1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cho vay đối với hộ sản xuất tại Ngân hàng Nông nghiệp Phát triển Nông thôn Việt Nam Chi nhánh Cẩm Giàng Hải Dương

55 273 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 144,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cho vay đối với hộ sản xuất tại Ngân hàng Nông nghiệp Phát triển Nông thôn Việt Nam Chi nhánh Cẩm Giàng Hải Dương.Thời kỳ tiếp tục sự nghiệp đổi mới, đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, từ chỗ là nước thiếu lương thực đến nay chúng ta đã trở thành một trong những nước đứng hàng đầu thế giới về xuất khẩu lương thực. Có được kết quả đó là có sự đóng góp đáng kể của kinh tế hộ gia đình. Thể hiện đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước phát triển kinh tế hộ sản xuất trong đó trọng tâm là hộ nông dân sản xuất nông, lâm, ngư, nghiệp. Từ định hướng và chính sách về phát triển kinh tế hộ sản xuất đã giúp cho ngành Ngân hàng nói chung, Ngân hàng nông nghiệp nói riêng thí điểm, mở rộng và từng bước hoàn thiện cơ chế cho vay kinh tế hộ sản xuất. Trong quá trình đầu tư vốn đã khẳng định được hiệu quả của đồng vốn cho vay và khả năng quản lý, sử dụng vốn của các hộ gia đình cho sản xuất kinh doanh, mở rộng thêm ngành nghề, tăng sản phẩm cho xã hội, tăng thu nhập cho gia đình và hoàn trả được vốn cho Nhà nước. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều tồn tại trong cơ chế chính sách, hành lang pháp lý và những tác động của cơ chế thị trường, đòi hỏi các cấp các ngành tiếp tục tháo gỡ khó khăn để đáp ứng đầy đủ kịp thời có hiệu quả nhu cầu về vốn cho hộ sản xuất phát triển kinh tế.Nhận thức được những vấn đề trên và xuất phát từ thực tiễn hoạt động cho vay vốn đến hộ sản xuất tại Ngân hàng Nông Nghiệp Phát triển Nông Thôn Việt Nam chi nhánh huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương em mạnh dạn chọn đề tài: “Cho vay đối với hộ sản xuất tại Ngân hàng Nông nghiệp Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương”. Nhằm mục đích tìm hiểu tình hình thực tế và từ đó tìm ra những giải pháp để hoàn thiện hơn hoạt động cho vay đối với hộ sản xuất, đáp ứng nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế, xã hội trên địa bàn huyện và đảm bảo an toàn vốn đầu tư. 2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu Tìm hiểu cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn về hoạt động cho vay đối với HSX. Phân tích, đánh giá hoạt động cho vay đối với HSX tại NHNoPTNN Việt Nam Chi nhánh huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.Từ đó, đưa ra một số kiến nghị về hoạt động cho vay đối với HSX tại NHNoPTNN Việt Nam Chi nhánh huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu3.1. Đối tượng nghiên cứuĐối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động cho vay đối với hộ sản xuất của ngân hàng thương mại.3.2. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi không gian: Đề tài được nghiên cứu tại NHNoPTNT Việt Nam Chi nhánh huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Địa chỉ: Quốc lộ 5, Thị trấn Lai Cách, Huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Phạm vi thời gian: Đề tài nghiên cứu trong khoảng thời gian 3 năm từ 20132015.4. Phương pháp nghiên cứu Khóa luận được nghiên cứu theo phương pháp thống kê, so sánh, phân tích tổng hợp với những suy luận từ thực tiễn nghiên cứu để từ đó đưa ra những kết luận. Nghiên cứu các luận văn, đề tài, Khóa luận có cùng hướng nghiên cứu. Nghiên cứu số liệu thống kê báo cáo tình hình hoạt động, kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương 20132015. Nghiên cứu các giáo trình giảng dạy, các tài liệu, văn bản Pháp luật liên quan đến hoạt động cho vay Trung dài hạn của Ngân hàng Thương Mại.5. Kết cấu khóa luậnNgoài mở đầu và kết luận, nội dung của khóa luận tốt nghiệp được kết cấu bởi 3 chương:Chương 1: Một số vấn đề lý luận về cho vay đối với hộ sản xuất của Ngân hàng Thương mại.Chương 2: Thực trạng cho vay HSX tại NHNoPTNT Việt Nam Chi nhánh huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.Chương 3: Những giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động cho vay đối với HSX tại NHNoPTNT Việt Nam Chi nhánh huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương CHƯƠNG 1MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI1.1. Hoạt động cho vay của Ngân hàng Thương mại và khái quát hộ sản xuất1.1.1. Hoạt động cho vay của NHTM1.1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của hoạt động cho vay Khái niệm: Hiểu một cách khái quát nhất thì cho vay là một quan hệ kinh tế phát sinh giữa các chủ thể kinh tế với nhau, trong đó chủ thể này chuyển sang cho chủ thể khác quyền sử dụng một lượng giá trị (có thể dưới hình thức hiện vật hoặc tiền tệ) trong một thời gian nhất định, sau thời gian này chủ thể đi vay phải hoàn trả một lượng giá trị lớn hơn ban đầu bao gồm cả gốc và lãi cho bên cho vay.Theo Quyết định 16272001 và 1272005QĐ NHNN thì “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào một một mục đích và một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi”. Đặc điểm: Hoạt động cho vay chiếm tỷ trọng lớn trong khoản mục tín dụng của các NHTM. Cho vay thường được định lượng theo hai chỉ tiêu: Doanh số cho vay trong kỳ và dư nợ cuối kỳ. Hoạt động cho vay là hoạt động truyền thống đem lại lợi nhuận cho các ngân hàng, nguồn thu này phụ thuộc vào quy mô của khoản vay, thời hạn và lãi suất của khoản vay và cả ba yếu tố này có mối liên hệ khăng khít với nhau. Tiền cho vay là một món nợ với cá nhân hoặc công ty nhận món vay đó, nhưng lại là tài sản có đối với một ngân hàng vì nó mang lại thu nhập cho ngân hàng này. Nói chung tiền cho vay là kém lỏng so với các tài sản Có khác bởi vì chúng không thể chuyển thành tiền mặt trước khi các khoản cho vay đó mãn hạn. Hoạt động cho vay, đi liền với lợi nhuận thu được là những rủi ro tiềm ẩn và tổn thất nếu xảy ra là rất lớn. Các khoản tiền vay có xác suất vỡ nợ cao hơn các tài sản có khác. Do thiếu tính lỏng và có rủi ro vỡ nợ cao nên ngân hàng thu được lợi tức cao nhất từ hoạt động cho vay.1.1.1.2. Các hình thức cho vayTrong nền kinh tế thị trường hoạt động cho vay của NHTM rất đa dạng và phong phú với nhiều loại hình tín dụng khác nhau. Việc áp dụng hình thức cho vay nào là tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế của đối tượng sử dụng vốn tín dụng nhằm sử dụng và quản lý vốn tín dụng có hiệu quả và phù hợp với sự vận động cũng như đặc điểm kinh tế khác nhau của đối tượng tín dụng.Trên thực tế việc phân loại cho vay theo các tiêu thức sau: Phân theo mục đích sử dụng vốn: Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp Cho vay tiêu dùng cá nhân Cho vay mua bán bất động sản Cho vay sản xuất nông nghiệp Cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu Phân loại theo thời hạn tín dụng Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn dưới 1 năm. Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động. Cho vay trung dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 1 năm. Mục đích của loại cho vay này là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định, đầu tư vào các dự án đầu tư. Phân loại theo mức độ tín nhiệm của khách hàng Cho vay không có bảo đảm: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố, hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng vay vốn để quyết định cho vay. Cho vay có bảo đảm: là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho tiền vay như thế chấp, cầm cố, hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba nào khác. Phân loại theo phương thức cho vay Cho vay từng lần Cho vay theo hạn mức tín dụng Phân loại theo phương thức hoàn trả nợ vay Cho vay trả nợ một lần khi đáo hạn Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ, cho vay trả góp Cho vay trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn trả nợ cụ thể mà tùy theo khả năng của khách hàng để trả nợ bất cứ lúc nào.1.1.1.3. Vai trò của hoạt động cho vay của NHTM Đối với Ngân hàng:Vai trò quan trọng nhất của hoạt động cho vay đối với ngân hàng là tạo nguồn lợi nhuận lâu dài, giúp duy trì và phát triển hệ thống ngân hàng. Lợi nhuận từ hoạt động cho vay chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lợi nhuận của ngân hàng. Sự mở rộng hoạt động cho vay có vai trò tạo nền móng vững chắc cho sự phát triển của ngân hàng cả về quy mô và chất lượng hoạt động. Đối với chủ thể đi vay:Thông qua việc đi vay khách hàng có được nguồn vốn cần thiết để phục vụ cho các mục đích kinh doanh của mình. Việc cung cấp kịp thời nguồn vốn giúp hoạt động kinh doanh diễn ra đúng dự định, nắm bắt được các cơ hội kinh doanh mang lại lợi nhuận.Để có nguồn vốn kinh doanh, khách hàng có thể có nhiều cách như đi vay người thân, đi vay các tổ chức khác, hùn vốn, góp vốn với các cá nhân tổ chức khác,.. Nhưng khách hàng thường tìm đến ngân hàng để vay vốn vì ngân hàng có thể đáp ứng được nhu cầu của khách hàng nhanh, khoản cho vay có tính ổn định cao, chi phí phù hợp và khách hàng có thể chủ động trong việc trả nợ. Đối với nền kinh tế:Ngân hàng đóng vai trò như cầu nối giữa người có vốn nhàn rỗi và người thiếu vốn, do vậy ngân hàng giúp sinh lời đối với nguồn vốn nhàn rỗi, đáp ứng nhu cầu về vốn của những người có phương pháp sản xuất kinh doanh tốt.Việc ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn một cách kịp thời, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển.Hoạt động cho vay còn là công cụ vĩ mô của Nhà nước để tài trợ cho một số ngành kinh tế mũi nhọn, vùng kinh tế trọng điểm và hỗ trợ cho các thành phần kinh tế phát triển.1.1.2. Khái quát hộ sản xuất1.1.2.1. Khái niệm hộ sản xuấtTheo nghị định của Chính phủ số 14CP ngày 02031993 thì “Hộ sản xuất trong quy định này bao gồm các hộ nông dân, hộ tư nhân, cá thể, công ty cổ phần, các tổ chức hợp tác và các doanh nghiệp Nhà nước, thành viên của các hợp tác xã, tập đoàn sản xuất và các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ trong các ngành nông lâmngưdiêm nghiệp và tiểu, thủ công nghiệp ở nông thôn.” Để phù hợp với chế độ sở hữu khác nhau giữa các thành phần kinh tế và khả năng phát triển kinh tế từng vùng, theo phụ lục của Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam ban hành kèm theo quyết định 499A TDNT ngày 0291993 thì khái niệm hộ sản xuất được thống nhất như sau : Hộ sản xuất là một đơn vị kinh tế tự chủ, trực tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh, là chủ thể trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình”.1.1.2.2. Đặc điểm của hộ sản xuấtTại Việt Nam hiện nay, trên 70% dân số sinh sống ở nông thôn và đại bộ phận còn sản xuất mang tính chất tự cấp, tự túc. Hộ được hình thành theo những đặc điểm tự nhiên, rất đa dạng. Tuỳ thuộc vào hình thức sinh hoạt ở mỗi vùng và địa phương mà hộ hình thành một kiểu cách sản xuất, cách tổ chức riêng trong phạm vi gia đình. Đối tượng sản xuất phát triển hết sức phức tạp và đa dạng, chi phí sản xuất thường là thấp, vốn đầu tư có thể rải đều trong quá trình sản xuất của hộ mang tính thời vụ. Vì vậy thu nhập cũng rải đều. Trình độ sản xuất của hộ ở mức thấp, chủ yếu là sản xuất thủ công, máy móc có chăng cũng còn ít, giản đơn. Hộ sản xuất hiện nay nói chung vẫn hoạt động sản xuất kinh doanh theo tính chất truyền thống, thái độ lao động thường bị chi phối bởi tình cảm đạo đức gia đình và nếp sinh hoạt theo phong tục tập quán của làng quê.Từ những đặc điểm trên ta thấy kinh tế hộ rất dễ chuyển đổi hoặc mở rộng cơ cấu vì chi phí bỏ ra ít, trình độ khoa học kỹ thuật thấp. Quy mô sản xuất của hộ thường nhỏ, hộ có sức lao động, có các điều kiện về đất đai, mặt nước nhưng thiếu vốn, thiếu hiểu biết về khoa học, kỹ thuật, thiếu kiến thức về thị trường nên sản xuất kinh doanh còn mang nặng tính tự cấp, tự túc. Nếu không có sự hỗ trợ của Nhà nước về cơ chế chính sách, về vốn thì kinh tế hộ không thể chuyển sang sản xuất hàng hoá, không thể tiếp cận với cơ chế thị trường.1.1.2.3. Vai trò hộ sản xuất trong phát triển kinh tế+ Hộ sản xuất là cầu nối trung gian để chuyển nền kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hoáLịch sử phát triển sản xuất hàng hoá đã trải qua giai đoạn kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hoá nhỏ trên quy mô hộ gia đình. Sau đó chuyển lên kinh tế hàng hoá quy mô lớn đó là nền kinh tế hoạt động mua bán trao đổi bằng trung gian tiền tệ.+ Hộ sản xuất góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lao động, giải quyết việc làm ở nông thôn Với việc nhà nước giao đất, giao rừng cho nông lâm nghiệp, đồng muối và việc cổ phần hoá trong doanh nghiệp, hợp tác xã đã làm cơ sở cho mỗi hộ gia đình sử dụng hợp lý và có hiệu quả nhất nguồn lao động sẵn có của mình, tạo đà tự vươn lên mở rộng sản xuất thành các mô hình kinh tế trang trại, tổ hợp tác xã thu hút sức lao động, tạo công ăn việc làm cho lực lượng lao động dư thừa.+ Hộ sản xuất có khả năng thích ứng với cơ chế thị trường thúc đẩy sản xuất hàng hoáVới quy mô nhỏ, bộ máy quản lý gọn nhẹ, năng động, hộ sản xuất có thể dễ dàng đáp ứng được những thay đổi của nhu cầu thị trường mà không sợ ảnh hưởng đến tốn kém về mặt chi phí.Với khả năng nhạy bén trước nhu cầu thị trường, hộ sản xuất đã góp phần đáp ứng đầy đủ nhu cầu ngày càng cao của thị trường tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển cao hơn,khai thác các tiềm năng, tận dụng các nguồn lực vốn, lao động, tài nguyên, đất đai đưa vào sản xuất . Xét về lĩnh vực tài chính tiền tệ thì kinh tế hộ tạo điều kiện mở rộng thị trường vốn, thu hút nhiều nguồn đầu tư. Kinh tế hộ được thừa nhận là đơn vị kinh tế tự chủ đã tạo ra bước phát triển mạnh mẽ, sôi động, sử dụng có hiệu quả hơn đất đai, lao động, tiền vốn, công nghệ và lợi thế sinh thái từng vùng. Kinh tế hộ nông thôn và một bộ phận kinh tế trang trại đang trở thành lực lượng sản xuất chủ yếu về lương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản, sản xuất các ngành nghề thủ công phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.1.2. Cho vay đối với hộ sản xuất của Ngân hàng Thương Mại1.2.1. Các khái niệm Cho vay hộ sản xuất: Cho vay hộ sản xuất là việc ngân hàng cung ứng vốn cho các hộ sản xuất, hộ gia đình, cá nhân trong hộ để đáp ứng nhu cầu vốn cho quá trình hoạt động sản xuất như: Sản xuất hàng hóa, thương mại, nông nghiệp, xây dựng, dịch vụ... Doanh số cho vay: Doanh số cho vay là chỉ tiêu phản ánh tất cả các khoản tín dụng mà Ngân hàng cho khách hàng vay, không nói đến việc món vay đó thu được hay chưa trong một thời gian nhất định. Doanh số thu nợ: Doanh số thu nợ là chỉ tiêu phản ánh tất cả các khoản tín dụng mà Ngân hàng thu về được khi đáo hạn vào một thời điểm nhất định. Dư nợ: Dư nợ là chỉ tiêu phản ánh số nợ mà Ngân hàng đã cho vay và chưa thu được vào một thời điểm nhất định. Để xác định được dư nợ, Ngân hàng sẽ so sánh giữa hai chỉ tiêu doanh số cho vay và doanh số thu nợ. Nợ xấu: là chỉ tiêu phản ánh các khoản nợ đến hạn mà khách hàng không có khả năng trả nợ cho Ngân hàng mà không có lý do chính đáng. Khi đó Ngân hàng chuyển từ tài khoản dư nợ sang tài khoản khác gọi là tài khoản nợ xấu. Vốn huy động: là nguồn vốn chủ yếu chiếm tỷ trọng rất lớn trong các Ngân hàng, gồm:+ Vốn tiền gửi từ các tổ chức kinh tế, vốn nhàn rỗi của dân cư,…+ Vốn huy động qua các chứng từ có giá: kỳ phiếu, trái phiếu.+ Vốn từ Ngân hàng Trung Ương, các tổ chức tín dụng khác.1.2.2. Đặc điểm cho vay hộ sản xuất Tính thời vụ gắn liền với chu kỳ sinh trưởng của động thực vậtTính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp quyết định thời điểm cho vay và thu nợ của Ngân hàng. Nếu ngân hàng tập trung cho vay vào các chuyên ngành hẹp thì phải tổ chức cho vay tập trung vào một thời gian nhất định của năm, đầu vụ tiến hành cho vay, đến kỳ thu hoạch tiêu thụ tiến hành thu nợ. Môi trường tự nhiên có ảnh hưởng đến thu nhập và khả năng trả nợ của khách hàngNguồn trả nợ ngân hàng chủ yếu là tiền thu từ bán nông sản và các sản phẩm chế biến có liên quan đến nông sản. Như vậy sản lượng nông sản thu được là yếu tố quyết định khả năng trả nợ của khách hàng. Mà sản lượng nông sản chịu ảnh hưởng của thiên nhiên rất lớn. Chi phí tổ chức cho vay caoCho vay hộ sản xuất đặc biệt là cho vay hộ nông dân thường thì chi phí nghiệp vụ cho một đồng vốn vay thường cao do qui mô từng món vay nhỏ. Số lượng khách hàng đông, phân bố ở khắp mọi nơi nên mở rộng cho vay thường liên quan tới việc mở rộng mạng lưới cho vay và thu nợ: Mở chi nhánh, bàn giao dịch, tổ lưu động cho vay tại xã. Hiện nay mạng lưới của NHNoPTNT Việt Nam cũng mới chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu vay của nông nghiệp.Do đặc thù kinh doanh của hộ sản xuất đặc biệt là hộ nông dân có độ rủi ro cao nên chi phí cho dự phòng rủi ro là tương đối lớn so với các ngành khác.1.2.3. Phân loại cho vay hộ sản xuất Theo thời hạn cho vay Cho vay ngắn hạn: Thời hạn cho vay đến 12 tháng. Cho vay trung hạn: Thời hạn cho vay từ 1 năm đến 5 năm. Cho vay dài hạn: Thời hạn cho vay trên 5 năm. Theo ngành nghề Hộ sản xuất nông, lâm, thủy sản; diêm nghiệp; tiểu thủ công nghiệp; thương mại; dịch vụ. Theo hình thức đảm bảo Có 2 hình thức đảm bảo cho vay là Cho vay có đảm bảo bằng tài sản: khoản vay phải có TSĐB Cho vay không có đảm bảo bằng tài sản: khoản vay tín chấp Theo phương thức cho vay Cho vay trực tiếp đến hộ sản xuất Cho vay thông qua các tổ chức trung gian.1.2.4. Lãi suất tín dụngLãi suất cho vay là tỷ lệ phần trăm giữa lợi tức thu được trong kỳ so với vốn vay phát ra trong một thời kỳ nhất định. Thông thường lãi suất tính theo năm, quý, tháng.Tùy theo phương thức cho vay và cách trả lãi, Ngân hàng có thể sử dụng hai cách tính lãi: tính lãi độc lập không nhập vào vốn gốc mà chỉ tính một lần vào cuối kỳ hạn được gọi là tính lãi đơn và lãi tính theo lối nhập vào vốn gốc từng kỳ để tăng vốn gọi là tính lãi kép. Tác dụng của lãi suất:Lãi suất là công cụ quản lý kinh tế vĩ mô có tác dụng rất lớn đến sản xuất kinh doanh. Chế độ lãi suất thích hợp sẽ thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, ngược lại sẽ làm trì trệ và đình đốn hoạt động sản xuất kinh doanh. Lãi suất luôn có tác dụng hai mặt: Khuyến khích tiết kiệm, người ta có xu hướng gửi tiền vào Ngân hàng hơn là đầu tư sản xuất. Hạn chế dùng vốn tín dụng đầu tư vào sản xuất kinh doanh, từ đó làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh gặp khó khăn do áp lực lãi suất quá cao vì tình trạng tài nguyên bị khiếm dụng. Lãi suất thích hợp có tác dụng mở rộng đầu tư vốn vào sản xuất kinh doanh và thu hút được tiết kiệm.1.2.5. Rủi ro tín dụng1.2.5.1. Khái niệmRủi ro tín dụng là sự xuất hiện những biến cố không lường trước được do nguyên nhân khách quan hay chủ quan mà khách hàng không trả nợ cho Ngân hàng một cách đầy đủ khi đến hạn, từ đó tác động xấu đến hoạt động của Ngân hàng và có thể làm cho Ngân hàng phá sản.1.2.5.2. Thiệt hại do rủi ro tín dụng gây raSự tổn thất của Ngân hàng khi xảy ra rủi ro có thể là các thiệt hại về vật chất hoặc uy tín của Ngân hàng.Rủi ro tín dụng sẽ tác động trực tiếp đến hoạt động của Ngân hàng như thiếu tiền chi trả cho khách hàng, vì phần lớn nguồn vốn hoạt động của Ngân hàng là nguồn vốn huy động. Khi ngân hàng không thu hồi được nợ gốc và lãi trong lúc cho vay thì khả năng thanh toán của Ngân hàng dễ dẫn đến tình trạng thiếu hụt.Như vậy rủi ro tín dụng sẽ làm cho Ngân hàng mất cân đối trong việc thanh toán, dần dần làm cho Ngân hàng bị lỗ và có nguy cơ phá sản.Đối với nền kinh tế xã hội, hoạt động của Ngân hàng có liên quan đến hoạt động của toàn bộ nền kinh tế, đến tất cả các doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ, đến toàn bộ tầng lớp dân cư. Vì vậy, rủi ro tín dụng gây ra có thể làm phá sản một vài Ngân hàng, khi đó nó có khả năng phát sinh lây lan các Ngân hàng khác và tạo cho dân chúng một tâm lý sợ hãi. Khi đó dân chúng sẽ đua nhau đến Ngân hàng rút tiền trước thời hạn. Điều đó cũng có thể đưa đến việc các Ngân hàng bị phá sản, tác động đến toàn bộ nền kinh tế.1.2.6. Các chỉ tiêu đánh giá tình hình cho vay vốn của Ngân hàng đối với hộ sản xuất1.2.6.1. Chỉ tiêu định tính Đảm bảo nguyên tắc cho vayĐặc thù của Ngân hàng là một tổ chức kinh tế đặc biệt, hoạt động của nó ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước. Cho vay đảm bảo có điều kiệnĐây là chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng Ngân hàng đó là cho vay có đảm bảo đúng điều kiện hay không. Quá trình thẩm địnhThẩm định là quá trình phân tích đánh giá dự án trên cơ sở những chuẩn mực, nhằm rút ra những kết luận làm căn cứ cho đưa ra quyết định cho vay.Quá trình thẩm định là cách tốt nhất để Ngân hàng nắm được thông tin về năng lực pháp luật, đạo đức, tình hình tài chính, khả năng trả nợ của khách hàng. 1.2.6.2. Chỉ tiêu định lượngChỉ tiêu định lượng giúp cho Ngân hàng có cách đánh giá cụ thể hơn về mặt chất lượng tín dụng, giúp các Ngân hàng có biện pháp xử lý kịp thời những khoản vay kém chất lượng. Các chỉ tiêu cụ thể mà các Ngân hàng thường dùng là: Chỉ tiêu 1: Doanh số cho vay hộ sản xuất.Doanh số cho vay hộ sản xuất là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh tổng thể số tiền Ngân hàng cho hộ sản xuất vay trong thời kỳ nhất định thường là một năm, dùng chỉ tiêu tương đối phản ánh tỷ trọng cho vay hộ sản xuất trong tổng số cho vay của Ngân hàng trong một năm.Tỷ trọng cho vay hộ sản xuất =Doanh số cho vay HSXTổng doanh số cho vayx 100% Chỉ tiêu 2: Doanh số thu nợ hộ sản xuất.Doanh số thu nợ hộ sản xuất chỉ là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh tổng số tiền Ngân hàng đã thu hồi được sau khi đã giải ngân cho hộ sản xuất trong một thời kỳ.Tỷ lệ thu nợ hộ sản xuất=Doanh số thu nợ HSXTổng dư nợ của HSXx 100%Để phản ánh tình hình thu nợ hộ sản xuất, Ngân hàng còn sử dụng chỉ tiêu tương đối phản ánh tỷ trọng thu hồi được trong tổng doanh số cho vay hộ sản xuất của Ngân hàng trong thời kỳ. Chỉ tiêu 3: Dư nợ quá hạn hộ sản xuất.Dư nợ quá hạn hộ sản xuất là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh tổng thể số tiền Ngân hàng chưa thu hồi được sau một thời gian nhất định kể từ ngày khoản vay được cho vay đến hạn thanh toán thời điểm đang xem xét.Bên cạnh chỉ tiêu tuyệt đối Ngân hàng cũng thường xuyên sử dụng các chỉ tiêu như: Tỷ lệ quá hạn hộ sản xuất =Dư nợ quá hạn HSXTổng dư nợ của HSXx 100%Đây là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả tín dụng hộ sản xuất và chất lượng tín dụng đầu tư cho vay đối với hộ sản xuất. Dư nợ quá hạn càng nhỏ, tỷ lệ nợ quá hạn thấp thì chất lượng tín dụng càng cao. Hoạt động Ngân hàng nói chung và tín dụng Ngân hàng nói riêng đều chứa đựng nhiều rủi ro tác động đến lợi nhuận và sự an toàn trong kinh doanh của Ngân hàng. Do đó việc đảm bảo thu hồi đủ vốn cho vay đúng hạn, thể hiện qua tỷ lệ nợ quá hạn thấp là vấn đề quan trọng trong quản lý Ngân hàng tác động trực tiếp đến sự tồn tại của các Ngân hàng. Chỉ tiêu 4: Tỷ lệ nợ khó đòi hộ sản xuấtĐể đánh giá khả năng không thu hồi được nợ người ta sử dụng chỉ tiêu Tỷ lệ nợ khó đòi: Tỷ lệ nợ khó đòi =Tổng nợ khó đòiTổng nợ quá hạnx 100%Đây là chỉ tiêu tương đối, tỷ lệ này ở mức cao là dấu hiệu của khoản vay có vấn đề và nguy cơ mất vốn là rất cao. Chỉ tiêu 5: Tỷ lệ cho vay Trung và dài hạnTỷ lệ cho vaytrung và dài hạn HSX =Dư nợ cho vay trung và dài hạn HSXTổng số dư nợ hộ sản xuấtx100%Đây là chỉ tiêu tương đối phản ánh mức độ đáp ứng nhu cầu vốn trung, dài hạn hộ sản xuất để mở rộng sản xuất kinh doanh. Cho vay trung dài hạn hộ sản xuất phải đạt cao hơn cho vay ngắn hạn thì hộ mới đủ vốn để cải tạo, xây dựng cơ sở vật chất cho sản xuất, từ đó tạo cơ sở để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngắn hạn. Theo đánh giá thì tỷ lệ này cần phải đạt tối thiểu 30% Tổng dư nợ (mục tiêu của NHNoPTNT Việt Nam). Tuy vậy, tỷ lệ

Trang 1

Qua thời gian thực tập tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ViệtNam Chi nhánh huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, được sự giúp đỡ chỉ bảo tận tình củaban lãnh đạo, cùng tập thể cán bộ nhân viên trong ngân hàng đã tại điều kiện cho em tiếpxúc với môi trường làm việc thực tế, tạo cơ hội cho công tác nghiên cứu hoạt động cho vay

hộ sản xuất tại chi nhánh

Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới cô giáo Tiến Sĩ Nguyễn Thị Minh Hạnh, trong suốt quá trình làm khóa luận đã chỉ bảo hướng dẫn giúp

em có thể hoàn thành bài khóa luận theo đúng yêu cầu quy định

Trong quá trình viết bài, do năng lực còn hạn chế của bản thân cùng với những yếu

tố khách quan tác động nên bài khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mongnhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các thầy cô để em có điều kiện bổ sung, nângcao hiệu quả làm việc, phục vụ tốt hơn công tác thực tế sau này

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 3

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

Bảng 2.2

Tình hình hoạt động cho vay của NHNN&PTNNViệt Nam chi nhánh huyện Cẩm Giàng 2013-2015 22Bảng 2.3 NHNo&PTNT huyện Cẩm Giàng 2013-2015Bảng kết quả hoạt động kinh doanh rút gọn của 25Bảng 2.4

Tình hình sử dụng vốn HSX củaNHNN&PTNN Việt Nam chi nhánh huyện CẩmGiàng tỉnh Hải Dương giai đoạn 2013-2015 27Bảng 2.5

Tình hình cho vay, thu nợ HSX củaNHNo&PTNT Việt Nam chi nhánh huyện Cẩm Giàng

Trang 4

NHNo&PTNT Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn

TGTCKT Tiền gửi của tổ chức kinh tế

Trang 5

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thời kỳ tiếp tục sự nghiệp đổi mới, đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước, từ chỗ là nước thiếu lương thực đến nay chúng ta đã trở thành một trong những nướcđứng hàng đầu thế giới về xuất khẩu lương thực Có được kết quả đó là có sự đóng gópđáng kể của kinh tế hộ gia đình Thể hiện đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước pháttriển kinh tế hộ sản xuất trong đó trọng tâm là hộ nông dân sản xuất nông, lâm, ngư,nghiệp Từ định hướng và chính sách về phát triển kinh tế hộ sản xuất đã giúp cho ngànhNgân hàng nói chung, Ngân hàng nông nghiệp nói riêng thí điểm, mở rộng và từng bướchoàn thiện cơ chế cho vay kinh tế hộ sản xuất Trong quá trình đầu tư vốn đã khẳng địnhđược hiệu quả của đồng vốn cho vay và khả năng quản lý, sử dụng vốn của các hộ gia đìnhcho sản xuất kinh doanh, mở rộng thêm ngành nghề, tăng sản phẩm cho xã hội, tăng thunhập cho gia đình và hoàn trả được vốn cho Nhà nước Tuy nhiên, vẫn còn nhiều tồn tạitrong cơ chế chính sách, hành lang pháp lý và những tác động của cơ chế thị trường, đòihỏi các cấp các ngành tiếp tục tháo gỡ khó khăn để đáp ứng đầy đủ kịp thời có hiệu quảnhu cầu về vốn cho hộ sản xuất phát triển kinh tế

Nhận thức được những vấn đề trên và xuất phát từ thực tiễn hoạt động cho vay vốnđến hộ sản xuất tại Ngân hàng Nông Nghiệp & Phát triển Nông Thôn Việt Nam chi nhánh

huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương em mạnh dạn chọn đề tài: “Cho vay đối với hộ sản xuất tại Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương” Nhằm mục đích tìm hiểu tình hình thực tế và từ đó tìm ra

những giải pháp để hoàn thiện hơn hoạt động cho vay đối với hộ sản xuất, đáp ứng nhu cầuvốn cho phát triển kinh tế, xã hội trên địa bàn huyện và đảm bảo an toàn vốn đầu tư

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn về hoạt động cho vay đối với HSX

- Phân tích, đánh giá hoạt động cho vay đối với HSX tại NHNo&PTNN Việt Nam Chinhánh huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương

-Từ đó, đưa ra một số kiến nghị về hoạt động cho vay đối với HSX tại NHNo&PTNN ViệtNam Chi nhánh huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động cho vay đối với hộ sản xuất của ngânhàng thương mại

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 6

- Phạm vi không gian: Đề tài được nghiên cứu tại NHNo&PTNT Việt Nam Chi nhánhhuyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương Địa chỉ: Quốc lộ 5, Thị trấn Lai Cách, Huyện CẩmGiàng, tỉnh Hải Dương

- Phạm vi thời gian: Đề tài nghiên cứu trong khoảng thời gian 3 năm từ 2013-2015

4 Phương pháp nghiên cứu

- Khóa luận được nghiên cứu theo phương pháp thống kê, so sánh, phân tích tổng hợp với nhữngsuy luận từ thực tiễn nghiên cứu để từ đó đưa ra những kết luận

- Nghiên cứu các luận văn, đề tài, Khóa luận có cùng hướng nghiên cứu

- Nghiên cứu số liệu thống kê báo cáo tình hình hoạt động, kết quả hoạt động kinh doanh của Ngânhàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Cẩm Giàng, tỉnh HảiDương 2013-2015

- Nghiên cứu các giáo trình giảng dạy, các tài liệu, văn bản Pháp luật liên quan đến hoạt động chovay Trung- dài hạn của Ngân hàng Thương Mại

5 Kết cấu khóa luận

Ngoài mở đầu và kết luận, nội dung của khóa luận tốt nghiệp được kết cấu bởi 3chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về cho vay đối với hộ sản xuất của Ngân

hàng Thương mại

Chương 2: Thực trạng cho vay HSX tại NHNo&PTNT Việt Nam Chi nhánh huyện Cẩm

Giàng, tỉnh Hải Dương

Chương 3: Những giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động cho vay đối với HSX

tại NHNo&PTNT Việt Nam Chi nhánh huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương

Trang 7

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT CỦA NGÂN

HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Hoạt động cho vay của Ngân hàng Thương mại và khái quát hộ sản xuất

1.1.1 Hoạt động cho vay của NHTM

1.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của hoạt động cho vay

* Khái niệm:

Hiểu một cách khái quát nhất thì cho vay là một quan hệ kinh tế phát sinh giữa cácchủ thể kinh tế với nhau, trong đó chủ thể này chuyển sang cho chủ thể khác quyền sửdụng một lượng giá trị (có thể dưới hình thức hiện vật hoặc tiền tệ) trong một thời giannhất định, sau thời gian này chủ thể đi vay phải hoàn trả một lượng giá trị lớn hơn ban đầubao gồm cả gốc và lãi cho bên cho vay

Theo Quyết định 1627/2001 và 127/2005/QĐ- NHNN thì “Cho vay là một hình

thức cấp tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào một một mục đích

và một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi”.

* Đặc điểm:

- Hoạt động cho vay chiếm tỷ trọng lớn trong khoản mục tín dụng của các NHTM Chovay thường được định lượng theo hai chỉ tiêu: Doanh số cho vay trong kỳ và dư nợ cuốikỳ

- Hoạt động cho vay là hoạt động truyền thống đem lại lợi nhuận cho các ngân hàng, nguồnthu này phụ thuộc vào quy mô của khoản vay, thời hạn và lãi suất của khoản vay và cả bayếu tố này có mối liên hệ khăng khít với nhau Tiền cho vay là một món nợ với cá nhânhoặc công ty nhận món vay đó, nhưng lại là tài sản có đối với một ngân hàng vì nó manglại thu nhập cho ngân hàng này Nói chung tiền cho vay là kém lỏng so với các tài sản Cókhác bởi vì chúng không thể chuyển thành tiền mặt trước khi các khoản cho vay đó mãnhạn

- Hoạt động cho vay, đi liền với lợi nhuận thu được là những rủi ro tiềm ẩn và tổn thất nếuxảy ra là rất lớn Các khoản tiền vay có xác suất vỡ nợ cao hơn các tài sản có khác Dothiếu tính lỏng và có rủi ro vỡ nợ cao nên ngân hàng thu được lợi tức cao nhất từ hoạt độngcho vay

1.1.1.2 Các hình thức cho vay

Trong nền kinh tế thị trường hoạt động cho vay của NHTM rất đa dạng và phongphú với nhiều loại hình tín dụng khác nhau Việc áp dụng hình thức cho vay nào là tùythuộc vào đặc điểm kinh tế của đối tượng sử dụng vốn tín dụng nhằm sử dụng và quản lý

Trang 8

vốn tín dụng có hiệu quả và phù hợp với sự vận động cũng như đặc điểm kinh tế khác nhaucủa đối tượng tín dụng.

Trên thực tế việc phân loại cho vay theo các tiêu thức sau:

* Phân theo mục đích sử dụng vốn:

- Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp

- Cho vay tiêu dùng cá nhân

- Cho vay mua bán bất động sản

- Cho vay sản xuất nông nghiệp

- Cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu

* Phân loại theo thời hạn tín dụng

- Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn dưới 1 năm Mục đích của loại cho vay nàythường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động

- Cho vay trung dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 1 năm Mục đích của loại cho vay này là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định, đầu tư vào các dự án đầu tư

* Phân loại theo mức độ tín nhiệm của khách hàng

- Cho vay không có bảo đảm: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố, hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng vay vốn để quyết định cho vay

- Cho vay có bảo đảm: là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho tiền vay như thế

chấp, cầm cố, hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba nào khác

* Phân loại theo phương thức cho vay

- Cho vay từng lần

- Cho vay theo hạn mức tín dụng

* Phân loại theo phương thức hoàn trả nợ vay

- Cho vay trả nợ một lần khi đáo hạn

- Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ, cho vay trả góp

- Cho vay trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn trả nợ cụ thể mà tùy theo khả năng của khách hàng để trả nợ bất cứ lúc nào

1.1.1.3 Vai trò của hoạt động cho vay của NHTM

* Đối với Ngân hàng:

Vai trò quan trọng nhất của hoạt động cho vay đối với ngân hàng là tạo nguồn lợinhuận lâu dài, giúp duy trì và phát triển hệ thống ngân hàng Lợi nhuận từ hoạt động chovay chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lợi nhuận của ngân hàng Sự mở rộng hoạt động cho vay

có vai trò tạo nền móng vững chắc cho sự phát triển của ngân hàng cả về quy mô và chất

Trang 9

lượng hoạt động.

* Đối với chủ thể đi vay:

Thông qua việc đi vay khách hàng có được nguồn vốn cần thiết để phục vụ cho cácmục đích kinh doanh của mình Việc cung cấp kịp thời nguồn vốn giúp hoạt động kinhdoanh diễn ra đúng dự định, nắm bắt được các cơ hội kinh doanh mang lại lợi nhuận

Để có nguồn vốn kinh doanh, khách hàng có thể có nhiều cách như đi vay ngườithân, đi vay các tổ chức khác, hùn vốn, góp vốn với các cá nhân tổ chức khác, Nhưngkhách hàng thường tìm đến ngân hàng để vay vốn vì ngân hàng có thể đáp ứng được nhucầu của khách hàng nhanh, khoản cho vay có tính ổn định cao, chi phí phù hợp và kháchhàng có thể chủ động trong việc trả nợ

* Đối với nền kinh tế:

Ngân hàng đóng vai trò như cầu nối giữa người có vốn nhàn rỗi và người thiếu vốn,

do vậy ngân hàng giúp sinh lời đối với nguồn vốn nhàn rỗi, đáp ứng nhu cầu về vốn củanhững người có phương pháp sản xuất kinh doanh tốt

Việc ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn một cách kịp thời, tạo điều kiện thuận lợi chocác thành phần kinh tế phát triển

Hoạt động cho vay còn là công cụ vĩ mô của Nhà nước để tài trợ cho một số ngànhkinh tế mũi nhọn, vùng kinh tế trọng điểm và hỗ trợ cho các thành phần kinh tế phát triển

1.1.2 Khái quát hộ sản xuất

1.1.2.1 Khái niệm hộ sản xuất

Theo nghị định của Chính phủ số 14/CP ngày 02/03/1993 thì “Hộ sản xuất trong

quy định này bao gồm các hộ nông dân, hộ tư nhân, cá thể, công ty cổ phần, các tổ chức hợp tác và các doanh nghiệp Nhà nước, thành viên của các hợp tác xã, tập đoàn sản xuất

và các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ trong các ngành nông- lâm-ngư-diêm nghiệp và tiểu, thủ công nghiệp ở nông thôn.”

Để phù hợp với chế độ sở hữu khác nhau giữa các thành phần kinh tế và khả năngphát triển kinh tế từng vùng, theo phụ lục của Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam ban hànhkèm theo quyết định 499A TDNT ngày 02/9/1993 thì khái niệm hộ sản xuất được thống

nhất như sau : "Hộ sản xuất là một đơn vị kinh tế tự chủ, trực tiếp hoạt động sản xuất kinh

doanh, là chủ thể trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình”.

1.1.2.2 Đặc điểm của hộ sản xuất

Tại Việt Nam hiện nay, trên 70% dân số sinh sống ở nông thôn vàđại bộ phận còn sản xuất mang tính chất tự cấp, tự túc

Trang 10

- Hộ được hình thành theo những đặc điểm tự nhiên, rất đa dạng Tuỳthuộc vào hình thức sinh hoạt ở mỗi vùng và địa phương mà hộ hìnhthành một kiểu cách sản xuất, cách tổ chức riêng trong phạm vi giađình.

- Đối tượng sản xuất phát triển hết sức phức tạp và đa dạng, chi phí sảnxuất thường là thấp, vốn đầu tư có thể rải đều trong quá trình sản xuấtcủa hộ mang tính thời vụ Vì vậy thu nhập cũng rải đều

- Trình độ sản xuất của hộ ở mức thấp, chủ yếu là sản xuất thủ công,máy móc có chăng cũng còn ít, giản đơn Hộ sản xuất hiện nay nóichung vẫn hoạt động sản xuất kinh doanh theo tính chất truyền thống,thái độ lao động thường bị chi phối bởi tình cảm đạo đức gia đình và nếpsinh hoạt theo phong tục tập quán của làng quê

Từ những đặc điểm trên ta thấy kinh tế hộ rất dễ chuyển đổi hoặc

mở rộng cơ cấu vì chi phí bỏ ra ít, trình độ khoa học kỹ thuật thấp Quy

mô sản xuất của hộ thường nhỏ, hộ có sức lao động, có các điều kiện về đất đai, mặt nước nhưng thiếu vốn, thiếu hiểu biết về khoa học, kỹ thuật, thiếu kiến thức về thị trường nên sản xuất kinh doanh còn mang nặng tính tự cấp, tự túc Nếu không có sự hỗ trợ của Nhà nước về cơ chế chính sách, về vốn thì kinh tế hộ không thể chuyển sang sản xuất hàng hoá, không thể tiếp cận với cơ chế thị trường.

1.1.2.3 Vai trò hộ sản xuất trong phát triển kinh tế

+ Hộ sản xuất là cầu nối trung gian để chuyển nền kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hoá

Lịch sử phát triển sản xuất hàng hoá đã trải qua giai đoạn kinh tế

tự nhiên sang kinh tế hàng hoá nhỏ trên quy mô hộ gia đình Sau đóchuyển lên kinh tế hàng hoá quy mô lớn đó là nền kinh tế hoạt độngmua bán trao đổi bằng trung gian tiền tệ

+ Hộ sản xuất góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lao động, giải quyết việc làm ở nông thôn

Với việc nhà nước giao đất, giao rừng cho nông - lâm nghiệp, đồngmuối và việc cổ phần hoá trong doanh nghiệp, hợp tác xã đã làm cơ sởcho mỗi hộ gia đình sử dụng hợp lý và có hiệu quả nhất nguồn lao độngsẵn có của mình, tạo đà tự vươn lên mở rộng sản xuất thành các mô

Trang 11

hình kinh tế trang trại, tổ hợp tác xã thu hút sức lao động, tạo công ănviệc làm cho lực lượng lao động dư thừa.

+ Hộ sản xuất có khả năng thích ứng với cơ chế thị trường thúc đẩy sản xuất hàng hoá

Với quy mô nhỏ, bộ máy quản lý gọn nhẹ, năng động, hộ sản xuất

có thể dễ dàng đáp ứng được những thay đổi của nhu cầu thị trường màkhông sợ ảnh hưởng đến tốn kém về mặt chi phí.Với khả năng nhạy béntrước nhu cầu thị trường, hộ sản xuất đã góp phần đáp ứng đầy đủ nhucầu ngày càng cao của thị trường tạo ra động lực thúc đẩy sản xuấthàng hoá phát triển cao hơn,khai thác các tiềm năng, tận dụng cácnguồn lực vốn, lao động, tài nguyên, đất đai đưa vào sản xuất

* Xét về lĩnh vực tài chính tiền tệ thì kinh tế hộ tạo điều kiện mở rộng thị trường vốn, thu hút nhiều nguồn đầu tư.

Kinh tế hộ được thừa nhận là đơn vị kinh tế tự chủ đã tạo ra bướcphát triển mạnh mẽ, sôi động, sử dụng có hiệu quả hơn đất đai, laođộng, tiền vốn, công nghệ và lợi thế sinh thái từng vùng Kinh tế hộnông thôn và một bộ phận kinh tế trang trại đang trở thành lực lượngsản xuất chủ yếu về lương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho côngnghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản, sản xuất các ngành nghề thủ côngphục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu

1.2 Cho vay đối với hộ sản xuất của Ngân hàng Thương Mại

1.2.1 Các khái niệm

- Cho vay hộ sản xuất: Cho vay hộ sản xuất là việc ngân hàng cung ứng vốn cho

các hộ sản xuất, hộ gia đình, cá nhân trong hộ để đáp ứng nhu cầu vốn cho quá trình hoạtđộng sản xuất như: Sản xuất hàng hóa, thương mại, nông nghiệp, xây dựng, dịch vụ

- Doanh số cho vay: Doanh số cho vay là chỉ tiêu phản ánh tất cả các

khoản tín dụng mà Ngân hàng cho khách hàng vay, không nói đến việcmón vay đó thu được hay chưa trong một thời gian nhất định

- Doanh số thu nợ: Doanh số thu nợ là chỉ tiêu phản ánh tất cả các

khoản tín dụng mà Ngân hàng thu về được khi đáo hạn vào một thờiđiểm nhất định

- Dư nợ: Dư nợ là chỉ tiêu phản ánh số nợ mà Ngân hàng đã cho vay và

chưa thu được vào một thời điểm nhất định Để xác định được dư nợ,Ngân hàng sẽ so sánh giữa hai chỉ tiêu doanh số cho vay và doanh sốthu nợ

Trang 12

- Nợ xấu: là chỉ tiêu phản ánh các khoản nợ đến hạn mà khách hàng

không có khả năng trả nợ cho Ngân hàng mà không có lý do chính đáng.Khi đó Ngân hàng chuyển từ tài khoản dư nợ sang tài khoản khác gọi làtài khoản nợ xấu

- Vốn huy động: là nguồn vốn chủ yếu chiếm tỷ trọng rất lớn trong các

Ngân hàng, gồm:

+ Vốn tiền gửi từ các tổ chức kinh tế, vốn nhàn rỗi của dân cư,…

+ Vốn huy động qua các chứng từ có giá: kỳ phiếu, trái phiếu

+ Vốn từ Ngân hàng Trung Ương, các tổ chức tín dụng khác

1.2.2 Đặc điểm cho vay hộ sản xuất

- Tính thời vụ gắn liền với chu kỳ sinh trưởng của động thực vật

Tính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp quyết định thời điểm chovay và thu nợ của Ngân hàng Nếu ngân hàng tập trung cho vay vào cácchuyên ngành hẹp thì phải tổ chức cho vay tập trung vào một thời giannhất định của năm, đầu vụ tiến hành cho vay, đến kỳ thu hoạch/ tiêu

thụ tiến hành thu nợ

- Môi trường tự nhiên có ảnh hưởng đến thu nhập và khả năng trả nợ của khách hàng

Nguồn trả nợ ngân hàng chủ yếu là tiền thu từ bán nông sản vàcác sản phẩm chế biến có liên quan đến nông sản Như vậy sản lượngnông sản thu được là yếu tố quyết định khả năng trả nợ của khách hàng

Mà sản lượng nông sản chịu ảnh hưởng của thiên nhiên rất lớn

- Chi phí tổ chức cho vay cao

Cho vay hộ sản xuất đặc biệt là cho vay hộ nông dân thường thìchi phí nghiệp vụ cho một đồng vốn vay thường cao do qui mô từng mónvay nhỏ Số lượng khách hàng đông, phân bố ở khắp mọi nơi nên mởrộng cho vay thường liên quan tới việc mở rộng mạng lưới cho vay vàthu nợ: Mở chi nhánh, bàn giao dịch, tổ lưu động cho vay tại xã Hiệnnay mạng lưới của NHNo&PTNT Việt Nam cũng mới chỉ đáp ứng đượcmột phần nhu cầu vay của nông nghiệp

Do đặc thù kinh doanh của hộ sản xuất đặc biệt là hộ nông dân có

độ rủi ro cao nên chi phí cho dự phòng rủi ro là tương đối lớn so với cácngành khác

Trang 13

1.2.3 Phân loại cho vay hộ sản xuất

* Theo thời hạn cho vay

- Cho vay ngắn hạn: Thời hạn cho vay đến 12 tháng

- Cho vay trung hạn: Thời hạn cho vay từ 1 năm đến 5 năm

- Cho vay dài hạn: Thời hạn cho vay trên 5 năm

* Theo ngành nghề

- Hộ sản xuất nông, lâm, thủy sản; diêm nghiệp; tiểu thủ công nghiệp; thương mại; dịch vụ

* Theo hình thức đảm bảo Có 2 hình thức đảm bảo cho vay là

- Cho vay có đảm bảo bằng tài sản: khoản vay phải có TSĐB

- Cho vay không có đảm bảo bằng tài sản: khoản vay tín chấp

* Theo phương thức cho vay

- Cho vay trực tiếp đến hộ sản xuất

- Cho vay thông qua các tổ chức trung gian

* Tác dụng của lãi suất:

Lãi suất là công cụ quản lý kinh tế vĩ mô có tác dụng rất lớn đến sản xuất kinhdoanh Chế độ lãi suất thích hợp sẽ thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, ngược lại sẽlàm trì trệ và đình đốn hoạt động sản xuất kinh doanh Lãi suất luôn có tác dụng hai mặt:

- Khuyến khích tiết kiệm, người ta có xu hướng gửi tiền vào Ngân hàng hơn là đầu tư sảnxuất

- Hạn chế dùng vốn tín dụng đầu tư vào sản xuất kinh doanh, từ đó làm cho hoạt động sảnxuất kinh doanh gặp khó khăn do áp lực lãi suất quá cao vì tình trạng tài nguyên bị khiếmdụng

- Lãi suất thích hợp có tác dụng mở rộng đầu tư vốn vào sản xuất kinh doanh và thu hútđược tiết kiệm

1.2.5 Rủi ro tín dụng

1.2.5.1 Khái niệm

Trang 14

Rủi ro tín dụng là sự xuất hiện những biến cố không lường trước được do nguyênnhân khách quan hay chủ quan mà khách hàng không trả nợ cho Ngân hàng một cách đầy

đủ khi đến hạn, từ đó tác động xấu đến hoạt động của Ngân hàng và có thể làm cho Ngânhàng phá sản

1.2.5.2 Thiệt hại do rủi ro tín dụng gây ra

Sự tổn thất của Ngân hàng khi xảy ra rủi ro có thể là các thiệt hại về vật chất hoặc

uy tín của Ngân hàng

Rủi ro tín dụng sẽ tác động trực tiếp đến hoạt động của Ngân hàng như thiếu tiềnchi trả cho khách hàng, vì phần lớn nguồn vốn hoạt động của Ngân hàng là nguồn vốn huyđộng Khi ngân hàng không thu hồi được nợ gốc và lãi trong lúc cho vay thì khả năngthanh toán của Ngân hàng dễ dẫn đến tình trạng thiếu hụt

Như vậy rủi ro tín dụng sẽ làm cho Ngân hàng mất cân đối trong việc thanh toán,dần dần làm cho Ngân hàng bị lỗ và có nguy cơ phá sản

Đối với nền kinh tế xã hội, hoạt động của Ngân hàng có liên quan đến hoạt độngcủa toàn bộ nền kinh tế, đến tất cả các doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ, đến toàn bộ tầng lớpdân cư Vì vậy, rủi ro tín dụng gây ra có thể làm phá sản một vài Ngân hàng, khi đó nó cókhả năng phát sinh lây lan các Ngân hàng khác và tạo cho dân chúng một tâm lý sợ hãi.Khi đó dân chúng sẽ đua nhau đến Ngân hàng rút tiền trước thời hạn Điều đó cũng có thểđưa đến việc các Ngân hàng bị phá sản, tác động đến toàn bộ nền kinh tế

1.2.6 Các chỉ tiêu đánh giá tình hình cho vay vốn của Ngân hàng đối với hộ sản xuất

1.2.6.1 Chỉ tiêu định tính

* Đảm bảo nguyên tắc cho vay

Đặc thù của Ngân hàng là một tổ chức kinh tế đặc biệt, hoạt độngcủa nó ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đấtnước

* Cho vay đảm bảo có điều kiện

Đây là chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng Ngân hàng đó là chovay có đảm bảo đúng điều kiện hay không

* Quá trình thẩm định

Thẩm định là quá trình phân tích đánh giá dự án trên cơ sở nhữngchuẩn mực, nhằm rút ra những kết luận làm căn cứ cho đưa ra quyếtđịnh cho vay

Quá trình thẩm định là cách tốt nhất để Ngân hàng nắm được

Trang 15

thông tin về năng lực pháp luật, đạo đức, tình hình tài chính, khả năngtrả nợ của khách hàng

1.2.6.2 Chỉ tiêu định lượng

Chỉ tiêu định lượng giúp cho Ngân hàng có cách đánh giá cụ thểhơn về mặt chất lượng tín dụng, giúp các Ngân hàng có biện pháp xử lýkịp thời những khoản vay kém chất lượng Các chỉ tiêu cụ thể mà các

Ngân hàng thường dùng là:

* Chỉ tiêu 1: Doanh số cho vay hộ sản xuất.

Doanh số cho vay hộ sản xuất là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh tổngthể số tiền Ngân hàng cho hộ sản xuất vay trong thời kỳ nhất địnhthường là một năm, dùng chỉ tiêu tương đối phản ánh tỷ trọng cho vay

hộ sản xuất trong tổng số cho vay của Ngân hàng trong một năm

* Chỉ tiêu 2: Doanh số thu nợ hộ sản xuất.

Doanh số thu nợ hộ sản xuất chỉ là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh

tổng số tiền Ngân hàng đã thu hồi được sau khi đã giải ngân cho hộ sản xuất trong một thời kỳ

Tỷ lệ thu nợ hộ sản xuất= Doanh số thu nợ

HSX Tổng dư nợ của

HSX

x 100%

Để phản ánh tình hình thu nợ hộ sản xuất, Ngân hàng còn sử dụngchỉ tiêu tương đối phản ánh tỷ trọng thu hồi được trong tổng doanh sốcho vay hộ sản xuất của Ngân hàng trong thời kỳ

* Chỉ tiêu 3: Dư nợ quá hạn hộ sản xuất.

Dư nợ quá hạn hộ sản xuất là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh tổng thể

số tiền Ngân hàng chưa thu hồi được sau một thời gian nhất định kể từngày khoản vay được cho vay đến hạn thanh toán thời điểm đang xemxét

Bên cạnh chỉ tiêu tuyệt đối Ngân hàng cũng thường xuyên sử dụng cácchỉ tiêu như:

Trang 16

Tỷ lệ quá hạn hộ sản

xuất =

Dư nợ quá hạn HSX Tổng dư nợ của HSX

x 100%

Đây là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả tín dụng hộ sảnxuất và chất lượng tín dụng đầu tư cho vay đối với hộ sản xuất Dư nợquá hạn càng nhỏ, tỷ lệ nợ quá hạn thấp thì chất lượng tín dụng càngcao

Hoạt động Ngân hàng nói chung và tín dụng Ngân hàng nói riêngđều chứa đựng nhiều rủi ro tác động đến lợi nhuận và sự an toàn trongkinh doanh của Ngân hàng Do đó việc đảm bảo thu hồi đủ vốn cho vayđúng hạn, thể hiện qua tỷ lệ nợ quá hạn thấp là vấn đề quan trọng trongquản lý Ngân hàng tác động trực tiếp đến sự tồn tại của các Ngân hàng

* Chỉ tiêu 4: Tỷ lệ nợ khó đòi hộ sản xuất

Để đánh giá khả năng không thu hồi được nợ người ta sử dụng chỉ tiêu

Tỷ lệ nợ khó đòi:

Tỷ lệ nợ khó

đòi =

Tổng nợ khó đòi Tổng nợ quá hạn x 100%

Đây là chỉ tiêu tương đối, tỷ lệ này ở mức cao là dấu hiệu củakhoản vay có vấn đề và nguy cơ mất vốn là rất cao

* Chỉ tiêu 5: Tỷ lệ cho vay Trung và dài hạn

cơ sở để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngắn hạn Theo đánh giá thì tỷ

lệ này cần phải đạt tối thiểu 30% Tổng dư nợ (mục tiêu của NHNo&PTNTViệt Nam) Tuy vậy, tỷ lệ này có thể cao, thấp tuỳ thuộc vào nhu cầu vốntrung, dài hạn tại địa phương cũng như chính sách tín dụng của từng

Trang 17

1.3.1.2 Yếu tố thiên nhiên

Hoạt động nông nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố thiên nhiên

sẽ có rủi ro bất khả kháng mà ngân hàng không lường trước được như:

lũ lụt, hạn hán, mưa bão ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của các hộnông nghiệp và ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của các NH

1.3.1.3 Các chủ trương chính sách Nhà nước

Không có pháp luật hoặc pháp luật không phù hợp với những yêu cầu phát triển củanền kinh tế thì mọi hoạt động của nền kinh tế không thể trôi chảy được Pháp luật có nhiệm

vụ tạo lập môi trường pháp lý cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh tiến hành thuận lợi

và đạt hiệu quả kinh tế cao, là cơ sở để giải quyết khiếu nại khi có tranh chấp xảy ra Môitrường pháp lý cho hoạt động tín dụng của ngân hàng nói riêng và cho hoạt động của cácdoanh nghiệp trong nền kinh tế nói chung là một nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng tới khảnăng phát sinh nợ quá hạn

1.3.2 Nhân tố chủ quan

1.3.2.1 Nhân tố từ khách hàng

Trang 18

Đây là đối tượng khách hàng đông đảo của ngân hàng có vai trò quan trọng thứ haisau yếu tố chủ quan của ngân hàng quyết định đến hoạt động cho vay đối với hộ sản xuất.Các nhân tố cụ thể ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động cho vay hộ sản xuất được đề cậpdưới đây:

- Trình độ văn hóa, nhận thức pháp luật và trình độ sản xuất của hộ sản xuất:

Đây là nhân tố quan trọng đầu tiên từ góc độ hộ sản xuất ảnh hưởng đến hoạt độngcho vay vốn tới hộ sản xuất Bởi vì trình độ văn hóa khá, ý thức pháp luật và trình độ sảnxuất của hộ gia đình khá, họ thường làm ăn bài bản, chắc chắn, cân nhắc kỹ lưỡng trướckhi đầu tư, trước khi vay vốn cũng như sử dụng vốn vay, tính toán nguồn trả nợ Nhữngngười có kinh nghiệm trong lĩnh vực họ sản xuất thường gây ít rủi ro cho ngân hàng hơn.Ngược lại thì tiềm ẩn nhiều rủi ro cho ngân hàng

- Lĩnh vực sản xuất mà hộ nông dân lựa chọn:

Lĩnh vực đó có khả năng tiêu thụ sản phẩm trên thị trường thuận lợi hay không,mức cạnh tranh ra sao, khả năng tiêu thụ như thế nào, tiêu thụ trong nước hay xuất khẩu,cũng như sự ảnh hưởng của thời tiết khí hậu đến lĩnh vực mà họ sản xuất Đồng thời hộ giađình chuyên doanh một sản phẩm hay sản xuất kinh doanh nhiều sản phẩm khác nhau.Thông thường hộ sản xuất đa canh, kinh doanh tổng hợp thì mức rủi ro cho ngân hàng thấphơn

- Truyền thống gia đình và tính cách của người vay:

Nếu trong gia đình không hòa thuận, người chồng hay cờ bạc, rượu chè, nhân thânkhông tốt, hoặc người vợ hay chơi số đề hụi họ không lành mạnh, rõ ràng ảnh hưởng tớihoạt động cho vay của ngân hàng

- Cơ sở hạ tầng và thị trường tiêu thụ:

Các vùng hộ sản xuất sinh sống và hoạt động gần đô thị, giao thông và thôngtin liên lạc thuận lợi, tiêu thụ thuận lợi… thì cũng tạo thuận lợi cho hoạt động chovay hộ sản xuất Ngược lại thì cần quan tâm nhiều hơn khi quyết định cho vay

1.3.2.2 Nhân tố từ Ngân hàng

Đối với bản thân ngân hàng, khi xem xét vấn đề nội tại liên quan đến hoạt động chovay thì các ngân hàng thường có những biện pháp nhằm giảm bớt những nhân tố gây tổnthất cho ngân hàng dễ dàng hơn Một số nhân tố cụ thể sau:

- Chính sách cho vay của ngân hàng:

Chính sách cho vay của một NHTM là một hệ thống các biện pháp có liên quan đến việckhuếch trương hoặc hạn chế cho vay, để đạt được mục tiêu đã hoạch định của ngân hàng và

và hạn chế rủi ro đảm bảo trong kinh doanh tín dụng của ngân hàng

Trang 19

Chính sách cho vay phải đảm bảo kết hợp hài hòa giữa quyền lợi của người gửitiền, người đi vay và chính bản thân ngân hàng, việc xây dựng chính sách cho vay phải dựatrên cơ sở khoa học và phù hợp với từng thời kỳ Một chính sách cho vay đúng đắn sẽ thuhút được nhiều khách hàng, đảm bảo khả năng sinh lời từ hoạt động cho vay trên cơ sởphân tán rủi ro, tuân thủ đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

- Thông tin tín dụng:

Là các thông tin liên quan đến khách hàng, bao gồm những thông tin về tình hìnhtài chính, năng lực của khách hàng Thông tin tín dụng có thể khai thác từ nhiềunguồn như: trực tiếp từ khách hàng, từ bạn hàng của khách hàng, từ chính quyền địaphương nơi khách hàng sinh sống hoặc kinh doanh… Số lượng, chất lượng của thôngtin thu thập được có liên quan đến mức độ chính xác trong phân tích tín dụng, thôngtin càng đầy đủ, chính xác, toàn diện thì chất lượng cho vay càng được nâng cao dongân hàng có thể căn cứ vào thông tin đó để phòng ngừa rủi ro

- Năng lực tổ chức, quản lý.

Vấn đề tổ chức quản lý ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cho vay, thể hiện đượcsức mạnh của ngân hàng trong cấp tín dụng Năng lực tổ chức quản lý của một ngân hàngđược xem xét như sau:

+ Về năng lực thẩm định và giám sát, xử lý tín dụng: Cán bộ tín dụng phải thẩm định tíndụng trước, trong và sau khi giải ngân Trên cơ sở nhận định và tính toán những thông tin

và nguồn tài liệu mà khách hàng cung cấp để từ đó nhận định chất lượng của khách hànghay dự án Việc thẩm định đạt hiệu quả sẽ giúp cho ngân hàng đánh giá được những rủi rotiềm năng, khả năng sinh lời để từ đó đưa ra quyết định cho vay đúng đắn

+ Về năng lực tổ chức: Công tác tổ chức ngân hàng cần được cụ thể hóa và sắp xếp mộtcách khoa học đảm bảo sự phối kết hợp nhịp nhàng, chặt chẽ giữa các phòng ban ngânhàng cũng như giữa ngân hàng và các cơ quan khác tạo điều kiện thuận lợi, đáp ứng kịpthời nhu cầu của khách hàng cũng như giúp ngân hàng theo dõi sát sao các khoản cho vayhơn

+ Về cán bộ tín dụng: Trong quá trình cho vay cán bộ tín dụng đóng vai trò quan trọngnhất, họ là người trực tiếp tiếp xúc, phân tích và kiểm tra tư cách khách hàng, thẩm định dự

án xin vay của khách hàng Trình độ cán bộ tín dụng ảnh hưởng rất lớn đến việc xác địnhrủi ro của khoản vay, bởi với hoạt động cho vay phần lớn quyết định thuộc về cán bộ tíndụng, với năng lực thẩm tra cho vay tốt thì đảm bảo cho món vay giảm bớt được những rủi

ro chủ quan không đáng có xảy ra

- Lãi suất ngân hàng:

Trang 20

Đối với hoạt động của ngân hàng lãi suất là chi phí của khoản vay và đối với ngườivay cũng vậy, nên trong quyết định cho vay lãi suất ảnh hưởng rất lớn Với mức lãi suấtphù hợp thì nhu cầu vay sẽ lớn hơn, hiệu quả đầu tư sẽ cao hơn nên khả năng trả nợ sẽ tốthơn.

- Hệ thống mạng lưới và trang thiết bị phục vụ kinh doanh:

Một trong những đặc điểm của hộ sản xuất là nằm trong các khu vực nông thôn vàthường cách xa thị trấn, thị xã Do vậy, các ngân hàng cần chú ý xem xét ở những nơi cógiao dịch lớn thì cần có các phòng giao dịch, bên cạnh đó cũng cần quan tâm chú ý đếntrang thiết bị phục vụ kinh doanh, một trong những ấn tượng ban đầu của khách hàng đó làtrụ sở, trang thiết bị phục vụ kinh doanh Với ngân hàng có trụ sở khang trang, trang thiết

bị hiện đại thì sẽ tạo nên sự an tâm hơn cho khách hàng, đồng thời với trang thiết bị tiêntiến, phù hợp sẽ giúp ngân hàng phục vụ kịp thời nhu cầu khách hàng, giảm thời gian vàchi phí cho cả ngân hàng và khách hàng

CHƯƠNG 2

Trang 21

THỰC TRẠNG CHO VAY HỘ SẢN XUẤT TẠI NGÂN HÀNG NÔNG

NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM CHI NHÁNH

HUYỆN CẨM GIÀNG TỈNH HẢI DƯƠNG 2.1 Khái quát về Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Cẩm Giàng

2.1.1 Giới thiệu chung về Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam

Được thành lập vào ngày 26/03/1988, hoạt động theo Luật các Tổ chức Tín dụng ViệtNam, đến nay, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (tên giao dịchquốc tế là Vietnam Bank for Agriculture and Rural Development, viết tắt là AGRIBANK) -Agribank là Ngân hàng thương mại hàng đầu giữ vai trò chủ đạo và chủ lực trong pháttriển kinh tế Việt Nam, đặc biệt là đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn

Tên viết tắt: NHNo&PTNT Agribank huyện Cẩm Giàng

Trụ sở: Quốc lộ 5, Thị trấn Lai Cách, Huyện Cẩm Giàng

SĐT:.0320.3786636

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện CẩmGiàng được thành lập ngày 26/3/1988 Với tư cách là một chi nhánh của Ngân hàng Nhànước huyện Cẩm Bình cũ Thực hiện hai chức năng quản lý nhà nước và kinh doanh tiền

tệ Đến tháng 3/1997 sau khi tái lập huyện thì Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nôngthôn Huyện Cẩm Bình được tách thành 2 chi nhánh là NHNo& PTNT huyện Cẩm Giàng

và NHNo& PTNT huyện Bình Giang

Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện CẩmGiàng là một trong 11 chi nhánh huyện trực thuộc NHNo& PTNT tỉnh Hải Dương, là mộtNHTM quốc doanh đóng trên địa bàn huyện gồm có 17 xã và 2 thị trấn với chức năng kinhdoanh tiền tệ tín dụng trên mặt trận nông nghiệp và phát triển nông thôn, NHNo& PTNTViệt Nam chi nhánh huyện Cẩm Giàng đã và đang giữ vai trò chủ đạo, chủ lực trên thịtrường tài chính tín dụng ở nông thôn Trải qua nhiều thử thách khắc nghiệt của cơ chế thịtrường NHNo& PTNTVN chi nhánh huyện Cẩm Giàng đã đứng vững vàng và luôn chứng

Trang 22

tỏ là một chi nhánh hoạt động có hiệu quả của hệ thống NHNN tỉnh Hải Dương nói riêng

và của toàn hệ thống NHNN Việt Nam nói chung Cùng với thời gian, NHNo&PTNT ViệtNam chi nhánh huyện Cẩm Giàng đã từng bước hoàn thiện cả về cơ cấu tổ chức và hoạtđộng nghiệp vụ

2.1.3 Chức năng, nhiệm vụ của NHNo&PTNT Việt Nam chi nhánh huyện Cẩm Giàng

2.1.3.1 Chức năng

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện CẩmGiàng là ngân hàng thương mại quốc doanh do đó chức năng của NHNo& PTNT Việt Namchi nhánh huyện Cẩm Giàng cũng tương tự như chức năng của các NHTM khác: chứcnăng trung gian thanh toán, chức năng trung gian tín dụng, chức năng tạo tiền và làm cácdịch vụ khác của Ngân hàng

2.1.3.2 Nhiệm vụ

Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện CẩmGiàng là thành viên đại diện ủy quyền của NHNo&PTNT Việt Nam, có quyền tự chủ kinhdoanh theo phân cấp của ngân hàng nông nghiệp, chịu sự ràng buộc về quyền và nghĩa vụđối với NHNo&PTNT Việt Nam, có nhiệm vụ:

* Huy động vốn

- Khai thác và nhận tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiền gửi thanh toán của các

tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế trong nước và nước ngoài bằng Việt Namđồng và ngoại tệ

- Tiếp nhận các nguồn vốn tài trợ, vốn ủy thác của Chính phủ, Chính quyền địa phương vàcác tổ chức kinh tế, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của NHNo

- Được phép vay vốn các tổ chức tài chính tín dụng trong nước khi Tổng giám đốc NHNocho phép

* Hoạt động tín dụng

- Cho vay ngắn- trung- dài hạn bằng VND và ngoại tệ đối với các tổ chức kinh tế; đối với

cá nhân và hộ gia đình thuộc mọi thành phần kinh tế nếu khách hàng cung cấp đủ tài liệucho Ngân hàng

- Chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính…

* Kinh doanh ngoại hối:

Huy động vốn, cho vay, mua bán ngoại tệ, thanh toán quốc tế và các dịch vụ khác

về ngoại hối theo chính sách quản lý ngoại hối của Chính phủ, NHNo & PTNT Việt Nam

Trang 23

* Kinh doanh dịch vụ: thu, chi tiền mặt; mua bán vàng bạc; máy rút tiền tự động, dịch vụ

thẻ tín dụng; két sắt, nhận cất giữ, chiết khấu các loại giấy tờ có giá, thẻ thanh toán; nhận

ủy thác cho vay của tổ chức tài chính, tín dụng, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, cácdịch vụ khác được NHNN và NHNo cho phép

* Một số nhiệm vụ khác: thực hiện hạch toán kinh doanh và phân phối thu nhập theo quy

định của NHNo, thực hiện đầu tư,

2.1.4 Mô hình tổ chức của NHNo&PTNT Việt Nam chi nhánh huyện Cẩm Giàng

2.1.4.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức

Hiện nay Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánhhuyện Cẩm Giàng có 43 cán bộ công nhân viên được chia thành 5 phòng ban trực thuộcBan Giám Đốc

Sơ đồ 2.1: Cấu trúc của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt

Nam chi nhánh huyện Cẩm Giàng

tế tại địa phương

- Thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của mình theo ủy quyền của Tổng giám đốc, chịu tráchnhiệm trước pháp luật, HĐQT và Tổng GĐ về các quyết định của mình

* Phó giám đốc

- Giúp GĐ chỉ đạo điều hành một số nghiệp vụ do GĐ phân công phụ trách và chịu tráchnhiệm trước GĐ và pháp luật về các quy định của mình

Trang 24

- Bàn bạc và tham gia ý kiến với GĐ trong công việc thực hiện các nghĩa vụ của CN theonguyên tắc tập trung dân chủ và chế độ thủ trưởng.

* Phòng kế hoạch – kinh doanh (Tín dụng)

- Trực tiếp quản lý cân đối nguồn vốn về các hệ số an toàn theo quy định

- Tham mưu cho GĐ CN điều hành về giải pháp phát triển nguồn vốn, xây dựng kế hoạchkinh doanh ngắn hạn, trung và dài hạn

- Chịu trách nhiệm về quản lý rủi ro trong lĩnh vực nguồn vốn, cân đối vốn về kinh doanhtiền tệ theo quy chế, quy trình quản lý rủi ro, tài sản nợ

- Tổng hợp, theo dõi các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh, phân tích các hoạt động kinh doanhtheo quý, năm

* Phòng kế toán – Ngân quỹ

- Trực tiếp hoạch toán kế toán, hoạch toán thống kê và thanh toán Xây dựng chỉ tiêu kếhoạch tài chính, quyết toán kế hoạch thu, chi tài chính

- Thực hiện các khoản nộp ngân sách nhà nước và nghiệp vụ thanh toán theo quy định.Quản lý, sử dụng thiết bị thông tin, điện toán phục vụ nghiệp vụ kinh doanh theo quy định

2.1.5 Tình hình kinh doanh của NHNo&PTNT Việt Nam chi nhánh huyện Cẩm Giàng giai đoạn 2013-2015

2.1.5.1 Tình hình huy động vốn

Với vị trí và uy tín đã tạo dựng, NHNo&PTNT Việt Nam chi nhánh huyện CẩmGiàng đã hoàn thành tốt công tác huy động vốn theo kế hoạch đã xây dựng, đóng góp vàothành tích huy động vốn chung của toàn hệ thống NHNo&PTNT Việt Nam Tình hình huyđộng vốn của chi nhánh được thể hiện qua bảng sau:

Trang 25

Bảng 2.1: Tình hình huy động vốn của NHNo&PTNT Việt

Nam chi nhánh huyện Cẩm Giàng 2013-2015

động 883 98,5 1.060 99,8 1.290,8 98,95 177 20 230,8 21,77

a Theo loại tiền

-Ngoại tệ (quy đổi) 97,6 11,1 102,2 9,6 142,6 18,93 4,6 4,7 40,4 39,53

b Theo đối tượng

( Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của NHNo&PTNT Việt Nam chi nhánh huyện Cẩm Giàng 2013-2015)

Qua số liệu 3 năm 2013, 2014 và 2015 ta thấy:

* Tổng nguồn vốn huy động: tăng nhanh từ 883 tỷ đồng năm 2013 lên 1060 tỷ đồng năm

2014 và tiếp tục tăng lên 1209,8 tỷ đồng đến cuối năm 2015 Như vậy năm 2014 tăng sovới năm 2013 là 177 tỷ đồng, tương đương 20% Năm 2015 tăng so với năm 2014 là 230,8

tỷ đồng, tương đương 21,77%

* Theo loại tiền: Ta thấy huy động vốn nội tệ tăng dần qua các năm, năm 2013 đạt 785,4

tỷ đồng, năm 2014 đạt 957,8 tỷ đồng và năm 2015 đạt 1148,2 tỷ đồng Như vậy, năm 2014tăng so với năm 2013 là 172,4 tỷ đồng tương đương 21,9%; năm 2015 tăng so với năm

2014 là 190,4 tỷ đồng, tương đương tăng 19,88% Huy động vốn ngoại tệ cũng có sự tăngdần từ 2013 đến 2014 rồi tăng mạnh đến 2015, năm 2013 là 97,6 tỷ đồng, năm 2014 là

Trang 26

102,2 tỷ đồng, năm 2015 đạt 142,6 tỷ đồng Như vậy năm 2014 tăng 4,6 tỷ đồng so vớinăm 2013, tương đương 4,7%; năm 2015 tăng 40,4 tỷ đồng so với năm 2014, tương đươngtăng 39,53%.

* Theo đối tượng: NH đã tập trung huy động vốn từ dân cư, đây là nguồn vốn ổn định, dồi

dào, nguồn vốn này có xu hướng tăng qua các năm trong khi nguồn vốn huy động từ doanhnghiệp có sự biến động tăng giảm Cụ thể là, vốn từ dân cư năm năm 2013 là 710,2 tỷđồng; năm 2014 đạt 973,9 tỷ đồng, năm 2014 là 1184,7 tỷ đồng Nguồn vốn này tăngnhanh năm 2014 tăng 263,7 tỷ đồng so với năm 2013, tương ứng tốc độ tăng 37,1%; tiếptục tăng 210,8 tỷ đồng vào cuối năm 2015, tương ứng tăng 21,64% Còn đối với nguồn vốnhuy động từ TCKT từ năm 2013 đến năm 2014 giảm 86,7 tỷ đồng tốc độ giảm 50,2% sau

đó năm 2015 tăng 20 tỷ đồng so với 2014, tương ứng tăng 23,23%

* Theo thời gian: Trong đó ta thấy rằng tiền gửi không kỳ hạn có sự biến đổi liên tục qua

các năm Năm 2013 là 152,8 tỷ đồng và đến năm 2014 giảm xuống mức 128,2 tỷ đồng.Mức giảm tuyệt đối năm 2014 so với 2013 là 24,6 tỷ triệu đồng, tương đương là 16,1%.Sau đó có sự tăng nhẹ vào năm 2015 lên đến 133,5 tỷ đồng, tăng 5,3 tỷ đồng so với năm

2014, tương ứng tăng 4,13% Tiền gửi có kỳ hạn dưới 1 năm chiếm tỉ trọng cao và tăngkhá nhanh từ năm 2013 đến 2015 Năm 2013 đạt mức 653 tỷ đồng (chiếm tỉ trọng 73,9%)đến năm 2014 tăng lên đạt mức 747 tỷ đồng (chiếm tỉ trọng 70,5%) và năm 2015 đạt mức71,62% Tiền gửi có kỳ hạn từ 1 năm trở lên tăng tương đối mạnh so với các năm Năm

2013 là 77,3 tỷ đồng đến năm 2014 đã đạt được 184,8 tỷ đồng, số tuyệt đối tăng 107,5 tỷđồng, tương đối tăng 139% Đến năm 2015 có sự tăng lên đến 223 tỷ đồng, tăng 38,2 tỷđồng, tương đương với 20,67%

2.1.5.2 Tình hình hoạt động cho vay của NHNo&PTNT Việt Nam chi nhánh huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương

Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động quan trọng nhất củaNHNo&PTNT Việt Nam CN huyện Cẩm Giàng, luôn là mối quan tâm hàng đầu của ngânhàng Tình hình hoạt động cho vay của NH được thể hiện qua bảng sau:

Trang 27

Bảng 2.2: Tình hình hoạt động cho vay của NHNN&PTNN Việt Nam chi nhánh

huyện Cẩm Giàng 2013-2015

Đơn vị: Tỷ đồng

Chỉ tiêu Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015 2014/2013 So sánh 2015/2014 So sánh

Số tiền

a Phân theo loại tiền

b Theo thời gian

-Dư nợ cho vay

( Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của NHNo&PTNT Việt Nam chi nhánh huyện Cẩm Giàng 2013-2015)

Qua bảng kết cấu dư nợ theo thời hạn vay trong 3 năm 2013,

2014 và 2015 cho thấy tổng dư nợ tăng nhanh qua các năm Từ 804,7 tỷđồng năm 2013 tăng lên tới 868,7 tỷ đồng vào năm 2014, tăng 64 tỷđồng tương đương với 7,9% và đến năm 2015 dư nợ đạt 954,2 tỷ đồngtăng 85,5 tỷ đồng, tương đương với 9,84%

* Theo loại tiền: Dư nợ nội tệ tăng dần qua các năm Năm 2014 so với năm 2013 tăng

32,3 tỷ đồng tương đương 4,1% Năm 2015 tăng 83,4 tỷ đồng so với năm 2014 tươngđương 10,17% Dư nợ ngoại tệ lại tăng qua các năm, năm 2014 tăng 31,7 tỷ đồng tương

Ngày đăng: 21/02/2018, 20:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w