Cao lanh là một khoáng tự nhiên có chứa hàm lượng lớn nhôm oxit nên có thể sử dụng để sản xuất các muối của nhôm.. Hiện nay ở nước ta chưa có tác giả nào đi sâu vàonghiên cứu lĩnh vực nà
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc em xin chân thành cảm ơn
PGS.TS La Thế Vinh đã giao đề tài và tận tình hướng dẫn, tạo mọi điều
kiện thuận lợi giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài này
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Bộ môn Công nghệcác hợp chất vô cơ – Viện Kỹ Thuật Hóa Học – Trường Đại học Bách Khoa
Hà Nội cùng các đồng nghiệp trong khoa Hóa công nghệ đã tạo điều kiệngiúp đỡ và đóng góp ý kiến quý báu cho em trong quá trình thực hiện khóaluận tốt nghiệp này
Em xin chân thành cảm ơn thầy ThS Vũ Minh Khôi – Trường Đại Học Công Nghiệp và thầy ThS Nguyễn Văn Quang cùng các thầy cô giáo
trong khoa Hóa học – Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiệnthuận lợi cho em trong suốt quá trình làm khóa luận tại Viễn Kỹ Thuật HóaHọc – Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến những người thân tronggia đình, các bạn trong phòng thí nghiệm của bộ môn vô cơ cùng những bạn
bè Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội luôn ở bên động viên, chia sẻ và giúp
đỡ tôi về mọi mặt trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu vừa qua
Một lần nữa xin được chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng 05 năm 2012
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Lan
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU 3
DANH MỤC HÌNH VẼ 4
DANH MỤC BẢNG 5
DANH MỤC ĐỒ THỊ 6
CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 7
1.1 Tổng quan cao lanh 7
1.1.1 Khái niệm, thành phần, phân loại và cấu trúc cao lanh 7
1.1.2 Tính chất vật lý 9
1.1.3 Tính chất hóa học 9
1.1.4 Trạng thái thiên nhiên 12
1.1.5 Ứng dụng 13
1.2 Tổng quan về nhôm nitrat 15
1.2.1 Tính chất hóa lý nhôm nitrat 15
1.2.2 Các ph ươ ng pháp ch ế tạo nhôm nitrat 16
1.2.2.1 Điều chế nhôm nitrat từ nhôm hydroxit 16
1.2.2.2 Điều chế nhôm nitrat từ cao lanh 17
CHƯƠNG 2: 19
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THỰC NGHIỆM 19
2.1 Ph ươ ng pháp nghiên c ứu 19
2.1.1 Phân tích cấu trúc, thành phần cao lanh bằng phương pháp hóa lý 19
2.1.1.1 Phương pháp nhiễu xạ tia X ( X- Ray Diffraction, XRD) 19
2.1.1.2 Phương pháp phân tích nhiệt (DSC) 22
2.1.1.3 Phương pháp hiển vi điện tử quét (SEM - Scanning Electron
Microscope) 23
Trang 32.1.2 Phương pháp phân tích thể tích 25
2.1.3 Nghiên cứu quá trình hòa tách nhôm oxit bằng phản ứng của cao lanh với dung dịch axit nit ric trong một số điều kiện khác nhau 26
2.2 Th ực nghiêm 26
2.2.1 Hóa chất, dụng cụ. 26
2.2.1.1.Hóa chất 26
2.2.1.2 Dụng cụ 27
2.2.2 Pha chế dung dịch chuẩn 27
2.2.3 Cách tiến hành 28
CH ƯƠ NG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 30
3.1 Thành phần hóa học mẫu cao lanh Phú Thọ 30
3.2 Phân tích cấu trúc, thành phần của cao lanh bằng phương pháp hóa
lý 30 3.2.1 Phương pháp nhiễu xạ tia X 30
3.2.2 Phương pháp phân tích nhiệt (DSC) 33
3.3 Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hòa tách nhôm trong cao lanh
3.3.1 Khảo sát ảnh hưởng của kích thước hạt cao lanh 34
3.3.2 Khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ nung cao lanh 37
3.3.3 Khảo sát ảnh hưởng của nồng độ axit đến quá trình hòa tách 39
3.3.4 Khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ hòa tách tới quá trình hòa tách 41
3.2.5 Khảo sát ảnh hưởng thời gian phản ứng tới quá trình hòa tách 43
KẾT LUẬN 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
Trang 4MỞ ĐẦU
Nhu cầu sử dụng nhôm của thế giới tăng liên tục trong khi trữ lượngquặng boxit (nguyên liệu chủ yếu để sản xuất nhôm hiện nay) là có hạn Tìnhtrạng này đã khuyến khích việc tìm các kĩ thuật mới để sản xuất nhôm từcác nguyên liệu khác như cao lanh hoặc các loại đất sét có trữ lượng vô tận
Trên thế giới xu hướng nghiên cứu sản xuất nhôm từ nguyên liệu caolanh đang rất dược quan tâm và diễn ra hết sức sôi nổi
Cao lanh là một khoáng tự nhiên có chứa hàm lượng lớn nhôm oxit nên
có thể sử dụng để sản xuất các muối của nhôm Trên thế giới đã có một sốcông trình nghiên cứu về quá trình tách nhôm trong cao lanh bằng một sốphương pháp khác nhau Hiện nay ở nước ta chưa có tác giả nào đi sâu vàonghiên cứu lĩnh vực này, đặc biện là quy trình công nghệ để đưa vào sản xuất.Như chúng ta đã biết, tùy thuộc vào điều kiện hình thành, đặc điểm địa chất
và kiểu khí hậu mà thành phần, tính chất của các loại cao lanh khác nhau làkhông giống nhau, vì vậy nghiên cứu quá trình hòa tách một loại cao lanh cụthể bằng dung dịch axit HNO3 có ý nghĩa thực tế
Việt Nam là một trong những nước có nhu cầu nhập khẩu nhôm vàoloại lớn nhất thế giới, mỗi năm nước ta nhập khoảng 70000 tấn nhôm kimloại Trong khi đó nước ta có nguồn nguyên liệu chứa nhôm như quặng boxit
và cao lanh tuy không nhiều nhưng đủ để sản xuất trong nước trong một thờigian dài (Theo báo cáo khoa học của Viện Hóa học – Tổng công ty Hóa chấtViệt Nam năm 2000) trữ lượng quặng boxit đã được thăm dò là 2,7 tỉ tấn, dựbáo quặng boxit nguyên khai khoảng 6,7 tỉ tấn
Trước tình hình đó một vấn đề được đặt ra là đề xuất phương án nghiêncứu sản xuất nhôm đi từ nguồn nguyên liệu là các quặng thiên nhiên có sẵn ởcác địa phương để giảm chi phí nhập khẩu nhôm Tuy nhiên, sau khi khảo sát
Trang 5quặng boxit ở các tỉnh phía bắc do tồn tại ở dạng diaxpo rất khó hòa tan chưa
có công nghệ phù hợp để đi từ nguyên liệu này Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài:
“Nghiên cứu khả năng tách nhôm trong cao lanh bằng dung dịch axit nitric”.
Nội dung nghiên cứu:
- Phân tích thành phần hóa học, cấu trúc pha của mẫu cao lanh
- Nghiên cứu khả năng hòa tách nhôm oxit trong mẫu cao lanh đãchọn
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
Calorimetry
Phép Đo nhiệt lượng quét vi
sai
Trang 7DANH MỤC HÌNH VẼ
liệu, Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Trang 9DANH MỤC ĐỒ THỊ
Trang 10CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT
1.1 Tổng quan cao lanh
1.1.1 Khái niệm, thành phần, phân loại và cấu trúc cao lanh
Cao lanh có nguồn gốc tên gọi từ Cao Lĩnh thổ (tức đất Cao Lĩnh, làđất sét trắng tại Cao Lĩnh), một khu vực đồi tại Giang Tô, Trung Quốc Các
mỏ đất sét trắng tại đây được khai thác để làm nguồn nguyên liệu sản xuất đồ
sứ Trung Quốc Tên gọi kaolin được các giáo sĩ dòng Tên người Pháp dunhập vào châu Âu trong thế kỷ 18 và khi được phiên âm ngược trở lại tiếngViệt thì nó đã trở thành cao lanh
Cao lanh (kaolin) hay đất cao lanh là một loại đất sét màu trắng, bở, chịu lửa, với thành phần chủ yếu là khoáng vật kaolinit cùng một số khoáng
vật khác như illit, montmorillonit, thạch anh…có công thức chung là
Al 2 Si 2 O 5 (OH) 4 nH 2 O (n=0,2…).
Trong công nghiệp, cao lanh được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khácnhau, chẳng hạn như sản xuất đồ gốm sứ, vật liệu chịu lửa, vật liệu mài, sảnxuất nhôm, phèn nhôm, đúc, chất độn sơn, cao su, giấy, xi măng trắng
Thành phần chính trong cao lanh là SiO2, Al2O3, H2O… Ngoài ra còn
có các thành phần Fe2O3, TiO2, MgO, CaO, K2O,,Na2O và các khoáng kháchidromica, montmorilonit, feldpar, limonit, quat, anatase, rutil, pyrite
Có nhiều kiểu phân loại cao lanh khác nhau, phụ thuộc vào nguồn gốcphát sinh, mục đích sử dụng, độ chịu lửa, độ dẻo, độ xâm tán, hàm lượng cácoxit…
Trang 11Theo nguồn gốc phát sinh, có thể chia cao lanh thành hai dạng là phátsinh từ các nguồn sơ cấp và phát sinh từ các nguồn thứ cấp Cao lanh sơ cấpsinh ra từ quá trình phong hóa hóa học hay thủy nhiệt của các loại đá có chứafenspat như rhyolit, granit, gơnai Cao lanh thứ cấp được tạo ra từ sự chuyểndời của cao lanh sơ cấp từ nơi nó sinh ra vì xói mòn và được vận chuyển cùngcác vật liệu khác tới vị trí tái trầm lắng Một số cao lanh cũng được sinh ra tạinơi tái trầm lắng do biến đổi thủy nhiệt hay phong hóa hóa học đối với acco(arkose), một dạng đá trầm tích mảnh vụn với hàm lượng fenspat trên 25%.
Theo nhiệt độ chịu lửa, cao lanh được phân thành loại chịu lửa rất cao(trên 1750°C), cao (trên 1730°C), vừa (trên 1650°C) và thấp (trên 1580°C)
phân thành loại siêu bazơ, bazơ cao, bazơ hoặc axít
Cấu trúc tinh thể cao lanh
Kaolinit có cấu trúc lớp 1:1, dạng diocta Cấu trúc tinh thể của kaolinitđược hình thành từ một lưới tứ diện liên kết với một mạng bát diện tạo nênmột lớp cấu trúc Chiều dày của lớp này từ 7,15 ÷7,2Å Mỗi lớp cấu trúc đượcphát triển liên tục trong không gian theo hướng trục a và b Các lớp cấu trúcđược chồng xếp song song với nhau và tự ngắt quãng theo hướng trục c
Trang 12Các tứ diện quay đỉnh chung về phía mạng bát diện Ở vị trí đỉnh chungcủa tứ diện và bát diện thì ion OH- của mạng bát diện được thay thế bằng ion O2-nằm cạnh mặt chứa những ion OH- Giữa hai mặt đó xuất hiện một lực liên kếtgiữ chặt các lớp lại làm cho mạng tinh thể kaolinit ít di động, hấp phụ ít nước
và không trương nở Trong cấu trúc của kaolinit cứ 3 vị trí tâm bát diện thì cóhai vị trí bị chiếm giữ bởi ion Al3+ còn một vị trí bỏ trống Chính vì vậykaolinit thuộc phân nhóm diocta
1.1.2 Tính chất vật lý
Cao lanh có màu trắng, trắng xám, dạng đặc sít hoặc là những khốidạng đất sáng màu, tập vảy nhỏ, tinh thể đơn vị dạng hình lục lăng liên kếtthành các tấm nhỏ, mỏng, đường kính khoảng 0,2- 12 µm, khối lượng riêng
15 meq/100g và phụ thuộc nhiều vào kích thước của hạt, nhưng các phản ứngthay thế cation xảy ra với tốc độ rất lớn Khi ngấm nước, nó có tính dẻo,nhưng không có hiện tượng co giãn Đây là tính chất được biết đến sớm nhấtcủa cao lanh, người ta dùng nó ở dạng hồ quánh để định hình và nung thiêu
Khi nung nóng, cao lanh có hiệu ứng thu nhiệt, pic ở 510-6000C liên quan đến
sự mất nước kết tinh và hiện tượng không định hình của khoáng vật Hai pictoả nhiệt từ 960 đến 1000 và 12000C liên quan đến quá trình mulit hoá của
của oxit silic không định hình để tạo thành cristobalit
Trang 13kaolinit Với khả năng trương nở kém nên không sử dụng kaolinit làm chất xúc tác mà chỉ sử dụng nó với vai trò chất nền.
Tính chất trao đổi ion
Cao lanh có tính chất trao đổi anion và cation vào trong mạng tinh thểcủa mình Sự trao đổi cation thường được nghiên cứu nhiều hơn và khả năngứng dụng rộng hơn so với anion Các cation trao đổi thường là Ca2+, Mg2+,
Hình 1.2: Các vị trí trao đổi ion khác nhau đối với hạt kaolinit.
Bề mặt của kaolinit được chia thành bề mặt trong và bề mặt ngoài CEC
ở bề mặt ngoài phụ thuộc nhiều vào sự gãy liên kết và sự tăng khuếch tán bềmặt hay sự giảm kích thước hạt CEC ở bề mặt trong phản ánh toàn bộ điệntích âm chưa cân bằng trong mạng lưới cấu trúc Dung lượng trao đổi ion nóichung và CEC nói riêng là tín hiệu cho biết số ion hoặc cation hấp phụ giữacác lớp trong cấu trúc và số ion hoặc cation hấp phụ giữa các lớp trong cấutrúc và số ion hoặc cation hấp phụ lên bề mặt ngoài của kaolinit Hình 1.2cho thấy rõ vị trí trao đổi ion ở bên ngoài hay bên trong hạt kaolinit
Trang 14 Tính chất hấp phụ
Cao lanh có khả năng hấp phụ kém Độ hấp phụ của nó khoảng từ 1÷3% và chủ yếu là hấp phụ bề mặt Do vậy cao lanh ít có giá trị sử sụng làmchất hấp phụ
Việc nghiên cứu những biến đổi cấu trúc cao lanh khi nung chính là cơ
sở cho những ứng dụng của cao lanh trong nhiều ngành công nghiệp vật liệu
và hoá chất Trong cao lanh cũng như nhiều loại khoáng sét khác có chứa mộtlượng nước nhất định khi còn ở nhiệt độ thấp (nhiệt độ thường) Nhìn chung,nước trong cấu trúc khoáng sét được chia làm 3 loại: (1) nước hấp phụ trong
lỗ xốp, trên bề mặt và xung quanh các hạt phân tử khoáng rời rạc; (2) nước ởdạng hydrat, nước ở dạng xen kẽ giữa các lớp khoáng; (3) nước nằm trong cáckhe, hốc giữa các đơn vị cấu trúc dài (các nhóm OH cấu trúc) Nếu khoángchứa loại (1) sẽ tốn ít năng lượng nhất khi tiến hành loại bỏ nước
Các phân tử nước trong cao lanh thuộc loại (1), chỉ là nước hấp phụ bềmặt và một số nằm trong lỗ xốp, do đó sẽ dễ dàng mất đi khi cao lanh bị nungnóng từ 1000C tới 1500C Khi cao lanh bị nung đến khoảng nhiệt độ 5500C-
7000C, nước trong cấu trúc (nhóm OH trong mạng lưới) sẽ dần mất hết và
trúc tinh thể cao lanh bị sập hoàn toàn
Việc xác định sự mất dần các nhóm OH ở các vị trí là dựa vào phươngpháp nhiệt vi sai (DTA) Ngoài ra bằng phương pháp phân tích nhiệt trọnglượng (TGA) người ta xác định được khi nung cao lanh, song song với sựtăng nhiệt độ là sự giảm của trọng lượng (lượng mất khi nung)
Trang 15Hình 1.3: Vị trí các nhóm OH trong cấu trúc cao lanh
Quá trình xử lý nhiệt cao lanh còn dẫn tới các pha khuyết tật, tuy nhiêncác pha khuyết tật này lại hoạt động hơn đối với quá trình kết tinh Sơ đồ saudiễn tả quá trình xử lý cao lanh bởi các nhiệt độ khác nhau:
1.1.4 Trạng thái thiên nhiên
Quặng cao lanh nước ta được phân bố ở nhiều nơi như: Lào Cai, YênBái, Phú Thọ, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hải Dương, Quảng Ninh, Đà Lạt,Đồng Nai, Sông Bé Trong đó những mỏ quặng cao lanh đã được thăm dò,khai thác là:
- Mỏ Thạch Khoán, Phú Thọ gồm 4 vùng với tổng trữ lượng đã xácđịnh khoảng 3,2 triệu tấn
- Mỏ Trại Mật, Lâm Đồng, với tổng trữ lượng đã thăm dò là 11 triệutấn
- Mỏ Bảo Lộc hiện đạt công suất khai thác, tuyển rửa là 35000 tấn/năm
Trang 16- Các mỏ cao lanh Tấn Mài (Quảng Ninh), Trúc Thôn (Hải Dương),Tuyên Quang đã được khai thác dùng làm gạch chịu lửa cho công ty gangthép Thái Nguyên.
Ngoài ra, một số mỏ quy mô nhỏ ở các địa phương như Yên Bái, PhúThọ, Hải Dương, Đồng Nai, Sông Bé đã được sử dụng để khai thác cao lanhlàm nguyên liệu sản xuất gốm sứ dân dụng, gốm sứ kỹ thuật, phèn nhôm
1.1.5 Ứng dụng
Cao lanh được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực công nghiệpnhư: công nghiệp gốm sứ, giấy, sơn, cao su, sợi thuỷ tinh, chất dẻo, vật liệuxây dựng, gạch chịu lửa, làm xúc tác cho công nghệ lọc dầu… Nhờ có khảnăng hấp thụ đặc biệt không chỉ các chất béo, chất đạm mà còn có khả nănghấp thụ cả các loại vi rút và vi khuẩn, vì vậy cao lanh được ứng dụng cả trongcác lĩnh vực y tế, dược phẩm, mỹ phẩm,
- Công nghiệp sản xuất giấy: trong công nghiệp giấy, cao lanh được sửdụng làm chất độn tạo cho giấy có mặt nhẵn hơn, tăng độ kín, giảm độ thấuquang và làm tăng độ ngấm mực in tới mức tốt nhất Loại giấy thông thườngchứa 20 % cao lanh, có loại chứa tới 40 % Thông thường, một tấn giấy đòihỏi 250-300 kg cao lanh Chất lượng cao lanh dùng làm giấy được xác địnhbởi độ trắng, độ phân tán và mức độ đồng đều của các nhóm hạt
- Công nghiệp sản xuất đồ gốm: công nghiệp sản xuất sứ, gốm sứ dândụng, sứ mỹ nghệ, dụng cụ thí nghiệm, sứ cách điện, sứ vệ sinh… đều sửdụng chất liệu chính là cao lanh; chất liệu kết dính là sét chịu lửa dẻo, có màutrắng Chất lượng cao lanh đòi hỏi rất cao và phải khống chế các oxit tạo màu
0,4-1,4 %; CaO không quá 0,8 % và SO3 không quá 0,4 %
- Sản xuất vật liệu chịu lửa: trong ngành sản xuất vật liệu chịu lửa,người ta dùng kaolin để sản xuất gạch chịu lửa, gạch nửa axit và các đồ chịu
Trang 17lửa khác Trong ngành luyện kim đen, gạch chịu lửa làm bằng cao lanh chủyếu được dùng để lót lò cao, lò luyện gang, lò gió nóng Các ngành côngnghiệp khác cần gạch chịu lửa với khối lượng ít hơn, chủ yếu để lót lò đốt, nồihơi trong luyện kim mầu và công nghiệp hóa học, ở nhà máy lọc dầu, trongcông nghiệp thủy tinh và sứ, ở nhà máy xi măng và lò nung vôi.
- Chế tạo sợi thuỷ tinh: một lĩnh vực khác cũng sử dụng cao lanh tăngnhanh hàng năm đó là dùng làm nguyên liệu vào của sản xuất sợi thuỷ tinh.Trong thành phần của cao lanh có chứa cả silica và alumina, chất có trongthành phần của sợi thuỷ tinh Cao lanh được sử dụng đồng thời với một lượngnhỏ sắt và titan Nguyên nhân tăng nhu cầu sử dụng kaolin trong lĩnh vực nàybởi vì sự hạn chế khi sử dụng nguyên liệu vào amiăng, loại chất gây hại chosức khoẻ
- Lĩnh vực chất độn: kaolin được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực làmchất độn giấy, nhựa, cao su, hương liệu,… Cao lanh có tác dụng làm tăng độrắn, tính đàn hồi, cách điện, độ bền của cao su, tăng độ cứng và giảm giáthành sản phẩm của các chất dẻo như polyetylen (PE), polyvinylclorua(PVC) Trong sản xuất da nhân tạo (giả da), cao lanh có tác dụng làm tăng
độ bền, độ đàn hồi
- Trong sản xuất xà phòng: Cao lanh có tác dụng đóng rắn khi sản xuất,hấp thụ dầu mỡ khi sử dụng Lĩnh vực sản xuất xà phòng yêu cầu cao lanh có
độ hạt dưới rây 0,053 mm lớn hơn 90%; không lẫn cát, không lắng cặn trước
8 giờ, hàm lượng Fe2O3 ≤ 2 - 3%, TiO2 ≤ 1%; chất bazơ trao đổi ≤ 0,8 - 2% vàcacbonat ≤ 15 - 20 %
- Trong sản xuất thuốc trừ sâu: sử dụng kaolin có độ khuếch tán lớn,sức bám tốt, trơ hóa học, hợp chất sắt thấp, độ hạt 22 m từ 40 đến 75% Trongtổng hợp zeolit, kaolin là nguyên liệu chính để tổng hợp zeolit, loại chất đượcứng dụng nhiều trong công nghiệp như hấp phụ, làm chất xúc tác…
Trang 18- Trong các lĩnh vực khác, kaolin được sử dụng làm nguyên liệu sảnxuất xi măng trắng, các chất tráng trong xây dựng, nguyên liệu trong sản xuấtnhôm, phèn nhôm…
1.2 Tổng quan về nhôm nitrat
1.2.1 Tính chất hóa lý nhôm nitrat
Nhôm nitrat là muối của nhôm và axit nitric Bình thường nó tồn tại ở
dạng tinh thể nanohydrat Al(NO3)3.9H2O, tồn tại ở dạng chất rắn màu trắng,
dễ tan trong nước và trong rượu Hút ẩm nên chảy rữa trong không khí
Hình 1.4: Muối nhôm nitrat
Công thức cấu tạo nhôm nitrat :
Trang 19Nhôm nitrat là chất oxy hóa mạnh Nó được sử dụng nhiều trong lĩnhvực thuộc da, tinh lọc xăng dầu và khai thác uranium.
Các nanonitrat và các hidrat nhôm nitrat có nhiều ứng dụng Muối nàyđược sử dụng để sản xuất oxit nhôm, làm giấy cách nhiệt, ngoài ra nó được sửdụng cho việc khai thác các nguyên tố họ Actini
Nó được ứng dụng nhiều trong phòng thí nghiệm như trong phản ứng:
đến 1400C tạo thành muối bazơ và đến 2000C bị phân hủy tạo thành Al2O3:
1.2.2 Các phương pháp chế tạo nhôm nitrat
1.2.2.1 Điều chế nhôm nitrat từ nhôm hydroxit
Phương pháp cơ bản trong công nghiệp sản xuất nhôm nitrat sạch hiệnnay là điều chế nhôm nitrat từ hyđrôxit nhôm Phương pháp này được sử dụngrộng rãi nhờ ưu điểm như đơn giản, có thể cho sản phẩm chất lượng cao vớihàm lượng oxit sắt nhỏ, chi phí vận chuyển thấp
Nguyên li ệ u : hyđroxit nhôm là bán sản phẩm trong sản xuất đất nhôm
oxit Điều chế hydroxit nhôm từ quặng boxit bằng kiềm theo phương phápbayer được sử dụng rộng rãi Trong phạm vi nhỏ hơn, đất nhôm oxit được sảnxuất bằng phương pháp dung kết nephelin với vôi hoặc sản xuất từ alunitbằng phương pháp kiềm khử
Nhôm hydroxit – bột tinh thể nhỏ màu trắng, có thể có sắc hồng xám vàcác màu khác Trong thể khoáng, hydroxit nhôm tồn tại dưới dạng hydratgilli
Trang 20Trong vai trò tạp chất, hydroxit nhôm có thể tồn tại với hàm lượng nhỏ trongsilicat nhôm.
Hàm lượng nước trong sản phẩm không được vượt quá 12%, độ háokhi nung, không tình nước, là 34 – 38% Thành phần tạp chất của sản phẩmsau khi nung (%) không được vượt quá
Trong sản xuất nhôm nitrat, hàm lượng Na2O và K2O cần ở mức thấp,
vì nếu hàm lượng này cao, mức tiêu thụ axit nitric và hydroxit nhôm sẽ tăng
do hình thành muối khó tan và làm tăng lượng bã khó tan trong dung dịch
1.2.2.2 Điều chế nhôm nitrat từ cao lanh
Cao lanh được phân bố rộng rãi trên nhiều miền khác nhau Thành phầncủa cao lanh gồm oxit nhôm, oxit silic và một số các tạp chất khác Oxit silicSiO2 không phản ứng với axit HNO3, vì vậy bước công nghệ đầu tiên là axithoá Hoà tan chọn lọc Al2O3 ra khỏi SiO2, chế biến Al(NO3)3 vào các sảnphẩm khác
Cao lanh được xếp vào nhóm đất sét đơn khoáng Đất sét được gọi là
cao lanh nếu trong nó chứa lớn hơn 50% khoáng caolinit (Al 2 Si 2 O 5 (OH) 4 ).
Đất sét được phân biệt với cao lanh bởi độ mịn hạt cao lanh, tính dẻo
và khả năng thiêu kết tại nhiệt độ cao Trong đất sét hạt < 2m, hạt cao lanh
< 5m Thành phần cao lanh có các khoáng sét khác: dikit, galuazit,nakerit và gitroluda … trong thành phần gọi là tạp chất có cả silic dạng cát,opan, hiêm hơn là hanxedon Tạp chất có chứa Fe: hematit, xiderit… một vàicao lanh có chứa khoáng gibbxit Al(OH)3, AlOOH mà nhờ đó hàmlượng Al2O3 rất cao.Thành phần hoá học của cao lanh thay đổi trong diệnrộng nên trước khi đưa vào sản xuất thường sử dụng cao lanh đã qua tuyển
Cao lanh khó tan trong HNO3, có rất nhiều công trình đã nghiên cứuquá trình nhiệt hoá cao lanh nhưng chưa có sự thống nhất về cơ chế của quá
Trang 21trình này Bằng phương pháp nghiên cứu tổng hợp, hoá lý, rơnghen, quang phổ hồng ngoại có thể biểu diễn quá trình nhiệt hoá theo sơ đồ sau:
450 5500 CAl2SiO5(OH)4
Năng lượng phá huỷ mạng tinh thể của cao lanh theo phản ứng (1) là
280 kJ/mol Đến 4500C cao lanh không có sự chuyển hoá hoá học nào nênkhó phân huỷ bằng axit HNO3 nồng độ loãng trung bình Khi tăng nhiệt độ
đạt 90% Nếu nhiệt độ tăng 850 9000C thì có khả năng hoà tách vào
trong axit HNO3
silic trong dung dịch Al(NO3)3 không lớn từ (0,1 0,2g/l) Nếu tăng
vào dung dịch sẽ tăng
Trang 22Nếu tăng nhiệt độ lớn hơn 1040C thì không hợp lý vì thiết bị hoà táchphải làm thiết bị chịu áp lực.
Trang 23CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THỰC NGHIỆM
Với mục đích đặt ra là phân tích hàm lượng nhôm trong cao lanh vàtrong mẫu sau hòa tách Em đã chọn phương pháp nghiên cứu:
- Phân tích cấu trúc, tính chất của cao lanh bằng phương pháp hóa lý
- Phân tích thành phần của vật liệu trước và sau theo phương pháp hóa học
2.1 Phương pháp nghiên cứu
2.1.1 Phân tích cấu trúc, thành phần cao lanh bằng phương pháp hóa lý
2.1.1.1 Phương pháp nhiễu xạ tia X (X- Ray Diffraction, XRD)
Phương pháp XRD được ứng dụng để nghiên cứu cấu trúc của vật liệu,
có thể xác định nhanh, chính xác các pha tinh thể Ngoài ra phương pháp nàycòn được ứng dụng để xác định động học của quá trình chuyển pha, kích thướchạt với độ tin cậy cao
Nguyên lý c ủa phương pháp là xác định cấu trúc tinh thể dựa vào hìnhảnh khác nhau của kích thước tinh thể lên phổ nhiễu xạ Mạng tinh thể hay ionphân bố đều đặn trong không gian theo một trật tự nhất định Khoảng cách giữacác nút mạng vào khoảng vài ăngstron (A0) xấp xỉ vài bước sóng của tia X (còngọi là tia Rơnghen)
Một trùm electron đã được gia tốc, có năng lượng cao, đang chuyểnđộng nhanh bị hãm đột ngột bằng một vật cản, một phần của chúng chuyểnthành bức xạ sóng điện từ (tia X) gọi là bức xạ hãm Khi một trùm tia X cóbước sóng và cường độ I đi qua vật liệu, nếu tia tới thay đổi phương
chuyền và thay đổi năng lượng gọi là tán xạ không đàn hồi Khi tia tớithay đổi phương chuyền nhưng không thay đổi năng lượng gọi là tán xạđàn hồi
Trường hợp vật liệu đang nghiên cứu có cấu trúc tinh thể thì hiện tượng tán xạ
Trang 24đàn hồi của tia X sẽ đưa đến hiện tượng nhiễu xạ tia X Hiện tượng này chỉxảy ra với ba điều kiện: vật liệu có cấu trúc tinh thể; có tán xạ đàn hồi; bướcsóng của tia X (tia tới) có giá trị cùng bậc với khoảng cách giữa các nguyên tửtrong mạng tinh thể Trong mạng lưới tinh thể luôn luôn tồn tại các mặt phẳngsong song cách đều nhau một khoảng bằng d Một chùm tia X có bước sóng
(hình
1.6) Tất cả các tia phản xạ đó tạo nên chùm tia song song có cùng một bướcsóng và có phương chuyền làm với phương tia một góc θ
Hình 1.5: Sơ đồ nguyên lý của phương pháp nhiễu xạ tia X
Các nguyên tử, ion này được phân bố đều trên các mặt phẳng songsong, do vậy hiệu quang trình của hai tia phản xạ bất kỳ trên mặt phẳng songsong cạnh nhau được tính bằng công thức:
∆ = 2.d.sin θTrong đó: - d là khoảng cách giữa hai mặt phẳng song song;
- ∆ là hiệu quang trình của hai tia phản xạ;
- θ là góc giữa chùm tia X và mặt phẳng phản xạ;
Từ hình 1.4 ta thấy, hiệu quang trình giữa hai tia bằng 2.d.sinθ Bragg
đã biểu diễn điều kiện để có hiện tượng nhiễu xạ bằng phương trình:
Trang 25Ngoài việc xác định cấu trúc, XRD còn cho phép xác định kích thướccủa tinh thể Bản chất vật lý của việc xác định kích thước tinh thể bằngphương pháp XRD là: kích thước hạt và độ rộng của vạch nhiễu xạ có mốiliên hệ phụ thuộc Mẫu có các hạt với kích thước lớn thì độ rộng vạch nhiễu
xạ bé và ngược lại Scherrer đã đưa ra công thức tính toán kích thước hạttrung bình của tinh thể theo phương trình:
D β.cosθk. λ Trong đó : - D là kích thước hạt trung bình (nm);
- B là độ rộng pic đặc trưng (radian) ở độ cao bằng nửa độ cao cực đại;
- K là hằng số Scherrer phụ thuộc vào hình dạng của hạt vàchỉ số Miller của vạch nhiễu xạ;
- θ là góc nhiễu xạ;
Trang 262.1.1.2 Phương pháp phân tích nhiệt (DSC)
Nguyên t ắ c:
Khi đốt nóng mẫu sẽ xảy ra những biến đổi về khối lượng, thành phần,cấu trúc và có thể xảy ra một hay nhiều phản ứng hoá học giữa các thànhphần, các nguyên tố trong mẫu ở một nhiệt độ nào đó Khi những biến đổi đóxảy ra thường kèm theo các hiệu ứng thu nhiệt hay toả nhiệt Tất cả nhữnghiệu ứng trên được xác định và ghi trên các giản đồ Kết quả ghi trên giản đồnhiệt cùng với các phương pháp phân tích, khảo sát khác sẽ giúp ta rút rađược những kết luận bổ ích về sự biến đổi của mẫu theo nhiệt độ đốt nóngchúng
Trong phép phân tích nhiệt, người ta thường sử dụng hai phương pháp
là phương pháp phân tích nhiệt vi sai DTA và phương pháp phân tích nhiệt trọng lượng TGA.
- Phương pháp phân tích nhiệt vi sai (DTA):
Khi đốt nóng một mẫu, việc xuất hiện các hiệu ứng nhiệt rất nhỏ sẽ khóhoặc không phát hiện được bằng các kỹ thuật đo thông thường Vì vậy, phảidùng phương pháp DTA Phương pháp DTA sử dụng một cặp pin nhiệt điện
và một điện kế để đo sự chênh lệch nhiệt độ giữa hai vật khi đốt nóng chúng.Trong hai vật đó, một vật là vật liệu cần nghiên cứu và vật kia có tính trơ vềnhiệt Nếu mẫu bị đốt nóng có biến đổi thì bao giờ cũng kèm theo các hiệuứng nhiệt và lúc đó trên đường DTA hoặc đường DSC sẽ xuất hiện các đỉnh(pic) tại điểm mà mẫu có sự biến đổi
Phương pháp này cho ta biết sơ bộ về các hiệu ứng nhiệt xảy ra, địnhtính và sơ bộ về định lượng các hợp phần có trong mẫu mà chúng ta khảo sát
- Phương pháp phân tích nhiệt trọng lượng (TGA):
Phương pháp này dựa vào sự thay đổi trọng lượng của mẫu cần nghiêncứu khi ta đem nung nóng mẫu đó Khi mẫu được đốt nóng, trọng lượng của