1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá hiệu quả kinh tế nghề nuôi cá tra thương phẩm tỉnh an giang

101 272 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Mục tiêu của đề tài “Đánh giá hiệu quả kinh tế nghề nuôi cá tra thương phẩm tỉnh An Giang” là phân tích đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội nghề nuôi cá tra thương ph

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

Người hướng dẫn khoa học:

TS NGUYỄN THỊ TRÂM ANH

Chủ tịch Hội đồng:

TS QUÁCH THỊ KHÁNH NGỌC

Khoa sau đại học:

KHÁNH HÒA - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Đánh giá hiệu quả kinh tế nghề nuôi

cá tra thương phẩm tỉnh An Giang” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này

Khánh Hòa, Ngày 24 tháng 08 năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Ngọc Phụng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của quý phòng ban Trường Đại học Nha Trang, quý Thầy/Cô giảng dạy và truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm quý báu cho tôi trong suốt khóa học đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi được hoàn thành đề tài Đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của TS Nguyễn Thị Trâm Anh đã giúp tôi hoàn thành tốt đề tài Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến sự giúp đỡ này

Để hoàn thành đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân còn có sự hỗ trợ của các cơ quan, ban ngành Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn An Giang, Chi cục Thủy sản An Giang, Cục Thống kê An Giang… đã tạo điều kiện thuận lợi về thời gian cũng như đã hỗ trợ tôi trong quá trình thu thập thông tin dữ liệu

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình và tất cả bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Khánh Hòa, ngày 24 tháng 08 năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Ngọc Phụng

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM ƠN iv

MỤC LỤC v

KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC CÁC BẢNG ix

DANH MỤC CÁC HÌNH x

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xi

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CỞ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 6

1.1 Cơ sở lý thuyết về hiệu quả kinh tế 6

1.1.1 Khái niệm về hiệu quả kinh tế 6

1.1.2 Các quan điểm về hiệu quả kinh tế 7

1.2 Bản chất và tiêu chuẩn của hiệu quả kinh tế 8

1.2.1 Bản chất của hiệu quả kinh tế 8

1.2.2 Tiêu chuẩn của hiệu quả kinh tế 9

1.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế 10

1.3.1 Hệ thống chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh tế 10

1.3.2 Hệ thống chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế 13

1.4 Các quan điểm đánh giá hiệu quả 14

1.5 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài 15

Tóm tắt chương 1 17

CHƯƠNG 2 GIỚI THIỆU NGHỀ NUÔI CÁ TRA THƯƠNG PHẨM TỈNH AN GIANG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

2.1 Tình hình nuôi cá tra ở nước ta và An Giang 18

2.1.1 Tình hình nuôi cá tra ở nước ta 18

2.1.2 Tình hình chung về nuôi cá tra tại An Giang 20

2.2 Giới thiệu về đặc điểm kỹ thuật nuôi cá tra thương phẩm và địa bàn nghiên cứu tại An Giang 33

2.2.1 Giới thiệu về đặc điểm kỹ thuật nuôi cá tra thương phẩm tại An Giang 33

Trang 6

2.2.2 Địa bàn nghiên cứu 36

2.3 Phương pháp nghiên cứu 36

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 36

2.3.2 Thu thập số liệu 36

Tóm tắt chương 2 38

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39

3.1 Hiện trạng nghề nuôi cá tra thương phẩm 39

3.1.1 Thông tin chung về hộ nuôi 39

3.1.2 Thông tin tình hình nuôi cá tra 43

3.2 Kết quả kinh tế nghề nuôi cá tra thương phẩm tại tỉnh An Giang 47

3.2.1 Vốn đầu tư, mua sắm tài sản cố định, máy móc thiết bị 47

3.2.2 Các khoản chi phí cố định 48

3.2.3 Chi phí biến đổi 55

3.2.4 Doanh thu từ hoạt động nuôi cá tra thương phẩm 59

3.2.5 Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận 61

3.2.6 So sánh hiệu quả kinh tế nghề nuôi cá tra thương phẩm giữa nuôi theo tiêu chuẩn VietGAP và nuôi không theo tiêu chuẩn VietGAP 64

3.2.7 Về thị trường tiêu thụ 66

3.3 Đánh giá chung về hiệu quả kinh tế của nghề nuôi cá tra thương phẩm tại tỉnh An Giang 67

3.3.1 Thuận lợi và khó khăn của nghề nuôi cá tra thương phẩm tỉnh An Giang 67

3.3.2 Một số nguyên nhân cơ bản ảnh hưởng đến hiệu quả của các hộ nuôi cá tra thương phẩm tỉnh An Giang 71

3.3.3 Một số nguyện vọng và ý kiến đánh giá để phát triển nghề nuôi cá tra thương phẩm của các hộ nuôi cá tra thương phẩm tỉnh An Giang 73

3.4 Kết luận và một số khuyến nghị nhằm phát triển nghề nuôi cá tra thương phẩm tại An Giang 74

3.4.1 Kết luận 74

3.4.2 Một số khuyến nghị nhằm phát triển nghề nuôi cá tra thương phẩm tại An Giang 78

Tóm tắt chương 3 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82 PHỤ LỤC

Trang 7

KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

ASEAN Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á

BỘ NN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

FAO Tổ chức Nông, lương thực Liên Hiệp Quốc

FARM BILL Đạo luật nông nghiệp của Hoa Kỳ

FDA Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ FSIS Cục Thanh tra An toàn vệ sinh thực phẩm Hoa Kỳ

HACCP Phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn HALAL Hợp pháp theo chuẩn của Qur’an

HOSE Sở Giao dịch Chứng khoán Tp Hồ Chí Minh

ISO Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế

Trang 8

PTNT Phát triển nông thôn

POR 11 Thuế chống phá giá lần thứ 11

ROAA Tỷ suất sinh lợi của tổng tài sản bình quân

ROEA Tỷ suất sinh lợi vốn chủ sở hữu bình quân

ROS Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu thuần

VASEP Hiệp hội chế biến thủy sản Việt Nam

VietGAP Quy phạm thực hành nuôi trồng thủy sản tốt tại Việt Nam

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Giá trị sản xuất cá tra thương phẩm tỉnh An Giang năm 2008-2016 28

Bảng 2.2: Số nhà máy và công suất chế biến cá tra tỉnh An Giang năm 2016 29

Bảng 2.3: Diễn biến sản lượng chế biến cá tra tỉnh An Giang giai đoạn 2008-2016 30

Bảng 3.1: Thống kê tuổi của chủ hộ nuôi 39

Bảng 3.2: Cơ cấu về giới tính của chủ hộ 39

Bảng 3.3: Tình hình lao động của hộ nuôi và lao động thuê ngoài 40

Bảng 3.4: Trình độ học vấn của chủ hộ trong mẫu điều tra 41

Bảng 3.5: Thông tin về kỹ thuật và kinh nghiệm nuôi của các chủ hộ nuôi 41

Bảng 3.6: Thông tin về hình thức nuôi 43

Bảng 3.7: Nguồn cung cấp giống 44

Bảng 3.8: Mật độ thả giống 45

Bảng 3.9: Thông tin về thời gian nuôi 45

Bảng 3.10: Dịch bệnh trên cá tra 46

Bảng 3.11: Tỷ lệ hao hụt và mức độ rủi ro trong nuôi cá tra 47

Bảng 3.12: Vốn đầu tư, mua sắm máy móc trang thiết bị phục vụ nuôi cá tra thương phẩm 47

Bảng 3.13: Phân bổ chi phí khấu hao qua các năm 49

Bảng 3.14: Chi phí tiền lương của hộ nuôi cá tra thương phẩm 51

Bảng 3.15: Chi phí sửa chữa của hộ nuôi cá tra thương phẩm 53

Bảng 3.16: Chi phí lãi vay của hộ nuôi cá tra thương phẩm 54

Bảng 3.17: Chi phí biến đổi của hộ nuôi cá tra thương phẩm 56

Bảng 3.18: Tổng hợp chi phí, giá thành của hộ nuôi cá tra thương phẩm 57

Bảng 3.19: Doanh thu của hộ nuôi cá tra thương phẩm 60

Bảng 3.20: Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận của hộ nuôi cá tra thương phẩm 61

Bảng 3.21: So sánh hiệu quả kinh tế giữa 2 ao nuôi cá tra thương phẩm trong năm 2016 64

Bảng 3.22: Thông tin về thị trường tiêu thụ 66

Bảng 3.23: Một số nguyện vọng phát triển của hộ nuôi cá tra thương phẩm 73

Bảng 3.24: Một số ý kiến đánh giá của hộ nuôi cá tra thương phẩm 74

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1: Thị trường xuất khẩu cá tra của Việt Nam 19

Hình 2.2: Bản đồ hành chính tỉnh An Giang 21

Hình 2.3: Diễn biến diện tích nuôi cá tra tỉnh An Giang 2008-2016 25

Hình 2.4: Diễn biến sản lượng và năng suất nuôi cá tra An Giang năm 2008-2016 26

Hình 2.5: Cơ cấu sản lượng nuôi cá tra tỉnh An Giang năm 2016 27

Hình 2.6: Năng suất bình quân nuôi cá tra tại các địa phương trong tỉnh An Giang năm 2016 28

Hình 2.7: Diễn biến kim ngạch xuất khẩu cá tra tỉnh An Giang năm 2008-2016 31

Hình 2.8: Cơ cấu thị trường xuất khẩu cá tra tỉnh An Giang năm 2008-2016 32

Hình 2.9: Hình thái bên ngoài của cá tra 33

Hình 2.10: Địa điểm thu mẫu 36

Hình 3.1: Sơ đồ thực hiện chuỗi liên kết dọc cá tra 42

Trang 11

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Mục tiêu của đề tài “Đánh giá hiệu quả kinh tế nghề nuôi cá tra thương phẩm

tỉnh An Giang” là phân tích đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội nghề nuôi cá tra thương

phẩm tại tỉnh An Giang trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của hoạt động nuôi cá tra tại địa phương trong thời gian tới theo định hướng phát triển ổn định và bền vững Đồng thời, phân tích những mặt tích cực và những khó khăn, hạn chế ảnh hưởng đến sự phát triển nghề nuôi cá tra thương phẩm, những ý kiến, kiến nghị mong muốn của các hộ nuôi

Nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp thống kê mô tả để so sánh số liệu theo thời gian Số liệu thu thập được từ điều tra 95 hộ nuôi cá tra thương phẩm tại tỉnh

An Giang, số liệu điều tra được xử lý trên phần mềm Microsoft Excel để phân tích, tính toán kết quả, tìm và phân tích số nhỏ nhất, số trung bình, số lớn nhất của các chỉ tiêu: lợi nhuận, sản lượng, doanh thu, chi phí… Đồng thời phân tích những thông tin

để đánh giá tình hình kinh tế xã hội của các hộ nuôi cá tra thương phẩm như: diện tích nuôi, vốn đầu tư, mật độ nuôi, số năm kinh nghiệm…

Kết quả nghiên cứu cho thấy, với 95 hộ nuôi cá tra thương phẩm tại tỉnh An Giang qua 2 năm 2015 và 2016 như sau:

Về giới tính và độ tuổi: Nam giới chiếm tỷ lệ cao nhất là 87% và nữ giới chiếm 13% do nghề nuôi cá tra là một công việc vất vả, nặng nhọc, đòi hỏi sức khỏe trong vụ nuôi nên nam giới phù hợp hơn với công việc này Đa số các hộ nuôi đều nằm trong độ tuổi lao động nên dễ dàng tiếp nhận các thông tin khoa học kỹ thuật nuôi

Về trình độ học vấn: Trình độ phổ thông chiếm 85,26%, trình độ trung cấp chiếm 2,11% và trình độ đại học là 12,63% Phần lớn chủ hộ nuôi cá tra thương phẩm có kinh nghiệm tự học hỏi lẫn nhau, tự mày mò và đút rút kinh nghiệm

Về trình độ kỹ thuật và kinh nghiệm nuôi: Phần lớn các chủ hộ nuôi đều mang tính chất tự phát, tự học hỏi kinh nghiệm nuôi của nhau

Về hình thức nuôi: Có đăng ký nuôi theo tiêu chuẩn VietGAP và không có đăng

ký nuôi theo tiêu chuẩn VietGAP

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy diện tích nuôi của cá tra thương phẩm năm

2015 là 90,55 ha và năm 2016 là 90,75 ha đa số các hộ nuôi cá tra thương phẩm có

Trang 12

diện tích ao nuôi dưới 1 ha chiếm 67% và số hộ có diện tích ao nuôi trên 2 ha chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ là 11% Sản lượng nuôi năm 2015 đạt 28.580 tấn và năm 2016 đạt 29.953 tấn Nghề nuôi cá tra thương phẩm đã giải quyết công ăn việc làm cho 134 lao động gia đình tham gia nuôi cá và 203 lao động thuê ngoài

Kết quả nghiên cứu còn cho thấy có sự khác biệt khá lớn về hình thức nuôi, mức

độ đầu tư và năng suất nuôi giữa các hộ nuôi có đăng ký nuôi theo tiêu chuẩn VietGAP và không đăng ký theo tiêu chuẩn VietGAP Cụ thể là: Các hộ nuôi không đăng ký nuôi theo tiêu chuẩn VietGAP thì mức độ đầu tư thấp hơn, tổng chi phí (bao gồm cả chi phí biến đổi và chi phí cố định) thấp hơn, giá thành sản xuất cao, rủi ro cao hơn do năng suất thấp hơn Do đó lợi nhuận thấp hơn so với các hộ nuôi theo tiêu chuẩn VietGAP, được thể hiện qua kết quả sau:

- Vụ nuôi năm 2015, có 7 hộ nuôi theo tiêu chuẩn VietGAP tổng lợi nhuận đạt 4.891 triệu đồng, mức lãi cao nhất đạt 4.475 triệu đồng, mức lỗ thấp nhất -1.004 triệu đồng; tỷ suất lợi nhuận trên chi phí trung bình là 0,1; tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu trung bình là 0,07 Có 88 hộ nuôi không theo tiêu chuẩn VietGAP lỗ -10.842 triệu đồng, mức lãi cao nhất đạt 5.950 triệu đồng, mức lỗ thấp nhất -3.330 triệu đồng; tỷ suất lợi nhuận trên chi phí trung bình là -0,04; tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu trung bình là -0,07

- Vụ nuôi năm 2016, có 7 hộ nuôi theo tiêu chuẩn VietGAP tổng lợi nhuận đạt 5.647 triệu đồng, mức lãi cao nhất đạt 3.750 triệu đồng, mức lỗ thấp nhất -805 triệu đồng; tỷ suất lợi nhuận trên chi phí trung bình là 0,07; tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu trung bình là 0,05 Có 88 hộ nuôi không theo tiêu chuẩn VietGAP tổng lợi nhuận lỗ -12.894 triệu đồng, mức lãi cao nhất đạt 7.920 triệu đồng, mức lỗ thấp nhất -3.297 triệu đồng; tỷ suất lợi nhuận trên chi phí trung bình là -0,05; tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu trung bình là -0,08

Từ khóa: Cá tra, hiệu quả kinh tế, năng suất, nuôi thương phẩm, An Giang

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngành Thủy sản Việt Nam đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh

tế đất nước Quy mô của ngành ngày càng mở rộng và vai trò của ngành cũng tăng lên không ngừng trong nền kinh tế quốc dân Theo Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc – FAO (2014) năm 2014 là năm đánh dấu sự tăng trưởng của thủy sản nuôi Tốc độ tăng của thủy sản nuôi vượt thủy sản đánh bắt So với năm 2013, tổng sản lượng thủy sản năm 2014 đạt 164,3 triệu tấn, tăng 1%; trong đó thủy sản nuôi đạt 74,3 triệu tấn, tăng 5% và thủy sản đánh bắt đạt 90 triệu tấn, giảm 2% Trong khi nhu cầu thủy sản ngày càng tăng, thì nguồn cung từ nguồn lợi khai thác thủy sản ngày càng cạn kiệt, nên nuôi trồng thủy sản (NTTS) có tiềm năng lớn trong việc đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người

Ngành NTTS ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) trong thời gian qua được khẳng định là nghề sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế và xã hội cao, góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế ở các vùng nông thôn và ven biển; giải quyết việc làm, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo và thu hút được sự quan tâm đầu tư của nhiều thành phần kinh tế trong và ngoài nước Năm 2013, ĐBSCL đã đạt sản lượng 2,2 triệu tấn thủy sản trên diện tích nuôi đạt 795.000 ha, chiếm 89% diện tích và 92,5% sản lượng các tỉnh phía Nam (Báo Vĩnh Long, 2014)

Ở Việt Nam, trong những năm vừa qua, nghề nuôi cá tra đã đạt nhiều thành tựu

to lớn về mặt kinh tế cũng như sự phát triển của công nghệ nuôi mới, đồng thời cũng góp phần quan trọng vào giá trị xuất khẩu của cả nước cũng như đã giải quyết việc làm

và tăng thu nhập cho người dân, góp phần cải thiện đáng kể cuộc sống của một bộ phận người dân Đồng bằng sông Cửu Long là trung tâm kinh tế thủy sản của cả nước, nghề nuôi cá tra đã trở thành một bộ phận kinh tế chủ lực của vùng vì thế nó có tác động rất lớn đối với kinh tế xã hội của toàn vùng (Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản

II, 2011) Không chỉ mang về ngoại tệ mà nó còn có vai trò rất quan trọng trong việc xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm cho người dân (Võ Hồng Thanh Trúc, 2014)

An Giang là một tỉnh Tây Nam của Tổ quốc, nằm trong vùng ĐBSCL, nằm giữa hai dòng sông Tiền và sông Hậu nên có nguồn nước ngọt phong phú và có hệ thống kênh rạch chằng chịt, với gần sáu tháng của mùa nước nổi hàng năm là điều kiện thuận

Trang 14

lợi cho nghề thủy sản phát triển mạnh Do biết tận dụng ưu thế và tiềm năng nguồn nước và điều kiện tự nhiên, ngư dân An Giang đã tích cực đầu tư mọi nguồn lực để nuôi trồng thủy sản, nên thời gian qua phát triển thủy sản đã là một trong nhiều thế mạnh về sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp của tỉnh, trong đó cá tra là loại thủy sản thích hợp với môi trường nguồn nước tỉnh An Giang và có giá trị kinh tế cao, nên đã thu hút ngư dân tập trung đầu tư sản xuất và đã mang lại hiệu quả đáng kể, đã trực tiếp góp phần rất quan trọng trong việc tạo ra lượng hàng hóa xuất khẩu thu ngoại tệ cao và ngày càng khẳng định là một trong những ngành hàng phát triển mạnh, có hiệu quả trong việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh (Võ Hồng Thanh Trúc, 2014)

Từ nửa đầu thế kỷ 20, nuôi cá trong ao mới bắt đầu xuất hiện ở đồng bằng Nam

bộ và được xem là nghề nuôi truyền thống Tài liệu của Ủy Hội sông Mê Kông cũng

đề cập về hiện trạng nuôi cá tra ở miền Nam Việt Nam những thập niên 50-70 Từ trước những năm 1970, kỹ thuật nuôi còn hạn chế, thì nghề nuôi cá còn mang tính chất đơn điệu với đối tượng nuôi chủ yếu là cá tra, các đối tượng khác rất ít Hiện nay, nuôi

cá tra đã phát triển ở nhiều địa phương, không chỉ ở Nam bộ mà một số nơi ở miền Trung và miền Bắc cũng bắt đầu quan tâm nuôi đối tượng này Nghề nuôi thương phẩm cho năng suất rất cao, cá tra nuôi trong ao đạt tới 200 - 300 tấn/ ha, cá tra nuôi trong bè có thể đạt tới 100 - 300kg/m3 bè Sông Cửu Long rất đa dạng về giống loài nuôi nhưng loài nuôi chiếm sản lượng nhiều nhất chủ yếu là cá tra (Tổng cục Thủy sản, 2012)

Tại An Giang, nghề nuôi cá tra có từ trước năm 1975 nhưng chỉ mang tính tự phát, nhỏ lẻ, theo kiểu tăng gia sản xuất Đến năm 1997, người dân chuyển qua phát triển nghề nuôi cá tra trên bè cho đến năm 2004 Sự phát triển của hệ thống nuôi bè

và nuôi đăng quầng đã giảm dần theo thời gian dựa trên sự kém hiệu quả kinh tế của

mô hình này như cá nuôi chậm lớn, tỉ lệ sống thấp, sự bùng phát dịch bệnh thường xuyên và sự ô nhiễm nước Vì vậy, nuôi cá tra trong bè và đăng quầng phát triển chỉ trong khoảng thời gian ngắn từ năm 1997 đến năm 2004 khi so với nuôi trong ao ngày nay Vào năm 2003, Chi cục Thủy sản An Giang nghiên cứu nuôi thử nghiệm cá tra trong ao, vừa tiết kiệm chi phí vừa cho năng suất cao (bình quân 2,7 kg cá nguyên liệu nuôi ao cho 1 kg thịt phi lê, trong khi nuôi bè cần 3,3 kg cá nguyên liệu) (Chi cục Thủy sản An Giang, 2004) Vì vậy, nghề nuôi cá tra thương phẩm trong ao được xem

là thành công trong hệ thống nuôi thủy sản ở An Giang

Trang 15

Theo số liệu của Cục Thống kê An Giang, diện tích nuôi cá tra năm 2015 đạt 1.233 ha, sản lượng đạt 245.133 tấn và năm 2016 đạt 1.153 ha, sản lượng đạt 259.323

cá nuôi của toàn tỉnh Qua đó cho thấy, diện tích và sản lượng năm 2016 cao hơn rất nhiều so với năm 2015 Sự phát triển mạnh mẽ của nghề nuôi cá tra thương phẩm tại tỉnh An Giang đã đặt ra một đòi hỏi rất cao về sản lượng, cả về lợi nhuận cũng như thị trường tiêu thụ Do vậy, nghề nuôi cá tra thương phẩm có tiềm năng rất lớn và sự thành công của nghề này gần như đặt trọng tâm vào năng suất để có thị trường xuất khẩu ổn định Tuy nhiên, hiện nay do chất lượng cá tra giống quá thấp, kỹ thuật nuôi còn hạn chế, nên tỷ lệ cá bị hao hụt rất lớn Điều này có thể nhìn thấy những nguyên nhân gây khó khăn cho người nuôi như: Chất lượng giống cá tra ngày một giảm; người nuôi thiếu thông tin nhu cầu nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu; chưa liên kết hợp tác sản xuất; chưa hợp đồng tiêu thụ sản phẩm khi nuôi nên giá bán sản phẩm luôn bấp bênh và bất ổn đầu ra; gặp khó khăn trong việc vay vốn tái sản xuất…Từ đó, nhiều nông dân đã treo ao, không sản xuất vụ 2, hoặc chuyển sang nuôi đối tượng khác Bên cạnh đó, ngành cá tra thật sự là một ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh An Giang mang lại lợi ích kinh tế lớn, hằng năm đem lại ngoại tệ cho đất nước

Xuất phát từ những vấn đề ở trên, nên tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh

giá hiệu quả kinh tế nghề nuôi cá tra thương phẩm tỉnh An Giang” là cần thiết

Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm góp phần phát triển bền vững nghề này cho địa phương một cách có hiệu quả kinh tế

2 Mục tiêu của đề tài

- Đánh giá những thuận lợi và khó khăn nghề nuôi cá tra thương phẩm

- Đề xuất một số khuyến nghị cho các bên có liên quan nhằm phát triển nghề nuôi cá tra bền vững

Trang 16

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là hiệu quả kinh tế - xã hội của nghề nuôi cá tra thương phẩm tỉnh An Giang

Đối tượng khảo sát là các hộ nuôi cá tra thương phẩm

Phạm vi nghiên cứu

Đánh giá hiệu quả kinh tế nghề nuôi cá tra thương phẩm của các hộ nuôi trong 2 năm 2015 và 2016

4 Phương pháp nghiên cứu

Số liệu thứ cấp: thu thập và tổng hợp các số liệu về nghề nuôi cá tra thương

phẩm, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại Sở Nông nghiệp & PTNT tỉnh An Giang, Cục Thống kê, Chi cục Thủy sản tỉnh An Giang…

Số liệu sơ cấp: Nguồn dữ liệu sơ cấp nhằm điều tra về năng lực chủ hộ, hiện

trạng của nghề nuôi cá tra thương phẩm, mức độ đầu tư, doanh thu, chi phí, trình độ sản xuất, những khó khăn và phương hướng phát triển cũng như ý kiến đóng góp của các hộ nuôi cá tra thương phẩm tỉnh An Giang

Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu: Phương pháp chọn mẫu thuận tiện bằng

cách dựa vào danh sách các hộ nuôi, xuống địa bàn khảo sát thực tế các hộ nuôi sau đó chọn ra các hộ cần điều tra Số liệu thu thập bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp chủ hộ

Phương pháp xử lý số liệu: Tác giả thống kê, xử lý số liệu điều tra bằng cách sử

dụng phần mềm máy tính (Microsoft Office Excel) để tổng hợp, phân tích và xử lý số liệu thu thập được

Từ kết quả phân tích số liệu sơ cấp và tổng hợp các tài liệu thứ cấp tác giả dùng làm căn cứ phân tích thực trạng hiệu quả kinh tế của các hộ nuôi cá tra thương phẩm trên địa bàn tỉnh An Giang

5 Đóng góp của đề tài về mặt thực tiễn

Đánh giá về hiệu quả kinh tế - xã hội nghề nuôi cá tra thương phẩm tỉnh An Giang thông qua việc khảo sát các hộ nuôi trong 2 năm 2015 và 2016 Trên cơ sở đó rút ra được những thuận lợi, khó khăn giúp cho người nuôi cá tra thương phẩm có

Trang 17

những định hướng và giải pháp đúng đắn nhằm phát triển nghề nuôi đạt hiệu quả kinh

tế Ngoài ra, những kết luận của đề tài sẽ là một tài liệu hỗ trợ cho các cơ quan chức năng trong việc lập kế hoạch và quy hoạch để nghề nuôi cá tra thương phẩm tỉnh An Giang có hiệu quả và bền vững Tiếp theo, luận văn còn là tài liệu tham khảo hữu ích cho những nghiên cứu về sau

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận - kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được kết cấu thành 4 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu liên quan

Chương này trình bày cơ sở lý thuyết về hiệu quả kinh tế, bản chất và tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế; các quan điểm đánh giá hiệu quả và phân tích các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế Bên cạnh đó, chương này cũng trình bày tổng quan các nghiên cứu trong nước

Chương 2: Đặc điểm đối tượng, địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương này nêu thực trạng nuôi cá tra tại Việt Nam và An Giang Bên cạnh đó, giới thiệu về đặc điểm cá tra, địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu – Thảo luận

Vận dụng lý thuyết về hiệu quả kinh tế và kết quả đánh giá hiệu quả của nghề nuôi, xác định thuận lợi và khó khăn của các hộ nuôi để từ đó làm cơ sở cho kiến nghị giải pháp để nâng cao hiệu quả nghề nuôi cá tra thương phẩm trong thời gian tới

Trang 18

CHƯƠNG 1 CỞ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU

LIÊN QUAN 1.1 Cơ sở lý thuyết về hiệu quả kinh tế

1.1.1 Khái niệm về hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế khách quan, là thước đo quan trọng để đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế Đây cũng là mục tiêu quan trọng nhất mà các chủ thể kinh tế muốn đạt được Việc nâng cao hiệu quả kinh tế là một đòi hỏi khách quan của các chủ thể sản xuất và của nền sản xuất xã hội

"Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu trong tiêu thụ hàng hóa” (Hoàng Thu Thủy, 2008) Theo quan điểm này thì hiệu quả là tốc độ tăng của kết quả đạt được như: Tốc độ tăng của doanh thu, của lợi nhuận Như vậy hiệu quả được đồng nhất với các chỉ tiêu kết quả hay với nhịp độ tăng của các chỉ tiêu ấy Quan điểm này thực sự không còn phù hợp với điều kiện ngày nay Kết quả sản xuất có thể tăng lên do tăng chi phí, mở rộng sử dụng các nguồn sản xuất (đầu vào của quá trình sản xuất) Nếu hai doanh nghiệp có cùng một kết quả sản xuất tuy có hai mức chi phí khác nhau, theo quan điểm này thì hiệu quả sản xuất kinh doanh của chúng là như nhau

Để xem xét hiệu quả của một lĩnh vực nào đó, người ta thường xem xét vấn đề hiệu quả trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị và xã hội

Hiệu quả kinh tế: Nếu xét trên phạm vi từng khía cạnh, từng yếu tố, từng ngành thì chúng ta có phạm trù hiệu quả kinh tế Có thể hiểu, hiệu quả kinh tế là hệ số giữa kết quả thu về và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Kết quả thu về đề cập trong khái niệm này có thể là doanh thu, lợi nhuận, tổng sản phẩm công nghiệp… Hiệu quả kinh tế thể hiện trình độ sử dụng các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất kinh doanh

Hiệu quả chính trị, xã hội: Nếu đứng trên phạm vi toàn xã hội và nền kinh tế quốc dân thì ta có hai phạm trù hiệu quả chính trị và hiệu quả xã hội Hai phạm trù này phản ánh ảnh hưởng của hoạt động sản xuất kinh doanh đối với việc giải quyết những yêu cầu và mục tiêu chung của toàn bộ nền kinh tế xã hội Và hai loại hiệu quả này có

vị trí quan trọng trong việc phát triển đất nước một cách toàn diện và bền vững Hiệu quả chính trị, xã hội phản ánh trình độ phát triển nền kinh tế xã hội ở các mặt: trình độ

tổ chức sản xuất, trình độ quản lý, mức sống bình quân

Trang 19

Sự cân đối giữa hiệu quả kinh tế với hiệu quả chính trị xã hội, là một nguyên tắc

để phát triển kinh tế, xã hội của một quốc gia một cách ổn định và theo hướng bền vững Bất kỳ một sự mất cân đối nào sẽ dẫn tới một hậu quả nghiêm trọng như ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của nền kinh tế, ảnh hưởng tới tài nguyên thiên nhiên của đất nước, đời sống nhân dân gặp khó khăn và môi trường bị ô nhiễm

1.1.2 Các quan điểm về hiệu quả kinh tế

Các quan điểm hiệu quả kinh tế khác nhau tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội và mục đích của việc đánh giá hiệu quả kinh tế Hiện nay, có hai quan điểm về hiệu quả kinh tế

* Quan điểm truyền thống:

Khi nói đến hiệu quả kinh tế là nói đến phần còn lại của kết quả sau khi đã trừ đi chi phí Hiệu quả kinh tế là tỷ lệ giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra, hay ngược lại

là chi phí trên một đơn vị sản phẩm hay giá trị sản phẩm

Quan điểm truyền thống chưa thật sự toàn diện khi xem xét hiệu quả kinh tế Sự thiếu toàn diện được thể hiện:

- Thứ nhất, hiệu quả kinh tế được xem xét với quá trình sản xuất kinh doanh

trong trạng thái tĩnh, hiệu quả kinh tế chỉ được phân tích sau khi đã kết thúc chu kỳ sản xuất Trong khi đó, hiệu quả kinh tế không những cho chúng ta biết được kết quả của quá trình sản xuất mà còn giúp xem xét trước khi ra quyết định có nên tiếp tục đầu tư hay không và nên đầu tư bao nhiêu, đến mức độ nào Trên phương diện này, quan điểm truyền thống chưa đáp ứng được đầy đủ

- Thứ hai, quan điểm truyền thống không tính đến yếu tố thời gian khi tính toán

các khoản thu và chi cho một hoạt động kinh doanh Do đó, thu và chi trong tính toán hiệu quả kinh doanh chưa đầy đủ và chính xác Đặc biệt những hoạt động có chu kỳ sản xuất dài thì việc tính đến yếu tố thời gian trong phân tích hiệu quả kinh tế có ý nghĩa quan trọng

- Thứ ba, hiệu quả kinh tế được xác định bằng cách so sánh giữa kết quả đạt được

và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Tuy nhiên, chỉ tiêu này trong một số trường hợp không phản ánh chính xác hiệu quả kinh tế

Trang 20

* Quan điểm hiện đại: Theo quan điểm hiện đại khi tính hiệu quả kinh tế phải

căn cứ vào tổ hợp các yếu tố Cụ thể là:

- Trạng thái động của mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra Về mối quan hệ này, hiệu quả kinh tế được thể hiện qua việc đo lường hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ

và hiệu quả kinh tế của từng hoạt động sản xuất

- Yếu tố thời gian: Được coi là một yếu tố quan trọng trong tính toán hiệu quả kinh tế Cùng một lượng vốn đầu tư như nhau và cùng có tổng doanh thu bằng nhau nhưng có thể hiệu quả kinh tế khác nhau trong những thời điểm khác nhau

- Hiệu quả tài chính, xã hội và môi trường: hiệu quả về tài chính phải phù hợp với xu thế thời đại, phù hợp với chiến lược tăng trưởng và phát triển bền vững của các quốc gia (Hoàng Hùng, 2001)

Từ việc phân tích khái niệm và các quan điểm về hiệu quả kinh tế, trong phạm vi luận văn, khái niệm hiệu quả kinh tế được hiểu như sau: Hiệu quả kinh tế là phạm trù phản ánh trình độ năng lực quản lý điều hành của các tổ chức sản xuất nhằm đạt được kết quả đầu ra cao nhất với chi phí đầu vào thấp nhất

1.2 Bản chất và tiêu chuẩn của hiệu quả kinh tế

1.2.1 Bản chất của hiệu quả kinh tế

Bản chất của phạm trù hiệu quả kinh tế đã chỉ rõ trình độ sử dụng các nguồn lực trong sản xuất Xét trên phương diện lý luận và thực tiễn, hiệu quả kinh tế đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá, so sánh, phân tích kinh tế nhằm đưa ra giải pháp tối ưu nhất, phương pháp tốt nhất để đạt được mục tiêu mà người sản xuất đề ra Việc đánh giá hiệu quả kinh tế phải được xem xét một cách toàn diện, cả về mặt thời gian và không gian, trong mối quan hệ giữa hiệu quả chung của toàn vùng và hiệu quả của từng đơn vị sản xuất Xét trong từng đơn vị sản xuất, hiệu quả kinh tế không chỉ được

sử dụng để đánh giá trình độ sử dụng của từng yếu tố nguồn lực, mà còn sử dụng để đánh giá trình độ sử dụng tổng hợp của các yếu tố nguồn lực Nâng cao hiệu quả kinh

tế tức là nâng cao khả năng sử dụng các nguồn lực có hạn trong sản xuất, đạt được mục tiêu đề ra Trong điều kiện các yếu tố nguồn lực có hạn, nâng cao hiệu quả kinh tế

là không thể không đặt ra đối với bất kỳ một hoạt động sản xuất nào, bất kỳ một người sản xuất nào Hiệu quả kinh tế có hai mặt định lượng và định tính:

Trang 21

- Về mặt định lượng: Biểu hiện ở mối tương quan giữa kết quả thu được so với chi phí bỏ ra, chênh lệch giữa kết quả thu về và chi phí đã bỏ ra càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại

- Về mặt định tính: Mức độ hiệu quả kinh tế cao thu được phản ánh sự cố gắng,

nỗ lực, trình độ và năng lực quản lý ở các khâu, các cấp quản lý và sự gắn bó của việc giải quyết những yêu cầu và mục tiêu kinh tế với những yêu cầu và mục tiêu chính trị xã hội

Khi xem xét bản chất hiệu quả kinh tế, không được phép đồng nhất giữa kết quả

và hiệu quả Vì kết quả chỉ mới làm cơ sở để tính toán hiệu quả

1.2.2 Tiêu chuẩn của hiệu quả kinh tế

Nâng cao hiệu quả kinh tế là mục tiêu chung của tất cả các chủ thể sản xuất, còn tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế lại có sự khác nhau Tùy theo phạm vi đánh giá hiệu quả kinh tế mà có tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế đối với toàn xã hội hay đối với từng

cơ sở sản xuất Việc xác định tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả kinh tế là một vấn đề phức tạp và còn nhiều yếu tố chưa thống nhất Tuy nhiên, đa số các nhà kinh tế cho rằng tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá hiệu quả kinh tế là mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội

và sự tiết kiệm lớn về chi phí và tiêu hao tài nguyên

Trong cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đối với mọi tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh, việc tạo ra và không ngừng làm tăng lợi nhuận là hết sức cần thiết Nhưng không được đơn giản coi lợi nhuận như

là tiêu chuẩn duy nhất đánh giá hiệu quả kinh tế Điều quan trọng là phải xem xét lợi nhuận đạt được bằng cách nào và được phân phối sử dụng như thế nào Mọi tổ chức,

cá nhân sản xuất kinh doanh là một tế bào của hệ thống kinh tế quốc dân, sự vận động của nó phải nằm trong quỹ đạo chung và góp phần thực hiện mục tiêu chung của cả hệ thống Do đó, lợi nhuận mà mọi tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh thu được phải thể hiện sự gắn bó của họ đối với sự vận động của thị trường, vừa phải thể hiện sự tuân thủ pháp luật Nhà nước, góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đồng thời, lợi nhuận cũng phải được phân phối theo hướng kết hợp hài hòa các loại lợi ích khác nhau: lợi ích cá nhân người lao động, lợi ích người chủ sở hữu, lợi ích tập thể và lợi ích toàn xã hội (Nguyễn Đình Phan & Nguyễn

Kế Tuấn, 2007)

Trang 22

1.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế (HQKT) của các tiến bộ kỹ thuật, các phương án sản xuất hoặc các mô hình kinh tế (gọi tắt là các mô hình)… được biểu hiện bằng nhiều chỉ tiêu Các chỉ tiêu này chịu tác động của những nhân tố khác nhau và với những cường lực không giống nhau Thậm chí cùng một loại nhân tố nhưng thời kỳ này tác động mạnh, thời kỳ khác lại có thể yếu hơn Mặt khác, có loại chỉ tiêu trị số càng lớn càng tốt (được gọi là chỉ tiêu thuận), lại có chỉ tiêu trị số càng nhỏ càng tốt (được gọi là chỉ tiêu nghịch) Trong đánh giá HQKT không thể sử dụng một chỉ tiêu mà phải sử dụng một hệ thống chỉ tiêu Các chỉ tiêu này lại không trực tiếp cộng lại được với nhau và mỗi chỉ tiêu biểu hiện HQKT ở một khía cạnh riêng biệt, do đó cũng không thể sử dụng một chỉ tiêu làm đại diện để so sánh

Xác định kết quả kinh tế của nghề nuôi cá tra thương phẩm là xác định những chi phí bỏ ra cho các yếu tố đầu vào, như chi phí cố định: Chi phí khấu hao của giá trị đầu

tư xây dựng lồng bè, chi phí sửa chữa lớn, chi phí trả lãi vay và thuế Các khoản chi phí biến đổi, gồm: Chi phí mua con giống; chi phí thức ăn; chi phí thuốc phòng trừ dịch bệnh, vi sinh, vi lượng; chi phí năng lượng; chi phí tiền lương công nhân; chi phí sửa chữa nhỏ; các khoản chi phí giao dịch khác Và đồng thời xác định doanh thu từ nghề nuôi cá tra thương phẩm Cuối cùng là việc xác định lợi nhuận, lợi nhuận được tính bằng Tổng doanh thu trừ (-) tổng chi phí, và sử dụng chỉ tiêu này để xác định tỷ suất sinh lợi của nghề nuôi cá tra thương phẩm mang lại cao hay thấp (Hoàng Thu Thủy, 2008)

1.3.1 Hệ thống chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh tế

Với mục tiêu nghiên cứu của luận văn chủ yếu tập trung vào xác định hiệu quả kinh tế của hoạt động nuôi cá tra thương phẩm tỉnh An Giang, nên tác giả chủ yếu tập trung xây dựng các chỉ tiêu đánh giá kết quả kinh tế Từ cơ sở trên các chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá kết quả kinh tế nghề nuôi cá tra thương phẩm tỉnh An Giang được trình bày trong luận văn này bao gồm:

- Doanh thu

- Chi phí

- Lợi nhuận

Trang 23

1.3.1.1 Doanh thu

Doanh thu = Sản lượng x Giá bán

Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế hộ nông dân thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của hộ nông dân, góp phần làm phát triển vốn chủ sở hữu

Doanh thu từ hoạt động nuôi cá tra thương phẩm là tổng giá trị các lợi ích kinh tế

mà các hộ nuôi thu được từ việc nuôi cá tra thương phẩm và tiêu thụ nó Doanh thu của các cơ sở nuôi được thay đổi theo sản lượng cá tra thương phẩm mà các cơ sở nuôi đạt được Sản lượng cá tra thương phẩm càng lớn thì mức doanh thu càng cao (giả sử

cố định giá) Tuy nhiên, sản lượng cá tra thương phẩm phải đạt được mức độ đồng đều

và cỡ (size) phải đạt chuẩn thì mức doanh thu mới càng cao, và phải đảm bảo khi thu hoạch để bán trọng lượng trên mỗi con cá tra thương phẩm (Nguyễn Thị Thu, 1989)

1.3.1.2 Chi phí

Chi phí của hộ nông dân là biểu hiện bằng tiền của hao phí lao động sống, hao phí lao động vật hoá và chi phí cần thiết khác mà hộ nông dân đã bỏ ra để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định” Như vậy chi phí gồm rất nhiều hoạt động chi tiêu khác nhau, chi mua nguyên vật liệu, thuê lao động Các khoản chi phí có thể phân thành 2 loại: Chi phí cố định và chi phí biến đổi

Chi phí cố định là các khoản chi phí không thay đổi tùy thuộc vào quy mô sản

xuất hoặc mức doanh số như tiền thuê nhà, thuế tài sản, tiền bảo hiểm hoặc chi trả lãi vay

Chi phí bất biến không thay đổi cùng với thay đổi của khối lượng hoạt động Xét cho 1 sản phẩm (đơn vị sản phẩm) chi phí bất biến có quan hệ tỉ lệ nghịch với khối lượng hoạt động Chi phí bất biến của các cơ sở nuôi cá tra thương phẩm chủ yếu bao gồm: Chi phí khấu hao tài sản cố định (TSCĐ), chi phí sửa chữa lớn, chi phí tiền lương, chi phí trả lãi vay và thuế

Chi phí khấu hao là khoản chi phí bù đắp sự giảm dần giá trị của tài sản cố định

do quá trình sử dụng, do bào mòn của tự nhiên, do tiến bộ của kỹ thuật… Chi phí khấu hao là giá trị phân bổ của nguyên giá tài sản cố định qua thời gian sử dụng Khấu hao TSCĐ đối với nghề nuôi cá tra thương phẩm bao gồm khấu hao của tất cả các máy

Trang 24

móc, nhà xưởng phục vụ cho việc nuôi cá tra thương phẩm Để khấu hao chính xác cần xác định giá trị (theo nguyên giá - giá lúc mua, xây dựng), số năm sử dụng tài sản, số

vụ nuôi trong năm Số năm sử dụng của từng loại tài sản cố định khác nhau Trong đề tài nghiên cứu này, qui ước TSCĐ dùng cho nuôi cá tra thương phẩm của các hộ nuôi

là tài sản có giá trị từ 30 triệu đồng trở lên và có thời gian sử dụng trên 01 năm

Phân bổ khấu hao được tính toán dựa trên khung thời gian sử dụng tài sản theo quyết định Bộ tài chính, được phân bổ mức khấu hao theo từng năm và từng vụ nuôi Chi phí sửa chữa lớn là những khoản chi phí có kế hoạch sửa chữa, đại tu ban đầu nhằm phục hồi những bộ phận bị hao mòn, hư hỏng trong quá trình sử dụng TSCĐ Trong quá trình dừng nuôi, cơ sở sẽ có kế hoạch sửa chữa…

Chi phí trả lãi vay là khoản chi trả cho chi phí sử dụng vốn vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn phục vụ cho việc nuôi cá tra thương phẩm

Thuế là các khoản đóng góp của người nuôi vào ngân sách nhà nước

Chi phí tiền lương công nhân các khoản tiền lương nhân viên trả theo lương thời gian, thông thường tính trả lương theo tháng làm việc

Chi phí biến đổi là những khoản chi phí thay đổi theo quy mô sản xuất hoặc

doanh số như lao động, nguyên liệu hoặc chi phí hành chính Chi phí biến đổi cộng chi phí cố định bằng tổng chi phí sản xuất Trong khi tổng chi phí biến đổi thay đổi cùng với sự gia tăng của sản xuất hoặc doanh số thì tổng chi phí cố định không đổi

Chi phí khả biến là chi phí thay đổi cùng với thay đổi của khối lượng hoạt động theo một tỉ lệ thuận Khi khối lượng hoạt động tăng, làm tăng chi phí khả biến tăng theo và ngược lại, khi khối lượng hoạt động giảm, làm giảm chi phí khả biến Khi khối lượng hoạt động bằng 0, chi phí khả biến cũng bằng 0 Chi phí khả biến của các cơ sở nuôi cá tra thương phẩm chủ yếu bao gồm: Chi phí mua con giống; chi phí thức ăn; chi phí thuốc phòng trừ dịch bệnh, vi sinh, vi lượng; chi phí năng lượng; chi phí tiền lương công nhân trực tiếp; các khoản chi phí giao dịch khác

Chi phí mua con giống bao gồm tiền mua con giống từ các cá nhân, đơn vị cung cấp giống và tiền vận chuyển từ nơi nhà cung cấp đến cơ sở nuôi

Chi phí thức ăn bao gồm toàn bộ tiền mua thức ăn cho cá tra ăn từ lúc thả giống đến khi thu hoạch

Trang 25

Chi phí thuốc phòng trừ dịch bệnh, vi sinh, vi lượng: bao gồm các khoản chi phí mua các loại thuốc phòng trị bệnh cá tra, các vi sinh vi lượng xử lý trong nước hoặc trộn vào thức ăn nhằm tăng sức đề kháng của cá tra

Chi phí năng lượng bao gồm chi phí điện năng, xăng dầu chạy máy phục vụ nuôi

Chi phí cơ hội (Opportunity costs)

Là lợi ích bị bỏ qua khi quyết định lựa chọn giữa các phương án Lợi ích cao nhất của một trong các dự án bị bỏ qua trở thành chi phí cơ hội của dự án được chọn Khái niệm chi phí cơ hội là yếu tố quan trọng và chủ yếu khi tính toán hiệu quả của dự án, nhất là về mặt giá trị kinh tế, mặc dù chúng không được (hoặc chưa từng được) phản ánh trong sổ sách của kế toán tài chính

Chi phí cơ hội được sử dụng để tính toán cho các cơ sở nuôi cá tra thương phẩm được tính toán dựa trên mức lãi suất bình quân từ nhiều nguồn khác nhau như ngân hàng, dự án nhỏ, quỹ xóa đói giảm nghèo,…tại thời điểm các cơ sở nuôi cá tra thương phẩm bỏ ra vốn để đầu tư Tuy nhiên, việc đầu tư vốn vào nuôi cá tra thương phẩm dàn trãi trên các tháng nuôi và không đều nhau; các tháng đầu chủ yếu đầu tư vào TSCĐ, máy móc, thiết bị phục vụ nuôi, thuốc hóa chất xử lý, chuẩn bị nuôi, con giống… chi phí đầu tư cho nuôi cá tra thương phẩm Vì vậy, chi phí cơ hội tác giả không tính toán để hạch toán lợi nhuận kinh tế

1.3.1.3 Lợi nhuận

Lợi nhuận từ hoạt động nuôi cá tra thương phẩm là chỉ tiêu phản ánh kết quả cuối cùng của hoạt động nuôi cá tra thương phẩm của các cơ sở nuôi; là phần còn lại của doanh thu sau khi đã trừ các khoản chi phí nuôi cá tra thương phẩm để có được sản lượng cá tra thương phẩm để bán (Nguyễn Thị Thu, 1989)

1.3.2 Hệ thống chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế

Có nhiều chỉ tiêu khác nhau để đánh giá hiệu quả kinh tế Trong nghiên cứu này,

để đơn giản, tác giả tham khảo nghiên cứu của (Hoàng Thu Thủy, 2008), (Nguyễn Xuân Bảo Sơn, 2009), (Phan Thị Hoa, 2012), (Hồ Thị Thúy Thanh, 2014)

Trang 26

* Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu

Tỷ số lợi nhuận trên doanh thu (Tỷ suất sinh lời trên doanh thu, Suất sinh lời của doanh thu, Hệ số lãi ròng) là một tỷ số tài chính dùng để theo dõi tình hình sinh lợi của

hộ nuôi… Nó phản ánh quan hệ giữa lợi nhuận ròng và doanh thu của hộ nuôi

Công thức xác định:

Lợi nhuận ròng (hoặc lợi nhuận sau thuế)

Tỷ số lợi nhuận trên doanh thu =

Doanh thu

x 100%

Ý nghĩa: Tỷ số này cho biết lợi nhuận chiếm bao nhiêu phần trăm trong doanh thu Tỷ số này mang giá trị dương nghĩa là hộ nuôi có lãi; tỷ số càng lớn nghĩa là lãi càng lớn Tỷ số mang giá trị âm nghĩa là hộ nuôi thua lỗ Tuy nhiên, tỷ số này phụ thuộc vào đặc điểm của từng nghề Vì thế, khi theo dõi tình hình sinh lợi của hộ nuôi, người ta so sánh tỷ số này của hộ nuôi với tỷ số bình quân của toàn nghề mà hộ nuôi

đó tham gia Mặt khác, tỷ số này và số vòng quay tài sản có xu hướng ngược nhau Do

đó, khi đánh giá tỷ số này, người phân tích tài chính thường tìm hiểu nó trong sự kết hợp với số vòng quay tài sản (Nguyễn Thị Thu, 1989)

* Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí

Là chỉ tiêu tương đối phản ánh quan hệ tỷ lệ giữa tổng lợi nhuận và tổng chi phí kinh doanh trong kỳ

Công thức xác định:

Lợi nhuận ròng (hoặc lợi nhuận sau thuế)

Tỷ số lợi nhuận trên chi phí =

Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng chi phí bỏ ra thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận, chỉ tiêu này càng lớn thì chứng tỏ với một mức chi phí thấp cũng cho phép mang lại lợi nhuận cao cho hoạt động nuôi của hộ nuôi (Nguyễn Thị Thu, 1989)

1.4 Các quan điểm đánh giá hiệu quả

Phương pháp dãy số thời gian để đánh giá hiệu quả

Vật chất luôn luôn vận động không ngừng theo thời gian Để nghiên cứu sự biến động của kinh tế xã hội Người ta thường sử dụng dãy số thời gian

Khái niệm: Dãy số thời gian là dãy các trị số của chỉ tiêu thống kê được sắp xếp theo thứ tự thời gian Dãy số thời gian cho phép thống kê học nghiên cứu đặc điểm biến động của hiện tượng theo thời gian vạch rõ xu hướng và tính quy luật của sự biến động, đồng thời dự đoán các mức độ của hiện tượng trong tương lai (Hoàng Thu Thủy, 2008)

Trang 27

Phương pháp thống kê để đánh giá hiệu quả

Phương pháp này sử dụng các số liệu thống kê để xác định các chỉ số đánh giá

Số liệu gồm có số liệu đầu vào (chi phí), số liệu đầu ra (doanh thu) Có hai loại chỉ tiêu đánh giá:

Dạng thuận: H = Kết quả kinh tế/Chi phí kinh tế = Q/C

Trong đó: H biểu thị mỗi đơn vị đầu vào có khả năng tạo ra bao nhiêu đơn vị đầu

ra Chỉ tiêu H được dùng để xác định ảnh hưởng của hiệu quả sử dụng nguồn lực hay chi phí thường xuyên đến kết quả kinh tế

Dạng nghịch: E = Chi phí kinh tế/Kết quả kinh tế = C/Q

Chỉ tiêu E cho biết để có một đơn vị đầu ra cần bao nhiêu đơn vị đầu vào Chỉ tiêu E là cơ sở để xác định quy mô tiết kiệm hay lãng phí nguồn lực hay chi phí thường xuyên

Phương pháp đồ thị

Là phương pháp mô tả bằng đồ thị để có thể so sánh và đánh giá tính hiệu quả Phương pháp này biểu thị rất trực quan và sinh động

1.5 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài

Một số đề tài nghiên cứu trong nước có liên quan tới nội dung điều tra đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của đối tượng nuôi cá tra như:

- Đề tài “Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội của nghề nuôi tôm sú giống (Penaeus

monodon) tại tỉnh Khánh Hòa” (2008), Hoàng Thu Thủy, Luận văn Thạc sĩ khoa học,

Trường Đại học Nha Trang Kết quả nghiên cứu được tác giả xác định nghề nuôi tôm

sú giống đã giải quyết được công ăn việc làm cho 3.387 lao động trực tiếp cho nghề nuôi tôm sú giống và 20.169 lao động cho nghề nuôi tôm thương phẩm trong 2 năm

2005 và 2006, và đề tài còn xác định được một số nhân tố ảnh hưởng đến sản lượng

Trang 28

sản xuất ấu trùng tôm sú như: Nhân tố về trình độ kỹ thuật của người nuôi; nguồn gốc tôm bố mẹ; sản lượng tôm mẹ trong một chu kỳ sản xuất, tỷ lệ m3 bể chứa (Hoàng Thu Thủy, 2008)

- Đề tài “Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội của nghề nuôi cá chẽm (Lates

calcarifer Bloch, 1790) thương phẩm tại tỉnh Khánh Hòa” (2009), Nguyễn Xuân Bảo

Sơn, Luận văn Thạc sĩ khoa học, Trường Đại học Nha Trang Nghiên cứu này tìm và xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sản lượng cá chẽm nuôi thương phẩm của các cơ sở/hộ nuôi tại Khánh Hòa dựa trên các số liệu điều tra về diện tích ao nuôi, mật độ thả giống, kích cỡ giống thả nuôi, số năm kinh nghiệm, năng suất, sản lượng, doanh thu, chi phí, lỗ, lãi… Kết quả nghiên cứu được tác giả xác định nghề nuôi cá chẽm thương phẩm đã giải quyết cho 957 lao động trực tiếp với sản lượng thu hoạch là 3.500 tấn sản lượng vào năm 2008, đề tài còn xác định được các nhân tố ảnh hưởng tới sản lượng nuôi cá hàng năm là mật độ thả, kích thước giống thả, số năm kinh nghiệm của chủ hộ nuôi và quy mô vốn đầu tư (Nguyễn Xuân Bảo Sơn, 2009)

- Đề tài “Phân tích các yếu tố rủi ro ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động đầu tư của hộ nuôi cá tra ở tỉnh An Giang” (2010), Đào Thị Kim Loan, Luận văn Thạc sĩ

khoa học, Trường Đại học Cần Thơ Tác giả phân tích với mục tiêu là đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro của hộ nuôi trong chuỗi giá trị cá tra ở tỉnh An Giang thông qua phân tích môi trường bên ngoài và môi trường nội tại trong hoạt động đầu tư của hộ nuôi cá tra ở tỉnh An Giang Đề tài đã xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động đầu tư của hộ nuôi, đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động đầu tư của hộ nuôi và từ đó đưa ra giải pháp hợp lý giúp hộ nuôi kiểm soát, hạn chế rủi ro, nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư cho hộ nuôi cá tra thương phẩm ở tỉnh

An Giang

- Đề tài “Đánh giá hiệu quả kinh tế- xã hội nghề nuôi nuôi tôm he chân trắng

thương phẩm tại tỉnh Khánh Hòa” (2014), Hồ Thị Thúy Thanh, Luận văn Thạc sĩ

khoa học, Trường Đại học Nha Trang Nghiên cứu đo lường hiệu quả kinh tế xã hội cho các ao tôm he chân trắng tại tỉnh Khánh Hòa dựa trên chỉ tiêu là lợi nhuận trên một ha nuôi, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và tỷ suất lợi nhuận trên chi phí Kết quả điều tra 192 hộ nuôi trong năm 2010 cho thấy bình quân lợi nhuận trên đơn vị ha là rất thấp với lợi nhuận trung bình/ha là 6.196.147 đồng/ha, giá trị nhỏ nhất là - 857.217.241 đồng/ha, giá trị lớn nhất là 831.636.363 đồng/ha, độ lệch chuẩn là

Trang 29

268.167.607 – trong đó chỉ có 40,73% số hộ là có lãi Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu trung bình và tỷ suất lợi nhuận trên chi phí trung bình của một ao nuôi tại Khánh Hòa lần lượt là -1,11 và 0,01 Kết quả nghiên cứu hàm ý rằng mặc dù nghề nuôi đang gặp khó khăn nhưng các hộ vẫn tiếp tục tham gia nuôi và đây là nghề rủi ro lớn nhưng sức hấp dẫn của nghề cao (Hồ Thị Thúy Thanh, 2014)

- Đề tài “Đánh giá hiệu quả kinh tế áp dụng chuẩn chất lượng cá tra ở An

Giang” (2015), Phan Thị Kim Hên, Luận văn Thạc sĩ khoa học, Trường Đại học Cần

Thơ Tác giả tiếp cận phương pháp luận “chuỗi giá trị” để phân tích kinh tế của từng tác nhân tham gia trong chuỗi giá trị cá tra từ đó nhận biết rõ vai trò, vị trí lợi ích kinh

tế của từng tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị, tác giả đã đề cập đến để nhận thấy được những thuận lợi và khó khăn của các tác nhân tham gia chuỗi giá trị, tác giả đã

đề xuất một số giải pháp để phát triển ổn định ngành hàng cá tra Kết quả nghiên cứu tác giả xác định được lợi nhuận của người nuôi chiếm tỷ lệ 73,9%, thương lái 3,0%, công ty chế biến 9,4% và nhà bán lẻ 13,7% Qua đó kết quả còn cho thấy người nuôi

có diện tích nuôi nhỏ trung bình là 0,67 ha không tham gia vào các tiêu chuẩn về chất lượng Người nuôi tham gia các tiêu chuẩn chất lượng thường là các vùng nuôi của doanh nghiệp và những hộ nuôi có diện tích lớn, trung bình là 5,98 ha Tiêu chuẩn chất lượng được người nuôi lựa chọn áp dụng phổ biến là hai bộ tiêu chuẩn GlobalGAP (dùng cho thị trường Mỹ) và ASC (thị trường Châu Âu) Phân tích hai kênh thị trường người nuôi có và không áp dụng các tiêu chuẩn về chất lượng cho thấy có sự thay đổi lợi nhuận của các tác nhân tham gia, trong đó lợi nhuận của người nuôi tăng thêm 3,6% và công ty chế biến giảm 21,8%

Tóm tắt chương 1

Nội dung của chương này trình bày cơ sở lý thuyết về hiệu quả kinh tế, các khái niệm về hiệu quả, bản chất và tiêu chuẩn của hiệu quả, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả, các quan điểm đánh giá hiệu quả kinh tế giúp người đọc hiểu được những kiến thức cơ bản về hiệu quả kinh tế Ngoài ra, chương cũng giới thiệu một số nghiên cứu về nuôi

cá tra có liên quan đến đề tài

Đồng thời những kiến thức cơ bản này sẽ được vận dụng để đánh giá hiệu quả kinh tế nghề nuôi cá tra, từ đó rút ra những mặt thuận lợi và khó khăn cho nghề nuôi

cá tra hiện tại

Trang 30

CHƯƠNG 2 GIỚI THIỆU NGHỀ NUÔI CÁ TRA THƯƠNG PHẨM TỈNH

AN GIANG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Tình hình nuôi cá tra ở nước ta và An Giang

2.1.1 Tình hình nuôi cá tra ở nước ta

Nuôi cá tra, cá basa ở Việt Nam đã có từ những năm 50 của thế kỷ XX, xuất phát từ ĐBSCL, ban đầu chỉ nuôi ở quy mô nhỏ, nhằm tự cung tự cấp thực phẩm Các hình thức nuôi chủ yếu là tận dụng ao hầm, mương vườn với nguồn thức ăn sẵn có Cuối thập niên 90, nghề nuôi cá tra, cá basa đã có những bước tiến vượt bậc Các doanh nghiệp đã tìm được thị trường xuất khẩu, các nhà khoa học đã thành công trong quy trình sản xuất giống và kỹ thuật nuôi thâm canh đạt kết quả cao Vì vậy, việc chủ động sản xuất giống cá tra, cá basa nhân tạo đã đáp ứng đủ nhu cầu cho sản xuất và

mở ra khả năng sản xuất hàng hóa tập trung phục vụ cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa Nghề nuôi cá da trơn trên bè bắt đầu vào những năm 1968, khi nhóm người Việt Nam sinh sống ở Campuchia phải sơ tán về hạ lưu sông Mêkông do tình hình chiến tranh Ðiều kiện tự nhiên ở vùng ÐBSCL là yếu tố quan trọng nhất mang tính quyết định đến hiệu quả của nghề nuôi cá tra và cá basa Ở khu vực miền Tây Nam bộ

hệ thống nuôi cá tra, cá basa đặc trưng là nuôi bè, đăng quầng và nuôi ao như tỉnh Ðồng Tháp và An Giang Có thể nói, trong nhiều năm gần đây, cá tra liên tiếp là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của thủy sản Việt Nam, góp phần vào sự tăng trưởng của xuất khẩu thủy sản nói riêng và nền kinh tế đất nước nói chung Hiện các tỉnh có sản lượng cá tra, basa lớn nhất là Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Bến Tre Sản lượng cá tra năm 2015 của các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long ước đạt 1.123 ngàn tấn, tăng 0,4% so với cùng kỳ, trong đó Đồng Tháp ước đạt 375.277 tấn (-6%), An Giang ước đạt 248.064 tấn (+5%), Cần Thơ đạt 153.140 tấn (+2%) (VASEP, 2016)

Tính đến hết tháng 9/2015, Việt Nam xuất khẩu cá tra sang 136 thị trường, giảm

12 thị trường so với năm 2014, giá trị xuất khẩu cá tra đạt 1,16 tỷ USD , giảm 9,3% so với cùng kỳ năm 2014 Giá trị xuất khẩu cá tra sang một số thị trường tăng: Anh (+19,6%); Trung Quốc (+49%); Thái Lan (4,9%); Ảrập Xêut (+11,5%) Trong khi đó, xuất khẩu sang các thị trường lớn như: Mỹ (-3,2%); EU (-16%); Tây Ban Nha (-40,6%); Mexico (-12,7%); Brazil (-42,6%) so với năm 2014 (VASEP, 2015)

Trang 31

(Nguồn: VASEP)

Hình 2.1: Thị trường xuất khẩu cá tra của Việt Nam

Thị trường Mỹ: Giá trị xuất khẩu sang Mỹ đạt 74 triệu USD, thấp hơn giá trị xuất

khẩu sang thị trường EU khoảng 2 triệu USD, giảm 16,9% so với năm 2014 Tính đến hết tháng 9/2015, tổng giá trị xuất khẩu cá tra sang thị trường này đạt 233 triệu USD, giảm nhẹ 3,2% so với 9 tháng đầu năm 2014

Thị trường EU: Giá trị xuất khẩu cá tra sang thị trường EU đạt gần 76,3 triệu

USD mức cao nhất trong thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam nhưng vẫn giảm 13,2% so với quý III/2014 Tính đến hết tháng 9/2015, giá trị xuất khẩu cá tra sang EU đạt 218,9 triệu USD, giảm 16% so với cùng kỳ năm 2014 Qua 9 tháng đầu năm 2015,

4 thị trường đơn lẻ lớn nhất trong khối là: Hà Lan, Anh, Tây Ban Nha và Đức Giá trị xuất khẩu thị trường Anh tăng 19,6% so với cùng kỳ năm trước Còn lại 3 thị trường xuất khẩu là Hà Lan, Tây Ban Nha và Đức giảm lần lượt: 7,1%; 40,6% và 28,8% so với cùng kỳ năm 2014 Từ cuối năm 2014, đồng EUR bị mất giá kỷ lục so với USD Chính sách thúc đẩy xuất khẩu này đã ảnh hưởng lớn tới các nhà nhập khẩu Chính vì vậy, nhiều doanh nghiệp EU giảm nhập khẩu và đề nghị các nhà cung cấp Việt Nam giảm giá bán Đây là cũng là một lý do khiến xuất khẩu cá tra Việt Nam sang thị trường EU 3 tháng đầu năm 2015 giảm mạnh Trong 5 thị trường đơn lẻ xuất khẩu hàng đầu tại EU, trong 3 năm trở lại đây chỉ duy nhất giá trị xuất khẩu sang thị trường Anh tăng trưởng ổn định và khả quan tăng 23% (năm 2012-2014)

Thị trường Hà Lan: Tính đến hết tháng 9/2015, tổng giá trị nhập khẩu cá tra sang

thị trường Hà Lan đạt 40,9 triệu USD, giảm 7% so với cùng kỳ năm trước Đây là thị

Trang 32

trường xuất khẩu sản phấm cá tra chế biến lớn nhất của các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra Việt Nam Mặc dù giá trị xuất khẩu giảm so với cùng kỳ năm trước nhưng Hà Lan vẫn là thị trường tiềm năng và giá tốt tại Châu Âu của các danh nghiệp xuất khẩu cá tra Việt Nam Đây là thị trường xuất khẩu lớn nhất các mặt hàng giá trị gia tăng như:

cá tra cuộn cá hồi xiên que tẩm ớt, thơm và cà chua; cá tra phile định hình tẩm bột; cá tra phile tẩm mù tạt, thì là…

Thị trường ASEAN: Tính đến hết tháng 9/2015, tổng giá trị xuất khẩu sang thị

trường này đạt 101,3 triệu USD, giảm 1,3% so với cùng kỳ năm 2014 Trong đó, 3 thị trường xuất khẩu lớn nhất trong khối chỉ có Thái Lan giá trị xuất khẩu tăng gần 5%, Singapore giảm 5,5% và Philipines giảm 2,2% so với cùng kỳ năm 2014 Hiện nay, Thái Lan là thị trường xuất khẩu cá tra lớn nhất của các doanh nghiệp cá tra Việt Nam tại ASEAN Tính đến hết tháng 9/2015, ASEAN vẫn khẳng định vị trí là thị trường xuất khẩu quan trọng của cá tra Việt Nam Tuy nhiên, giá trị xuất khẩu giảm dần một phần do các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam chủ động giảm xuất khẩu sang Thái Lan và tăng tỷ trọng sang thị trường Trung Quốc

Thị trường Mexico: Trong quý III/2015 giá trị xuất khẩu cá tra sang thị trường

Mexico đạt 26,4 triệu USD, tăng 18,3% so với quý III/2014 Tính đến hết tháng 9/2015, tổng giá trị xuất khẩu sang thị trường này đạt 65,1 triệu USD, giảm 12,7% so với cùng kỳ năm 2014 Đây là thị trường lớn truyền thống của các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra Việt Nam

2.1.2 Tình hình chung về nuôi cá tra tại An Giang

2.1.2.1 Điều kiện tự nhiên

* Vị trí địa lý

An Giang là tỉnh nằm ở phía Tây của vùng ĐBSCL, có toạ độ địa lý từ 10º10’30” đến 10º37’50” vĩ độ Bắc và từ 104º47’20” đến 105º35’10” kinh độ Đông, phía Tây Bắc giáp Campuchia, phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Tháp, phía Nam và Tây Nam giáp tỉnh Kiên Giang, phía Đông Nam giáp Thành phố Cần Thơ

Tỉnh có diện tích tự nhiên là 3.536,76 km2, lớn thứ 4 ở ĐBSCL, chiếm 1,07% diện tích cả nước Tỉnh có 11 đơn vị hành chính trực thuộc gồm: thành phố Long Xuyên (tỉnh lỵ), thành phố Châu Đốc, thị xã Tân Châu và 8 huyện là: An Phú, Phú Tân, Chợ Mới, Châu Phú, Châu Thành, Thoại Sơn, Tịnh Biên và Tri Tôn

Trang 33

An Giang có vị trí địa lý khá thuận lợi để phát triển kinh tế Tỉnh cách hai thành phố lớn là thành phố Hồ Chí Minh 200 km, cách trung tâm thành phố Cần Thơ 60 km,

có đường biên giới chung với Vương quốc Campuchia dài khoảng 95,5 km với các cửa khẩu quốc tế Sông Tiền (xã Vĩnh Xương - Tân Châu), Tịnh Biên (thị trấn Tịnh Biên - Tịnh Biên) và Khánh Bình (thị trấn Long Bình - An Phú), tạo điều kiện cho phát triển giao thương hàng hóa, dịch vụ, kinh tế, văn hóa, du lịch và bảo vệ an ninh quốc phòng

Hình 2.2: Bản đồ hành chính tỉnh An Giang

* Đặc điểm khí hậu, thời tiết

An Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, có chế độ nhiệt tương đối cao và bức xạ dồi dào Trong năm có hai mùa rõ rệt là mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Số liệu thống kê một số yếu tố khí tượng, thời tiết của tỉnh từ năm 2011-2015 theo Đài Khí tượng Thủy văn tỉnh An Giang như sau:

- Nhiệt độ: Nền nhiệt độ tương đối cao, nhiệt độ trung bình năm từ năm

2011-2015 khoảng 27,3-28°C, tổng tích ôn lớn trên 9.900°C/năm Biên độ nhiệt trung bình giữa các tháng trong năm chênh lệch không lớn, chênh lệch từ 2,1 – 4,9°C giữa tháng có nhiệt độ lớn nhất và tháng có nhiệt độ thấp nhất (2011-2015), nhiệt độ cao nhất thường vào tháng 4, tháng 5 trong năm và thấp nhất thường vào tháng 12, tháng 1 năm sau

Trang 34

- Giờ nắng: tổng số giờ nắng bình quân trong năm đạt từ 2.205 đến 2.704 giờ (từ năm 2011-2015) Thường các tháng mùa khô có số giờ nắng cao nhất, dao động từ 6 -

9 giờ nắng/ngày (khoảng biến thiên không chênh lệch nhiều như các tháng mùa mưa); các tháng mùa mưa có số giờ nắng thấp, từ tháng 6 đến tháng 10 số giờ nắng trung bình dao động từ 3 - 7 giờ nắng/ngày

- Độ ẩm không khí: Độ ẩm trung bình năm khoảng 80-81% (giai đoạn từ 2015), độ ẩm không khí cao nhất vào các tháng mùa mưa (78-86%) và thấp nhất vào các tháng mùa khô (74-81%)

2011 Lượng mưa: tổng lượng mưa năm giai đoạn 20112011 2015 dao động giảm từ 1.113 – 916 mm/năm Phân bố theo mùa rõ rệt, mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 11, chiếm trên 83% tổng lượng mưa cả năm Trong mùa mưa, cường

độ mưa không lớn, lượng mưa phân bố tương đối đều giữa các tháng

- Gió: chịu ảnh hưởng của gió mùa nhiệt đới, trong năm có hai mùa gió chính: Gió mùa Tây Nam thổi từ tháng 5 đến tháng 10, từ vịnh Thái Lan thổi vào mang nhiều hơi nước gây mưa; Gió mùa Đông Bắc thổi từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, hanh khô Tốc độ gió trung bình năm khoảng 3 m/s

Tỉnh An Giang hầu như không chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão, vào mùa mưa

có xảy ra hiện tượng lốc xoáy với tầng suất thấp Ngoài ra, khoảng từ tháng 8 đến tháng 11, do nước sông Mekong đổ về gây mùa nước nổi trên các khu vực đồng bằng

và gây rửa trôi xói mòn

* Đặc điểm địa hình

Địa hình tỉnh An Giang gồm 2 dạng địa hình là đồng bằng và đồi núi Địa hình đồng bằng chiếm khoảng 87% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, còn lại là 13% đồi núi nằm

ở phía Tây của tỉnh

- Địa hình đồng bằng: Có cao độ thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam với độ chênh cao 0,5 - 1 cm/km Cao trình của toàn đồng bằng biến thiên từ 0,8 m đến 3 m và được chia thành 2 vùng:

+ Vùng cù lao nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, gồm 4 huyện/thị: An Phú, Tân Châu, Phú Tân và Chợ Mới có cao trình biến thiên từ 1,3-3 m và thấp dần từ ven sông vào nội đồng

Trang 35

+ Vùng hữu ngạn sông Hậu thuộc tứ giác Long Xuyên gồm thành phố Long Xuyên, thành phố Châu Đốc, huyện Châu Phú, Châu Thành và Thoại Sơn có cao trình biến thiên từ 0,8 - 3 m và thấp dần về phía Tây

- Địa hình đồi núi: Tập trung và chiếm phần lớn diện tích tự nhiên 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên với nhiều núi có độ cao từ 300-700 m, cao nhất là núi Cấm 710 m Bao bọc chung quanh núi là đồng bằng chân núi, dạng địa hình chuyển tiếp giữa núi và đồng bằng, có cao trình từ 4-40 m và độ dốc từ 3-8º

Nhìn chung, địa hình tỉnh An Giang mang đặc trưng của vùng đồng bằng châu thổ, có hai nhánh sông lớn chảy qua là sông Tiền và sông Hậu tạo sự thuận lợi để phát triển sản xuất nông nghiệp, thủy sản

* Hệ thống sông rạch, chế độ thủy văn

- Hệ thống sông rạch

Tỉnh An Giang có hệ thống sông, kênh rạch tương đối dày đặc Hai tuyến sông lớn đi qua địa phận tỉnh là sông Hậu (dài 100 km) và sông Tiền (dài 80 km) thuộc hạ lưu sông Mekong, chi phối chế độ thủy văn nước mặt toàn tỉnh Bên cạnh đó, tỉnh còn

có các tuyến sông, kênh trục chính khác như sau:

Vùng cù lao nằm giữa sông Tiền và sông Hậu: có các sông Vàm Nao, sông Châu Đốc, Bình Di, kênh Xáng, Cái Vừng cùng hệ thống các kênh cấp 2, cấp 3 tiếp nhận nguồn nước từ sông Tiền và sông Hậu phân bố nước mặt cho địa bàn các huyện An Phú, Tân Châu, Phú Tân và Chợ Mới

Vùng hữu ngạn sông Hậu: thuộc địa phận TP Long Xuyên, TP Châu Đốc và các huyện Thoại Sơn, Châu Thành, Châu Phú, Tịnh Biên và Tri Tôn Hệ thống nước mặt tiếp nhận nguồn nước chủ yếu từ sông Hậu qua các kênh trục chính như kênh Long Xuyên, Cái Sao (Đòn Dong), Núi Chóc – Năng Gù, Cây Dương, kênh xáng Vịnh Tre, Vĩnh Tế,… Ngoài ra còn hệ thống các kênh, rạch khác thông với biển Tây qua địa phận tỉnh Kiên Giang

- Chế độ thủy văn

Chế độ thủy văn của An Giang phụ thuộc chặt chẽ chế độ nước sông Mekong và chịu ảnh hưởng của 4 yếu tố chính: chế độ thủy triều của biển đông và biển tây, chế độ dòng chảy, chế độ mưa nội đồng và đặc điểm về địa hình, hình thái kênh rạch

Trang 36

Các đặc trưng dòng triều ở An Giang:

+ Mực nước đỉnh triều và chân triều: xét trên đường mực nước giờ của trạm Long Xuyên và Châu Đốc (trên sông Hậu), Chợ Mới và Tân Châu (trên sông Tiền) thì chế độ bán nhật triều chiếm ưu thế, còn số ngày có chế độ nhật triều trong tháng hầu như không đáng kể Cứ khoảng nửa tháng có 3-5 ngày triều cường, sau đó triều giảm dần kéo dài khoảng 5-6 ngày, tiếp đó là 3-5 ngày triều lên, xuống rất yếu gọi là kỳ nước kém Các kỳ con nước ở đây lặp lại một cách tuần hoàn nhưng khác nhau về cường độ

+ Lưu lượng dòng triều: xét trong một con triều tại Tân Châu, Châu Đốc, Vàm Nao thường có hai lần nước chạy ngược và hai lần nước chảy xuôi Xong thời gian nước chảy xuôi ở cả ba tuyến đó đều lớn hơn nhiều so với thời gian nước chảy ngược

và có xu thế càng vào sâu trong nội địa thì thời gian nước chảy ngược càng giảm Thường vào đầu tháng 1, tại 3 mặt cắt trên bắt đầu có lưu lượng chảy ngược và tăng dần trong tháng 2, tháng 3 và đạt trị số lớn nhất vào tháng 4 hoặc tháng 5, sau đó lại giảm dần và bị triệt tiêu trong các tháng mùa lũ

+ Thời gian triều: lên và xuống ở các trạm Tân Châu, Châu Đốc, Long Xuyên và Chợ Mới xấp xỉ nhau, bình quân từ 4 giờ đến 5 giờ đối với triều lên và 7 giờ đến 9 giờ đối với triều xuống

+ Tốc độ truyền triều: tại tỉnh An Giang, tốc độ truyền triều dọc sông Tiền và sông Hậu xấp xỉ nhau, trong mùa kiệt khoảng 22 km/giờ, trong mùa lũ trên dưới 19 km/giờ

2.1.2.2 Diện tích nuôi cá tra

Giai đoạn 2008-2016 được xem là giai đoạn mà ngành cá tra nói chung, trong đó

có lĩnh vực nuôi cá tra thương phẩm gặp phải rất nhiều khó khăn do tác động của suy thoái kinh tế thế giới dẫn đến sức mua suy giảm, cùng với đó là những mâu thuẫn trong quan hệ sản xuất đưa đến sự phát triển không bền vững của ngành trong thời gian qua Diện tích mặt nước nuôi cá tra của An Giang liên tục giảm với tốc độ giảm bình quân 8,3%/năm, từ 1.392 ha mặt nước năm 2008 còn 694 ha hiện nay Sự suy giảm diện tích nuôi cũng diễn ra ở tất cả các huyện, thị xã và thành phố có nuôi cá tra thuộc tỉnh (Báo cáo quy hoạch chi tiết nuôi, chế biến cá tra tỉnh An Giang đến năm

2020, định hướng đến năm 2030)

Trang 37

(Nguồn: Báo cáo quy hoạch chi tiết nuôi, chế biến cá tra tỉnh An Giang đến năm 2020, định hướng đến năm 2030)

Hình 2.3: Diễn biến diện tích nuôi cá tra tỉnh An Giang 2008-2016

Năm 2008, sản xuất cá tra tại ĐBSCL đã rơi vào tình trạng khủng hoảng thừa, tiêu thụ khó khăn làm không ít người nuôi thua lỗ, không còn khả năng tiếp tục sản xuất, diện tích thu hoạch cá tra của tỉnh đạt 1.913 ha (1.392 ha diện tích mặt nước) Giai đoạn 2009-2012, giá cá liên tục giảm; chi phí đầu vào như thức ăn, nhiên vật liệu tăng cao nên đa số các hộ nhỏ lẽ nuôi đều không có lãi đã bỏ ao, dẫn đến hiện tượng giảm mạnh diện tích nuôi từ 1.739 ha năm 2009 (với 1.118 ha mặt nước) xuống chỉ còn 1.331 ha năm 2012 (với 831 ha mặt nước), giảm hơn 400 ha (diện tích mặt nước giảm gần 300 ha) Đến giai đoạn 2012-2016, cá Tra nguyên liệu có giá bán rất thấp, các hộ vay vốn nuôi cá bị lỗ, doanh nghiệp cũng gặp khó khăn như thu hẹp quy mô sản xuất do đơn đặt hàng thấp, thiếu vốn, do đó, mặc dù diện tích nuôi có giảm nhưng giảm không đáng kể, từ 1.331 ha năm 2012 (với 831 ha mặt nước) giảm xuống còn 1.153 ha nuôi năm 2016 (với 694 ha mặt nước) Nhìn chung, giai đoạn 2008-2016 là giai đoạn sụt giảm mạnh của diện tích nuôi cá Tra trên địa bàn tỉnh An Giang (bình quân diện tích nuôi giảm 6,1%/năm, và diện tích mặt nước giảm bình quân 8,3%/năm), trong đó, giá cá Tra nguyên liệu là nguyên nhân chính tác động sự sụt giảm này (Báo cáo quy hoạch chi tiết nuôi, chế biến cá tra tỉnh An Giang đến năm

2020, định hướng đến năm 2030)

Trang 38

Trong giai đoạn 2008-2016, theo xu hướng chung, diện tích nuôi của các địa phương trên địa bàn tỉnh có xu hướng sụt giảm, tuy nhiên, trong giai đoạn 2009-2012 lại có sự khác biệt trong nội bộ huyện/thị/thành khi có sự tăng trưởng nhẹ diện tích nuôi tại Tp Long Xuyên, các huyện Chợ Mới, An Phú, Thoại sơn, Châu Thành và Châu Phú (Báo cáo quy hoạch chi tiết nuôi, chế biến cá tra tỉnh An Giang đến năm

2020, định hướng đến năm 2030)

2.1.2.3 Năng suất, sản lượng và giá trị sản xuất nuôi cá tra

- Sản lượng: Mặc dù trong giai đoạn 2008-2016, diện tích nuôi cá Tra tỉnh An

Giang giảm tương đối lớn, nhưng sản lượng nuôi cá Tra lại có mức sụt giảm thấp hơn với tốc độ 0,47%/năm, do trình độ chuyên môn của các cơ sở nuôi đã được nâng cao, tăng năng suất, từ 141 tấn/ha (năm 2008) tăng dần lên và đạt 202 tấn/ha vào năm 2016 (Báo cáo quy hoạch chi tiết nuôi, chế biến cá tra tỉnh An Giang đến năm 2020, định hướng đến năm 2030)

(Nguồn: Báo cáo quy hoạch chi tiết nuôi, chế biến cá tra tỉnh An Giang đến năm 2020, định hướng đến năm 2030)

Hình 2.4: Diễn biến sản lượng và năng suất nuôi cá tra An Giang năm 2008-2016

Trang 39

Sản lượng thu hoạch đến cuối năm 2016 là 259.323 tấn, phần lớn sản lượng nuôi tập trung chủ yếu ở các huyện Chợ Mới (đạt 64.640 tấn, chiếm 24,93% tổng sản lượng nuôi cá Tra trên địa bàn tỉnh), Châu Thành (đạt 46.601 tấn, chiếm 17,97%), Tp Long Xuyên (đạt 43.939 tấn, chiếm 16,94%) và Châu Phú (đạt 41.941 tấn, chiếm 16,17%) Các huyện Thoại Sơn và Phú Tân có sản lượng đạt từ 20.340 tấn (huyện Phú Tân, chiếm 7,84%) đến 27.760 tấn (huyện Thoại Sơn, chiếm 10,70%) Tp Châu Đốc, Tx Tân Châu, An Phú có sản lượng năm 2016 đạt thấp (Báo cáo quy hoạch chi tiết nuôi, chế biến cá tra tỉnh An Giang đến năm 2020, định hướng đến năm 2030)

(Nguồn: Báo cáo quy hoạch chi tiết nuôi, chế biến cá tra tỉnh An Giang đến năm 2020, định hướng đến năm 2030)

Hình 2.5: Cơ cấu sản lượng nuôi cá tra tỉnh An Giang năm 2016

- Năng suất: Trong giai đoạn 2008-2016 năng suất trung bình nuôi cá Tra của

tỉnh dao động 141-202 tấn/ha, năng suất nuôi cá Tra không đều giữa các huyện, thị xã, thành phố; trong đó năng suất nuôi cao nhất là Tp Long Xuyên và Châu Thành với

233 tấn/ha, kế đến là Châu Phú với 221 tấn/ha TX Tân Châu và các huyện Phú Tân, Chợ Mới và Thoại Sơn đều có năng suất đạt trên 190 tấn/ha; huyện An Phú và Tp Châu Đốc chỉ đạt từ 120-140 tấn/ha Điều này cho thấy truyền thống, hình thức và tổ chức sản xuất nuôi ở các huyện tác động rất lớn đến năng suất nuôi của từng địa phương (Báo cáo quy hoạch chi tiết nuôi, chế biến cá tra tỉnh An Giang đến năm 2020, định hướng đến năm 2030)

Trang 40

(Nguồn: Báo cáo quy hoạch chi tiết nuôi, chế biến cá tra tỉnh An Giang đến năm 2020, định hướng đến năm 2030)

Hình 2.6: Năng suất bình quân nuôi cá tra tại các địa phương trong tỉnh An Giang

năm 2016

- Giá trị sản xuất: Giá trị sản xuất cá Tra thương phẩm tỉnh An Giang trong giai

đoạn 2008-2016 theo giá hiện hành đạt 5.386 tỷ đồng (tăng bình quân 3,66%/năm) và theo giá so sánh năm 2010 đạt 4.354 tỷ đồng (có xu hướng giảm 0,10%/năm) (Báo cáo quy hoạch chi tiết nuôi, chế biến cá tra tỉnh An Giang đến năm 2020, định hướng đến năm 2030)

Bảng 2.1: Giá trị sản xuất cá tra thương phẩm tỉnh An Giang năm 2008-2016

Ngày đăng: 22/02/2018, 19:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm