóa, về ngôn ngữ,…

Và dưới đây là tác động của hai nhân tố:

Khoảng cách về địa lý Khoảng cách về địa lý giữa hai quốc gia sẽ ảnh

hưởng trực tiếp tới cước phí vận chuyển hàng hóa cũng như rủi ro trong quá trình vận chuyển hàng hóa nói chung và nhóm thủy hải sản nói riêng Khi khoảng cách giữa hai quốc gia càng xa, chi phí vận chuyển càng lớn kết hợp với đặc thù của hàng thủy sản là tươi sống nên sẽ ảnh hưởng nhiều đến chất lượng thủy hải sản Bên cạnh đó, khoảng cách địa lý còn ảnh hưởng đến thời gian thực hiện hợp đồng, thời

Trang 37

điểm ký hợp đồng,… do vậy sẽ ảnh hưởng tới việc lựa chọn nguồn hàng, lựa chọn thị trường cũng như lựa chọn mặt hàng để xuất khẩu Qua phân tích cho thấy, khoảng cách địa lý có tác động lớn đến hoạt động xuất khẩu của một quốc gia Đây

là lý do khiến các quốc gia thường chú trọng nhiều hơn đến giao lưu thương mại với các nước có chung đường biên giới hoặc các nước trong cùng khu vực Thêm vào

đó, khoảng cách địa lý còn ảnh hưởng đến thời gian vận chuyển hàng hóa Tuy rằng với mỗi mặt hàng khác nhau thì mức độ tác động có thể là nhiều hay ít Song với nhóm hàng thủy hải sản thì khoảng cách địa lý có ảnh hưởng lớn đến hoạt động xuất khẩu thủy hải sản của một quốc gia

Việc có hay không sự tương đồng về trình độ phát triển kinh tế cũng là một nhân tố hấp dẫn hay gây ra cản trở với hoạt động xuất nhập khẩu giữa hai quốc gia Điều này được giải thích rằng nếu hai nước có trình độ phát triển giống nhau thì tức

là nhu cầu tiêu dùng các mặt hàng, thị hiếu hay yêu cầu về chất lượng là tương đương nhau Vì thế hàng hóa của nước này sẽ đáp ứng được nhu cầu của nước kia,

do vậy đây là nhân tố tạo thuận lợi cho xuất khẩu Ngược lại, nếu trình độ giữa hai nước không tương đồng nhau (có sự khác biệt lớn) sẽ làm cho hàng hóa của nước này khó hoặc không đáp ứng được yêu cầu của nước nhập khẩu dẫn đến hạn chế khả năng xuất khẩu Sự cách biệt lớn về kinh tế có thể biểu hiện cho việc dư thừa các nhân tố sản xuất giữa các quốc gia là khác nhau Theo lý thuyết H - O, chính sự khác biệt về kinh tế sẽ làm tăng kim ngạch trao đổi thương mại với những mặt hàng

có độ thâm dụng các nhân tố đầu vào khác nhau Vì vậy, sự khác biệt về trình độ phát triển kinh tế giữa các quốc gia trở thành nhân tố hấp dẫn hay cản trở hoạt động xuất, nhập khẩu còn tùy thuộc vào từng điều kiện nghiên cứu khác nhau

Độ mở của nền kinh tế của nước xuất khẩu Ðộ mở nền kinh tế được sử

dụng như một nhân tố đại diện cho chính sách ngoại thương của một quốc gia, được tính bằng tỷ lệ tổng kim ngạch xuất nhập khẩu so với GDP Chính sách ngoại thương càng theo hướng tự do hóa, độ mở của nền kinh tế càng lớn khiến cho quy

mô xuất khẩu hàng hóa càng tăng Như vậy, độ mở nền kinh tế có tác động cùng chiều đến hoạt động xuất khẩu hàng hóa nói chung và thủy hải sản nói riêng Theo

Trang 38

Squalli và Wilson (2009) sử dụng công thức: GDP(X/GDP) và GDP(M/GDP) và tổng hợp lại thì Độ mở kinh tế được xác định là tỷ lệ giữa tổng kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu so với GDP Độ mở kinh tế =

Các quan hệ kinh tế quốc tế Trong quá trình hội nhập kinh tế, các mối quan

hệ kinh tế quốc tế có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa nói chung và thủy hải sản nói riêng của một quốc gia Khi xuất khẩu hàng hóa sang một nước nào đó có nghĩa là hàng hóa đã xâm nhập vào một thị trường khác và nhà xuất khẩu sẽ phải đối mặt với những rào cản như thuế nhập khẩu hay vấn đề về hạn ngạch nhập khẩu Các rào cản này là chặt chẽ hay nới lỏng phụ thuộc rất nhiều vào quan hệ kinh tế song phương giữa nước xuất khẩu và nước nhập khẩu Trong khi

đó, với xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế như hiện nay đã tạo điều kiện cho nhiều liên minh kinh tế ở các mức độ khác nhau như ASEAN, APEC, EU,…được hình thành, nhiều hiệp định thương mại song phương, đa phương giữa các nước và các khối kinh tế đã được ký kết với mục tiêu là giảm thuế quan giữa các nước tham gia, giảm giá và thúc đẩy hoạt động thương mại trong khu vực và toàn thế giới ngày càng phát triển Đây sẽ là tác nhân tích cực hay là rào cản với một quốc gia khi thâm nhập vào thị trường khác hoàn toàn phụ thuộc vào các quan hệ kinh tế quốc tế giữa các quốc gia Như vậy, với một quốc gia nếu có được những mối quan hệ kinh

tế quốc tế mở rộng, bền vững và tốt đẹp sẽ tạo tiền đề thuận lợi cho việc đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu trong nước nhằm tăng KNXK Song để làm được điều này thì quốc gia đó cần tăng cường tham gia vào các liên minh kinh tế cũng như việc ký kết các hiệp định thương mại song phương hoặc đa phương với các khối và các quốc

gia khác

Tóm lại, ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu nông sản có rất nhiều nhân tố khác nhau Khi nghiên cứu, các nhân tố sẽ không dừng lại ở khía cạnh ảnh hưởng độc lập mà có thể đang tồn tại sự tương tác nhất định với nhau để cùng tác động đến xuất khẩu thủy hải sản.Vấn đề đặt ra là cần làm rõ tương tác giữa các nhân tố để việc phân tích được đầy đủ và chính xác hơn

Trang 39

Chi phí thương mại là phương pháp thay thế để tính toán tác động của rào

cản thương mại là thông qua chi phí thương mại Chi phí thương mại có thể được định nghĩa là tất cả các chi phí phát sinh trong quá trình 1 món hàng hóa được đưa đến tay người tiêu dùng cuối cùng, khác hơn so với chi phí biên của sản xuất hàng hóa (Anderson và Văn Wincoop, 2004) Chủ yếu của chi phí bao gồm vận chuyển

và hậu cần, rào cản chính sách (thuế quan và các biện pháp phi thuế quan), thông tin, và các chi phí pháp lý và pháp lý

Tần số áp dụng rào cản phi thương mại: Số dòng sản phẩm theo HS 6 chữ

số bị quốc gia nhập khẩu áp dụng rảo cản trong tổng số dòng mặt hàng đó Được tính cụ thể:

Trong đó,

Ti: Tổng số dòng thuế quan áp dụng cho ngành hàng, mặt hàng thứ

T: Tổng số dòng sản phẩm, ngành hàng

3.1.3 Đề xuất mô hình nghiên cứu

Các nghiên cứu thực nghiệm về luồng giao dịch thương mại hoặc đầu tư song phương giữa các vùng địa lý chủ yếu dựa trên hai phương pháp: kinh tế lượng

và cân bằng tổng thể Trong số các phương pháp kinh tế lượng được sử dụng để nghiên cứu các yếu tố quyết định luồng giao thương hoặc đầu tư song phương thì phương trình lực hấp dẫn đã có nhiều thành công đáng kể Phương trình lực hấp dẫn được xây dựng dựa theo định luật về lực hấp dẫn trong vật lý Trong lĩnh vực khoa học xã hội, mô hình này được sử dụng lần đầu ở các nghiên cứu về thương mại trong nước theo Reilly (1931), sau đó được Tinbergen (1962) và Poyhonen (1963)

áp dụng vào ngoại thương để tính toán dòng giao thương song phương giữa các nước tùy theo quy mô và khoảng cách địa lý của chúng

Lý do lựa chọn mô hình trọng lực hấp dẫn trong nghiên cứu này là có sự thuận lợi trong việc thu thập số liệu Các hàm minh bạch và đơn giản nên có ý nghĩa

về mặt kinh tế Khả năng giải thích của mô hình cao Việc sử dụng dữ liệu mảng sẽ

Trang 40

xử lý được hai vấn đề về những thay đổi giữa các quốc gia theo thời gian Đồng thời

mô hình trọng lực là một công cụ hữu hiệu trong việc giải thích khối lượng và chiều hướng thương mại song phương giữa các nước về thương mại quốc tế Mô hình này phân tích thương mại song phương giữa các quốc gia dựa trên các biến số như GDP, dân số và khoảng các địa lý giữa các nước, thu nhập bình quân đầu người hay sự tương đồng về ngôn ngữ, văn hóa Như vậy, mô hình trọng lực sẽ là một mô hình phù hợp với hướng nghiên cứu của đề tài

Các biến số của mô hình được chia làm ba nhóm:

o Biến số về quy mô: Thể hiện thông qua thu nhập, tổng thu nhập, sự tương

đồng trong thu nhập, thu nhập bình quân trên đầu người, khoảng cách kinh tế giữa các quốc gia, độ mở của nền kinh tế

o Biến số về địa lý: Khoảng cách địa lý, ngôn ngữ, đảo, quốc gia không có

biển, văn hóa

o Biến số về thể chế, chính sách: Thuế quan, hàng rào phi thuế quan, Quy

định về về sinh an toàn thực phẩm và dịch tễ, rào cản kỹ thuật, Quy định về luật chống bán phá giá v.v…

Mô hình trọng lực cơ bản không hàm chứa trong đó lý thuyết kinh tế Cho đến những năm sau này, như Anderson và Wincoop (2004) lập luận, bất kỳ mô hình thương mại nào cũng sẽ cung cấp một cấu trúc giống như trọng lực với điều kiện giao thương giữa các quốc gia được giả định là tách được từ việc phân bổ sản xuất

và tiêu dùng trong nước, đồng thời đã đưa ra khái niệm “kháng cự đa chiều” vào vị trí trung tâm phân tích Khái niệm này bao gồm ba yếu tố, hàng rào thương mại song phương giữa i và j, sự kháng cự của i chống lại việc giao thương với tất cả các vùng, sự kháng cự của j đối với giao thương giữa các vùng Xuất phát từ mô hình có hàng hóa đặc thù giữa các nước khác biệt và hàm hữu dụng có độ co giãn thay thế không đổi, các tác giả thiết lập phương trình lực hấp dẫn cho thấy giao thương song phương phụ thuộc đồng thời vào cả chi phí vận chuyển lẫn sự kháng cự đa chiều

Mô hình kinh tế lượng đầu tiên được áp dụng bởi Timbergen (1962) và Linnemann (1966) với dạng đơn giản sau:

Ngày đăng: 22/02/2018, 23:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w