Việc giải quyết các tranh chấp về kinh doanh, thương mại tại Tòa án trước bối cảnh quan hệ tranh chấp phát sinh ngày càng nhiều, quy mô càng lớn, tính chất, mức độ càng phức tạp, đòi hỏi
Trang 1TRẦN MINH TRÍ
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG XÉT XỬ TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ
CÀ MAU TỈNH CÀ MAU
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017
Trang 2TRẦN MINH TRÍ
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG XÉT XỬ TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên Trần Minh Trí mã số học viên: 7701251062A là học viên lớp
LOP_K25_MBL_CaMau; Khóa K25-2 chuyên ngành Luật kinh tế, Khoa Luật,
Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh, là tác giả của Luận văn thạc sĩ luật học
với đề tài “Hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao chất lượng xét xử tranh chấp
kinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau tỉnh Cà Mau”
(sau đây gọi tắt là “Luận văn”)
Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung được trình bày trong Luận văn này là
kết quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn
khoa học Trong Luận văn có sử dụng, trích dẫn một số ý kiến, quan điểm khoa học
của một số tác giả Các thông tin này đều được trích dẫn nguồn cụ thể, chính xác và
có thể kiểm chứng Các số liệu, thông tin được sử dụng trong Luận văn là hoàn toàn
khách quan và trung thực
Học viên thực hiện
Trần Minh Trí
Trang 4Chương 3: Hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao chất lượng xét xử tranh chấp
kinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau 37
3.1 Yêu cầu, nhiệm vụ cải cách tư pháp đến 2020 37
3.1.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật 37
3.1.2 Hoàn thiện bộ máy hoạt động, tổ chức biên chế 39
3.1.3 Xây dựng đội ngũ cán bộ, nâng cao chất lượng xét xử 39
3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng xét xử 40
3.2.1 Nhóm giải pháp về nghiệp vụ 40
3.2.2 Nhóm giải pháp đào tạo, nâng cao trình độ, năng lực Thẩm phán và trách nhiệm của người đứng đầu 43
3.2.3 Nhóm giải pháp đổi mới hoạt động của Tòa án 46
KẾT LUẬN 49 DANH MỤC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: Quy định của pháp luật về Thẩm phán và xét xử 5
1.1 Các quy định pháp luật về Thẩm phán 5
1.1.1 Khái niệm Thẩm phán 5
1.1.2 Phân loại Thẩm phán 6
1.1.3 Tiêu chuẩn và điều kiện bổ nhiệm Thẩm phán 7
1.1.4 Trình tự, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán 8
1.2 Các quy định pháp luật về xét xử 9
1.2.1 Xét xử là chức năng, nhiệm vụ của Tòa án do Thẩm phán thực hiện 9
1.2.2 Xét xử một hoạt động nghề nghiệp đặc thù của Thẩm phán 10
1.2.3 Quy định của pháp luật về xét xử tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân 11
1.3 Mối quan hệ giữa chất lượng Thẩm phán và chất lượng xét xử 14
1.3.1 Quy định của pháp luật về đánh giá chất lượng Thẩm phán 14
1.3.2 Quy định của pháp luật về chất lượng xét xử 16
1.3.3 Chất lượng của Thẩm phán quyết định chất lượng xét xử 18
1.3.4 Những yếu tố khác ảnh hưởng đến chất lượng xét xử 18
Chương 2: Thực trạng xét xử tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau 20
2.1 Khái quát về Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau 20
2.2 Thực trạng tổ chức bộ máy của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau 20
2.2.1 Tổ chức bộ máy: Trước năm 2014, Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau có cơ cấu là đơn vị cơ sở gồm: Chánh án, các Phó Chánh án, Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án và biên chế cán bộ khác 20
2.2.2 Biên chế, chức danh tư pháp 21
2.2.3 Trình độ năng, lực của đội ngũ cán bộ 22
2.2.4 Chất lượng của đội ngũ Thẩm phán 23
2.3 Thực trạng xét xử tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau 24
2.3.1 Kết quả giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại 25
2.3.2 Những hạn chế, bất cập ảnh hưởng đến chất lượng xét xử 33
Trang 6DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 Luật tổ chức TAND 2014
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 BLTTDS 2015
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đổi mới phát triển đất nước với nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng hội nhập quốc tế là tất yếu, phù hợp với xu thế thời đại Đổi mới kinh tế gắn liền với đổi mới chính trị, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, trong đó có đổi mới nền tư pháp, hoàn thiện hệ thống pháp luật, đẩy mạnh cải cách tư pháp, lấy Tòa án làm trung tâm, hoạt động xét xử là trọng tâm …
đó chính là những mục tiêu, chiến lược lớn của Đảng, Nhà nước trong giai đoạn hiện nay
Phát triển kinh tế thị trường, mở rộng giao lưu kinh tế, hội nhập quốc tế sâu rộng, kéo theo mặt trái của xã hội là làm phát sinh ngày càng nhiều các tranh chấp trong giao lưu dân sự, kinh doanh, thương mại không chỉ giới hạn trong phạm vi địa phương, vùng, quốc gia mà có cả tranh chấp ở tầm khu vực và quốc tế
Để giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại, pháp luật quy định có nhiều kênh khác nhau, trong đó có thủ tục tố tụng giải quyết tại Tòa án là một kênh quan trọng, giải pháp cuối cùng khi thủ tục hòa giải, thủ tục trọng tài không phát huy tác dụng
Việc giải quyết các tranh chấp về kinh doanh, thương mại tại Tòa án trước bối cảnh quan hệ tranh chấp phát sinh ngày càng nhiều, quy mô càng lớn, tính chất, mức độ càng phức tạp, đòi hỏi ngày càng cao vai trò, trách nhiệm, năng lực của những người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ xét xử, đó chính là Thẩm phán Tòa án nhân dân
Quan điểm của Đảng về phương hướng, nhiệm vụ cải cách tư pháp đến năm
2020 xác định: Tòa án có vị trí trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm; xây dựng đội ngũ cán bộ có chức danh tư pháp theo hướng đề cao quyền hạn, trách nhiệm pháp lý, nâng cao và cụ thể hóa tiêu chuẩn chính trị, phẩm chất, đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm, kiến thức xã hội
Từ năm 2013 đến nay, đẩy mạnh cải cách tư pháp, hàng loạt các đạo luật lớn
ở nước ta đã có sự thay đổi như: Hiến pháp, Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Bộ luật dân sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Luật doanh nghiệp Điều này đã làm thay đổi sâu sắc đến bộ máy, tổ chức, hoạt động của Tòa án, nâng cao vai trò, trách nhiệm của Thẩm phán, chất lượng của xét xử Thực tế cho thấy, một số quy định của pháp về hoàn thiện tổ chức bộ máy, xây dựng đội ngũ Thẩm phán và chức năng, nhiệm vụ
Trang 8xét xử của Tòa án chưa đồng bộ, đầy đủ Dẫn đến một bộ phận Thẩm phán bộc lộ
sự yếu kém, bất cập về trình độ chuyên môn, năng lực xét xử nên còn vi phạm tố tụng, áp dụng pháp luật không đúng, số lượng và chất lượng xét xử, giải quyết án chưa cao, chưa đạt yêu cầu Đây là vấn đề đang cản trở định hướng về cải cách tư pháp
Bản thân là người làm công tác thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của công cuộc cải cách tư pháp; vai trò, vị trí, yêu cầu nhiệm vụ mới đang đặt ra đối với đội ngũ cán bộ chức danh tư pháp; những hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật về công tác xét
xử, nhất là xét xử tranh chấp kinh doanh, thương mại Qua đó mong muốn tìm giải pháp hoàn thiện pháp luật, đổi mới hoạt động, nâng cao hiệu quả, chất lượng đội ngũ cán bộ, chất lượng công tác xét xử, thiết nghĩ đó là việc làm chính đáng và cần thiết
Từ lý do trên, người viết chọn đề tài “Hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao chất lượng xét xử tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau tỉnh Cà Mau”, với mục đích giải quyết vấn đề đang đặt ra của cải cách
tư pháp là xây dựng hoàn thiện đội ngũ cán bộ Thẩm phán trong sạch, vững mạnh, giỏi nghiệp vụ, đảm bảo thực hiện tốt chức năng xét xử, giải quyết có hiệu quả, đạt chất lượng đối với các loại án, trong đó có án tranh chấp kinh doanh, thương mại, lĩnh vực rộng có nhiều vấn đề và quan hệ tranh chấp mới phát sinh
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Mặc dù đã có nhiều công trình của các tác giả nghiên cứu về nâng cao chất lượng xét xử tranh chấp kinh doanh, thương mại ở các góc độ đề cập khác nhau nhưng phần đông là khai thác ở khía cạnh hoàn thiện các quy định của pháp luật về
tố tụng, giải quyết án Đề tài này người viết tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật có ảnh hưởng đến chất lượng Thẩm phán và chất lượng xét xử, để giải quyết các vấn đề thực tiễn vướng mắc, khắc phục những hạn chế, yếu kém, nâng cao chất lượng trong xét xử tranh chấp kinh doanh, thương mại của Thẩm phán Tòa
án nhân dân thành phố Cà Mau
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu những quy định của pháp luật về Thẩm phán và công tác xét xử, khảo sát thực tiễn kết quả và chất lượng giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau Từ đó đánh giá đúng
Trang 9những mạnh, yếu, thuận lợi, khó khăn, đề ra giải pháp khả thi góp phần thúc đẩy hoàn thiện pháp luật, cơ chế, mô hình tổ chức hoạt động, xây dựng, phát triển của đơn vị, rộng hơn là xây dựng ngành đảm bảo thành tốt hơn chức trách, nhiệm vụ chính trị được giao, ngang tầm trong thời đại mới
Quá trình nghiên cứu luận văn sẽ giải quyết về đề xoay quanh các câu hỏi nghiên cứu như:
Quy định của pháp luật về Thẩm phán và xét xử; chất lượng Thẩm phán và chất lượng xét xử tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án hiện nay?
Thực trạng chất lượng xét xử và bất cập vướng mắc trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau?
Giải pháp để nâng cao chất lượng xét xử tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau?
4 Đối tƣợng, phạm vi, mục tiêu nghiên cứu
Luận văn sẽ đề cập nghiên cứu các vấn đề lý luận, các quy định của pháp luật về Thẩm phán và xét xử; các yêu tố ảnh hưởng đến chất lượng xét xử, trong đó chất lượng Thẩm phán là yếu tố giữ vai trò quyết định đối với chất lượng xét xử
Tòa án nhân dân tối cao đã và đang tiếp tục nhanh chóng nghiên cứu ban hành nhiều văn bản quy định để thực hiện tinh thần đổi mới theo Hiến pháp và Luật
tổ chức Tòa án nhân dân Quá trình thực hiện yêu cầu, nhiệm vụ mới của ngành đặt
ra cho Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn cần phải tiếp tục có sự nghiên cứu đổi mới Trong đó có vấn đề xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ Thẩm phán, chất lượng xét xử các loại án
Phạm vi đề tài không thể chuyển tải được hết vấn đề hoàn thiện pháp luật và các hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân, chỉ nghiên cứu ở góc độ hẹp đó là nâng cao chất lượng xét xử tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau Trong đó trọng tâm nghiên cứu làm rõ yếu tố cốt lõi, giữ vai trò quyết định đến chất lượng xét xử chính là chất lượng của Thẩm phán Tòa án
Mục tiêu hướng tới của kết quả nghiên cứu nhằm đánh giá đúng thực trạng chất lượng của Thẩm phán, chất lượng giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại đơn vị Nhận diện biết chính xác những mặt mạnh, yếu; các thuận lợi, khó khăn, các vấn đề cần tiếp tục phát huy hay phải cải thiện, sửa đổi Từ đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị, đề xuất bổ sung, sửa đổi pháp luật, cơ chế, mô hình hoạt động góp phần nâng cao chất lượng xét xử tranh chấp kinh doanh, thương mại Trong đó
Trang 10trước nhất là nâng cao chất lượng đội ngũ Thẩm phán những người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ xét xử
Mong muốn đề tài nghiên cứu sẽ góp phần cùng Tòa án nhân dân thành phố
Cà Mau có cơ sở lý luận, thực tiễn vận dụng trong quản lý, điều hành và thực thi hoạt động xét xử nói chung, xét xử tranh chấp kinh doanh, thương mại tại đơn vị nói riêng ngày một tốt hơn Đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để đơn vị thực hiện hoàn thành tốt nhiệm vụ cải cách tư pháp trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp sử dụng trong nghiên cứu là định tính, với kỹ thuật nghiên cứu gồm: thống kê, tổng hợp, so sánh, phân tích, suy luận, dự đoán … Trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác xít
Khung lý thuyết nghiên cứu chủ yếu là các quy định của pháp luật ảnh hưởng đến chất lượng xét xử tranh chấp kinh doanh thương mại và chất lượng của Thẩm phán
Tài liệu nghiên cứu, tham khảo là Nghị quyết của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, những quy định của ngành Tòa án nhân dân, kết quả đánh giá phân loại cán bộ hàng năm và báo cáo công tác xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau qua các năm 2014, 2015, 2016
Trang 11Chương 1: Quy định của pháp luật về Thẩm phán và xét xử
Hiến pháp năn 2013 (viết tắt là Hiến pháp 2013) quy định: “Tòa án nhân dân
là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền
tư pháp Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân” 1
Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 (viết tắt là Luật tổ chức TAND
2014) quy định: “Tòa án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xét
xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật” 2
Hiến pháp 2013 và Luật tổ chức TAND 2014 cũng ghi nhận việc xét xử của
Tòa án do Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân thực hiện theo các nguyên tắc “Xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn” và
“Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” 3
Với các quy định trên cho thấy, Tòa án là cơ quan tư pháp có tính đặc thù nhân danh Nhà nước thực hiện chức năng xét xử và hoạt động xét xử do Thẩm phán thực hiện
Với khái niệm này cho thấy Thẩm phán có 03 đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất: Thẩm phán phải là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện do Luật tổ chức TAND 2014 quy định
Thứ hai: Thẩm phán phải là người được Chủ tịch nước bổ nhiệm để làm nhiệm vụ xét xử
1 Điều 102 Hiến pháp 2013
2 Điều 2 Luật tổ chức TAND 2014
3 Điều 103 Hiến pháp 2013, Điều 9 và Điều 10 Luật tổ chức TAND 2014
2 Điều 2 Luật tổ chức TAND 2014
3 Điều 103 Hiến pháp 2013, Điều 9 và Điều 10 Luật tổ chức TAND 2014
4 Điều 65 Luật tổ chức TAND 2014
Trang 12Thứ ba: Thẩm phán là người được trao quyền nhân danh Nhà nước thực hiện nhiệm vụ xét xử
Ngoài ra, theo Quy chế xử lý trách nhiệm người giữ chức danh tư pháp, ban hành kèm theo Quyết định số 120/QĐ-TANDTC ngày 19/6/2017 của Chánh án Tòa
án nhân dân tối cao giải thích: “Người giữ chức danh tư pháp trong Tòa án nhân dân bao gồm: Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán, Thẩm tra viên và Thư ký Tòa án” 5
Từ quy định trên cho ta rút ra kết luận: Thẩm phán là từ dùng để chỉ người giữ chức danh tư pháp trong cơ quan Tòa án nhân dân Thẩm phán là người có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của Luật tổ chức TAND được Chủ tịch nước bổ nhiệm để thực hiện nhiệm vụ xét xử Những người khác tuy làm việc trong Tòa án nhân dân, có tham gia vào hoạt động xét xử, nhưng thiếu tiêu chuẩn, điều kiện và chưa được Chủ tịch nước bổ nhiệm để làm công tác xét xử thì không phải là Thẩm phán Ví dụ như: Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, các cán bộ khác trong biên chế Tòa
án nhân dân
1.1.2 Phân loại Thẩm phán
Hệ thống Tòa án ở nước ta hiện có 04 cấp đó là: Tòa án nhân dân tối cao; Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án quân sự trung ương; Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Tòa án quân sự quân khu và tương đương; Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương, Tòa án quân sự khu vực Tương ứng với các cấp Tòa án có các ngạch Thẩm phán là: Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán cao cấp, Thẩm phán trung cấp và Thẩm phán sơ cấp 6
Trong đó tại Tòa án nhân dân tối cao có Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Tại Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án quân sự trung ương có Thẩm phán cao cấp Tại Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Tòa án quân sự quân khu và tương đương có Thẩm phán cao cấp và Thẩm phán trung cấp Tại Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương, Tòa án quân sự khu vực có Thẩm phán trung cấp và Thẩm phán sơ cấp 7
Chỉ có Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì nhiệm kỳ bổ nhiệm không có thời hạn và thời gian làm việc đến hết 65 tuổi Còn lại nhiệm kỳ đầu của Thẩm phán
5 Điều 2 Quy chế xử lý trách nhiệm người giữ chức danhh tư pháp
6 Điều 3, Điều 50, Điều 66 Luật tổ chức TAND 2014
7 Điều 66 Luật tổ chức TAND 2014
Trang 13khi bổ nhiệm là 05 năm Trường hợp được bổ nhiệm lại hoặc được bổ nhiệm vào ngạch Thẩm phán khác thì nhiệm kỳ tiếp theo là 10 năm 8
1.1.3 Tiêu chuẩn và điều kiện bổ nhiệm Thẩm phán
Theo quy định của Luật tổ chức TAND 2014 tiêu chuẩn của Thẩm phán bao gồm: (i) Là công dân Việt Nam, trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tinh thần dũng cảm và kiên quyết bảo vệ công lý, liêm khiết và trung thực (ii) Có trình độ cử nhân luật trở lên (iii) Đã được đào tạo nghiệp vụ xét xử (iv) Có thời gian làm công tác thực tiễn pháp luật (v) Có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao 9
Điều kiện chung để được bổ nhiệm Thẩm phán là phải: (i) Có thời gian làm công tác pháp luật nhất định, tùy theo từng ngạch Thẩm phán mà thời gian làm công tác pháp luật dài ngắn khác nhau (ii) Có năng lực xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định của luật tố tụng tương ứng với từng cấp xét xử (iii) Đã trúng tuyển kỳ thi tuyển chọn Thẩm phán (iv) Riêng đối với Thẩm phán Tòa án quân sự các cấp thì còn có điều kiện phải là sỹ quan quân đội tại ngũ Tùy từng ngạch Thẩm phán pháp luật quy định điều kiện khác nhau 10
Ví dụ: Thẩm phán sơ cấp có thời gian làm công tác pháp luật từ 05 năm trở lên và đã trúng tuyển kỳ thi tuyển chọn Thẩm phán sơ cấp Thẩm phán trung cấp thì
đã là Thẩm phán sơ cấp từ đủ 05 năm trở lên và đã trúng tuyển kỳ thi nâng ngạch Thẩm phán trung cấp Thẩm phán cao cấp thì đã là Thẩm phán trung cấp từ đủ 05 năm trở lên và đã trúng tuyển kỳ thi nâng ngạch Thẩm phán cao cấp Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì phải đã là Thẩm phán cao cấp từ đủ 05 năm trở lên và không phải qua kỳ thi tuyển nâng ngạch Thẩm phán
Ngoài ra có một số trường hợp cá biệt như sau: (i) Trường hợp do nhu cầu cán bộ của Tòa án nhân dân, những người chưa là Thẩm phán sơ cấp nhưng đã tham gia công tác pháp luật từ 13 năm trở lên và có đủ các điều kiện của Thẩm phán trung cấp thì có thể được tuyển chọn, bổ nhiệm làm Thẩm phán trung cấp (ii) Những người chưa là Thẩm phán trung cấp nhưng đã tham gia công tác pháp luật từ
18 năm trở lên và có đủ các điều kiện của Thẩm phán cao cấp thì có thể được tuyển
8 Điều 74 Luật tổ chức TAND 2014
9 Điều 67 Luật tổ chức TAND 2014
10 Điều 68 Luật tổ chức TAND 2014
Trang 14chọn, bổ nhiệm làm Thẩm phán cao cấp (iii) Trường hợp đặc biệt, người được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền điều động đến để đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương, tuy chưa đủ thời gian làm công tác pháp luật nhưng có đủ tiêu chuẩn và điều kiện còn lại thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán sơ cấp, Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán cao cấp Những đối tượng này không phải qua kỳ thi tuyển thẩm phán (iv) Người không công tác tại các Tòa án nhưng giữ chức vụ quan trọng trong các
cơ quan, tổ chức trung ương, am hiểu sâu sắc về pháp luật, chính trị, kinh tế, văn hóa,, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao hoặc là những chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành về pháp luật, giữ chức vụ quan trọng trong các cơ quan, tổ chức và
có uy tín cao trong xã hội, có năng lực xét xử các vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tối cao theo quy định của luật tố tụng thì có thể được tuyển chọn, bổ nhiệm làm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao 11
1.1.4 Trình tự, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán
Xuất phát từ quy định đổi mới trong công tác tuyển chọn, bổ nhiệm Thẩm phán phải qua thi tuyển, nên quy trình, trình tự, thủ tục bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán cũng có nhiều thay đổi
Theo trước đây Thẩm phán không phải qua kỳ thi tuyển nên việc tuyển chọn,
bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức chỉ quy định trình tự, thủ tục do Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán địa phương phê duyệt Ở mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đều có Hội đồng tuyển chọn, bổ nhiệm Thẩm phán, thực hiện nhiệm vụ xét duyệt hồ sơ của người có đủ điều kiện, tiêu chuẩn được chọn bổ nhiệm Thẩm phán Hiện tại các địa phương không còn Hội đồng tuyển chọn, bổ nhiệm Thẩm phán mà tất cả đều tập trung về một đầu mối là Hội đồng tuyển chọn, giám sát Thẩm phán quốc gia
Theo Luật tổ chức TAND 2014 quy định tại Tòa án nhân dân tối cao có Hội đồng thi tuyển chọn Thẩm phán, thực hiện nhiệm vụ tổ chức các kỳ thi tuyển Thẩm phán các cấp Hội đồng tuyển chọn, giám sát Thẩm phán quốc gia, thực hiện nhiệm
vụ xem xét tuyển chọn người đủ tiêu chuẩn, điều kiện làm Thẩm phán để đề nghị
Trang 15Chánh án Tòa án nhân dân tối cao trình Quốc hội phê chuẩn bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; trình Chủ tịch nước quyết định bổ nhiệm Thẩm phán các Tòa án khác Xem xét việc miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán theo quy định của pháp luật để đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao trình Quốc hội phê chuẩn đề nghị miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; trình Chủ tịch nước quyết định miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán các Tòa án khác Các Hội đồng này đều do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao làm Chủ tịch hội đồng 12
Trình tự, thủ tục, mẫu hồ sơ bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán thực hiện theo quy định thống nhất chung toàn quốc được ban hành kèm theo Quyết định số 866/QĐ-TANDTC ngày 13 tháng 7 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
Ngoài ra, Thẩm phán cũng là một công chức nhà nước nên được quy định về chế độ đãi ngộ, phải có trách nhiệm với đất nước, nghề nghiệp và công việc; phải chấp hành nghiêm chỉnh những điều quy định Thẩm phán không được làm; phải thực hiện chế độ điều động, luân chuyển, biệt phái cán bộ như những công chức nhà nước khác 13
Tóm lại: Thẩm phán là công chức nhà nước, công tác tại cơ quan Tòa án nhân dân, đó là người có đủ điều kiện, tiêu chuẩn được Chủ tịch nước bổ nhiệm để thực hiện nhiệm vụ xét xử Thẩm phán là chức danh tư pháp đặc thù bởi lẽ tiêu chuẩn, điều kiện, trình tự thủ tục tuyển chọn, bổ nhiệm đều có tính đặc thù riêng biệt khác với cán bộ công chức nhà nước khác Việc Thẩm phán do Chủ tịch nước
bổ nhiệm để làm nhiệm vụ xét xử cũng là yếu tố đặc thù Ngay cả nhiệm vụ xét xử của Thẩm phán cũng là nhiệm vụ đặc thù thuộc chức năng nhiệm vụ riêng biệt của Tòa án nhân dân mà các cơ quan, tổ chức khác không có
1.2 Các quy định pháp luật về xét xử
1.2.1 Xét xử là chức năng, nhiệm vụ của Tòa án do Thẩm phán thực hiện
Chức năng cơ bản, đặt thù của Tòa án nhân dân là hoạt động xét xử Chỉ có Tòa án mới có quyền xét xử phán quyết một người có tội hay không có tội, một chủ thể đúng hay sai, có quyền và nghĩa vụ gì khi tham gia vào các quan hệ tranh chấp trong đời sống dân sự, kinh tế, hành chính Phán quyết của Tòa án là nhân danh Nhà nước có tính bắt buộc phải thực hiện đối với cá nhân, tổ chức bị xét xử
12 Các Điều 70, 71, 73, 81, 82, 83 Luật tổ chức TAND 2014
13 Từ Điều 75 đến Điều 80 Luật tổ chức TAND 2014.,
Trang 16Luật tổ chưc TAND 2014 quy định: “Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 2 của Luật này và các luật có liên quan” 14 Trong khi đó Điều 2 của Luật tổ chức TAND 2014 là điều luật quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân Một trong những chức năng, nhiệm vụ quan trọng đặc trưng của Tòa án nhân dân mà Thẩm phán được thực hiện đó là: (i) Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân (ii) Tòa án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động hành chính và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật; xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình tố tụng; căn cứ vào kết quả tranh tụng ra bản án, quyết định việc có tội hoặc không có tội, áp dụng hoặc không áp dụng hình phạt, biện pháp tư pháp, quyết định về quyền và nghĩa vụ về tài sản, quyền nhân thân Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành Ngoài ra trong xét xử đối với từng loại án, Tòa án nhân dân còn có các quyền hạn cụ thể, riêng biệt khác Ví dụ: Quyền xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính và thực hiện các quyền hạn khác theo quy định của luật tố tụng 15 Theo quy định này cho thấy Thẩm phán là người đại diện cho Tòa án thực hiện chức năng xét xử, thực hiện quyền tư pháp của Tòa án Trong biên chế cán bộ của Tòa án có nhiều cán bộ làm nhiệm vụ khác nhau như: Công tác nghiệp vụ, công tác hành chính, công tác nghiên cứu khoa học, công tác tổ chức, thanh tra Song vai trò quan trọng nhất vẫn là Thẩm phán, những người trực tiếp làm công tác xét xử, người có nhiệm vụ, quyền hạn đặc thù, thực hiện chức năng xét xử của Tòa án
1.2.2 Xét xử một hoạt động nghề nghiệp đặc thù của Thẩm phán
Hiến pháp, Luật tổ chức TAND và pháp luật tố tụng ở nước ta đều quy định thống nhất nhau việc xét xử của Tòa án nhân dân là do Thẩm phán, Hội thẩm nhân
14 Điều 65 Luật tổ chức TAND 2014
15 Điều 2 Luật tổ chức TAND 2014
Trang 17dân thực hiện 16 Đây là những người đại diện Tòa án nhân dân, nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để thực hiện hoạt động xét xử Do đó trong quá trình thực hiện nhiệm vụ xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm phải được độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Vì vậy, độc lập xét xử của Thẩm phán đã trở thành một nguyên tắc cốt lõi trong hoạt động xét xử của Tòa án được hiến định và cụ thể hóa ở
nhiều Bộ luật, Luật khác nhau: “Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm” 17
Tính đặc thù trong hoạt động nghề nghiệp của Thẩm phán thể hiện ở: (i) Tính chất công việc xét xử phải tuân thủ theo trình tự, thủ tục tố tụng nghiêm ngặt
do pháp luật quy định, các cơ quan nhà nước khác không có Trình tự, thủ tố tụng này được thực hiện từ khi nhận đơn khởi kiện, thụ lý vụ án, nghiên cứu hồ sơ, thu thập chứng cứ, hòa giải, xét xử và cả hiệu lực thi hành của bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án (ii) Tính đặc thù thể hiện ở tính độc lập trong hoạt động xét xử của Thẩm phán Nguyên tắc Thẩm phán độc lập xét xử và chỉ tuân theo pháp luật được hiểu: Khi xét xử Thẩm phán phải tự mình thực hiện nhiệm vụ, phải dựa trên chứng cứ và những quy định của pháp luật để tự đưa ra quyết định về vụ án mà không phụ thuộc vào bất cứ sự tác động nào khác (iii) Hoạt động xét xử của Thẩm phán có tính đặc thù bởi lẽ: để thực hiện nhiệm vụ xét xử, Thẩm phán phải nghiên cứu hồ sơ vụ án, trên cơ sở xác định các chứng cứ có trong hồ sơ, thông qua kết quả xét hỏi kiểm tra chứng cứ, tranh tụng tại phiên tòa, đối chiếu với những quy định của pháp luật, nhằm tìm ra cái đúng, cái sai, cái chân lý trong từng vụ việc cụ thể
mà đưa ra quyết định phán quyết Từ đó để giải quyết đúng đắng vụ án, Thẩm phán phải có hiểu biết pháp luật sâu sắc, phải có kinh nghiệm, kỹ năng nghiệp vụ tốt, có hiểu biết rộng về nhiều mặt của đời sống xã hội và quan trọng hơn là phải có đạo đức trong sáng, có tâm và có tầm …
1.2.3 Quy định của pháp luật về xét xử tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân
Kinh doanh theo cách hiểu thông thường là tổ chức mua bán để thu lợi nhuận Theo Luật doanh nghiệp kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm
16 Điều 103 Hiến pháp 2013; Điều 8, Điều 65 Luật tổ chức TAND 2014; Điều 12 Bộ luật TTDS 2015
17 Điều 103 Hiến pháp 2013
Trang 18hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi 18 Như vậy, kinh doanh là tất cả các hoạt động từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ nhằm mục đích sinh lời
Thương mại được hiểu đơn giản là việc buôn bán Theo Luật thương mại: Hoạt động kinh doanh, thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác 19
Tranh chất kinh doanh, thương mại là những mâu thuẫn (bất đồng hoặc xung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình thực hiện các hoạt động kinh doanh, thương mại Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại là trình tự, thủ tục do pháp luật quy định cho cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết, phân định đúng, sai của các chủ thể khi có xảy ra tranh chấp trong kinh doanh, thương mại
Pháp luật Việt Nam quy định giải quyết tranh chấp thương mại bằng nhiều kênh ngoài tố tụng như: Thương lượng, Hòa giải; thông qua tố tụng gồm: Tố tụng trọng tài và Tố tụng Tòa án 20 Việc xét xử án kinh doanh, thương mại tại Tòa án được quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự
Bộ luật tố tụng Dân sự quy định các tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc Thẩm quyền xét xử của Tòa án bao gồm:
“1 Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và điều có mục đích lợi nhuận
2 Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân,
tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận
3 Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên của công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty
4 Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị Giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sát nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty
18 Điều 4 Luật doanh nghiệp năm 2014
19 Điều 3 Luật thương mại năm 2005
20 Điều 317 Luật thương mại năm 2005
Trang 195 Các tranh chấp khác về kinh doanh thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật” 21
Đối với những yêu cầu về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án bao gồm:
“1 Yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông, nghị quyết của Hội đồng thành viên theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp
2 Yêu cầu liên quan đến việc Trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại
3 Yêu cầu bắt giữ tàu bay, tàu biển theo quy định của pháp luật về hàng không dân dụng Việt Nam, về hàng hải Việt Nam, trừ trường hợp bắt giữ tàu bay, tàu biểu để bảo đảm giải quyết vụ án
4 Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định kinh doanh, thương mại của Tòa án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định kinh doanh, thương mại của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam
5 Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết kinh doanh, thương mại của Trọng tài nước ngoài
6 Các yêu cầu khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật” 22
Trong các tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân nêu trên, thì Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết các loại tranh chấp quy định tại khoản 1 Điều 30; khoản 1 và khoản 6 Điều 31 Nếu các tranh chấp hoặc yêu cầu thuộc điều, khoản vừa nêu nhưng có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án nước ngoài, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện Những tranh chấp không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa
án nhân dân cấp tỉnh Ngoài ra Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết những vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện nhưng xét thấy
21 Điều 30 Những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án BLTTDS
22 Điều 31 Những yêu cầu về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án BLTTDS
Trang 20cần thiết Tòa án nhân dân cấp tỉnh lấy lên để giải quyết hoặc theo đề nghị của Tòa
án nhân dân cấp huyện 23
Tóm lại, tất cả các loại vụ án có tranh chấp hoặc việc kinh doanh, thương mại không có tranh chấp nêu trên, đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Tùy từng loại vụ, việc cụ thể cho ta phân định được thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh hay Tòa án nhân dân cấp huyện Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau thuộc tỉnh Cà Mau nên thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau là thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện
1.3 Mối quan hệ giữa chất lƣợng Thẩm phán và chất lƣợng xét xử
Thẩm phán là người trực tiếp thực hiện hoạt động xét xử, kết quả xét xử là sản phẩm hoạt động trí tuệ của Thẩm phán Vì vậy, giữa chất lượng Thẩm phán với chất lượng xét xử có mối quan hệ biện chứng với nhau Trong đó chất lượng Thẩm phán là yếu tố quyết định Thực tế đã chứng minh, mọi hoạt động của đời sống xã hội đều do con người thực hiện, phụ thuộc vào yếu tố con người Con người là yếu
tố quyết định mọi mặt của đời sống xã hội
Muốn công tác xét xử đạt kết quả tốt, trước nhất cần phải có Thẩm phán tốt Muốn nâng cao công tác xét xử nói chung, xét xử tranh chấp kinh doanh, thương mại nói riêng, trước nhất phải nâng cao chất lượng Thẩm phán những người trực tiếp xét xử, giải quyết án
Vấn đề đặt ra là lấy tiêu chuẩn, thước đo nào làm cơ sở, căn cứ định lượng để biết Thẩm phán tốt, Thẩm phán có chất lượng Thế nào là xét xử tốt, đạt chất lượng cao Nói cách khác các yếu tố nào ảnh hưởng và quyết định đến chất lượng Thẩm phán và chất lượng xét xử
1.3.1 Quy định của pháp luật về đánh giá chất lƣợng Thẩm phán
Chất lượng hiểu theo nghĩa bao quát là mức độ, khả năng thỏa mãn nhu cầu Chất lượng Thẩm phán là mức độ, khả năng thỏa mãn nhu cầu về tiêu chuẩn, hoạt động của Thẩm phán Nói khác hơn đó là mức độ, khả năng thực hiện hoạt động xét
xử của Thẩm phán đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật
Để đánh giá Thẩm phán dưới góc độ một cán bộ công chức theo quy định của Luật cán bộ công chức phải đánh giá ở các mặt gồm: (i) Đánh giá về việc chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; (ii) Đánh giá về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong và lề lối làm việc; (iii)
23 Điều 35, Điều 37 Bô luật TTDS 2015
Trang 21Đánh giá về năng lực lãnh đạo, điều hành, tổ chức thực hiện nhiệm vụ; (iv) Đánh giá về tinh thần trách nhiệm trong công tác; (v) Đánh giá về kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao 24
Mục đích của việc đánh giá cán bộ là để làm rõ phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kết quả thực hiện nhiệm vụ Kết quả đánh giá là căn cứ để bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chính sách đối với cán bộ 25
Việc đánh giá Thẩm phán thực hiện hàng năm, trước khi phê chuẩn bổ nhiệm, tái nhiệm, quy hoạch, điều động, đào tạo, bồi dưỡng, khi kết thúc nhiệm kỳ, thời gian luân chuyển Thẩm quyền, trình tự, thủ tục đánh giá Thẩm phán được thực hiện theo quy định của pháp luật và của cơ quan có thẩm quyền
Tại Quyết định số 851/QĐ-TCCB, ngày 13 tháng 7 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Ban hành Quy chế đánh giá và phân loại cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong các Tòa án nhân dân Nội dung đánh giá cán
bộ bao gồm: (i) Chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; (ii) Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong và lề lối làm việc; (iii) Năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ; (iv) Tiến độ và kết quả thực hiện nhiệm vụ; (v) Tinh thần trách nhiệm và phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ; (vi) Thái độ phục vụ nhân dân 26
Các mức phân loại, đánh giá cán bộ, công chức gồm: (i) Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; (ii) Hoàn thành tốt nhiệm vụ; (iii) Hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực; (iv) không hoàn thành nhiệm vụ 27
Căn cứ đánh giá đối với công chức bao gồm: (i) Nghĩa vụ, đạo đức, văn hóa giao tiếp và những công việc công chức không được làm quy định tại Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Cán bộ, công chức Riêng đối với Thẩm phán Tòa án ngoài quy định này còn phải thực hiện đúng quy định tại Điều 77 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014; (ii) Tiêu chuẩn của ngạch công chức, chức vụ lãnh đạo, quản lý
mà người đó đang giữ; (iii) Nhiệm vụ theo chương trình, kế hoạch công tác năm
24 Điều 28 Luật cán bộ, công chức 2008
25
Điều 27 Luật cán bộ, công chức 2008
26 Điều 16 Quy chế đánh giá và phân loại cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong các Tòa án nhân dân
27 Điều 4 Quy chế đánh giá và phân loại cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong các Tòa án nhân dân
Trang 22được phân công hoặc được giao chỉ đạo, thực hiện (số lượng, tiến độ, chất lượng công việc và kết quả thực hiện nhiệm vụ được phân công trong năm) 28
Do Thẩm phán có nhiệm vụ chính là xét xử nên một trong các tiêu chí đánh giá chất lượng Thẩm phán đó là kết quả và chất lượng xét xử của Thẩm phán
1.3.2 Quy định của pháp luật về chất lƣợng xét xử
Chất lượng xét xử là mức độ, khả năng thỏa mãn nhu cầu về áp dụng pháp luật, giải quyết đúng đắn vụ án Nói cách khác đó là việc áp dụng chính xác pháp luật trong từng vụ án cụ thể để đưa ra kết luận giải quyết đúng đắn các quan hệ pháp luật có tranh chấp trong giải quyết vụ án, phân định rõ quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia tố tụng, đảm bảo bản án, quyết định xét xử của Tòa án có hiệu lực pháp luật thi hành
Pháp luật nước ta ghi nhận nguyên tắc Tòa án đảm bảo hai cấp xét xử đó là
sơ thẩm và phúc thẩm 29 Đảm bảo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật điều phải được thi hành Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân đều phải có nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định của Tòa án 30 Thực tiễn, xét xử được xem là có chất lượng khi bản án, quyết định của Tòa án đã tuyên là đúng pháp luật Án xét xử của cấp dưới không đúng, có vi phạm, sai sót bị Tòa án cấp trên sửa, hủy được xem là chưa đảm bảo chất lượng
Hiện tại việc đánh giá chất lượng xét xử ở các Tòa án dựa trên 02 yếu tố cơ bản đó là:
(i) Số lượng án giải quyết: Pháp luật và các quy định của ngành Tòa án nhân dân chưa có quy định nào chính thức xác định chỉ tiêu, định mức đối với mỗi Thẩm phán từng cấp Tòa án phải giải quyết bao nhiêu vụ án trong năm Khi tổng kết nhiệm kỳ thực hiện quy trình tái bổ nhiệm lại Thẩm phán cũng chưa có quy định mỗi Thẩm phán giải quyết bao nhiêu án trong nhiệm kỳ 5 năm hay 10 năm Trước đây trong hướng dẫn báo cáo công tác thi đua hàng năm của Tòa án nhân dân tối cao có quy định mỗi Thẩm phán giải quyết 48 án trong năm Riêng năm 2017 quy định có 03 mức là 84 vụ/năm, 72 vụ/năm và 60 vụ/năm tùy theo vị trí địa bàn, khu vực, vùng đơn vị hành chính 31
29 Điều 103 Hiến pháp 2013; Điều 6 Luật tổ chức TAND 2014
30 Điều 106 Hiến pháp 2013; Điều 02 Luật tổ chức TAND 2014
31 Bảng chấm điểm công tác thi đua cuối năm 2016, 2017 của Tòa án nhân dân tối cao
Trang 23Tuy nhiên, căn cứ tình hình thực tế số lượng các vụ án thụ lý, giải quyết ở mỗi Tòa án mà phân bổ cho mỗi Thẩm phán giải quyết án nhiều hay ít nhằm đảm bảo đơn vị giải quyết hết án, hoàn thành chỉ tiêu nhiệm vụ được giao Mặt khác mỗi loại án có đặc thù, tính chất phức tạp khác nhau, trong cùng loại án cũng có vụ án
dễ và khó giải quyết khác nhau Nếu chỉ căn cứ vào số vụ giải quyết cũng có sự khác nhau giữa người giải quyết nhiều vụ án khó khăn, phức tạp so với người giải quyết nhiều vụ án đơn giản, dễ dàng
Đây là vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu để có sự quy định thống nhất về chuẩn mực, tiêu chí chung cho toàn ngành Trên cơ sở đó đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của từng Thẩm phán khi giải quyết lượng án nhiều hay ít, thể hiện khả năng và năng lực xét xử của Thẩm phán
(ii) Tỷ lệ án bị Tòa án cấp trên hủy, sửa có lỗi chủ quan của Thẩm phán: Nhiều năm qua, trong công tác xét thi đua, để đạt tiêu chuẩn, đủ điều kiện được xét thi đua, Thẩm phán phải đảm bảo có tỷ lệ án bị Tòa án cấp trên hủy có lỗi chủ quan không quá 1,16% và án bị sửa có lỗi chủ quan không quá 03% trên tổng số án xét
xử Tỷ lệ này ban đầu chỉ áp dụng trong công tác thi đua dần dần đã trở thành tỷ lệ xem xét trong đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của Thẩm phán cuối năm, trong xem xét tái bổ nhiệm Thẩm phán khi hết nhiệm kỳ và trong xem xét xử lý trách nhiệm đối với cán bộ giữ chức danh tư pháp trong Tòa án nhân dân Trong khi
đó Nghị quyết số 111/2015/QH13 ngày 27/11/2015 của Quốc Hội quy định giao cho Tòa án nhân dân tối cao bảo đảm tỷ lệ bản án, quyết định bị hủy, sửa do lỗi chủ quan hàng năm không vượt qua 1,5% 32
Có thể thấy việc quy định tỷ lệ án hủy 1,16%, án sửa 03% là quá nghiêm khắc đối với hoạt động xét xử của Thẩm phán Vấn đề này cần phải được tiếp tục nghiên cứu một cách khoa học, chính xác hơn để có 01 tỷ lệ phù hợp đáp ứng mong mõi của đông đảo Thẩm phán ngành Tòa án nhân dân
Tóm lại: Phải thừa nhận rằng việc căn cứ vào số lượng án giải quyết nhiều hay ít, tỷ lệ án bị hủy, bị sửa nghiêm trọng là một trong những tiêu chí đánh giá năng lực xét xử của Thẩm phán Bởi Thẩm phán có năng lực xét xử, Thẩm phán giỏi thì kết quả xét xử tốt, số án giải quyết nhiều hơn, tỷ lệ án bị hủy, bị sửa ít hơn
32 Nghị quyết số 111/2015/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2015 Về công tác phòng, chống vi phạm pháp luật
và tội phạm, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác Thi hành án năm 2016 và các năm tiếp theo
Trang 24Trong thực tế có nhiều Thẩm phán giải quyết không có án hủy, án sửa đã được vinh danh xét tặng danh hiệu Thẩm phán giỏi, Thẩm phán tiêu biểu
1.3.3 Chất lượng của Thẩm phán quyết định chất lượng xét xử
Để đảm bảo bản án của Tòa án tuyên xử đúng pháp luật, có chất lượng trước nhất phụ thuộc vào thẩm phán người trực tiếp nghiên cứu, giải quyết vụ án Thẩm phán có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ, năng lực nghiệp vụ giỏi sẽ nhận biết đầy đủ, chính xác quan hệ pháp luật có tranh chấp là gì, áp dụng các điều luật nào
để giải quyết quan hệ tranh chấp đó Việc thu thập chứng cứ, đánh giá chứng cứ trong giải quyết vụ án cũng phụ thuộc vào khả năng, nghiệp vụ của Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án Một Thẩm phán có trình độ nghiệp vụ yếu đôi khi không nhận biết đúng quan hệ tranh chấp, giải quyết vụ án không đúng hoặc không đầy đủ, khi đó chất lượng giải quyết án không đảm bảo Có nghiệp vụ giỏi nhưng phẩm chất, đạo đức không tốt đôi khi việc vận dụng giải quyết án cũng có “vấn đề” Vấn đề ở đây chính là việc áp dụng pháp luật, sử dụng chứng cứ để giải quyết vụ án
có thể đúng, nhưng có thể kết quả phán quyết đôi khi không đúng bản chất của sự việc Đây là vấn đề rất khó nhận biết và hết sức nguy hại làm sai lệch sự thật và rõ ràng là không có công bằng, công lý
Có thể ví chất lượng Thẩm phán với chất lượng xét xử như là đức với tài, có mối quan hệ biện chứng khăn khít nhau Trong đó chất lượng Thẩm phán là yếu tố quan trọng quyết định chất lượng xét xử, chất lượng xét xử là yếu tố phản ánh, thể hiện lại chất lượng Thẩm phán Thẩm phán giỏi thì kết quả xét xử tốt, đạt chất lượng cao và ngược lại Kết quả xét xử tốt, đạt chất lượng cao thì cho thấy Thẩm phán có năng lực, giỏi nghiệp vụ
1.3.4 Những yếu tố khác ảnh hưởng đến chất lượng xét xử
Xét xử là một khoa học, giải quyết một vụ án không chỉ đơn thuần là sự đúng đắn mà còn là một nghệ thuật Để giải quyết một vụ án nói chung, giải quyết vụ tranh chấp kinh doanh thương mại nói riêng đòi hỏi người Thẩm phán phải thực hiện đầy đủ, đúng đắn quy trình, thủ tục tố tụng từ khi tiếp nhận đơn khởi kiện, xác định quan hệ pháp luật có tranh chấp, thông qua quá trình thu thập chứng cứ, xây dựng hồ sơ, hòa giải, xét xử và ra bản án
Quá trình tố tụng này không chỉ có mình Thẩm phán mà có sự tham gia của nhiều chủ thể như: các bên thanh gia tố tụng (gọi chung là đương sự bao gồm: nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ); các cơ quan, đơn vị,
tổ chức có liên quan thuộc nhóm đối tượng bổ trợ tư pháp như: người Giám định,
Trang 25định giá, người phiên dịch .; những người tiến hành tố tụng như: các Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án Trên cơ sở nguyên tắc tự do ý chí của các bên đương sự, nguyên tắc đương sự tự cung cấp chứng cứ, nguyên tắc tranh tụng tại tòa, nên sự am hiểu và tuân thủ pháp luật, hợp tác tốt của các thành viên thuộc các nhóm nêu trên là yếu tố góp phần tạo nên chất lượng xét xử vụ án
Cơ sở vật chất, mô hình tổ chức hoạt động của Tòa án, cơ chế vận hành hoạt động xét xử, quy định của pháp luật tố tụng cũng là yếu tố tác động và có ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động xét xử
Chế độ đãi ngộ, chính sách tiền lương, miễn trừ trách nhiệm, môi trường làm việc của cán bộ Tòa án, của Thẩm phán cũng là những yếu tố có tác động trực tiếp đến chất lượng Thẩm phán và chất lượng xét xử
Tóm lại: Pháp luật đã có quy định đầy đủ và ngày càng chặt chẽ hơn về chức năng, nhiệm vụ xét xử của Tòa án nhân dân, về chế định bổ nhiệm Thẩm phán người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ xét xử Công tác xét xử là một khoa học, là chức năng đặc thù của Tòa án Hoạt động xét xử của Thẩm phán là một hoạt động nghề nghiệp đặc thù Xét xử phụ thuộc vào Thẩm phán, chất lượng xét xử phụ thuộc vào chất lượng Thẩm phán Do vậy, Thẩm phán là nhân tố quyết định đối với công tác xét xử
Trang 26Chương 2: Thực trạng xét xử tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau
2.1 Khái quát về Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau
Thành phố Cà Mau là thành phố đô thị loại 2, là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị của tỉnh Cà Mau, tỉnh cuối cùng cực nam của tổ quốc Thành phố Cà Mau
có diện tích 250 km2, dân số trên 224 nghìn người, gồm 17 đơn vị hành chính (10 phường, 07 xã) 33 Những năm gần đây, thành phố Cà Mau có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, văn hóa - xã hội phát triển mạnh, kéo theo đó là sự gia tăng, diễn biến phức tạp về tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật và các tranh chấp đa dạng trong đời sống dân sự Số vụ án, vụ việc phải giải quyết bằng tố tụng tại Tòa án ngày càng nhiều Trung bình mỗi năm Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau phải thụ lý, giải quyết trên 1.700 vụ án các loại 34
Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, trụ sở đặt tại số 81 Ngô Quyền khóm 1, phường 9, thành phố Cà Mau Tiền thân của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau là Tòa án nhân dân thị xã Cà Mau, được thành lập từ sau ngày miền nam hoàn toàn giải phóng Năm 1999 khi thị xã Cà Mau được công nhận là thành phố trung tâm tỉnh lỵ, Tòa án nhân dân thị xã Cà Mau cũng đổi tên sang Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau
Là Tòa án cấp huyện, Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau có chức năng thực hiện nhiệm vụ xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật như: Quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án; xét giảm thời gian thử thách án treo; xét giảm, miễn trách nhiệm thi hành án đối với khoản tiền thu nộp ngân sách nhà nước theo quy định
2.2 Thực trạng tổ chức bộ máy của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau 2.2.1 Tổ chức bộ máy: Trước năm 2014, Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau
có cơ cấu là đơn vị cơ sở gồm: Chánh án, các Phó Chánh án, Thẩm phán,
Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án và biên chế cán bộ khác
Khi Luật tổ chức TAND 2014 có hiệu lực thì theo quy định Tòa án nhân dân cấp huyện ngoài các chức danh như Chánh án, các Phó Chánh án, Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án thì còn được quy định có thể có các Tòa chuyên trách
33 Niên giám thống kê năm 2016
34 Số liệu báo cáo công tác Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau
Trang 27và bộ máy giúp việc là Văn phòng Tòa án, nhưng tùy theo nhu cầu thực tế sẽ do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Quyết đinh
Ngày 21 tháng 01 năm 2016, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư 01/2016/TT-CA, Quy định việc tổ chức các Tòa chuyên trách tại Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Tòa án nhân dân huyện, quận, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương Theo đó, mỗi loại án có số lượng giải quyết trên 50 vụ trên năm sẽ được thành lập Tòa chuyên trách Đến nay, cả nước chưa có đơn vị Tòa án cấp huyện nào được thành lập Tòa chuyên trách theo tinh thần Thông tư này Đây là vấn đề chậm trễ trong triển khai thực hiện pháp luật, trực tiếp ảnh hưởng đến việc hoàn thiện về tổ chức bộ máy và hoạt động của hệ thống Tòa án các cấp, nhất là Tòa án cấp huyện như Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau
Ngày 07 tháng 4 năm 2016, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành Quyết định 345/2016/QĐ-CA, Quyết định về tổ chức bộ máy, nhiệm vụ, quyền hạn của các đơn vị trong bộ máy giúp việc của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Theo
đó, Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau chính thức được hình thành bộ máy giúp việc đó là Văn phòng Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau Hiện tại Văn phòng có Chánh văn phòng, Phó văn phòng, Kế toán là cán bộ trong biên chế và các cán bộ hợp đồng gồm: cán bộ văn thư, tin học, lưu trữ, lái xe, bảo vệ, tạp vụ
Văn phòng mới thành lập, nhiệm vụ đòi hỏi phải thành lập bộ phận Hành chính tư pháp thuộc Văn phòng trong khi biên chế cán bộ văn phòng không có, chủ yếu cán bộ Văn phòng là hợp đồng nên gặp nhiều khó khăn trong bố trí giao việc đối với từng cá nhân
2.2.2 Biên chế, chức danh tƣ pháp
Trong các năm từ 2014 đến 2016, tổng số cán bộ, công chức Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau là 43 người, có 16 nam, 27 nữ Trong đó, biên chế công chức 38 người; hợp đồng 05 người Hiện tại đảng viên 38 người; ngoài đảng 05 người Trong đó Cán bộ có giữ chức vụ 06 người gồm: 01 Chánh án, 03 Phó Chánh
án (có 01 nữ), 01 Chánh văn phòng, 01 Phó chánh Văn phòng
Độ tuổi của cán bộ, công chức từ 41 đến 50 tuổi: 03 người; từ 31 đến 40 tuổi:
24 người; dưới 30 tuổi: 16 người
Cán bộ giữ chức danh tư pháp 38 người gồm: 18 Thẩm phán, 01 Thẩm tra viên, 19 Thư ký Cuối năm 2016 giảm 01 Thẩm phán là Phó Chánh án Theo kế hoạch tinh giảm biên chế từ nay đến 2021 tiếp tục giảm 10% biên chế, tương đương
Trang 2804 người Đây là vấn đề vừa khó khăn, vừa nghịch lý Bởi lẽ, thẩm quyền xét xử, giải quyết các loại vụ án và các việc khác của Tòa án ngày một mở rộng, khối lượng công việc phải giải quyết của Tòa án ngày càng tăng, áp lực làm việc của cán bộ, Thẩm phán ngày càng nhiều so với biên chế con người hiện có Do đó việc thực hiện chủ trương giảm biên chế tại Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ hoàn thành nhiệm vụ so với yêu cầu thực tiễn đang đặt ra
Xét về biên chế: Thẩm phán ít so với số án thụ lý giải quyết nên áp lực công việc đối với Thẩm phán rất cao Bình quân mỗi Thẩm phán phải xét xử số vụ án gấp
02 lần so với quy định thì đơn vị mới đảm bảo hoàn thành chỉ tiêu Đơn vị hơn 1/3 cán bộ là nữ có nhiều vướng bận công việc gia đình, ảnh hưởng đến thời gian làm việc tại đơn vị Hầu hết Thẩm phán là người mới được bổ nhiệm ở nhiệm kỳ đầu nên năng lực nghiệp vụ, kỹ năng, kinh nghiệm xét xử có phần hạn chế Thư ký ít tính theo quy định 01 Thẩm phán có 01 Thư ký, trong khi Thư ký phải thường xuyên được cử tham gia các lớp đào tạo, học tập nên thực tế người làm việc tại cơ quan thường xuyên ít hơn yêu cầu công việc Cán bộ chức danh khác ở bộ phận Văn phòng chỉ cho 02 chức danh là 01 Thẩm tra viên phụ trách thi hành án phạt tù, 01
Kế toán, còn lại thiếu các chức danh khác như: Thủ quỹ, Văn thư, Lưu trữ kho hồ
sơ, Cán bộ tin học, Cán bộ tiếp dân, không có biên chế nên phải thực hiện chế độ phân công cán bộ kiêm nhiệm Riêng lái xe, bảo vệ, tạp vụ là cán bộ hợp đồng Vì vậy mà việc bố trí cán bộ thực hiện nhiệm vụ hành chính tư pháp gặp rất nhiều khó khăn, trong khi đây là khâu đang đặt ra nhiệm vụ đẩy mạnh cải cách
2.2.3 Trình độ năng, lực của đội ngũ cán bộ
Lý luận chính trị: Cử nhân chính tri 01; Cao cấp chính trị 04; Trung cấp chính trị 22
Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ: Thạc sĩ Luật 11 (07 đã có bằng, 04 đang học); Cử nhân Luật 27; Cử nhân tài chính, kế toán 02; Trung cấp 01; trung học phổ thông 02
Trình độ ngoại ngữ, tin học: Chứng chỉ B Anh văn 40; A Anh văn 01; B Tin học 32; A Tin học 8
Trong 18 Thẩm phán có 02 đã tốt nghiệp Thạc sĩ, 04 đang theo học chương trình sau đại học, tất cả đều đã qua đào tạo lý luận chính trị từ trung cấp chính trị trở lên, trình độ ngoại ngữ, tin học đảm bảo theo chuẩn quy định
Với trình độ đội ngũ cán bộ, Thẩm phán hầu hết là những người trẻ, được đào tạo chính quy, nên cơ bản có đủ điều kiện đáp ứng hoàn thành yêu cầu, nhiệm
Trang 29vụ xét xử Tuy nhiên, do là tỉnh vùng xa, việc tiếp cận các quan hệ pháp luật mới phát sinh chưa nhiều, thiếu tính đa dạng, tính phức tạp trong các vụ án không cao từ
đó còn có nhiều hạn chế trong việc phát huy năng lực công tác Nhất là về trình độ ngoại ngữ tuy có được đào tạo, nhưng môi trường sống, làm việc không có điều kiện trao dồi, rèn luyện dẫn đến mau quên Trước yêu cầu phát triển hội nhập, việc thiếu vốn kiến thức ngoại ngữ là một hạn chế, yếu kém của cán bộ, Thẩm phán trong quá trình thực thi nhiệm vụ, ảnh hưởng trực tiếp đến xét xử các tranh chấp về kinh doanh, thương mại
2.2.4 Chất lƣợng của đội ngũ Thẩm phán 35
Theo kết quả đánh giá, phân loại cán bộ cuối năm cho thấy: Từ năm 2014 đến nay cán bộ, công chức Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau đều hòan thành tốt nhiệm vụ được giao Cụ thể:
Năm 2014 kết quả đánh giá, xếp loại cán bộ cuối năm có 08/43 (tỷ lệ 18,6%) cán bộ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; 35/43 (tỷ lệ 81,4%) cán bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ Trong đó Thẩm phán được xếp loại hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ 05/18 người (tỷ lệ 27,8%); hoàn thành tốt nhiệm vụ 13/18 người (tỷ lệ 72,2%)
Năm 2015 kết quả đánh giá, xếp loại cán bộ cuối năm có 07/43 (tỷ lệ 16,27%) cán bộ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; 36/43 (tỷ lệ 83,7%) cán bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ Trong đó Thẩm phán được xếp loại hoàn thành xuất sắc nhiệm
vụ 05/18 người (tỷ lệ 27,8%); hoàn thành tốt nhiệm vụ 13/18 người (tỷ lệ 72,2%)
Năm 2016 kết quả đánh giá, xếp loại cán bộ cuối năm có 06/43 (tỷ lệ 13,95%) cán bộ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; 36/43 (tỷ lệ 83,7%) cán bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ; có 01 cán bộ không hoàn thành nhiệm vụ do vi phạm kỷ luật (tỷ
lệ 2,3%) Trong đó Thẩm phán được xếp loại hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ 03/18 người (tỷ lệ 16,66%); hoàn thành tốt nhiệm vụ 13/18 người (tỷ lệ 72,2%) 01 Thẩm phán không hoàn thành nhiệm vụ (tỷ lệ 5,55%)
Với kết quả đánh giá, phân loại cán bộ như trên cho thấy Thẩm phán Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau đều là những cán bộ có đầy đủ phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, có năng lực công tác đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ xét xử theo yêu cầu
Tuy nhiên, vấn đề đánh, giá xếp loại cán bộ công chức nói chung, đối với Thẩm phán nói riêng vẫn thực hiện theo phương pháp cổ điển dựa trên cơ sở bình
35 Số liệu từ kết quả xếp loại cán bộ các năm 2014, 2015, 2016 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau