1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào và khả năng sinh lời của nghề nuôi tôm thẻ chân trắng thương phẩm tại thị xã hoàng mai, tỉnh nghệ an

91 196 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI C M ĐO N Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Phân tích hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào và khả năng sinh lời của nghề nuôi tôm thẻ chân trắng thương phẩm tại Thị xã Hoàng Mai,

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

LÊ TRƯƠNG PHI

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SỬ DỤNG YẾU TỐ ĐẦU VÀO

VÀ KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NGHỀ NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG THƯƠNG PHẨM TẠI THỊ XÃ HOÀNG MAI,

TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ

KHÁNH HÒA - 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

LÊ TRƯƠNG PHI

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SỬ DỤNG YẾU TỐ ĐẦU VÀO

VÀ KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NGHỀ NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG THƯƠNG PHẨM TẠI THỊ XÃ HOÀNG MAI,

Trang 3

LỜI C M ĐO N

Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Phân tích hiệu quả sử dụng yếu tố đầu

vào và khả năng sinh lời của nghề nuôi tôm thẻ chân trắng thương phẩm tại Thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi và chƣa từng

đƣợc công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này

Khánh Hòa, ngày 7 tháng 8 năm 2017

Trang 4

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, phòng Kinh tế hạ tầng Thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An, nhất là xin cảm ơn các hộ dân nuôi tôm thẻ chân trắng ở Thị xã Hoàng Mai đã nhiệt tình cung cấp cho tôi thông tin

để tôi thực hiện thành công đề tài Cảm ơn học viên Hồ Thị Hằng lớp 57CHKT 2015-4 Khoa Kinh tế, Trường Đại học Nha Trang

Cuối cùng tôi gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình và tất cả bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Khánh Hòa, ngày 7 tháng 8 năm 2017

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM ƠN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT viii

DANH MỤC BẢNG BIỂU ix

DANH MỤC HÌNH x

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xi

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.5 Phương pháp nghiên cứu 3

1.6 Ý nghĩa của kết quả nghiên cứu 4

1.7 Cấu trúc của luận văn 4

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ LƯỢC KHẢO CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 5

2.1 Tổng quan về tôm thẻ chân trắng 5

2.1.1 Giới thiệu về tôm thẻ chân trắng 5

2.1.2 Một số khái niệm về nuôi tôm mật độ thấp và mật độ cao 7

2.2 Cơ sở lý thuyết về hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào và khả năng sinh lời trong sản xuất 9

2.2.1 Các khái niệm về hiệu quả trong sản xuất 9

Trang 6

2.2.2 Hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào (hiệu quả kỹ thuật) 10

2.2.3 Ước lượng hiệu quả kỹ thuật (TE) dựa vào phương pháp phân tích màng bao dữ liệu theo mô hình hiệu suất không đổi theo quy mô (Constant Returns to Scale Input Oriented DEA model, CRS-DEA model) 11

2.2.4 Ước lượng hiệu quả kỹ thuật (TE) dựa vào phương pháp phân tích màng bao dữ liệu theo mô hình hiệu suất thay đổi theo quy mô (Variable Returns to Scale Input Oriented DEA model, VRS-DEA model) 13

2.2.5 Ưu và nhược điểm của phương pháp DEA 15

2.2.6 Khả năng sinh lời 16

2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 19

2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 19

2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 21

2.4 Khung phân tích của nghiên cứu 23

Tóm tắt chương 2 27

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

3.1 Quy trình nghiên cứu 28

3.2 Cách tiếp cận nghiên cứu 30

3.3 Phương pháp chọn mẫu/quy mô mẫu 30

3.3.1 Tổng thể 30

3.3.2 Phương pháp chọn mẫu 35

3.4 Loại dữ liệu cần thu thập 36

3.5 Các phương pháp phân tích dữ liệu 36

3.5.1 Công cụ phân tích dữ liệu 36

3.5.2 Phương pháp phân tích dữ liệu 37

Tóm tắt chương 3 41

Trang 7

CHƯƠNG 4: PH N TÍCH VÀ THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 42

4.1 Thông tin về hiện trạng nông hộ vùng nghiên cứu 42

4.1.1 Thông tin nông hộ 42

4.1.2 Thông tin về kỹ thuật sản xuất tôm của nông hộ 44

4.2 Phân tích chỉ số hiệu quả và khả năng sinh lời của mô hình nuôi mật độ thấp (dưới 100 con/m2 ) và mô hình nuôi mật độ cao ( từ 100 con/m2 trở lên) 46

4.2.1 Các chỉ số hiệu quả và khả năng sinh lời của mô hình nuôi mật độ thấp (dưới 100 con/m2 ) 46

4.2.2 Các chỉ số hiệu quả và khả năng sinh lời của mô hình mật độ cao (từ 100 con/m2 trở lên) 48

4.3 So sánh các chỉ tiêu sản xuất của hai mô hình 50

4.3.1 So sánh giá trị trung bình 50

4.3.2 Kiểm định thống kê các chỉ tiêu sản xuất so sánh hai mô hình 51

4.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng sinh lời và hiệu quả kỹ thuật của nghề nuôi tôm thẻ chân trắng 53

4.5.1 Mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả kỹ thuật 53

4.5.2 Mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng sinh lời 55

4.5.3 Mối tương quan giữa khả năng sinh lời và hiệu quả kỹ thuật của nghề nuôi tôm thẻ chân trắng 61

Tóm tắt chương 4 61

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62

5.1 Kết luận 62

5.2 Một số hàm ý chính sách cần tập trung 63

5.2.1 Nâng cao chất lượng tập huấn, khuyến khích người dân nuôi tôm thẻ chân trắng thương phẩm mật độ cao 64

5.2.2 Thực hiện đúng công tác quy hoạch 64

5.2.3 Rà soát chính sách vay vốn 65

5.3 Hạn chế của nghiên cứu và các hướng nghiên cứu tiếp theo 66

TÀI LIỆU THAM KHẢO 67 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CRS (Constant Return to Scale) Hiệu suất không đổi theo quy mô DEA (Data Envelop Analysis) Phân tích màng bao dữ liệu

FAO (Food and Agriculture Organnization) Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp

của Liên Hợp Quốc SPF (Stochastic Production Frontier) Đường biên sản xuất ngẫu nhiên VRS (Variable Returns to Scale) Hiệu suất thay đổi theo quy mô

WTO (World Trade Organization) Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Đặc điểm sinh học tôm thẻ thích nghi với môi trường 6

Bảng 2.2 Tóm lược các biến lựa chọn của các nghiên cứu trước 22

Bảng 2.3 Các biến trong mô hình DEA 23

Bảng 2.4 Định nghĩa các biến được đưa vào mô hình 27

Bảng 3.1 Tổng thể mẫu nghiên cứu 35

Bảng 3.2 Phân bổ mẫu nghiên cứu 36

Bảng 4.1 Thông tin chung của nông hộ vùng nghiên cứu 42

Bảng 4.2 Trình độ học vấn của nông hộ vùng nghiên cứu (%) 42

Bảng 4.3 Tình hình tiếp cận nguồn vốn sản xuất của nông hộ vùng nghiên cứu 43

Bảng 4.4 Phân bố mẫu theo hình thức nuôi 44

Bảng 4.5 Phân bố mẫu về độ pH của ao nuôi 45

Bảng 4.6 Thống kê hệ số tiêu hao thức ăn sử dụng trong nuôi tôm 45

Bảng 4.7 Hiệu quả kỹ thuật của các hộ nuôi tôm mật độ thấp 46

Bảng 4.8 Phân nhóm hiệu quả kỹ thuật 47

Bảng 4.9 Các chỉ số hiệu quả và khả năng sinh lời của mô hình mật độ thấp 47

Bảng 4.10 Hiệu quả kỹ thuật của các hộ nuôi tôm mật độ cao 48

Bảng 4.11 Phân nhóm hiệu quả kỹ thuật 49

Bảng 4.12 Các chỉ số hiệu quả và khả năng sinh lời của mô hình mật độ cao 49

Bảng 4.13 So sánh giá trị trung bình của các chỉ số hiệu quả và khả năng sinh lời của hai mô hình mật độ cao và mật độ thấp 50

Bảng 4.14 Kết quả kiểm định các chỉ tiêu sản lượng, doanh thu, giá bán, các khoản mục chi phí, khả năng sinh lời và hiệu quả kỹ thuật 51

Bảng 4.15 Kiểm định thống kê chỉ tiêu khả năng sinh lời, hiệu quả 52

Bảng 4.16 Mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả kỹ thuật 53

Bảng 4.17 Kết quả mô hình hồi quy Tobit 54

Bảng 4.18 Các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng sinh lời 56

Bảng 4.19 Mô hình tóm tắt (Model Summary) 56

Bảng 4.20 Hệ số hồi quy 56

Bảng 4.21 Phân tích phương sai 59

Bảng 4.22 Hệ số hồi quy 59

Bảng 4.23 Ma trận hệ số tương quan 61

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Sơ đồ phản ánh các chỉ tiêu hiệu quả 13

Hình 2.2 Tính toán quy mô kinh tế trong DEA 14

Hình 2.3 Mô hình đề xuất nghiên cứu 24

Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 29

Hình 4.1 Nguồn tiếp cận kỹ thuật sản xuất 44

Hình 4.2 Hiệu quả kỹ thuật của hộ nuôi tôm mật độ thấp 46

Hình 4.3 Hiệu quả kỹ thuật của hộ nuôi tôm mật độ cao 48

Trang 11

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Nghiên cứu “Phân tích hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào và khả năng sinh lời của

nghề nuôi tôm thẻ chân trắng tại thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An” có mục tiêu là đánh

giá hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào và khả năng sinh lời; đồng thời xác định các nhân

tố ảnh hưởng tới hiệu quả kỹ thuật và khả năng sinh lời của nghề nuôi tôm thẻ chân trắng thương phẩm tại thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An Từ đó đề xuất một số khuyến nghị cho chính quyền và chủ hộ nuôi nhằm phát triển nghề nuôi bền vững

Các phương pháp phân tích chính được sử dụng trong nghiên cứu là phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh, Phương pháp Data Envelopment Analysis (DEA) để đánh giá hiệu quả kỹ thuật, Mô hình tobit để đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố tới hiệu quả kỹ thuật và mô hình hồi quy tuyến tính để đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố tới khả năng sinh lời

Với mẫu khảo sát của nghiên cứu chính thức n = 120 hộ nuôi, kết quả chính của nghiên cứu cho thấy hầu hết các khoản mục của hình thức nuôi mật độ cao là cao hơn nhiều so với hình thức nuôi mật độ thấp Chỉ tiêu khả năng sinh lời (thặng dư/ha) của các hộ nuôi tôm theo hình thức mật độ thấp trung bình là 309 trđ/ha Chỉ tiêu hiệu quả

kỹ thuật được tính toán theo phương pháp phi tham số DEA, kết quả cho thấy hiệu quả

kỹ thuật trung bình của các hộ nuôi tôm theo hình thức nuôi mật độ thấp là 0,81 tương đối cao Chỉ tiêu khả năng sinh lời của cách hộ nuôi tôm theo hình thức mật độ cao trung bình là 813 trđ/ha Chỉ tiêu hiệu quả kỹ thuật được tính toán theo phương pháp phi tham số DEA, kết quả cho biết hiệu quả kỹ thuật trung bình của các hộ nuôi tôm theo hình thức mật độ cao là 0,83 điều này cho thấy các hộ nuôi tôm mật độ cao sử dụng khá hợp lý các yếu tố đầu vào và đạt hiệu quả cao

Kết quả ước lượng trong số 7 biến đưa vào mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật (số người trong gia đình tham gia nuôi tôm, kinh nghiệm nuôi, trình

độ chủ hộ, tập huấn, vay vốn, diện tích nuôi, hình thức nuôi) thì 3 biến “diện tích nuôi”, “người trong gia đình tham gia nuôi tôm” và “tập huấn” ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật (p<0,05) Kết quả ước lượng trong số 7 biến đưa vào mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời thì 2 biến “hình thức nuôi” và “diện tích nuôi” ảnh hưởng đến khả năng sinh lời Trong đó biến “diện tích nuôi” có ảnh hưởng thuận

Trang 12

chiều, nghĩa là khả năng sinh lời tăng khi diện tích nuôi tăng, phù hợp với chính sách đất đai mà cơ quan quản lý nhà nước đang hướng tới đó là chính sách dồn điền đổi thửa và củng cố, nâng cao chất lượng của hợp tác xã nông nghiệp và “hình thức nuôi”

có ảnh hưởng cùng chiều với khả năng sinh lời phù hợp với giả thuyết đặt ra Kết quả cho thấy, hệ số tương quan giữa hiệu quả kỹ thuật và khả năng sinh lời là 0,411 nằm trong khoảng từ 0,4 đến 0,5, như vậy hai yếu tố này có tương quan tuyến tính, chứng

tỏ hai yếu tố này có ảnh hưởng tới nhau Việc tiết kiệm đầu vào sản xuất có thể làm tăng khả năng sinh lời của nghề nuôi tôm Tuy nhiên, mức tương quan này tương đối yếu, có ý nghĩa là đối với hộ nuôi tôm với góc nhìn về lợi nhuận trong ngắn hạn sẽ có nhiều điểm không tương đồng với các nhà quản lý với góc nhìn về tiết kiệm các yếu tố đầu vào để phát triển bền vững

Từ khóa: Hiệu quả kỹ thuật, Khả năng sinh lời, Hoàng Mai, Nghệ An

Trang 13

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1 Đặt vấn đề

Trong những thập niên gần đây, nghề nuôi tôm phát triển rất mạnh trên thế giới, khẳng định vai trò của chăn nuôi thủy sản trong ngành kinh tế nông nghiệp Ở Việt Nam, nghề nuôi tôm đem lại lợi nhuận cao cho các hộ nông dân, góp phần giải quyết việc làm, phát triển kinh tế, nâng cao đời sống cho người dân Trong nghề nuôi tôm thì nuôi tôm chân trắng có bước tiến rõ nét Năm 2012, diện tích thả giống tôm chân trắng tăng 15,5%, đạt xấp xỉ 38,2 nghìn ha; sản lượng thu hoạch tăng 3,2% - đạt 177,8 nghìn tấn Nghề nuôi tôm chân trắng cũng đưa lại giá trị xuất khẩu cao chỉ tính riêng 7 tháng đầu năm 2013, xuất khẩu tôm sú chỉ tăng 1,3% so với cùng kỳ năm 2012 đạt xấp xỉ

680 triệu USD thì xuất khẩu tôm chân trắng đạt 609 triệu USD, tăng 51,5% so với cùng kỳ năm 2012, chiếm 43,7% trong tổng kim ngạch xuất khẩu tôm của Việt Nam (Báo cáo “Nuôi trồng thủy sản”, Bộ Nông Nghiệp và phát triển nông thôn, 2015) Nghệ An là tỉnh có nhiều tiềm năng và lợi thế nuôi tôm như bờ biển kéo dài, khí hậu và thổ nhưỡng phù hợp Hoàng Mai là một thị xã ven biển của tỉnh Nghệ An, mới được tách ra từ huyện Quỳnh Lưu năm 2013 Hoàng Mai là một trung tâm khai thác và nuôi trồng thuỷ sản lớn của tỉnh Những năm gần đây, triển khai chương trình khai thác hải sản xa bờ và nuôi trồng thuỷ sản, thị xã đã có hướng đi mới trong phát triển nghề đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản góp phần to lớn trong việc giải quyết việc làm, cải thiện đời sống cho người lao động vùng biển Thuỷ sản nói chung và tôm thẻ nói riêng luôn có lợi thế cạnh tranh về điều kiện tự nhiên, đó là lợi thế do thiên nhiên ban tặng Tuy nhiên, nghề nuôi tôm ở Hoàng Mai còn mang tính tự phát, khoa học công nghệ lạc hậu, mới chỉ dừng lại ở chăn nuôi theo kinh nghiệm là chính, mức độ đầu tư chưa cân đối giữa đầu vào và đầu ra, diện tích nuôi thâm canh đã được mở rộng tuy nhiên khoa học còn lạc hậu Mặt khác do ý thức của người dân không cao việc khai thác bừa bãi đã mang lại nguồn tài nguyên cạn kiệt, môi trường bị ảnh hưởng Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam nói chung và Hoàng Mai nói riêng, việc sử dụng tiết kiệm, hợp lý các yếu tố đầu vào – đặc biệt là các đầu vào như đất, mặt nước – đóng vai trò quyết định cho việc phát triển bền vững trong dài hạn Tuy nhiên, mối quan tâm hàng đầu của các chủ hộ nuôi lại thường là khả năng sinh lời của trại nuôi

Vì vậy, phân tích hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào (hiệu quả kỹ thuật) và khả năng

Trang 14

sinh lời của các trại nuôi là một nhu cầu bức thiết, cần phải thực hiện nhằm giúp các nhà quản lý khuyến cáo chủ trang trại cũng như đề ra các biện pháp quản lí nhằm phát triển nghề nuôi tôm bền vững của thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An

Việc phân tích hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào (hiệu quả kỹ thuật) đang là một chủ đề được nhiều nhà hoạch định chính sách quan tâm Sử dụng phương pháp DEA

để đo lường hiệu quả kỹ thuật cũng như hiệu quả kinh tế đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới áp dụng sâu rộng trên nhiều lĩnh vực Tuy nhiên, ở Việt Nam, phương pháp này mới bắt đầu tiếp cận từ những năm 2000 trở lại đây, một số công trình nghiên cứu trong lĩnh vực thủy sản như: Đặng Hoàng Xuân Huy và cộng sự (2012),

“Nghiên cứu phân tích hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào cho các trại nuôi cá Tra

thương phẩm tại Đồng Bằng Sông Cửu Long”; Lê Kim Long, Đặng Hoàng Xuân Huy,

Nguyễn Thị Hồng Đào, Trương Ngọc Phong (2011), “Phân tích hiệu quả sử dụng yếu

tố đầu vào và khả năng sinh lợi của nghề nuôi tôm thẻ chân trắng (litopenaeus vannamei) thương phẩm tại thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa” - đề tài cấp Trường

Đại học Nha Trang; Đàm Thị Huế (2016), “Phân tích hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào

và khả năng sinh lợi của nghề nuôi tôm thẻ chân trắng thương phẩm tại huyện Vạn

Ninh, tỉnh Khánh Hòa” – đề tài luận văn Thạc sỹ, trường Đại học Nha Trang Tuy

nhiên, chưa có nghiên cứu nào đề cập đến hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào và khả năng sinh lời của nghề nuôi tôm thẻ chân trắng thương phẩm ở Thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An Vì vậy, nghiên cứu về hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào, tìm ra các nhân

tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào, khả năng sinh lời và làm cách nào để nâng cao hiệu quả sử dụng đầu vào và khả năng sinh lời của nông hộ nuôi tôm

là hết sức cần thiết ở Thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An

Vì những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Phân tích hiệu quả sử dụng yếu tố

đầu vào và khả năng sinh lời của nghề nuôi tôm thẻ chân trắng thương phẩm ở Thị

xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An” để nghiên c ứu

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu tổng quát

Đề tài được thực hiện nhằm xác định hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào và khả năng sinh lời, từ đó gợi ý một số hàm ý chính sách đối với các nông hộ trong việc nuôi tôm thẻ chân trắng tại Thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An

Trang 15

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

+ Xác định hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào (hiệu quả kỹ thuật - technical efficiency) và khả năng sinh lời (profitability) của các trại nuôi tôm thẻ chân trắng thương phẩm tại Thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An

+ Xác định các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả kỹ thuật và khả năng sinh lời + Đề xuất một số khuyến nghị cho chính quyền và chủ nông hộ nhằm phát triển nghề nuôi tôm tại thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Các nội dung nghiên cứu của đề tài tập trung giải đáp các câu hỏi:

- Hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào và khả năng sinh lời của nghề nuôi tôm thẻ chân trắng tại thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An đạt kết quả như thế nào ?

- Các nhân tố nào ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào và khả năng sinh lời của nghề nuôi tôm thẻ chân trắng tại thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An?

- Có những giải pháp nào để sử dụng hiệu quả yếu tố đầu vào và khả năng sinh lời của nghề nuôi tôm thẻ chân trắng tại thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu về sử dụng hiệu quả yếu tố đầu vào (hiệu quả

kỹ thuật) và khả năng sinh lời của các hộ nuôi tôm thẻ chân trắng tại thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An

- Phạm vi nghiên cứu: Lựa chọn các hộ nuôi tập trung ở phường Quỳnh Xuân, phường Mai Hùng, xã Quỳnh Lộc - thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An

- Dựa trên những số liệu sơ cấp là số liệu hộ thực hiện trong năm 2016, các số liệu thứ cấp là số liệu của giai đoạn 2010 - 2015 để nghiên cứu

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp phân tích chính được sử dụng trong nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào và khả năng sinh lời tại thị xã Hoàng Mai là thống kê mô

tả, phân tích và so sánh chỉ tiêu hiệu quả và khả năng sinh lời của mô hình nuôi tôm mật độ thấp và mật độ cao Bên cạnh đó sử dụng hàm hồi quy tuyến tính để tìm mối tương quan giữa hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào và khả năng sinh lời và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào và khả năng sinh lời

Trang 16

1.6 Ý nghĩa của kết quả nghiên cứu

* Về lý thuyết: Kết quả đề tài là hệ thống hoá về mặt lý luận về đo lường hiệu quả

yếu tố đầu vào giúp cho người đọc có được cái nhìn tổng quát về bản chất của hiệu quả cũng như phương pháp đo lường hiệu quả bằng DEA; đề tài có thể làm tài liệu tham khảo để các nghiên cứu sâu hơn về phân tích hiệu quả trong sản xuất kinh doanh

* Về thực tiễn: Đề tài đánh giá thực trạng và tình hình nuôi tôm thẻ chân trắng

thương phẩm tại Thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An Kết quả nghiên cứu có thể giúp các

hộ nông dân nuôi tôm có cái nhìn tổng quát, từ đó có thể điều chỉnh trong việc nuôi tôm để thu lại lợi nhuận cao hơn Đồng thời, kết quả nghiên cứu sẽ là tài liệu có ích giúp các nhà quản lý quy hoạch vùng nuôi tôm thẻ chân trắng và đề xuất các giải pháp góp phần phát triển bền vững nghề nuôi tôm tại tỉnh Nghệ An

1.7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài các phần như: mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục,… luận văn được kết cấu thành 5 chương như sau:

Chương 1: Giới thiệu, trình bày tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, cũng như ý nghĩa của nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu, trình bày cơ sở lý thuyết về hiệu quả, khả năng sinh lời, các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật và khả năng sinh lời của nghề nuôi tôm; cũng như tổng quan các công trình nghiên cứu trước liên quan nhằm đúc kết thành khung phân tích phù hợp cho nghiên cứu của luận văn và đưa ra các giả thuyết nghiên cứu nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu, giới thiệu các phương pháp nghiên cứu được

sử dụng chủ yếu trong luận văn như quy mô mẫu nghiên cứu, phương pháp chọn mẫu, các công cụ dùng để phân tích số liệu,

Chương 4: Phân tích và thảo luận kết quả nghiên cứu Nội dung chương này tập trung phân tích và thảo luận các kết quả nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và các hàm ý chính sách, trình bày các kết luận rút ra từ nghiên cứu, cũng như đề xuất các hàm ý chính sách nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào và khả năng sinh lời của các hộ nuôi tôm thẻ chân trắng ở Thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An

Trang 17

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ LƯỢC KHẢO CÁC NGHIÊN CỨU

LIÊN QUAN

2.1 Tổng quan về tôm thẻ chân trắng

2.1.1 Giới thiệu về tôm thẻ chân trắng

Tôm thẻ chân trắng hay còn gọi là tôm he chân trắng, hoặc tôm chân trắng có tên

khoa học là: Litopenaeus vannamei (Bone, 1931); tiếng Anh là: white shrimp; theo FAO là: tôm chân trắng, camaron patiblanco; tên tiếng Việt là: tôm thẻ chân trắng,

tôm bạc Thái Bình Dương, tôm bạc Tây Châu Mỹ

Tôm thẻ chân trắng là loài tôm nhiệt đới, phân bố vùng ven bờ phía Đông Thái Bình Dương, từ biển Pêru đến Nam Mêxicô, vùng biển Equađo Hiện tôm thẻ chân trắng đã được di giống ở nhiều nước Đông Á và Đông Nam Á như Trung Quốc, Thái Lan, Philippin, Indonexia, Malaixia và Việt Nam

Tôm thẻ chân trắng vỏ mỏng có màu trắng đục nên có tên là tôm Bạc, bình thường

có màu xanh lam, chân bò có màu trắng nên gọi là tôm chân trắng Chùy là phần kéo dài tiếp với bụng Dưới chùy có 2 – 4 răng cưa, đôi khi có 5 – 6 răng cưa ở phía bụng Những răng cưa đó kéo dài, đôi khi tới đốt thứ 2 (Trần Minh Anh, 1989)

Vỏ đầu ngực có những gai gân và gai râu rất rõ, không có gai mắt và gai đuôi (gai telssm), không có rãnh sau mắt, đường gờ sau chùy khá dài đôi khi từ mép sau vỏ sau đầu ngực Gờ bên chùy ngắn, chỉ kéo dài tới gai thượng vị Có 6 đốt bụng, ở đốt mang trứng, rãnh bụng rất hẹp hoặc không có Gai đuôi không phân nhánh Râu không có gai phụ và chiều dài râu ngắn hơn nhiều so với vỏ giáp

Ở vùng biển tự nhiên, tôm chân trắng thích nghi sống nơi đáy là bùn, độ sâu khoảng 72 m, có thể sống ở độ mặn trong phạm vi 5 – 50 ‰; thích hợp ở độ mặn nước biển 28 – 34 ‰; pH = 7,7 – 8,3; nhiệt độ thích hợp 25 – 320C; tuy nhiên chúng có thể sống được ở nhiệt độ 12 – 280C (Trần Minh Anh, 1989)

Tôm chân trắng là loại ăn tạp giống như những loài tôm khác Song không đòi hỏi thức ăn có hàm lượng đạm cao như tôm sú Tôm chân trắng có tốc độ sinh trưởng nhanh, chúng lớn nhanh hơn tôm sú ở tuổi thành niên Trong điều kiện tự nhiên, từ tôm bột đến tôm cỡ 40 g/con mất khoảng thời gian 180 ngày hoặc từ 0,1g có thể lớn

tới 15g trong giai đoạn 90 – 120 ngày (Trần Minh Anh, 1989)

Trang 18

Bảng 2.1 Đặc điểm sinh học tôm thẻ thích nghi với môi trường

TT Các chỉ tiêu Khoảng thích hợp Khoảng chịu đựng

Nguồn: Báo cáo Sở Khoa học và công nghệ tỉnh Nghệ An, 2016

Độ kiềm giữ vai trò làm hệ đệm giúp giữ cho pH được ổn định và duy trì tốt việc phát triển các sinh vật phù du và kể cả tôm Độ kiềm thích hợp cho tôm thẻ là 80 – 150 mg/l, sử dụng vôi nông nghiệp hay bột vỏ sò (CaCO3), Dolomite (CaMg(CO3)2) để tăng độ kiềm

Độ pH thích hợp cho nuôi tôm thẻ chân trắng từ 7 – 9, tốt nhất là 7,5 – 8,5, nhưng những vùng khác nhau độ pH thích hợp cho tôm thẻ sinh trưởng cũng khác nhau Do đó theo kinh nghiệm và trong phạm vi thích hợp người nuôi tôm tự tìm độ

pH thật sự thích hợp cho tôm tăng trưởng tại ao hồ nuôi của mình

Quản lý độ pH trong ao hồ nuôi tôm, người nuôi tôm có thể khắc phục được bằng việc sử dụng bốn nhóm vôi chủ yếu là: CaCO3, Ca(OH)2, CaO và CaMg(CO3)2

Sử dụng loại vôi nào người nuôi phải nghiên cứu tính năng, tác dụng của từng loại vôi cho phù hợp Trong trường hợp độ pH cao ta sử dụng D_best hoặc thay nước và tiếp tục sử dụng D_best Chú ý đừng để độ pH thay đổi quá nhanh sẻ ảnh hưởng đến chất lượng nước và tôm nuôi, nên sử dụng vôi hay D_best với hàm lượng ít và nhiều lần

- Về độ trong: Độ trong của nước trong ao hồ phần lớn là do các sinh vật sinh

ra Độ trong đục thích hợp khoảng 30 – 40cm Chúng ta cố gắng duy trì độ trong và độ

pH thích hợp sẽ giúp ổn định nước và tôm sẽ phát triển tốt Vì vậy phải khống chế độ trong của nước

Trang 19

- Về hàm lượng Ôxy hoà tan: Hàm lượng ôxy hoà tan trong nước thích hợp là không được dưới 03ppm Trong nước nếu có lượng ôxy nhiều sẽ có những ưu điểm sau: Giảm các chất độc hại, thuận lợi cho việc phân huỷ các chất hữu cơ, tăng chất lượng nước, tôm sẽ sống thoải mái Do đó mà người nuôi tôm phải nghiên cứu tăng hàm lượng ôxy trong nước

Trong ao hồ có lượng ôxy thấp sẽ làm cho tôm căng thẳng, ăn mồi giảm và dễ nhiễm bệnh Sự phân huỷ các chất hữu cơ thiếu ôxy sẽ gây ra nhiều chất độc hại Kết quả cuối cùng là tỷ lệ sống của tôm bị giảm xuống

2.1.2 Một số khái niệm về nuôi tôm mật độ thấp và mật độ cao

Mô hình nuôi chủ yếu của tôm thẻ chân trắng hiện nay là mật độ thấp (dưới 100 con/m2) và mật độ cao (trên 100 con/m2) Với hai mô hình này, quy trình nuôi tôm thẻ khác nhau và đều tuân theo những quy chuẩn nuôi riêng

Kỹ thuật nuôi tôm thẻ chân trắng mật độ cao nhằm tiết kiệm diện tích nuôi, tăng năng suất và rút ngắn thời gian thu hoạch, mang lại hiệu quả kinh tế cao

Kỹ thuật nuôi tôm thẻ chân trắng thông thường

Nếu không đáp ứng các yêu cầu trên thì người nuôi nên chọn mô hình nuôi bán công nghiệp với mật độ <100 con/m2 sẽ hiệu quả và ít rủi ro hơn Tuy nhiên, nếu các chủ hộ biết cách chọn tôm thẻ chân trắng giống thì với kỹ thuật nuôi tôm thẻ chân trắng mật độ cao sẽ đạt năng suất rất đáng kể

Nuôi tôm thẻ chân trắng trong ao thông thường (ao mặn lợ) đúng kỹ thuật sẽ cho năng suất rất cao, ít tốn công chăm sóc, tiết kiệm chi phí đầu tư…

Một điều tưởng chừng như bình thường nhưng rất quan trọng và không thể thiếu trong quá trình nuôi tôm thẻ chân trắng là luôn làm sạch đáy ao Khi nuôi tôm sú, người nuôi có thể xi phông đáy theo định kỳ Nhưng khi áp dụng kỹ thuật nuôi tôm thẻ chân trắng mật độ cao, mỗi tuần người nuôi phải xả cặn bã đáy ao tại các vị trí thu gom hoặc bơm hút cặn sang các ao trữ để xử lý

Kỹ thuật nuôi tôm thẻ chân trắng mật độ cao

Đối với người nuôi tôm quảng canh, quảng canh cải tiến hoặc người mới có ý định nuôi tôm thì kỹ thuật nuôi tôm thẻ chân trắng mật độ cao cần được cân nhắc kỹ các yếu tố sau:

Trang 20

Ao nuôi tôm nên được trải bạt và phủ bạt quanh bờ ao

Ao nuôi có hệ thống ôxy đáy, hệ thống quạt nước tạo được các khu vực gom mùn

bã, thức ăn dư thừa ở đáy ao Thời gian quạt nước phải đảm bảo 24/24 khi nuôi từ 2 tháng đến khi thu hoạch Con giống phải sạch bệnh thì thả nuôi mật độ cao sẽ dễ thành công hơn

Hệ thống ao trong kỹ thuật nuôi tôm thẻ chân trắng mật độ cao

Trong khi những người nuôi quy mô nhỏ, tập trung dạng nuôi quảng canh cải tiến, bán công nghiệp sau khi đầu tư thêm một số thiết bị và cải tạo lại ao hồ lên nuôi mật

độ cao, tuy nhiên do ao liền ao, bờ liền bờ giữa các hộ nuôi với nhau thì việc nuôi tôm thẻ chân trắng mật độ từ 100 con/m2 trở lên sẽ gặp trở ngại như: tôm chậm lớn, kích cỡ không đồng đều đến khi thu hoạch, dịch bệnh dễ xảy ra…Với các ao hồ được đầu tư tốt, khu nuôi riêng biệt, sau mỗi vụ nuôi ngoài việc cải tạo tốt ao nuôi còn phải nên vét đường cấp nước và đường xả thoát nước Hệ thống ao nuôi là yếu tố rất quan trọng quyết định sự thành bại trong kỹ thuật nuôi tôm thẻ chân trắng Việc nâng cấp ao hồ từ nuôi tôm sú qua nuôi tôm thẻ chân trắng mật độ cao cũng cần phải chú trọng về độ sâu của mực nước ao nuôi Đây cũng được xem như là ưu tiên số một khi cải tạo ao hồ Đối với các ao nuôi trải bạt toàn bộ đáy ao, độ sâu mực nước thích hợp cho nuôi mật

Trang 21

mật độ cao từ 150-200 con/m2 trên hệ thống ao nuôi tôm sú trước đây, ngoài chú ý về

ao nuôi, các chủ hộ nuôi nên chú ý một số vấn đề kỹ thuật như sau:

Về con giống: Chỉ nuôi mật độ cao khi chọn được con giống sạch bệnh

Trong quá trình nuôi, các biểu hiện của ao nuôi không dễ nhận biết nên đòi hỏi người nuôi phải bám sát để phát hiện và xử lý kịp thời

Để thực hành kỹ thuật nuôi tôm thẻ chân trắng mật độ cao cho năng suất tốt chủ

hộ có thể áp dụng theo kỹ thuật canh tác như sau:

Đảm bảo nước ao có màu vàng lục, độ trong 26-30cm, hàm lượng ôxy đầy đủ bằng cách lắp đặt máy quạt nước cho tôm

Hệ thống ao nuôi, con giống và thức ăn quyết định rất lớn đến sự thành công trong kỹ thuật nuôi tôm thẻ chân trắng mật độ cao, chính vì thế nếu không thể thiết kế

ao nuôi theo chuẩn, không đảm bảo các yếu tố thì rủi ro rất cao, người nuôi cần cân nhắc trước khi quyết định mật độ thả nuôi cho phù hợp

2.2 Cơ sở lý thuyết về hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào và khả năng sinh lời trong sản xuất

2.2.1 Các khái niệm về hiệu quả trong sản xuất

Từ trước đến nay có rất nhiều tác giả đưa ra các quan điểm khác nhau về hiệu quả: Theo P Samerelson và W Nordhaus (1991) thì: “hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hoá này mà không cắt giảm sản lượng một

Trang 22

loại hàng hoá khác Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên giới hạn khả năng sản xuất của nó” Thực chất của quan điểm này đã đề cập đến khía cạnh phân bổ có hiệu quả các nguồn lực của nền sản xuất xã hội Việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực sản xuất trên đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ làm cho nền kinh tế có hiệu quả cao Có thể nói mức hiệu quả ở đây mà tác giả đưa ra là cao nhất, là lý tưởng và không thể có mức hiệu quả nào cao hơn nữa

Theo Coelli và các cộng sự (2005) thì hiệu quả kinh tế (EE – Economic efficiency) gồm hai bộ phận là hiệu quả kỹ thuật (TE – Technical efficiency) và hiệu quả phân bổ (AE – Allocative efficiency) Hiệu quả kỹ thuật (TE) là khả năng tạo ra một khối lượng đầu ra cho trước từ một khối lượng đầu vào nhỏ nhất hay khả năng tạo ra một khối lượng đầu ra tối đa từ một lượng đầu vào cho trước, ứng với một trình độ công nghệ nhất định Hiệu quả kỹ thuật được đo bằng số lượng sản phẩm có thể đạt được trên số nguồn lực sử dụng vào sản xuất Hiệu quả phân bổ (AE) là khả năng lựa chọn được một khối lượng đầu vào tối ưu mà ở đó giá trị sản phẩm biên của đơn vị đầu vào cuối cùng bằng với giá của đầu vào đó Hiệu quả phân bổ là thước đo mức độ thành công của người sản xuất trong việc lựa chọn các tổ hợp đầu vào tối ưu Khi nắm được giá của các yếu tố đầu vào và đầu ra, người sản xuất sẽ quyết định mức sử dụng các yếu tố đầu vào theo một tỷ lệ nhất định để đạt được lợi nhuận tối đa Hiệu quả kinh tế (EE) là hiệu quả kinh tế được tính bằng tích của hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ

Sự khác nhau trong hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp có thể do sự khác nhau về hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ

Từ các quan điểm về hiệu quả kinh tế thì có thể đưa ra khái niệm về hiệu quả kinh

tế của các hoạt động sản xuất kinh doanh như sau: hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực như (lao động, máy móc, thiết bị, tiền vốn và các yếu tố khác) nhằm đạt được mục tiêu đề ra

2.2.2 Hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào (hiệu quả kỹ thuật)

Việc phân tích hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào (hiệu quả kỹ thuật) để tìm cách gia tăng sản lượng đầu ra mà không phải sử dụng nhiều hơn các yếu tố đầu vào đang là một chủ đề được nhiều nhà hoạch định chính sách quan tâm Việc sử dụng phương

Trang 23

pháp DEA để đo lường hiệu quả kỹ thuật cũng như hiệu quả kinh tế đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới áp dụng sâu rộng trên nhiều lĩnh vực Cách tiếp cận đo lường hiệu quả hiện đại bắt đầu với Farrell (1957) nghiên cứu hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào

Hiệu quả kỹ thuật (TE) là khả năng của người sản xuất có thể sản xuất mức đầu

ra tối đa với một tập hợp đầu vào và công nghệ cho trước

Theo Koopman (1951) thì: “Một nhà sản xuất được xem là có hiệu quả kỹ thuật nếu một sự gia tăng trong bất kì đầu ra đòi hỏi một sự giảm xuống của ít nhất một đầu

ra khác hoặc một sự gia tăng của ít nhất một đầu vào”

Hiệu quả kỹ thuật là số lượng sản phẩm có thể đạt trên một đơn vị chi phí đầu vào hay nguồn lực sử dụng vào sản xuất nông nghiệp trong những điều kiện cụ thể về

kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào nông nghiệp Hiệu quả kỹ thuật được áp dụng phổ biến trong kinh tế vi mô để xem xét tình hình sử dụng các nguồn lực cụ thể Hiệu quả

kỹ thuật này thường được phản ánh trong mối quan hệ về các hàm sản xuất Nó chỉ ra rằng một đơn vị nguồn lực dùng vào sản xuất đem lại bao nhiêu sản phẩm

2.2.3 Ước lượng hiệu quả kỹ thuật (TE) dựa vào phương pháp phân tích màng bao dữ liệu theo mô hình hiệu suất không đổi theo quy mô (Constant Returns to Scale Input Oriented DEA model, CRS-DEA model)

Charnes và các cộng sự (1978) đã khởi xướng phương pháp phân tích phi tham

số Data Envelopment Analysis (DEA) Mặc dù phương pháp tham số (SPF) được sử dụng phổ biến, nhưng các phương pháp phi tham số cũng đang được sử dụng ngày càng nhiều khi chúng ta không xác định được dạng công nghệ hoặc dạng hàm sản xuất Điểm nổi bật của phương pháp DEA là nó có thể giải quyết các ràng buộc trong việc xác định dạng sản xuất và vô số các phương thức phân phối của phần dư Hơn nữa, ước lượng biên sản xuất dựa trên kết quả hiện có sẽ cho ta một đường biên gần với thực tế hơn DEA đang ngày càng được sử dụng rộng rãi Phương pháp phân tích DEA được mô phỏng như sau

Hiệu quả kỹ thuật phản ánh khả năng của người sản xuất có thể sản xuất mức đầu ra tối đa với một tập hợp đầu vào và công nghệ cho trước hoặc tối thiểu hóa các yếu tố đầu vào để sản xuất ra một lượng đầu ra không đổi Hai cách định nghĩa này về hiệu quả kỹ thuật có thể được biết đến với hai cách đo lường hiệu quả định hướng đầu

ra và định hướng đầu vào tương ứng Hai cách đo lường này sẽ cho kết quả giống nhau

Trang 24

nếu chúng ta sử dụng mô hình hiệu suất không đổi theo quy mô Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp đo lường hiệu quả theo định hướng đầu vào

Giả sử ta có dữ liệu của I công ty, mỗi công ty sử dụng N đầu vào và M đầu ra Với công ty thứ i, dữ liệu về đầu vào được thể hiện bằng véctơ cột xi và đầu ra được diễn tả bằng véctơ cột yi Như vậy, số liệu đầu vào và đầu ra của tất cả các công ty được thể hiện bằng ma trận X (N hàng, I cột) và ma trận Y (M hàng, I cột)

Phương pháp sử dụng các “tỷ lệ” được xem là phương pháp trực quan mô tả phân tích bao số liệu (DEA) Với mỗi công ty, chúng ta sẽ đo tỷ lệ của tổng số lượng các sản phẩm đầu ra trên tổng số lượng các đầu vào đã sử dụng (u’yi/v’xi) với u là véc

tơ số lượng đầu ra (M hàng 1 cột); v là véc tơ số lượng đầu vào (N hàng 1 cột)

Mô hình DEA được sử dụng để tính toán hiệu quả kỹ thuật như sau:

(1) Trong đó, θ - Đại lượng vô hướng, thể hiện mức độ hiệu quả của doanh nghiệp;

λ –Véc tơ hằng số Nx1

Bài toán (1) được giải N lần, nghĩa là từng lần đối với mỗi doanh nghiệp Như vậy giá trị nghiệm  được xác định cho từng doanh nghiệp Nếu  = 1 nghĩa là doanh nghiệp đạt hiệu quả;  < 1 nghĩa là doanh nghiệp không đạt hiệu quả Các doanh nghiệp không đạt hiệu quả có thể chiếu lên đường giới hạn hiệu quả, khi đó ta nhận được tổ hợp tuyến tính (X, Y) – là vị trí của doanh nghiệp tham chiếu giả định Đối với các doanh nghiệp không đạt hiệu quả (θ < 1) có thể thiết lập mục tiêu giảm tỷ lệ các yếu tố đầu vào một đại lượng là  trong khi vẫn giữ các giá trị xuất lượng như trước

Trong hình 2.1, có 4 doanh nghiệp A, B, C, D đều sản xuất ra một mức sản lượng như nhau sử dụng hai biến đầu vào là x1 và x2 Doanh nghiệp A, C, D đạt hiệu quả kỹ thuật Tại B, để sản xuất một đơn vị yếu tố đầu ra, sự phi hiệu quả kỹ thuật của doanh nghiệp B được biểu diễn bằng khoảng cách B’B, là một lượng đầu vào có thể giảm tương ứng mà không làm giảm bớt đầu ra Hiệu quả kỹ thuật của doanh nghiệp B được đo lường bằng tỷ lệ: TE = OB’/OB

0

, 0

, 0

), (

Y y

i i

Trang 25

Hình 2.1 Sơ đồ phản ánh các chỉ tiêu hiệu quả

Nguồn: Coelli., 2002 Technical, Allocative, Cost and Scale Efficiencies in Bangladesh Rice Cultivation: A Non-parametric Approach

2.2.4 Ước lượng hiệu quả kỹ thuật (TE) dựa vào phương pháp phân tích màng bao dữ liệu theo mô hình hiệu suất thay đổi theo quy mô (Variable Returns to Scale Input Oriented DEA model, VRS-DEA model)

Giả định CRS chỉ áp dụng khi tất cả DMU hoạt động với quy mô tối ưu Cạnh tranh không hoàn hảo, các ràng buộc về tài chính, là nguyên nhân làm cho các DMU không hoạt động tại mức quy mô tối ưu Banker, Charnes và Cooper (1984) đề nghị

mở rộng mô hình DEA_CRS cho trường hợp năng suất thay đổi theo quy mô Việc sử dụng mô hình DEA_CRS khi không phải tất cả các DMU đang hoạt động với quy mô tốt nhất, sẽ cho kết quả của TE bao gồm cả hiệu quả quy mô (SE), còn được gọi là hiệu quả kỹ thuật tổng hợp Việc sử dụng mô hình DEA_VRS sẽ cho phép tính toán được TE tách bạch với SE, còn được gọi là hiệu quả kỹ thuật thuần túy

Bài toán quy hoạch tuyến tính DEA_CRS có thể điều chỉnh để trở thành mô hình DEA_VRS bằng việc bổ sung thêm ràng buộc của tính lồi là: N1’λ =1 vào phương trình sau:

(2)

0

11

,0

,0

),(

Y y

i i

Trang 26

Trong đó, θ - đại lượng vô hướng, thể hiện mức độ hiệu quả của doanh nghiệp;

λ –Véc tơ hằng số Nx1;

N1 – véc tơ đơn vị Nx1

Nhiều nghiên cứu đã thực hiện phân rã TE thu được từ mô hình DEA_CRS thành

2 thành phần, một phần là mức phi hiệu quả quy mô và phần còn lại là do phi hiệu quả

kỹ thuật thuần túy Kết quả này có thể thực hiện bằng cách tiến hành cả hai mô hình DEA_CRS và DEA_VRS trên một bộ dữ liệu như nhau Nếu có một sự khác biệt về kết qủa TE đối với 1 DMU riêng biệt từ 2 mô hình phân tích, nó biểu thị DMU không hiệu quả quy mô và mức phi hiệu quả quy mô có thể tính toán từ sự khác biệt giữa kết quả TE của mô hình DEA_VRS và DEA_CRS

Hình 2.2 minh họa cho trường hợp này Trong hình chúng ta có ví dụ trường hợp

sử dụng 1 đầu vào và tạo 1 đầu ra và vẽ các đường biên giới hạn của sản xuất cho các trường hợp CRS và VRS Trường hợp CRS theo định hướng đầu vào, mức phi hiệu quả kỹ thuật của điểm P được đo theo khoảng cách , trong khi trường hợp VRS thì mức phi hiệu quả kỹ thuật sẽ chỉ là khoảng cách Sự khác biệt giữa hai điểm này, , được cho là không mức phi hiệu quả quy mô Chúng ta có thể biểu thị tất cả các thước đo hiệu quả như sau:

Tất cả các thước đo hiệu quả sẽ nằm trong khoảng 0 và 1, hơn nữa:

Bởi vì: =

Đó là, hiệu quả kỹ thuật tổng hợp (đo lường bằng mô hình DEA_CRS) đã được phân ra thành hiệu quả kỹ thuật thuần túy (mô hình DEA_VRS) và hiệu quả quy mô

Hình 2.2: Tính toán quy mô kinh tế trong DEA

Nguồn: Coelli., 2002 Technical, Allocative, Cost and Scale Efficiencies in Bangladesh Rice Cultivation: A Non-parametric Approach

Trang 27

Một nhược điểm của thước đo hiệu quả quy mô đã trình bày ở trên là không cho biết các DMU đang hoạt động trong phạm vi năng suất tăng hay giảm theo quy mô Thiếu sót này sẽ được khắc phục bằng việc chạy thêm một mô hình DEA với trường hợp năng suất không tăng theo quy mô (NIRS) Chúng ta thay đổi mô hình DEA trong phương trình trên bằng một ràng buộc thay thế là N1’λ , như vậy:

suất giảm theo quy mô

2.2.5 Ưu và nhược điểm của phương pháp DE

DEA là một phương pháp đánh giá hiệu kỹ thuật ngày càng được áp dụng rộng rãi Những ưu điểm nổi bật của DEA là:

1) Cho phép phân tích hiệu quả trong trường hợp gặp khó khăn trong giải thích mối quan hệ giữa nhiều nguồn lực và kết quả của nhiều hoạt động trong hệ thống sản xuất; 2) DEA có khả năng phân tích một số lượng lớn các yếu tố đầu vào và đầu ra; 3) Phương pháp cho phép đánh giá sự đóng góp của từng yếu tố đầu vào và yếu tố đầu ra trong tổng thể hiệu quả (hoặc không hiệu quả) của doanh nghiệp và đánh giá mức độ không hiệu quả của việc sử dụng nguồn lực

Tuy nhiên, giống như mọi cách tiếp cận khác trong đánh giá hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào, DEA cũng có hàng loạt nhược điểm Đó là:

1) Sai sót trong đo lường và nhiễu thống kê có thể ảnh hưởng đến hình dạng và vị trí đường giới hạn khả năng sản xuất;

Trang 28

2) Loại bỏ các yếu tố đầu vào hoặc đầu ra quan trọng ra khỏi mô hình có thể dẫn đến kết quả sai lệch;

3) Ước lượng hiệu quả thu được bằng cách so sánh với các doanh nghiệp thành công hơn trong mẫu.Vì vậy, đưa thêm doanh nghiệp bổ sung vào phân tích có thể dẫn đến giảm các giá trị hiệu quả;

4) Cần thận trọng khi so sánh giá trị hiệu quả của hai nghiên cứu Các giá trị trung bình phản ánh phương sai của giá trị ước lượng hiệu quả bên trong mỗi mẫu, nhưng không nói gì về hiệu quả của một mẫu so với mẫu khác;

5) Thêm một doanh nghiệp vào phân tích DEA sẽ không làm tăng giá trị hiệu quả

sử dụng các yếu tố đầu vào của các doanh nghiệp hiện có trong mẫu;

6) Tương tự, thêm một yếu tố đầu vào hoặc đầu ra vào mô hình DEA không dẫn đến làm giảm giá trị của hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào;

7) Khi có một số nhỏ các doanh nghiệp tham gia phân tích với nhiều yếu tố đầu vào, đầu ra, sẽ có nhiều doanh nghiệp nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất

2.2.6 Khả năng sinh lời

Để đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp dựa trên phương pháp tài chính, thường sử dụng năm thước đo cơ bản:

+ Tỷ suất lợi nhuận

+ Bảo tồn và phát triển vốn

+ Tình hình tài chính lành mạnh

+ Đóng góp cho ngân sách nhà nước

+ Cải thiện thu nhập cho người lao động

Trong đó, khả năng sinh lời là thước đo quan trọng Khả năng sinh lời là thước

đo hiệu quả bằng tiền, là điều kiện cần nhưng chưa đủ để duy trì cân bằng tài chính Việc đánh giá khả năng sinh lời phải dựa trên một khoảng thời gian tham chiếu Khái niệm khả năng sinh lời được áp dụng trong mọi hoạt động kinh tế sử dụng các phương tiện vật chất, con người và tài chính, thể hiện bằng kết quả trên phương tiện Khả năng sinh lời có thể áp dụng cho một hoặc một tập hợp tài sản Ở cấp độ doanh nghiệp, khả năng sinh lời là kết quả của việc sử dụng tập hợp các tài sản vật chất và tài sản tài chính,

Trang 29

nghĩa là vốn kinh tế mà doanh nghiệp nắm giữ Nhìn chung, tùy theo mục tiêu phân tích, khả năng sinh lời có thể được đại diện bởi nhiều nhóm chỉ số phân tích khác nhau Nhìn chung, tùy theo mục tiêu phân tích, khả năng sinh lời có thể được đại diện bởi nhiều nhóm chỉ số, tiêu biểu là:

ROA - Tỷ số lợi nhuận trên tài sản

Tỷ số lợi nhuận trên tài sản (hay Chỉ tiêu hoàn vốn tổng tài sản, Hệ số quay vòng của tài sản, Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản), thường viết tắt là ROA từ các chữ cái đầu của cụm từ tiếng Anh là Return on Assets, là một tỷ số tài chính dùng để đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của doanh nghiệp

Cách tính: Tỷ số này được tính ra bằng cách lấy lợi nhuận ròng (hoặc lợi nhuận sau thuế) của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo (có thể là 1 tháng, 1 quý, nửa năm, hay một năm) chia cho bình quân tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp trong cùng kỳ Số liệu về lợi nhuận ròng hoặc lợi nhuận trước thuế được lấy từ báo cáo kết quả kinh doanh Còn giá trị tài sản được lấy từ bảng cân đối kế toán Chính vì lấy từ bảng cân đối kế toán, nên cần tính giá trị bình quân tài sản doanh nghiệp

Tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản = 100% x

Lợi nhuận ròng (hoặc lợi nhuận sau thuế) Bình quân tổng giá trị tài sản

Vì lợi nhuận ròng chia cho doanh thu bằng tỷ suất lợi nhuận biên, còn doanh thu chia cho giá trị bình quân tổng tài sản bằng hệ số quay vòng của tổng tài sản, nên còn cách tính tỷ số lợi nhuận trên tài sản nữa, đó là:

Tỷ số lợi nhuận trên tài sản = Tỷ suất lợi nhuận biên × Số vòng quay tổng tài sản

Ý nghĩa: Nếu tỷ số này lớn hơn 0, thì có nghĩa doanh nghiệp làm ăn có lãi Tỷ số càng cao cho thấy doanh nghiệp làm ăn càng hiệu quả Còn nếu tỷ số nhỏ hơn 0, thì doanh nghiệp làm ăn thua lỗ Mức lãi hay lỗ được đo bằng phần trăm của giá trị bình quân tổng tài sản của doanh nghiệp Tỷ số cho biết hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản

để tạo ra thu nhập của doanh nghiệp

Tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản phụ thuộc vào mùa vụ kinh doanh và ngành nghề kinh doanh Do đó, người phân tích tài chính doanh nghiệp chỉ sử dụng tỷ số này trong so sánh doanh nghiệp với bình quân toàn ngành hoặc với doanh nghiệp khác cùng ngành và so sánh cùng một thời kỳ

Trang 30

ROE - Tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu

Tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu hay Tỷ suất thu nhập của vốn cổ đông hay Chỉ tiêu hoàn vốn cổ phần của cổ đông (có thể viết tắt là ROE từ các chữ cái đầu của cụm từ tiếng Anh là Return on Equity) là tỷ số tài chính để đo khả năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn cổ phần ở một công ty cổ phần

Cách tính: Lợi nhuận trong tỷ số này là lợi nhuận ròng dành cho cổ đông, lấy từ báo cáo kết quả kinh doanh của công ty cổ phần, tính trong một thời kỳ nhất định (1 tháng, 1 quý, nửa năm, hay 1 năm) gọi là kỳ báo cáo

Tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu = 100% x

Lợi nhuận ròng (Lợi nhuận sau thuế) Bình quân vốn cổ phần phổ thông

Vì lợi nhuận ròng chia cho doanh thu thuần thì bằng tỷ suất lợi nhuận biên, vì doanh thu thuần chia cho giá trị bình quân tổng tài sản thì bằng số vòng quay tổng tài sản và vì bình quân tổng tài sản chia cho bình quân vốn cổ phần phổ thông thì bằng hệ

số đòn bẩy tài chính, nên còn có công thức tính thứ 2 như sau:

Tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu = Tỷ suất lợi nhuận biên x Số vòng quay tổng tài sản x Hệ số đòn bẩy tài chính

Mặt khác, vì tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA) bằng tỷ suất lợi nhuận biên nhân với số vòng quay tổng tài sản, nên ta có:

ROE = ROA x Hệ số đòn bẩy tài chính

Trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, do tài nguyên thiên nhiên như đất, mặt nước là các đầu vào rất quan trọng trong sản xuất Thực sự, việc định giá các tài sản này là rất khó Hơn nữa, nông dân do kiến thức hạn chế, họ thường chỉ quan tâm trong năm một đơn vị diện tích đất sẽ mang lại cho họ bao nhiêu tiền Do vậy chỉ số về khả năng sinh lời mà nghiên cứu sử dụng là thặng dư sản xuất/hec – ta

Thặng dư sản xuất/hec-ta: Là doanh thu/hec-ta trừ đi chi phí biến đổi/hec-ta,

chỉ số này cho biết khả năng tái đầu tư của sản xuất trong ngắn hạn, đây là chỉ số về khả năng sinh lời quan trọng nhất đối với nông hộ Thực sự, nếu chỉ số này âm, nông dân sẽ rơi vào nợ nần nặng nề, khó có khả năng tiếp tục sản xuất được vụ kế tiếp

Trang 31

2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước

2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Phương pháp DEA đã được sử dụng trong nhiều đề tài nghiên cứu để đánh giá hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào và khả năng sinh lời đối với lĩnh vực thủy sản như: Đặng Hoàng Xuân Huy và cộng sự (2012), nghiên cứu phân tích hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào cho các trại nuôi cá Tra thương phẩm tại Đồng Bằng Sông Cửu Long bằng phương pháp phân tích màng dữ liệu (DEA) theo mô hình tối thiểu hóa đầu vào và phương pháp đường biên ngẫu nhiên (SPF) Kết quả cho thấy, theo phương pháp DEA tối thiểu hóa đầu vào trong trường hợp quy mô không ảnh hưởng đến kết quả sản xuất (CRS), chỉ có 9,47% số trại cá Tra đạt hiệu quả sử dụng các yếu

tố đầu vào, hệ số hiệu quả trung bình là 0,57; trong trường hợp qui mô ảnh hưởng đến kết quả sản xuất (VRS), chỉ có 19,47% số trại cá Tra đạt hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào, hệ số hiệu quả trung bình là 0,72 Trái lại, với phương pháp phân tích đường biên ngẫu nhiên (SPF), hệ số hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào trung bình là 0,89

và có hai nhân tố có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào đó là chi phí hóa chất và thức ăn

Lê Kim Long, Đặng Hoàng Xuân Huy, Nguyễn Thị Hồng Đào, Trương Ngọc Phong (2011), Phân tích hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào và khả năng sinh lợi của

nghề nuôi tôm thẻ chân trắng (litopenaeus vannamei) thương phẩm tại thị xã Ninh

Hòa, tỉnh Khánh Hòa, đề tài cấp Trường Đại học Nha Trang Nghiên cứu đã hệ thống

và phân tích thực trạng hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào, khả năng sinh lợi và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển bền vững nghề nuôi tôm he chân trắng tại thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa Khả năng sinh lời được đại diện bởi 3 chỉ tiêu là thặng dư của người sản xuất, thu nhập và lợi nhuận trên một hec-ta nuôi Kết quả phân tích cho thấy 3 đầu vào của sản xuất gồm con giống, thức ăn, chi phí biến đổi khác có ảnh hưởng quan trọng nhất tới sản lượng/hec-ta và công nghệ nuôi hiện tại đang lạm dụng yếu tố thức ăn Hệ số hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào biến thiên trong khoảng 0,1764 – 0,9504, với hệ số trung bình là 0,6867 Điều này hàm ý rằng: (i) việc sử dụng các yếu tố đầu vào trong sản xuất của các hộ nuôi vẫn còn lãng phí; (ii) quản lý thức

ăn trong sản xuất là vấn đề rất quan trọng với hộ nuôi – đặc biệt đây là đầu vào có chi phí lớn và là nguyên nhân chủ yếu thải các chất ô nhiễm ra môi trường

Trang 32

Lương Thị Hậu (2016), Phân tích khả năng sinh lợi của nghề nuôi tôm thẻ chân

trắng (litopenaeus vannamei) thương phẩm tại tỉnh Ninh Thuận Nghiên cứu phân tích

thực trạng và khả năng sinh lời của 104 hộ nuôi tại tỉnh Ninh Thuận Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có sự khác biệt khá lớn về hình thức nuôi, mật độ nuôi, mức độ đầu

tư và năng suất nuôi giữa vùng nuôi tôm trong ao đất và vùng nuôi tôm trên cát Ở vùng nuôi tôm trong ao đất thì mức độ đầu tư thấp hơn, tổng chi phí (bao gồm cả chi phí biến đổi và chi phí cố định) thấp hơn, mật độ nuôi thấp hơn, rủi ro cao hơn, năng suất thấp hơn Do đó khả năng sinh lời thấp hơn so với vùng nuôi tôm trên ao cát Kết quả ước lượng trong số 9 biến đưa vào mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của nghề nuôi tôm thẻ chân trắng thương phẩm ở Ninh Thuận gồm: Vùng nuôi, tập huấn, trình độ của người nuôi, vay vốn, kinh nghiệm, diện tích nuôi, giá bán tôm thương phẩm, số lao động và năng suất nuôi thì chỉ có 4 biến: Vùng nuôi, diện tích nuôi, giá bán tôm thương phẩm và năng suất là có ảnh hưởng đến khả năng sinh lời (thặng dư của nhà sản xuất/ha) của nghề nuôi tôm Kết quả phân tích còn cho thấy mức độ ảnh hưởng của các nhân tố vùng nuôi, diện tích nuôi, giá bán tôm thương phẩm và năng suất nuôi có mối tương quan khá tốt với khả năng sinh lời Do đó khả năng đàm phán của các hộ nuôi khi bán tôm thương phẩm, việc hoạch định vùng nuôi hợp lý hay gia tăng diện tích nuôi và gia tăng năng suất là điều kiện cần thiết để nâng cao khả năng sinh lời cho nghề nuôi tôm thẻ chân trắng thương phẩm ở Ninh Thuận nói riêng và ở Việt Nam nói chung

Đàm Thị Huế (2015), Phân tích hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào và khả năng sinh lợi của nghề nuôi tôm thẻ chân trắng thương phẩm tại huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa Với mẫu khảo sát của nghiên cứu chính thức n = 175 hộ nuôi, kết quả nghiên cứu nhận thấy hầu hết các khoản mục của hình thức nuôi mật độ cao là cao hơn nhiều so với hình thức nuôi mật độ thấp Chỉ tiêu khả năng sinh lời của cách hộ nuôi tôm theo hình thức mật độ thấp trung bình là 0,35 trđ/ha, hiệu quả kỹ thuật trung bình

là 0,59 tương đối thấp Chỉ tiêu khả năng sinh lời của các hộ nuôi tôm theo hình thức mật độ cao trung bình là 0,46 trđ/ha, hiệu quả kỹ thuật trung bình là 0,74 tương đối cao Điều này cho thấy các hộ nuôi mật độ cao sử dụng khá hợp lý các yếu tố đầu vào Kết quả ước lượng trong số 8 biến đưa vào mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật (số người tham gia nuôi tôm, kinh nghiệm nuôi, trình độ chủ hộ, tập huấn, vay vốn, diện tích nuôi, hình thức nuôi, chất lượng giống) thì 2 biến “hình thức nuôi”

Trang 33

và “kinh nghiệm nuôi” ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật (p<0,05) Kết quả ước lượng trong số 8 biến đưa vào mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời thì 2 biến “diện tích nuôi” và “kinh nghiệm nuôi” ảnh hưởng đến khả năng sinh lời (p<0,05) Ngoài ra, hệ số tương quan giữa hiệu quả kỹ thuật và khả năng sinh lời là 0,462 nằm trong khoảng từ 0,4 đến 0,5, như vậy hai yếu tố này có tương quan tuyến tính Việc tiết kiệm đầu vào sản xuất có thể làm tăng khả năng sinh lời của nghề nuôi tôm

2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Trong điều kiện dân số thế giới gia tăng và các nguồn tài nguyên thiên nhiên hữu hạn, việc phân tích hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào (còn được gọi là hiệu quả kỹ thuật – technical efficiency) để tìm cách gia tăng sản lượng đầu ra mà không phải sử dụng nhiều hơn các yếu tố đầu vào đang là một chủ đề được nhiều nhà khoa học, nhà hoạch định chính sách trên thế giới quan tâm Farrel (1957) là người đầu tiên xây dựng một cách có hệ thống về lý thuyết này và hiện tại có hai phương pháp phân tích chính là Data Envelopment Analysis (DEA) được khởi xướng bởi Charnes và các cộng sự (1978) và phương pháp Stochastic Production Frontier (SPF) được phát triển bởi Battese và Coelli (1995) Mặt khác, ở giác độ vi mô, các chủ hộ nuôi thường quan tâm chủ yếu đến khả năng sinh lời Do vậy, việc phân tích hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào (hiệu quả kỹ thuật) và khả năng sinh lời của các đơn vị sản xuất để đề xuất các chính sách phát triển bền vững đã được áp dụng rất rộng rãi để trong ngành thủy sản Ví dụ, Dawang và cộng sự (2011) cho các hộ đánh bắt thủy sản ven bờ Nigeria với 110 mẫu,

đã chỉ ra rằng hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào (hiệu quả kỹ thuật) trung bình là 0,83

và thu nhập ròng của một trại nuôi là 48.734,57 đồng Nigeria; Long và cộng sự (2008) cho thấy lợi nhuận/doanh thu trong năm 2004 của nghề cá ngừ đại dương Khánh Hòa

là 12% Nghiên cứu trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản tiêu biểu là: Sharma và Lueng (1998) chỉ ra rằng hiệu quả kỹ thuật trung bình của cá Chép ở Nepal là 0,77; và Iinuma, Sharma và Lueng (1999) chỉ ra hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào (hiệu quả kỹ thuật) trung bình của cá Chép ở Peninsula, Malaysia là 42%

Nguyen, K T., & Fisher, T C., 2014 Efficiency analysis and the effect of pollution in the Mekong river delta Aquaculture Economics & Management, 18, 325–

343 Nghiên cứu sử dụng các biến đầu vào gồm: chất lượng giống, số người tham gia nuôi, thức ăn, nguyên vật liệu và hóa chất Biến đầu ra là sản lượng tôm thu hoạch

Trang 34

Đã có nhiều nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích DEA trong đánh giá hiệu quả của nghề nuôi tôm Bảng dưới tác giả tóm tắt một số nghiên cứu và các biến đầu vào và đầu ra của các nghiên cứu này

Bảng 2.2 Tóm lược các biến lựa chọn của các nghiên cứu trước Tác giả Tên Nghiên

cứu

Phương pháp nghiên cứu

Đầu ra Đầu vào

Lê Kim Long –

Đặng Hoàng

Xuân Huy

(2012)

Phân tích hiệu quả kỹ thuật cho các ao nuôi tôm he chân trắng thương phẩm tại thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa

Phương pháp

phương pháp SPF

Sản lượng (kg/ha)

Lao động (giờ/ha) Con giống (ngàn con/ha)

Thức ăn (Kg/ha) Chi phí biến đổi (ngàn đồng/ha)

Phương Pháp DEA – CRS, SPF

Tổng sản lượng (kilogram)

Diện tích ao (ha) Lao động (người/ vụ)

Máy quạt nước (cái)

Độ sâu của ao (m) Chi phí hoạt động (triệu đồng/vụ) Lương Thị Hậu

(2016)

Phân tích khả năng sinh lợi của nghề nuôi tôm thẻ chân trắng

(litopenaeus vannamei)

thương phẩm tại tỉnh Ninh Thuận

Phương pháp phân tích hồi quy

Sản lượng tôm Vùng nuôi, Diện

tích nuôi, Giá bán tôm thương phẩm

và Năng suất nuôi

Trang 35

Đàm Thị Huế

(2015)

Phân tích hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào

và khả năng sinh lời của nghề nuôi tôm thẻ chân trắng tại huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa

Phương Pháp DEA

Doanh thu (triệu đồng/ha)

Chi phí thức ăn (triệu đồng/ha) Chi phí giống (triệu đồng/ha) Chi phí nhiên liệu (triệu đồng/ha) Chi phí thuốc (triệu đồng/ha) Chi phí nhân công (triệu đồng/ha) Nguyen, K T.,

& Fisher, T C.,

2014

Efficiency analysis and the effect of pollution in the Mekong river delta

Phương Pháp DEA

Sản lượng/ha Lao động (giờ/ha)

Con giống (ngàn con/ha)

Thức ăn (Kg/ha) Hóa chất (kg/ha)

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

2.4 Khung phân tích của nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích DEA để tính toán hiệu quả kỹ thuật của các hộ nuôi tôm Các biến sử dụng trong phân tích như sau:

Bảng 2.3 Các biến trong mô hình DEA

Đầu vào sản xuất

Nguồn: Tính toán của tác giả

Trang 36

Sử dụng hàm hồi quy Tobit để tìm mối tương quan giữa hiệu quả kỹ thuật và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật của nghề nuôi tôm thẻ chân trắng thương phẩm

và hàm hồi quy tuyến tính để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời:

Hình 2.3 Mô hình đề xuất nghiên cứu

Trong mô hình trên, các biến giải thích trong mô hình có thể được chia thành hai nhóm Định nghĩa các biến được tóm tắt trong bảng 2.2 Nhóm thứ I, dựa vào các nghiên cứu trước và mức độ sẵn có của bộ dữ liệu điều tra, nghiên cứu xây dựng một tập hợp các biến đặc điểm nông hộ (Số người tham gia nuôi, trình độ học vấn, kinh nghiệm nuôi, vay vốn ngân hàng để sản xuất, tập huấn) Nhóm thứ II là nhóm các yếu

tố thuộc đặc điểm sản xuất (diện tích nuôi và hình thức nuôi) được đưa vào mô hình nhằm đo lường sự ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu quả kỹ thuật cũng như khả năng

sinh lời của các hộ nuôi

* Nhóm biến yếu tố đặc điểm nông hộ

- Trình độ học vấn: Đại diện cho kỹ năng và trình độ của chủ hộ, được đo lường bằng cấp học (có giá trị = 1 nếu chủ hộ có trình độ từ trung cấp trở lên, = 0 nếu chủ hộ

có trình độ trung cấp trở xuống) Nếu chủ hộ có trình độ học vấn cao thì sẽ có nhiều lợi thế trong sản xuất do dễ dàng tiếp thu và ứng dụng các tiến bộ của khoa học kỹ thuật vào sản xuất hơn, sản xuất hiệu quả hơn, sử dụng hợp lí các yếu tố đầu vào hơn Theo Phạm Lê Thông (2012) đã chỉ ra rằng học vấn là yếu tố quan trọng quyết định thu nhập của người lao động; trình độ học vấn của người lao động càng cao thì thu

Đặc điểm nông hộ:

– Trình độ học vấn

– Kinh nghiệm người nuôi

– Đào tạo tập huấn

– Số người tham gia nuôi

Trang 37

nhập của họ cũng tăng theo Lê Văn Toàn (2006) cho rằng thu nhập của hộ gia đình có

xu hướng tăng theo trình độ học vấn của chủ hộ Như vậy, có thể thấy trình độ học vấn

có tác động cùng chiều đến thu nhập hay thặng dư của chủ hộ Trên cơ sở đó, giả thuyết sau được xây dựng:

Giả thuyết H1: Hộ có chủ hộ mà trình độ học vấn từ trung cấp trở lên sẽ có

hiệu quả kỹ thuật và thặng dư/ha cao hơn các hộ khác

- Kinh nghiệm sản xuất: được đo bằng số năm mà chủ hộ bắt đầu tham gia nuôi tôm tính đến thời điểm khảo sát Kinh nghiệm là yếu tố quyết định đến việc sản xuất nông nghiệp, các chủ hộ có nhiều kinh nghiệm sẽ biết đưa ra các quyết định liên quan tới tiết kiệm các yếu tố đầu vào, chi phí sản xuất, chăm sóc bảo quản nông sản, dự đoán và ứng phó với những rủi ro trong quá trình sản xuất tốt hơn Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2011) cho rằng số năm kinh nghiệm làm việc của chủ hộ càng nhiều thì thu nhập bình quân của hộ sẽ càng tăng Chủ hộ càng có thời gian hoạt động lâu năm trong nghề nuôi tôm thì càng có nhiều khả năng thu được thặng dư cao hơn Do

đó, giả thuyết sau được đề xuất:

Giả thuyết H2: Chủ hộ có số năm kinh nghiệm sản xuất càng cao thì hiệu quả

kỹ thuật và thặng dư/ha càng cao

- Tiếp thu kỹ thuật từ tập huấn: biến giả đại diện cho việc tiếp thu kỹ thuật sản xuất từ các chương trình tập huấn, (có giá trị bằng 1 nếu đã qua tập huấn chính thức; các trường hợp khác bằng 0) Tiếp thu kỹ thuật từ tập huấn giúp các hộ nắm được cách quản lí và sử dụng hợp lí các yếu tố đầu vào, đúng các kỹ thuật nuôi tôm, mang lại năng suất cao hơn, giảm chi phí sản xuất, nâng cao thặng dư Do đó, giả thuyết được

Trang 38

thuật mới trong nông nghiệp Vốn là yếu tố đầu vào không thể thiếu bởi nông hộ cần vốn để mua vật tư, máy móc, thuê lao động, nhằm đảm bảo tính thời vụ và giảm thiểu rủi ro, qua đó làm tăng thu nhập ( Nguyễn Lan Duyên, 2014) Do đó, giả thuyết được

Giả thuyết H5: Người tham gia nuôi tôm càng nhiều thì hiệu quả kỹ thuật cao

và thặng dư/ha cao

* Nhóm đặc điểm sản xuất:

- Diện tích nuôi: được đo bởi tổng diện tích nuôi hiện có của nông hộ Việc không có hoặc có ít đất sản xuất làm hạn chế khả năng cải thiện thu nhập, bởi diện tích nhỏ hẹp thì sẽ khó áp dụng kỹ thuật canh tác hiện đại, do đó sản phẩm có chất lượng thấp, không đồng đều nên giá trị thấp nhưng giá thành lại cao dẫn đến thặng

dư không cao Bên cạnh đó, hộ với diện tích nuôi lớn sẽ có nhiều lợi thế trong việc bố trí tổ chức nuôi, tiết kiệm được các yếu tố đầu vào và phân bổ hợp lí hơn Do đó, giả thuyết được đề xuất:

Giả thuyết H6: Hộ có diện tích đất sản xuất càng lớn thì hiệu quả kỹ thuật và

thặng dư/ha của nông hộ lớn càng lớn

- Hình thức nuôi: biến giả đại diện cho yếu tố mật độ nuôi, có giá trị bằng 1 nếu hộ nuôi tôm mật độ cao ( từ 100 com/m2 trở lên); bằng 0 nếu hộ nuôi tôm mật độ thấp ( dưới 100 com/m2 ) Khi nuôi với mật độ nuôi tôm cao, chủ hộ có thể tận dụng hết diện tích nuôi, nhân công và các chi phí khác Khi nuôi mật độ thấp chúng ta thấy rõ sự lãng phí diện tích nuôi, nhân công nuôi,….Do vậy, giả thuyết sau được đề xuất:

Giả thuyết H7: Hộ nuôi tôm mật độ cao có thặng dư/ha và hiệu quả kỹ thuật

cao hơn so với hộ nuôi tôm mật độ thấp

Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật và khả năng sinh lời của nông hộ được thể hiện qua hàm hồi quy tuyến tính như sau:

Y = b0 + b1X1i + b2X2i + b3X3i + b4X4i + b5X5i + b6X6i + b7X7i +Ui

Với Y là biến phụ thuộc; Xi là biến độc lập (i = 1 - 7)

Trang 39

Bảng 2.4 Định nghĩa các biến được đưa vào mô hình

(+/-)

Y Biến phụ thuộc Hiệu quả kỹ thuật/Khả năng sinh lời

X1 TRINHDO Có giá trị bằng 1 nếu chủ hộ có trình độ

từ trung cấp trở lên, bằng 0 nếu chủ hộ có trình độ trung cấp trở xuống

+

X2 KNGHIEM Số năm kinh nghiệm của chủ hộ +

X3 TAPHUAN Có giá trị bằng 1 nếu đã qua tập huấn

chính thức; các trường hợp khác bằng 0 + X4 DIENTICH Diện tích đất sản xuất của hộ +

X5 VAYVON Giá trị bằng 1 nếu nông hộ vay vốn ngân

hàng và bằng 0 nếu nông hộ không vay vốn ngân hàng để nuôi tôm

+

X6 NGUOI Số người tham gia nuôi tôm (người) +

X7 HINHTHUC Có giá trị bằng 1 nếu mật độ cao, bằng 0

Tóm tắt chương 2

Chương này giới thiệu tổng quan về tôm thẻ chân trắng (hình thức nuôi và quy trình nuôi), khái niệm hiệu quả, phương pháp đo lường hiệu quả, bản chất và ý nghĩa hiệu quả hoạt động; các quan điểm đánh giá hiệu quả; trình bày tổng quan các nghiên cứu trước trong và ngoài nước

Trang 40

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Quy trình nghiên cứu

Về cơ bản quy trình nghiên cứu được chia thành 8 bước cơ bản sau:

Bước 2: Nghiên cứu lý thuyết và các công trình nghiên cứu liên quan

Việc xây dựng mô hình và các giả thuyết nghiên cứu xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu của đề tài Cơ sở để xây dựng mô hình và các giả thiết là các tài liệu và những công trình nghiên cứu có liên quan, chính vì vậy việc nghiên cứu lý thuyết có vai trò quan trọng trong việc xây dựng mô hình và bảng câu hỏi điều tra

Bước 3: Xây dựng bảng câu hỏi sơ bộ

Giai đoạn này liên quan chặt chẽ với việc xác định vấn đề và mục tiêu nghiên cứu Để xây dựng bảng câu hỏi phục vụ cho quá trình nghiên cứu, đề tài đã kế thừa những nội dung phiếu điều tra của các nghiên cứu trước đây, đồng thời bổ sung và điều chỉnh những nội dung phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu của luận văn

Bước 4: Phỏng vấn chuyên gia và thảo luận nhóm

Dựa vào các chỉ tiêu phân tích hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào, khả năng sinh lời, biến đầu ra, đầu vào và những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào và khả năng sinh lời được tổng hợp từ các công trình nghiên cứu trước làm cơ sở

để tham vấn ý kiến của các chuyên gia đang công tác trong ngành nông nghiệp Tiến hành thảo luận nhóm để hoàn thiện các chỉ tiêu, các biến đầu ra, đầu vào trên cơ sở đã tham khảo các ý kiến của chuyên gia

Bước 5: Điều tra thử và hoàn thiện bảng câu hỏi chính thức

Giai đoạn điều tra thử là một giai đoạn quan trọng trong quy trình nghiên cứu Kết quả điều tra thử là cơ sở để điều chỉnh lại các nội dung và từ ngữ cần thiết đảm bảo thu thập được những thông tin trung thực phục vụ cho mục tiêu của nghiên cứu

Bước 6: Chọn mẫu và điều tra nghiên cứu chính thức

Điều tra nghiên cứu chính thức được thực hiện ở 3 phường Quỳnh Xuân, phường Mai Hùng, xã Quỳnh Lộc Kết quả điều tra chính thức sẽ là dữ liệu quan trọng trong

Ngày đăng: 22/02/2018, 00:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm