1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS) ở lợn tại ba huyện thuộc tỉnh Bắc Ninh, vai trò của một số vi khuẩn có khả năng gây viêm phổi kế phát và biện pháp điều trị. (Khóa luận tốt nghiệp)

77 239 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS) ở lợn tại ba huyện thuộc tỉnh Bắc Ninh, vai trò của một số vi khuẩn có khả năng gây viêm phổi kế phát và biện pháp điều trị. (Khóa luận tốt nghiệp)Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS) ở lợn tại ba huyện thuộc tỉnh Bắc Ninh, vai trò của một số vi khuẩn có khả năng gây viêm phổi kế phát và biện pháp điều trị. (Khóa luận tốt nghiệp)Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS) ở lợn tại ba huyện thuộc tỉnh Bắc Ninh, vai trò của một số vi khuẩn có khả năng gây viêm phổi kế phát và biện pháp điều trị. (Khóa luận tốt nghiệp)Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS) ở lợn tại ba huyện thuộc tỉnh Bắc Ninh, vai trò của một số vi khuẩn có khả năng gây viêm phổi kế phát và biện pháp điều trị. (Khóa luận tốt nghiệp)Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS) ở lợn tại ba huyện thuộc tỉnh Bắc Ninh, vai trò của một số vi khuẩn có khả năng gây viêm phổi kế phát và biện pháp điều trị. (Khóa luận tốt nghiệp)Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS) ở lợn tại ba huyện thuộc tỉnh Bắc Ninh, vai trò của một số vi khuẩn có khả năng gây viêm phổi kế phát và biện pháp điều trị. (Khóa luận tốt nghiệp)Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS) ở lợn tại ba huyện thuộc tỉnh Bắc Ninh, vai trò của một số vi khuẩn có khả năng gây viêm phổi kế phát và biện pháp điều trị. (Khóa luận tốt nghiệp)

Trang 1

-

VŨ THỊ NGUYỆN THẢO

Tên đề tài:

“NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỘI CHỨNG RỐI LOẠN HÔ HẤP

VÀ SINH SẢN (PRRS) Ở LỢN TẠI BA HUYỆN THUỘC TỈNH BẮC NINH, VAI TRÒ CỦA MỘT SỐ VI KHUẨN CÓ KHẢ NĂNG GÂY VIÊM PHỔI

KẾ PHÁT VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ ”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính qui Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2011 - 2016

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 2

-

VŨ THỊ NGUYỆN THẢO

Tên đề tài:

“NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỘI CHỨNG RỐI LOẠN HÔ HẤP

VÀ SINH SẢN (PRRS) Ở LỢN TẠI BA HUYỆN THUỘC TỈNH BẮC NINH, VAI TRÒ CỦA MỘT SỐ VI KHUẨN CÓ KHẢ NĂNG GÂY VIÊM PHỔI

KẾ PHÁTVÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ ”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính qui Chuyên ngành: Thú y

Lớp: 43TY - N02 Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2011 - 2016 Giảng viên hướng dẫn: GS.TS Nguyễn Thị Kim Lan

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên dưới sự dạy bảo của các thầy cô đã giúp em tích lũy được nhiều kiến thức của nghề nghiệp cũng như đạo đức, tư cách của người cán bộ khoa học kỹ thuật trong tương lai Để hoàn thành được báo cáo tốt nghiệp này ngoài sự cố gắng của bản thân em luôn nhận được sự giúp đỡ của thầy cô giáo trong Khoa Chăn nuôi Thú

y, các thầy cô trong nhà trường, đặc biệt là sự chỉ bảo tận tình của cô giáo GS TS Nguyễn Thị Kim Lan

Em xin bày tỏ lòng biết ơn, sự kính trọng sâu sắc nhất tới Ban giám hiệu trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y cũng như toàn thể các thầy cô giáo đã tận tình giảng dạy truyền đạt kiến thức cho

em trong quá trình học tập và thực tập tốt nghiệp

Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ từ phía Ban lãnh đạo Chi cục Thú y tỉnh Bắc Ninh cùng các anh chị trong Chi cục đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới cô giáo GS.TS Nguyễn Thị Kim Lan đã trực tiếp hướng dẫn, tạo mọi điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp

Nhân dịp hoàn thành khóa luận cho phép em được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, người thân và bạn bè đã động viên giúp đỡ em vượt qua mọi khó khăn trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài

Rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô và bạn bè để nghiên cứu của em hoàn thiện và có hiệu quả hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng 12 năm 2015

Sinh viên

Vũ Thị Nguyện Thảo

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Trong chương trình đào tạo của nhà trường, giai đoạn thực tập tốt nghiệp chiếm một vị trí quan trọng đối với mỗi sinh viên trước khi ra trường Đây là khoảng thời gian để sinh viên củng cố và hệ thống hóa toàn bộ kiến thức đã học, đồng thời giúp sinh viên làm quen với thực tế sản xuất Từ đó nâng cao trình độ chuyên môn, nắm được phương pháp tổ chức và tiến hành công tác nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, tạo cho mình tác phong làm việc đúng đắn, sáng tạo để khi ra trường trở thành một người cán bộ kỹ thuật có chuyên môn, đáp ứng được nhu cầu thực tiễn, góp phần vào sự nghiệp phát triển đất nước

Xuất phát từ thực tế chăn nuôi, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi - Thú y, trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên, cùng sự giúp đỡ của

cô giáo hướng dẫn GS.TS Nguyễn Thị Kim Lan, tôi tiến hành thực hiện đề tài:

“Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS) ở lợn tại ba huyện thuộc tỉnh Bắc Ninh, vai trò của một số vi khuẩn có khả năng gây viêm phổi kế phát và biện pháp điều trị” Do thời gian và trình độ có hạn,

bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học nên bản khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để bản khóa luận này được hoàn thiện hơn

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang Bảng 3.1 Bảng đánh giá mức độ mẫn cảm của vi khuẩn với một số loại kháng

sinh (NCCLS - 2002) 31

Bảng 4.1 Diễn biến tình hình dịch PRRS tại tỉnh Bắc Ninh từ 2010 - 2015 33

Bảng 4.2 Kết quả xác định tỷ lệ lợn mắc và chết do PRRS theo mùa vụ 36

Bảng 4.3 Biến đổi tỷ lệ mắc PRRS theo loại lợn 37

Bảng 4.4 Tỷ lệ huyết thanh dương tính với PRRSV ở lợn tại một số địa phương thuộc tỉnh Bắc Ninh 40

Bảng 4.5 Kết quả tổng hợp triệu chứng, bệnh tích chủ yếu của lợn dương tính huyết thanh học với PRRSV 41

Bảng 4.6 Kết quả phân lập vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis từ phổi và cuống họng của lợn 42

Bảng 4.7 Kết quả xác định môt số đặc tính sinh vật, hóa học của chủng 46

Bảng 4.8 Kết quả xác định một số đặc tính sinh vật, hóa học của các chủng vi khuẩn P multocida phân lập được 47

Bảng 4.9 Kết quả xác định một số đặc tính sinh vật, hóa học của các chủng vi khuẩn S suis phân lập được 48

Bảng 4.10 Kết quả xác định mức độ mẫn cảm với một số kháng sinh của các chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae phân lập được 50

Bảng 4.11 Kết quả xác định mức độ mẫn cảm với một số kháng sinh của các chủng vi khuẩn P multocida phân lập được 51

Bảng 4.12 Kết quả xác định mức độ mẫn cảm với một số kháng sinh của các chủng vi khuẩn S suis phân lập được 52

Bảng 4.13 Kết quả tổng hợp khả năng mẫn cảm mạnh và kháng với các kháng sinh của vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis 53

Bảng 4.14 Kết quả điều trị thử nghiệm lợn mắc bệnh viêm phổi 55

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 1.1 Bản đồ lịch sử xuất hiện PRRS trên thế giới 24

Hình 4.1 Biểu đồ so sánh tỷ lệ mắc giữa 3 huyện tại tỉnh Bắc Ninh từ năm 2010 - 2015 35

Hình 4.2 Biểu đồ so sánh tỷ lệ chết của 3 huyện tại tỉnh Bắc Ninh từ năm 2010 - 2015 35

Hình 4.3: Tỷ lệ lợn mắc do PRRS theo mùa vụ 37

Hình 4.4: Tỷ lệ lợn chết do PRRS theo mùa vụ 37

Hình 4.5: Tỷ lệ lợn mắc bệnh PRRS theo từng loại lợn 38

Hình 4.6: Tỷ lệ chết ở lợn do PRRS theo từng loại lợn 39

Hình 4.7: Biểu đồ tỷ lệ phân lập vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis ở mẫu bệnh phẩm lợn dương tính với PRRSV 45

Hình 4.8: Biểu đồ tỷ lệ phân lập vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis ở mẫu bệnh phẩm lợn âm tính với PRRSV 45

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

A.pleuropneumoniae: Actinobaccillus pleuroneumoniae

Bộ NN & PTNT Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn

ELISA: Enzyme - linked Immuno sorbant assay

H pleuropneumoniae: Haemophilus pleuropneumoniae

P multocida: Pasteurella multocida

PRRS: Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome PRRSV: Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome Virus

Staphylococcus aureus S aureus

Trang 8

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN i

LỜI NÓI ĐẦU ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iii

DANH MỤC CÁC HÌNH iv

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

MỤC LỤC vi

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích nghiên cứu 1

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.4 Ý nghĩa của đề tài 2

1.4.1 Ý nghĩa khoa học 2

1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 2

Phần 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3

2.1.1 Sơ lược nghiên cứu về hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS) ở lợn 3

2.1.2 Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn 7

2.1.3 Vai trò của vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis trong hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn 11

2.1.4 Tình hình bệnh 23

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 28

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 28

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 28

3.2.1 Địa điểm 28

Trang 9

3.2.2 Thời gian tiến hành 28

3.3 Nội dung nghiên cứu 28

3.3.1 Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh Tai xanh ở tỉnh Bắc Ninh 28

3.3.2 Phân lập và xác định vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis trong mẫu bệnh phẩm dương tính với PRRSV tại tỉnh Bắc Ninh 28

3.3.3 Nghiên cứu phác đồ điều trị bệnh viêm phổi 28

3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 29

Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33

4.1 Nghiên cứu diễn biến tình hình dịch PRRS tại tỉnh Bắc Ninh từ 2010 - 2015 33

4.1.1 Diễn biến tình hình dịch PRRS tại tỉnh Bắc Ninh từ 2010 - 2015 33

4.2 Một số đặc điểm dịch tễ học của dịch PRRS từ năm 2010 - 2015 36

4.2.1 Biến động tỷ lệ mắc PRRS theo mùa 36

4.2.2 Biến đổi tỷ lệ mắc bệnh PRRS theo từng loại lợn 37

4.3 Tỷ lệ huyết thanh dương tính với virus PRRS ở lợn tại một số huyện thuộc tỉnh Bắc Ninh 39

4.4 Kết quả tổng hợp triệu chứng, bệnh tích chủ yếu ở lợn có huyết thanh dương tính với PRRS 40

4.5 Kết quả phân lập vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis ở mẫu bệnh phẩm của lợn dương tính với PRRSV tại tỉnh Bắc Ninh 42

4.5.1 Kết quả phân lập vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis ở mẫu bệnh phẩm dương tính với PRRSV tại tỉnh Bắc Ninh 42

4.5.2 Kết quả xác định một số đặc tính sinh vật, hóa học của các chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis phân lập được 46

4.6 Kết quả xác định khả năng mẫn cảm với một số kháng sinh của các chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis phân lập được 49

4.6.1 Kết quả xác định mức độ mẫn cảm với một số kháng sinh của các chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae phân lập được 49

4.6.2 Kết quả xác định mức độ mẫn cảm với một số kháng sinh của các chủng vi khuẩn P multocida phân lập được 51

Trang 10

4.6.3 Kết quả xác định mức độ mẫn cảm với một số kháng sinh của các chủng

vi khuẩn S suis phân lập được 52

4.7 Kết quả thử nghiệm một số phác đồ điều trị lợn viêm phổi 54

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 57

5.1 Kết luận 57

5.2 Đề nghị 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO

I Tài liệu tiếng Việt

II Tài liệu tiếng Anh

Trang 11

với virus; phân lập các vi khuẩn bội nhiễm gây viêm phổi như A

pleuropneumoniae, P multocida và S suis chưa được thực hiện Việc sử dụng các

phác đồ điều trị (gồm thuốc kháng sinh, thuốc trợ sức) và các biện pháp phòng chống dịch đã được Chi cục thú y tỉnh Bắc Ninh thực hiện một cách tích cực, song chưa đạt hiệu quả như mong muốn Như vậy, nguy cơ cũng như thiệt hại trong chăn nuôi lợn do dịch bệnh Tai xanh gây ra đối với Bắc Ninh là rất lớn.Vì vậy, việc xác định vai trò của vi khuẩn gây viêm phổi kế phát để có phác đồ điều trị hiệu quả là cần thiết

Xuất phát từ tình hình thực tế trên, chúng tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS) ở lợn tại ba huyện thuộc tỉnh Bắc Ninh, vai trò của một số vi khuẩn có khả năng gây viêm phổi kế phát và biện pháp điều trị ”

1.2 Mục đích nghiên cứu

- Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và biện pháp điều trị bệnh Tai xanh cho lợn, góp phần làm giảm thiệt hại do bệnh Tai xanh gây ra, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi lợn ở tỉnh Bắc Ninh

Trang 12

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định một số đặc điểm dịch tễ Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn tại tỉnh Bắc Ninh

- Phân lập vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis ở mẫu

bệnh phẩm lợn dương tính với PRRSV tại tỉnh Bắc Ninh

- Đề xuất một số phác đồ điều trị bệnh viêm phổi cho lợn

1.4 Ý nghĩa của đề tài

1.4.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả đề tài là những thông tin khoa học hoàn thiện thêm đặc điểm dịch tễ

bệnh Tai xanh ở lợn tại tỉnh Bắc Ninh, về vai trò của 3 loại vi khuẩn (A

pleuropneumoniae, P multocida và S suis) có khả năng gây viêm phổi kế phát

trong bệnh Tai xanh ở lợn Từ đó có cơ sở đề xuất biện pháp phòng chống bệnh hiệu quả

1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn

Đề tài giúp các địa phương hạn chế thiệt hại do dịch bệnh Tai xanh gây ra

trên lợn, góp phần phát triển chăn nuôi lợn

Trang 13

Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

2.1.1 Sơ lược nghiên cứu về hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS) ở lợn

Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome (PRRS) còn gọi là “Bệnh Tai xanh”, là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở mọi lứa tuổi đối với lợn do virus PRRS có cấu trúc ARN, thuộc

họ Arteriviridae gây ra trên lợn Bệnh xuất hiện ở mọi lứa tuổi của lợn với tốc độ lây lan nhanh, làm chết nhiều lợn lợn và gây ra những tổn thất lớn về kinh tế cho người chăn nuôi với các biểu hiện đặc trưng viêm đường hô hấp rất nặng như: sốt,

ho, thở khó Lợn nái thường truyền mầm bệnh cho bào thai, gây sảy thai, thai chết lưu, lây sang lợn con theo mẹ làm lợn yếu ớt, tiêu chảy, rối loạn hô hấp tỷ lệ chết cao; lợn sau cai sữa, lợn thịt viêm phổi nặng, đực giống mất tính dục, chất lượng tinh kém Đây là bệnh mới, phức tạp, lợn mắc bệnh dễ mắc các loại bệnh khác như: dịch tả lợn, phó thương hàn, tụ huyết trùng, liên cầu khuẩn, xoắn khuẩn, suyễn Bệnh có thể có những diễn biến phức tạp và có nguy cơ bùng phát ở tất cả các địa phương trong cả nước Bệnh được ghi nhận lần đầu tiên ở Mỹ, tại vùng Bắc của bang California, bang Iowa và bang Minnesota vào khoảng năm 1987, rất nhanh chóng lan sang Canada, các nước vùng châu Âu Năm 1998 bệnh phát ra ở châu Á như Hàn Quốc, Nhật Bản Thời gian đầu do chưa xác định được nguyên nhân và chưa có những hiểu biết rõ ràng về bệnh nên các triệu chứng lâm sàng và bệnh tích

đã được sử dụng để đặt tên cho bệnh với những tên gọi khác nhau như sau:

- Hội chứng hô hấp và vô sinh của lợn (SIRS)

- Bệnh bí hiểm ở lợn (MDS) (châu Mỹ)

- Hội chứng hô hấp và sảy thai ở lợn (PEARS)

- Hội chứng hô hấp và sinh sản ở lợn (PRRS)

- Bệnh Tai xanh (châu Âu)

Trang 14

Năm 1991, Viện Thú y Lelystad (Hà Lan) đã phân lập thành công virus Năm 1992, tại Hội nghị Quốc tế về Hội chứng này được tổ chức tại Minesota (Mỹ),

Tổ chức Thú y thế giới (OIE) đã thống nhất tên gọi là Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (tiếng Anh: Porcine respiratory and reproductive syndrome = PRRS) (Nguyễn Bá Hiên và cs (2007) [11]) Cho đến nay, bệnh vẫn còn tồn tại và phát triển mạnh ở nhiều khu vực trên thế giới Vì vậy từ khi xuất hiện tới nay, bệnh đã gây không ít thiệt hại kinh tế cho ngành chăn nuôi của thế giới Nhận định của thế giới về PRRS là dịch địa phương của nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước có ngành chăn nuôi lợn phát triển, gây tổn thất rất lớn về kinh tế Chưa có bất kỳ nước nào có thể thanh toán được PRRS

2.1.1.1 Phân loại, cấu trúc virus gây Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRSV) ở lợn và các đặc tính sinh học

 Phân loại

Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn do virus thuộc họ Arteriviridae,

giống Nidovirales, có cấu trúc vỏ bọc dạng chuỗi đơn ARN Hiện nay, dựa vào

phân tích cấu trúc gen, người ta đã xác định được 2 nhóm virus, nhóm I gồm các virus thuộc chủng Châu Âu (tên gọi phổ thông là virus Lelystad) gồm 4 phân nhóm (subtype) đã được xác định Nhóm I gồm các virus thuộc chủng Châu Âu (gọi là virus Lelystad) gồm nhiều phân nhóm đã được xác định Nhóm virus này được Viện Thú y Trung ương - Lelystad - Hà Lan phân lập được trên tế bào đại thực bào phế nang của lợn và đặt tên là virus Lelystad - LV

Nhóm II gồm các vi rút thuộc dòng Bắc Mỹ (với tên gọi là VR - 2332); nhóm này phân lập được ở lợn tại Mỹ vào năm 1992 Về mặt di truyền và tính kháng nguyên, hai nhóm virus này hoàn toàn khác nhau Sự khác nhau về cấu trúc chuỗi nucleotide của virus thuộc hai chủng Châu Âu và Bắc Mỹ là khoảng 40%, do

đó có ảnh hưởng đến đáp ứng miễn dịch bảo hộ chéo giữa 2 chủng này

Kết quả nghiên cứu giải mã gen của virus tại Mỹ và Trung Quốc cho thấy các chủng PRRSV tại Việt Nam có mức tương đồng về amino acid từ 99 đến 99,7%

so với chủng virus gây bệnh thể độc lực cao ở Trung Quốc và đều bị mất 30 axít amin Điều này cho thấy các chủng PRRSV ở nước ta hiện nay thuộc dòng Bắc Mỹ,

có độc lực cao giống chủng ở Trung Quốc (Cục thú y (2008) [7])

Trang 15

Những nghiên cứu gần đây còn cho thấy có sự khác biệt về tính di truyền trong các virus phân lập được từ các vùng địa lý khác nhau Bản thân các virus trong cùng một nhóm cũng có sự thay đổi về nucleotit khá cao (đến 20%), đặc biệt

là các chủng virus thuộc dòng Bắc Mỹ

Nhiều nghiên cứu của các tác giả trong nước từ năm 2009 đến nay đã nhận định PRRSV tại Việt Nam hiện nay được xác định thuộc chủng Bắc Mỹ dòng Trung Quốc (Lê Thanh Hòa và cs (2009) [14]; Nguyễn Văn Cảm và cs (2011) [5]; Cao Văn Thật và cs (2012) [30])

* Hình thái và cấu trúc của PRRSV

Dưới kính hiển vi điện tử PRRSV là loại có vỏ bọc, hình cầu, có kích thước

từ 45 - 55nm, chứa nhân nucleocapsid có kích thước từ 30 - 35nm

Virus gây PRRS là ARN virus với bộ gen là một phân tử ARN sợi đơn

dương, có những đặc điểm chung của nhóm Arterivirus Sợi ARN này có kích

thước khoảng 15 kilobase, có 9 ORF (open reading frame) mã hoá cho 9 protein cấu trúc

Tuy nhiên, có 6 phân tử protein chính có khả năng trung hoà kháng thể bao gồm bốn phân tử glycoprotein, một phân tử protein xuyên màng (M) và một protein nucleocapsid (N) (Tô Long Thành (2007) [27])

Nguyễn Bá Hiên và cs (2013) [12] cho biết sợi đơn RNA của virus bao gồm một bộ gen có khoảng 15 kb, mã hóa 9 ORFs Bộ gen PRRSV bao gồm hai gen polymerase là ORF1a và ORF1b và bảy gen cấu trúc là ORF2a, 2b, 3, 4, 5, 6 và 7 ORF1a và ORF1b cấu thành khoảng 75% bộ gen của virus và được đặc trưng bởi một quá trình khung ribosome chuyển dịch thành một polyprotein lớn mà sự phân tách làm phát sinh các protein không cấu trúc (NSP) bao gồm cả RNA phụ thuộc polymerase Các khung đọc mở ORF2a, 3, 4 và 5 tất cả mã hóa cho các protein glycosyl hóa là GP2a, GP3, GP4, GP5 tương ứng Các ORF2b mới được định nghĩa

mã hóa các protein nhỏ nhất của các hạt virus được chỉ định GP2b ORF7 mã hóa các protein nuclocapsid không glycosyl hóa (N)

Trang 16

* Đặc tính sinh học của virus

Virus gây PRRS rất thích hợp với đại thực bào, đặc biệt là đại thực bào hoạt động ở vùng phổi Virus nhân lên ngay bên trong đại thực bào, sau đó phá huỷ và giết chết đại thực bào (tới 40%) Đại thực bào bị giết chết nên sức đề kháng của lợn mắc bệnh bị suy giảm nghiêm trọng Do vậy lợn mắc PRRS thường dễ bị nhiễm khuẩn thứ phát Virus không gây ngưng kết với các loại hồng cầu gà, dê, thỏ, chuột, hồng cầu type O của người Virus phát triển tốt trên môi trường tế bào đại thực bào phế nang lợn, trên tế bào dòng CL 2621, tế bào MA 140 với bệnh tích phá huỷ tế bào, sau 2 - 6 ngày tế bào co tròn, tập trung thành cụm dày lên, nhân co lại cuối cùng bong ra (WilliamT Christianson và Han Soo Joo (2001) [34]) Tuy có một số khác biệt về di truyền và kiểu hình nhưng các chủng virus Bắc Mỹ và các chủng virus Châu Âu lại cùng gây ra các triệu chứng lâm sàng về hô hấp và sinh sản ở lợn rất giống nhau Dựa vào những kết quả nghiên cứu tổn thương đại thể và vi thể của

tổ chức phổi lợn mắc bệnh, người ta chia ra hai nhóm virus là nhóm virus có độc lực cao và nhóm virus có độc lực thấp Nhóm virus có độc lực cao thường gây ra các tổn thương ở tổ chức phổi lợn bệnh nặng hơn nhóm virus có độc lực thấp Năm

2007, Kegong Tian và Yu [36] khi nghiên cứu về sự biến đổi về độc lực của PRRSV tại Trung Quốc cho rằng, virus đã có sự biến đổi về độc lực và hậu quả lợn nhiễm virus này có tỷ lệ chết cao, trên 20% trong tổng số nhiễm bệnh

2.1.1.2 Sức đề kháng và khả năng gây bệnh của virus

Với các chất sát trùng thông thường và môi trường có pH axit, virus dễ dàng

bị tiêu diệt Virus sống được trong pH từ 6,5 - 7,5 Dưới tác động của ánh nắng mặt trời hoặc tia tử ngoại vô hoạt virus nhanh chóng

Trang 17

Khả năng gây bệnh của virus

Người và các động vật khác không mắc PRRS, tuy nhiên trong các loài thuỷ cầm chân màng có vịt trời (Mallard duck) lại mẫn cảm Virus có thể nhân lên ở loài động vật này và chính đây là nguồn reo rắc mầm bệnh trên diện rộng nên rất khó khống chế Virus gây bệnh cho lợn ở tất cả các lứa tuổi, nhưng lợn con và lợn nái mang thai thường mẫn cảm hơn cả Lợn rừng là động vật mang trùng và có thể coi

là nguồn dịch thiên nhiên (Tô Long Thành (2007) [27])

Về độc lực, người ta thấy virus gây PRRS tồn tại dưới 2 dạng đó là dạng cổ điển và dạng biến thể độc lực cao

- Dạng cổ điển có độc lực thấp, ở dạng này khi lợn mắc bệnh thì có tỷ lệ chết thấp, chỉ từ 1 - 5% trong tổng đàn

- Dạng biến thể độc lực cao gây nhiễm bệnh cho lợn lây lan nhanh, trầm trọng và chết nhiều

2.1.2 Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn

Cơ chế sinh bệnh và phương thức truyền lây

Virus gây PRRS có trong dịch mũi, nước bọt, phân và nước tiểu của lợn ốm hoặc lợn mang trùng và phát tán ra môi trường; tinh dịch của lợn đực giống nhiễm virus cũng là nguồn lây lan bệnh Ở lợn nái mang thai, virus có thể từ mẹ xâm nhiễm sang bào thai và gây bệnh Lợn mang trùng có thể bài thải virus trong vòng 6 tháng

Virus gây PRRS có thể xâm nhập vào cơ thể lợn theo đường hô hấp, tiêu hóa

và đường âm đạo Sau khi xâm nhập, đích tấn công chủ yếu của virus là các đại thực bào ở phế nang Đây là tế bào duy nhất có receptor phù hợp với cấu trúc hạt của virus, vì thế chúng hấp thụ và thực hiện quá trình nhân lên chỉ trong loại tế bào này và phá hủy nó Ở lợn mắc bệnh, một tỷ lệ lớn các tế bào đại thực bào trong nang phổi bị virus xâm nhập rất sớm và phá hủy làm giảm khả năng phòng vệ của phổi Lúc đầu, PRRSV có thể kính thích sự tăng sinh của đại thực bào nhưng sau 2-

3 ngày, virus này sẽ giết chết chúng, các virion được giải phòng ồ ạt xâm nhiễm sang các tế bào khác, tiếp tục quá trình nhân lên và phá hủy đại thực bào

Trang 18

Trong cơ thể lợn ốm do mắc PRRS có tới 40% tế bào đại thực bào bị virus giết chết (William T Christianson và Han Soo Joo (2001) [34]) Trong hệ thống miễn dịch của cơ thể, đại thực bào đóng vai trò vô cùng quan trọng; kế phát do

những vi khuẩn vốn sẵn có trong đường hô hấp như Mycoplasma hyopneumoniae,

P multocida, S suis, A pleuropneumoniae Tiêu Quang An và cs (2011) [1] khi

xác định một số vi khuẩn kế phát gây chết lợn trong vùng dịch PRRS ở huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên năm 2010 đã cho thấy lợn mắc PRRS thường kế phát bệnh do

các nhóm vi khuẩn đường hô hấp và đường ruột như A pleuropneumoniae, P

multocida, S suis, Escherichia coli, Salmonella sp, Clostridium perfringens Kết

quả phân lập được vi khuẩn A pleuropneumoniae với tỷ lệ cao nhất 63,33% và thấp nhất là P multocida 10% Các tác giả nhận định các nhóm vi khuẩn kế phát trên đã

làm cho dịch PRRS trầm trọng và phức tạp hơn, lợn chết trong bệnh Tai xanh chủ yếu là do các vi khuẩn gây viêm phổi kế phát này Vì vậy, sử dụng các biện pháp phòng chống đối với vi khuẩn kế phát là biện pháp hạn chế hữu hiệu tỷ lệ lợn chết trong bệnh Tai xanh

Triệu chứng

Theo ghi nhận của nhiều nghiên cứu về các triệu chứng lâm sàng ở lợn mắc Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản cho thấy: lợn bệnh thường có các triệu chứng đầu tiên là sốt cao, bỏ ăn, mẩn đỏ da, khó thở, táo bón hoặc ỉa chảy tốc độ lây lan nhanh Đặc biệt, một số con lợn mắc bệnh ở chóp tai bị ứ huyết có màu xanh tím và một số triệu chứng khác tuỳ thuộc vào bệnh kế phát và từng loại lợn

Ở lợn nái: các triệu chứng chủ yếu là tím âm hộ, sảy thai, thai chết lưu, thai

gỗ hàng loạt, đẻ non, lợn con đẻ ra yếu ớt, tỷ lệ tử vong cao Tỷ lệ thai chết tăng lên theo độ tuổi của thai như thai dưới 2,5 tháng tuổi tỷ lệ chết 20%, thai trên 2,5 tháng

tỷ lệ chết là 93,75% (Phạm Ngọc Thạch (2007) [24]) Lợn nái trong giai đoạn nuôi con thường ít uống nước, viêm vú, mất sữa, viêm tử cung âm đạo, mí mắt sưng, có thể táo bón hoặc ỉa chảy, viêm phổi

Lợn đực giống: sốt cao, bỏ ăn, đờ đẫn hoặc hôn mê, một số con có hiện tượng tai xanh Triệu chứng chủ yếu là viêm dịch hoàn, bìu dái thấy nóng đỏ,

Trang 19

(chiếm 95%), dịch hoàn có biểu hiện sưng đau, lệch vị trí (85%), giảm tính hưng phấn trong hoạt động giao phối (Lê Văn Năm (2007) [18]) Lượng tinh dịch thường

ít, chất lượng tinh dịch kém, thể hiện: nồng độ tinh trùng (C) thường dưới 8 x 106; hoạt lực của tinh trùng (A) dưới 0,6; sức kháng của tinh trùng (R) dưới 3000; tỷ lệ tinh trùng kỳ hình (K) tăng trên 10%; tỷ lệ sống của tinh trùng giảm xuống còn dưới 70% và độ nhiễm khuẩn tăng cao trên 2 x 103 Lợn đực giống rất lâu mới hồi phục được khả năng sinh sản (Nguyễn Văn Thanh (2007) [26])

Ở lợn choai, lợn thịt: lợn mắc bệnh sốt cao 400C đến 420C, bỏ ăn, ủ rũ, khó thở, ho; những phần da mỏng gần tai, phần da bụng lúc đầu có màu hồng nhạt, dần dần chuyển sang màu hồng thẫm và xanh nhạt Lợn con mới sinh hầu như sẽ chết sau vài giờ; số còn sống sót tiếp tục chết vào tuần thứ nhất Lợn con có triệu chứng gầy yếu, bỏ bú, da xuất huyết phồng rộp, khó thở và tiêu chảy (Bùi Quang Anh và

cs (2008) [2])

Lợn con theo mẹ: lợn con sinh ra thường chết sau vài giờ Số con sống sót tiếp tục chết vào tuần thứ nhất sau khi sinh, một số tiếp tục sống đến lúc cai sữa nhưng có triệu chứng khó thở và tiêu chảy Thể trạng gầy yếu, triệu chứng phát ra đột ngột, đường huyết hạ thấp do không bú mẹ, mí mắt sưng, có dử màu nâu, trên

da xuất hiện những đám phồng rộp (Phạm Ngọc Thạch và cs (2007) [24]) Lợn con thường tiêu chảy hàng loạt và rất nặng, phân dính bết xung quanh hậu môn Đây là triệu chứng đặc trưng của lợn con chưa cai sữa, biểu hiện này không phổ biến ở lợn lớn Phát ban đỏ là biểu hiện phổ biến thứ hai và xảy ra ngay sau khi bệnh bắt đầu xuất hiện Chảy nước mắt, mắt có dử và mí mắt sưng húp là biểu hiện phổ biến thứ

3, kết hợp với các dấu hiệu lạc giọng, khản tiếng, thở khó, thở thể bụng, chảy nước mũi, khớp đau, sưng to nên chân thường choãi ra, đi lại khó khăn, tỷ lệ tử vong cao (Lê Văn Năm (2007) [17])

Lợn con đang bú hay mới cai sữa bị bệnh có thể có triệu chứng hô hấp Lợn mắc bệnh bỏ ăn, hắt hơi, tăng tần số hô hấp và có dấu hiệu bệnh hô hấp như thở há mồm Một số có thể chết và có thể tăng nhiễm vi khuẩn đường hô hấp kế phát Lợn lớn hơn có triệu chứng lâm sàng tương tự, mặc dù có nhẹ hơn và hiện tượng tím tái thỉnh thoảng xảy ra ở tai (bệnh Tai xanh), ở âm hộ, đuôi, bụng hay mõm lợn Triệu chứng nhẹ hay không có triệu chứng lâm sàng là phổ biến

Trang 20

Bệnh tích

Mức độ bệnh tích đại thể của Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn phụ thuộc nhiều vào độc lực của virus và quá trình diễn biến của bệnh Bệnh tích đặc trưng của bệnh là viêm phổi hoại tử, các đám phổi bị đặc chắc ở các thuỳ phổi Thuỳ phổi bị bệnh thường có màu xám đỏ, có mủ và đặc chắc lại (nhục hoá) Trên

bề mặt cắt ngang của đám phổi bệnh thường lồi ra và khô Nhiều trường hợp viêm phế quản phổi hoá mủ ở mặt dưới của thuỳ đỉnh Về mặt tổ chức phôi thai học thường thấy dịch thẩm xuất và hiện tượng thâm nhiễm, trong phế nang chứa đầy dịch viêm và đại thực bào, một số trường hợp hình thành tế bào khổng lồ nhiều nhân Một bệnh tích đặc trưng nữa là sự thâm nhiễm của tế bào phế nang loại II (pneumocyse) làm cho phế nang bị nhăn lại, thường bắt gặp đại thực bào bị phân huỷ trong phế nang (Nguyễn Hữu Nam (2007) [16])

Một số bệnh tích khác có thể thấy: thận xuất huyết lấm tấm như đầu đinh ghim; não xung huyết; hạch hầu họng, amidan sưng hoặc xung huyết; gan sưng, tụ

huyết; lách sưng, nhồi huyết; hạch màng treo ruột xuất huyết; loét niêm mạc van hồi manh tràng Viêm phổi kẽ là bệnh tích chắc chắn thấy ở PRRS Bệnh tích này có thể quan sát được ở lợn mọi lứa tuổi (William T Christianson (2001) [34]) Viêm mũi đặc trưng bởi mất lông nhung biểu mô, tế bào biểu mô bị sưng lên hoặc chứa khí, bong vẩy trên bề mặt biểu mô Viêm não không gây mủ với sự tập trung tế bào đơn nhân ở mạch máu ngoại vi, đôi khi được quan sát trên toàn bộ não

Viêm cơ tim rải rác, chủ yếu là bạch cầu đơn nhân tập trung quanh mạch

máu ngoại vi Lợn mắc PRRS bệnh tích thường thấy như thận xuất huyết lấm tấm

như đầu đinh ghim; não xung huyết; hạch hầu, amidan sưng hoặc sung huyết; gan sưng, tụ huyết; lách sưng, nhồi huyết; hạch màng treo ruột xuất huyết; loét van hồi manh tràng; phổi tụ huyết, xuất huyết, cuống phổi chứa đầy dịch nhớt, sầu bọt (Bùi Quang Anh và cs (2008) [2]) Theo Nguyễn Tiến Dũng (2011) [8], bệnh tích đặc trưng nhất là viêm phổi kẽ và viêm hạch lâm ba ở cả 2 dạng (PRRS dạng cổ điển và PRRS dạng sốt cao) Viêm phổi hoại tử và thâm nhiễm đặc trưng bởi những đám đặc chắc (nhục hóa) trên các thùy phổi Thùy phổi bị viêm có màu đỏ xám, có mủ

và đặc chắc Trên mặt cắt ngang của thùy bị viêm lồi ra, khô Nhiều trường hợp lợn mắc bệnh bị viêm phế quản phổi hóa mủ ở mặt dưới thùy đỉnh

Trang 21

Các biện pháp phòng bệnh

Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu lợn mắc PRRS, do vậy việc phòng bệnh bằng vaccine và vệ sinh phòng bệnh, tiêu độc khử trùng hiện đang là hai biện pháp hữu hiệu ở nhiều cơ sở chăn nuôi lợn Để chủ động phòng chống dịch, cần thực hiện đồng bộ, kiên quyết các giải pháp phòng, chống dịch như: phát hiện sớm, bao vây xử lý kịp thời các ổ dịch; công tác tuyên truyền thực hiện sâu rộng tới các ngành, các cấp và người dân tham gia chăn nuôi; đặc biệt có sự chỉ đạo quyết liệt của chính quyền các cấp từ Trung ương tới các địa phương Thực hiện nghiêm việc tiêm vaccine phòng các bệnh nguy hiểm ở lợn theo Quyết định số 63/2005/QĐ-BNN ngày 13/10/2005 của Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn (Nguyễn Ngọc Tiến (2011) [31])

Trong PRRS thì vai trò của vi khuẩn kế phát là một nguyên nhân quan trọng gây chết hàng loạt lợn tại các địa phương xảy ra dịch hiện nay Do PRRSV với đích tấn công phá hủy đại thực bào, làm suy giảm miễn dịch, dẫn đến các mầm bệnh nhiễm trùng thứ phát có cơ hội trỗi dậy gây bệnh cho lợn Trong đó, một số loại vi khuẩn

thường gây viêm phổi ở lợn như A pleuropneumoniae, P multocida và S suis

2.1.3 Vai trò của vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis trong hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn

Trong PRRS thì vai trò của vi khuẩn kế phát là một trong những nguyên nhân quan trọng gây chết hàng loạt lợn tại các địa phương xảy ra dịch hiện nay Do PRRSV với đích tấn công phá hủy đại thực bào, làm suy giảm miễn dịch, dẫn đến các mầm bệnh nhiễm trùng thứ phát có cơ hội trỗi dậy gây bệnh cho lợn Trong đó,

một số loại vi khuẩn thường gây bệnh viêm phổi ở lợn như A pleuropneumoniae, P

multocida và S suis

2.1.3.1 Vi khuẩn A pleuropneumoniae và bệnh viêm phổi - màng phổi ở lợn

 Vi khuẩn A pleuropneumoniae

Dịch tễ

Vi khuẩn A pleuropneumoniae thuộc họ Pasteurellae, thuộc giống

Actinobacilus là một tác nhân gây bệnh viêm phổi - màng phổi truyền nhiễm ở lợn

Trang 22

Năm 1978 Kilian và cs [38] đã đặt tên vi khuẩn này là H parahaemolyticus hay H

pleuropneumoniae H pleuropneumoniae sau được xếp vào họ Actinobacilus và đặt

tên là A pleuropneumoniae bởi kết quả xác định có sự tương đồng ADN giữa H

pleuropneumoniae và A ligrieressi

Hình thái, kích thước và đặc tính nuôi cấy

A pleuropneumoniae là vi khuẩn có dạng cầu trực khuẩn nhỏ, bắt màu gram

âm, kích thước khoảng 0,3 - 0,5 x 0,6 - 1,4 pm, không di động, không sinh nha bào,

có khả năng hình thành giáp mô, tuy nhiên một số chủng không có giáp mô cũng đã được quan sát thấy Dưới kính hiển vi điện tử quan sát thấy vi khuẩn có nhung mao

hay còn gọi là pili với kích thước 0,5 - 2 x 60 - 450 nm

A pleuropneumoniae là một loại vi khuẩn khó phân lập trên các môi trường

thông thường và thường phụ thuộc vào yếu tố V Do vậy, khi nuôi cấy A

pleuropneumoniae cần các môi trường giàu dinh dưỡng Vi khuẩn không phát triển

trên môi trường thạch máu thông thường mà chỉ có thể mọc trên thạch máu đã được

bổ sung NAD hoặc có cấy kèm vi khuẩn Staphylococcus aureus Sau 24 giờ nuôi

cấy, vi khuẩn phát triển thành khuẩn lạc mọc xung quanh đường cấy

Staphylococcus aureus với kích thước 0,5 - 1 mm và hình thành một vùng dung

huyết β Vùng dung huyết này thường được quan sát rõ hơn trên môi trường thạch

có bổ sung 5 - 7% máu cừu

Trên môi trường TSA: trong thành phần của môi trường này được bổ sung Yearst Extract (YE) và huyết thanh ngựa Sau 24 - 48 giờ nuôi cấy, vi khuẩn tạo thành khuẩn lạc nhỏ, màu trắng trong, dưới ánh sáng đèn điện có màu xám xanh

Trên môi trường thạch chocolate: sau 24 giờ nuôi cấy, vi khuẩn tạo thành khuẩn lạc nhầy, màu trắng xám

Đặc tính sinh hóa

Vi khuẩn A pleuropneumoniae lên men đường glucose, xylose, mannitol,

mannose và không lên men đường arabinose, lactose, raffinose, sorbitol Dương tính với phản ứng urease, oxidase, CAMP, O.N.P.G; âm tính với phản ứng sinh Indol và không mọc trên thạch MacConkey (Trịnh Quang Hiệp và cs (2004) [13];

Cù Hữu Phú và cs (2005) [20]; Đặng Xuân Bình và cs (2007) [3]; Nguyễn Thị Thu Hằng (2010) [10])

Trang 23

Cấu trúc kháng nguyên

Vi khuẩn A pleuropneumoniae từ lâu đã được nhiều nghiên cứu xác định là

nguyên nhân chính gây nên bệnh viêm phổi - màng phổi ở lợn và được chia thành 2

biotype chính dựa trên nhu cầu cần sử dụng NAD (Nicotinamide Adenine

Dinucleotide) hay còn gọi là yếu tố V cho quá trình sinh trưởng của vi khuẩn

Biotype 1 cần có NAD, còn biotype 2 thì không đòi hỏi NAD trong quá trình nuôi cấy, song vẫn cần có các pyridine nucleotid đặc hiệu hoặc các chất tiền thân của pyridine nucleotid cho quá trình tổng hợp NAD

Các yếu tố độc lực

Nhiều nghiên cứu đã cho thấy độc lực ở các serotype khác nhau của vi khuẩn

A pleuropneumoniae phần lớn được quyết định bởi các ngoại độc tố mà chúng sản

sinh ra polysaccharide vỏ, lipopolysaccharide, protein màng, protein thu nhận sắt, yếu tố bám dính, ngoại độc tố và một vài loại enzym có liên quan cũng đóng vai trò

quan trọng đối với độc lực của vi khuẩn A pleuropneumoniae

Khả năng đề kháng với kháng sinh

Sự mẫn cảm với kháng sinh của A pleuropneumoniae đã được Cù Hữu Phú

và cs (2005) [20] cho biết ít mẫn cảm nhất là kanamycin (45,45%), neomycin (50%), lincomycin (63,64%) Nghiên cứu của Tiêu Quang An cs (2011) [1] cho

biết, các chủng A pleuropneumoniae phân lập được ở lợn mắc PRRS mẫn cảm cao

với các loại kháng sinh như florfenicol (89,47%), amoxicillin (84,21%), erythromycin (78,95%), kistasamycin (73,68%) và kháng mạnh streptomycin (100%), enroloxacin (94,74%), colistin (94,74%), gentamicin (89,47%)

 Bệnh viêm phổi - màng phổi ở lợn do A pleuropneumoniae

Dịch tễ

Bệnh viêm phổi - màng phổi ở lợn lây lan rộng và được ghi nhận ở nhiều nước trên thế giới, nơi có ngành chăn nuôi lợn phát triển Bệnh có mặt và lây lan mạnh ở hầu hết các nước Châu Âu và một phần ở Mỹ, Canada, Mexico, Nam Mỹ,

Nhật Bản, Hàn Quốc và Australia Ở Việt Nam, trong những năm gần đây A

pleuropneumoniae đã được phân lập và đánh giá là một trong những nguyên nhân

gây bệnh viêm đường hô hấp khá quan trọng ở tất cả các trại lợn trên toàn quốc

Trang 24

A pleuropneumoniae là vi khuẩn cư trú ở đường hô hấp trên của lợn Tất cả các

lứa tuổi đều bị cảm nhiễm Trong trường hợp cấp tính của bệnh thì tỷ lệ chết thường cao Tỷ lệ chết cũng phụ thuộc vào độc lực của vi khuẩn và sự lưu hành bệnh trong môi trường Bệnh nặng hơn và tỷ lệ tử vong cao hơn nếu nhiễm kế phát các bệnh khác như Aujeszky’s và hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (PRRS)

Triệu chứng

Triệu chứng lâm sàng của bệnh thể hiện ở nhiều mức, phụ thuộc vào tuổi của lợn, tình trạng miễn dịch, điều kiện môi trường và mức độ cảm nhiễm với tác nhân gây bệnh Biểu hiện lâm sàng của bệnh có thể là quá cấp tính, cấp tính hoặc mãn tính

- Thể quá cấp tính: lợn mắc bệnh sốt 41,50C, mệt mỏi, bỏ ăn, có thể nôn mửa

và tiêu chảy Thời gian ngắn trước khi chết, thường có những biểu hiện khó thở dữ dội, thở bằng mồm, lợn ở tư thế ngồi thở, nhiệt độ giảm nhanh Ngay trước khi chết,

có chảy nhiều dịch bọt lẫn máu ở miệng và mũi, nhịp tim tăng; phần da ở mũi, tai, chân và sau cùng toàn bộ cơ thể trở nên tím tái, lợn mắc bệnh thường chết sau 24 -

36 giờ

- Thể cấp tính: ở thể này thường có nhiều lợn cùng mắc bệnh trong một chuồng hoặc ở những chuồng khác nhau Lợn bệnh sốt từ 40,50C - 410C, da đỏ, mệt mỏi, nằm không muốn dậy, không muốn uống, bỏ ăn Các dấu hiệu hô hấp nặng như khó thở, ho và đôi khi thở bằng miệng rất rõ Toàn thân suy sụp trong vòng 24 giờ đầu Bệnh diễn biến khác nhau ở từng cá thể, phụ thuộc vào mức độ tổn thương

ở phổi và thời điểm bắt đầu điều trị Lợn thường sống sót nếu qua được 4 ngày đầu của bệnh

- Thể mãn tính: xuất hiện sau khi các dấu hiệu cấp tính mất đi Lợn mắc bệnh không có biểu hiện rõ ràng trên lâm sàng Những con vật mắc bệnh thể mãn tính là nhân tố truyền bệnh cho những lợn khác Những dấu hiệu viêm phổi sẽ biểu hiện rõ hơn nếu có nhiễm trùng kế phát các vi sinh vật đường hô hấp khác

(Mycoplasma, Pasteurella, PRRS) hay các nhân tố Stress

Trang 25

Bệnh tích

Lợn bệnh có những tổn thương chủ yếu ở đường hô hấp Đa số các trường hợp lợn bị viêm hai bên phổi với tổn thương ở các thùy đỉnh, thùy tim cũng như ít nhất một phần mỏm trên của thùy hoành Viêm màng phổi tơ huyết và fibrin thường rất rõ ở những lợn chết trong giai đoạn cấp tính của bệnh Hầu hết những nghiên

cứu đều kết luận rằng những tổn thương trên là do độc tố của vi khuẩn A

pleuropneumoniae gây ra Ở các trường hợp tử vong nhanh chóng như thể cấp tính

thấy khí quản và các phế quản bị lấp đầy bởi các chất tiết nhầy, bọt nhuốm máu, phổi trở nên sẫm màu, có rất nhiều máu ở lồng ngực và nhiều tơ huyết gắn giữa phổi, thành ngực, cơ hoành và màng ngoài tim

Điều trị bệnh

Vi khuẩn A pleuropneumoniae có MIC (nồng độ ức chế tối thiểu) cao với

streptomycin, kanamycin, spectinomycin, spiramycin và lincomycin

Kháng sinh được chọn lựa trong điều trị phải là kháng sinh có nồng độ ức chế tối thiểu thấp và có khả năng diệt khuẩn tốt nhất Một số kháng sinh mới có gần đây như các dẫn xuất quinolone (enrofloxacin) hoặc cephalosporin bán tổng hợp (ceftiofur sodium) đã được chứng minh trên thử nghiệm rất có kết quả Một số nhà khoa học đã xác định được tilmicosin có hiệu quả cao trong điều trị bệnh do vi

khuẩn A pleuropneumoniae gây ra ở lợn

2.1.3.2 Vi khuẩn P multocida và bệnh viêm phổi ở lợn do P Multocida gây ra

 Vi khuẩn P multocida

Hình thái, kích thước và đặc tính nuôi cấy

Vi khuẩn P multocida thuộc bộ Eubacteriales, họ Parvobateriaceae, tộc Pasteurelliae, giống Pasteurella, loài Pasteurella multocida Kích thước của vi khuẩn P multocida có sự thay đổi phụ thuộc vào nguồn gốc của chúng, vi khuẩn phân lập từ bò có kích thước đồng nhất từ 0,5 - 1,2 µm, trong khi đó P multocida

phân lập từ lợn có dạng tròn hơn, kích thước từ 0,8 - 1,0 µm

Vi khuẩn P multocida gây bệnh ở lợn là loại cầu trực khuẩn, bắt màu Gram

âm, có kích thước 0,2 - 0,41 x 0,04 - 1,5 µm, hai đầu tròn, không di động, không

Trang 26

sinh nha bào, thường bắt màu sẫm ở hai đầu trong các tiêu bản máu ở phủ tạng lợn

còn tươi P multocida là loại vi khuẩn sống hiếu khí hoặc yếm khí tuỳ tiện, điều

kiện thích hợp cho vi khuẩn phát triển là 370C trong môi trường trung tính hay hơi

kiềm (pH: 7,2 - 7,4) Vi khuẩn P multocida mọc tốt trên một số môi trường như nước thịt, thạch thường, thạch máu Vi khuẩn P multocida phát triển trong môi

trường phổ thông có thêm tụy đệm CaCl2 và MgCl2 cũng giống như phát triển trên môi trường BHI - Brain Heart Infusion

Môi trường tốt nhất cho P multocida là môi trường YPC (yeast extract

peptone L - cytine) có thêm sacarose và sodium sulfite (Na2SO4) và môi trường TSA (tryptone soya agar) Trên môi trường TSA kích thước của khuẩn lạc sẽ lớn

hơn Vi khuẩn P multocida phát triển trên môi trường YPC thạch máu sẽ tạo nhiều

kháng nguyên quan trọng hơn khi cấy trong các môi trường tổng hợp khác, đây cũng là môi trường giúp tái tạo giáp mô của vi khuẩn Không phát triển trên môi trường MacConkey và thạch Citrate

Đặc tính sinh hóa

Vi khuẩn P multocida lên men đường glucose, mannitol, sorbitol, galactose;

không lên men đường lactose, arabinose, maltose Phản ứng sinh Indol, Catalaza và Oxydaza: dương tính; phản ứng Urease: âm tính; không mọc trên môi trường MacConkey (Đỗ Quốc Tuấn (2008) [33])

Khả năng đề kháng với kháng sinh

Ở Việt Nam, Đỗ Quốc Tuấn và cs (2007) [32] cho biết 25 chủng P

multocida phân lập được từ các mẫu bệnh phẩm lợn mắc bệnh mẫn cảm cao với các

Trang 27

kháng sinh như chlotetracyclin, neomycin và ampicillin và cũng đã xác định mức độ

mẫn cảm của các chủng P.multocida phân lập được ở lợn tại một số tỉnh miền núi

phía Bắc Việt Nam với một số kháng sinh thông dụng đã cho thấy các chủng

P.multocida mẫn cảm cao với norfloxacin, lincomycin và neomycin Tiêu Quang

An và cs (2011) [1] cũng cho biết các chủng P.multocida phân lập được ở lợn mắc

PRRS mẫn cảm cao với các kháng sinh như amoxicillin (100%), ampicillin (66,67%), gentamicin (66,67%) và kháng mạnh các kháng sinh như streptomycin, enrofloxacin, colistin

 Bệnh viêm phổi ở lợn do vi khuẩn P mutocida

Triệu chứng

Bệnh viêm phổi ở lợn do vi khuẩn P multocida gây ra rất khác nhau tùy

thuộc vào chủng vi khuẩn gây bệnh, thường xuất hiện 3 thể là thể quá cấp, thể cấp tính và thể mãn tính

- Thể quá cấp tính: lợn bệnh mệt mỏi, kém ăn, hoặc bỏ ăn, nằm một chỗ, không đứng dậy được, sốt cao (41 - 420C), uống nhiều nước, run rẩy Xuất hiện thuỷ thũng ở cổ, họng, hầu do viêm làm cho hầu sưng, cổ cứng, má phị, mặt mũi sưng húp, có khi phía dưới bụng và giữa hai hàng vú sưng, con vật thở khó, thở khò khè, cổ duỗi thẳng, mũi phồng ra khép lại từng hồi, nhịp tim nhanh Các niêm mạc

đỏ sẫm hoặc tím bầm, nốt xuất huyết, vết đỏ hay tím xuất hiện ở tai, cổ, bụng, phía trong đùi Bệnh tiến triển từ 12 giờ đến 1 - 2 ngày, con vật chết vì ngạt thở Lợn mắc bệnh ở thể này có biểu hiện đang bình thường đột nhiên kêu rống lên rồi lăn ra chết, sau khi chết xác lợn tím bầm, sùi bọt mép Trường hợp này xảy ra khi mầm bệnh đã có sẵn ở cơ sở chăn nuôi

- Thể cấp tính: lợn mắc bệnh bắt đầu ủ rũ, ăn ít hoặc bỏ ăn, sốt đến 410C hoặc hơn Sau đó, xuất hiện các triệu chứng giống ở thể quá cấp nhưng không trầm trọng bằng Niêm mạc mũi lợn bệnh bị viêm, con vật thở khó, thở nhanh, có tiếng khò khè, ướt trong phế quản, chảy nước mũi đặc, nhờn, đục, có khi có mủ, máu; ho khan, từng tiếng, ho co rút toàn thân, khi gõ vùng ngực con vật đau, thấy có vùng

Trang 28

âm đục; tim đập nhanh; chảy nước mắt; trên da nổi những chấm đỏ hoặc đám tím bầm ở những phần da mềm; chỗ da mỏng ít lông thường viêm xuất huyết Phù thũng dưới da vùng hầu và lan rộng xuống cổ Những vùng này có hiện tượng sưng

to và bùng nhùng Lợn mắc bệnh lúc đầu táo sau ỉa chảy có khi có máu hoặc cục máu do xuất huyết ruột Bệnh tiến triển từ 3 đến 12 ngày, con vật gầy yếu dần, ăn ít hoặc không ăn rồi chết Tỷ lệ chết có thể lên tới 80%, nếu con vật không chết thì có thể chuyển sang thể mãn tính

Thể mãn tính: thể này thường tiếp theo thể cấp tính, con vật khó thở, thở nhanh và thở khò khè, hơi sốt nhẹ, các khớp bị sưng nhất là khớp gối Con vật ho nhiều khi vận động, có đám da tróc bong vẩy, niêm mạc miệng đóng màng giả gây

áp xe Bệnh tiến triển 3 - 6 tuần sau đó con vật gầy yếu dần rồi chết do suy nhược (Phan Thanh Phượng và cs (2006) [23])

Bệnh tích

- Thể quá cấp tính: lợn chết đột ngột, do đó các bệnh tích thường ít đặc trưng, chứng xuất huyết và sung huyết có thể thấy ở khắp cơ thể (Phan Thanh Phượng và cs, (2006) [23]) Lợn bệnh có bệnh tích xuất huyết ở thanh mạc, niêm mạc và các cơ quan nội tạng, xuất huyết nhiều điểm trên da Hạch lâm ba sưng đỏ, thuỷ thũng, thấm nước Hầu viêm, thấm tương dịch Lách sưng, tụ máu Thận ứ máu Trên da có nốt đỏ hoặc tím bầm Phổi xuất huyết, thuỷ thũng, thấm tương dịch

- Thể cấp tính: theo Nguyễn Vĩnh Phước và cs (1979) [22] khi mổ khám lợn bệnh có bệnh tích thuỳ phế viêm; phổi viêm tụ máu từng đám, nhất là vùng sâu hoặc phía sau Phổi bị viêm có nhiều vùng gan hoá cứng ở các thời kỳ khác nhau, thấm tương dịch đỏ nhạt, khi cắt thấy có vân, có hạt nhiều màu sắc, các mô cứng nổi lên, có nhiều ổ hoại tử viền màu vàng, tổ chức liên kết giữa tiểu thuỳ dày lên, thấm nước thuỷ thũng nhưng không xuất huyết Khí quản, phế quản tụ máu, xuất huyết có bọt nhớt màu hồng Màng phổi dính vào lồng ngực, có khi có chấm xuất huyết, chứa nước ngoại xuất, có mủ màng giả, sợi huyết Hầu viêm, thuỷ thũng, thấm tương dịch vàng Dạ dày, ruột viêm cata, tụ máu, xuất huyết Lách hơi sưng,

Trang 29

màu đỏ sẫm, có ổ viêm cứng, đôi khi lách bình thường Hạch lâm ba ngực, hầu sưng

tụ máu Hạch màng ruột sưng, thấm nước Thận ứ máu, có màu đỏ sẫm Cao Văn

Hồng (2002) [15] cho biết lợn chết do P multocida gây ra có thịt tím hồng, nhớt,

thấm tương dịch, tỷ lệ viêm phổi khá cao tới 90,90%, xoang bụng tích nước màu vàng với tỷ lệ phát hiện từ 84,0 - 90,91%, hạch hầu sưng (93,64%) Tim sưng, bao tim tích nước (97,58%) Theo Phan Thanh Phượng (2006) [23], bệnh tích điển hình

ở thể này là viêm da có những vết, mảng đỏ sẫm, tím bầm ở bụng, ngực, khoeo chân Khi mổ khám lợn bệnh ở thể cấp tính người ta phát hiện thấy quá trình nhiễm trùng huyết cấp tính, kèm theo chứng xuất huyết trên khắp các màng thanh mạc, niêm mạc và các cơ quan bên trong, nhiều xuất huyết điểm trên da Chứng phù nề dưới da, vùng cổ và vùng ngực rất nặng và rất đặc trưng, tích nhiều nước trong xoang bụng và xoang ngực

- Thể mãn tính: Theo Nguyễn Vĩnh Phước và cs (1979) [22] các bệnh tích ở thể này là phổi viêm mãn tính, có vùng gan hoá hoại tử vàng xám, cứng, có ổ áp xe,

có khi bị cazein hoá như fomat, đám bã đậu hoá Phế quản viêm mãn tính, màng phổi dày ra ở vùng phổi bị hoại tử, có chỗ dính vào lồng ngực Hạch lâm ba, hạch hạnh nhân, khớp xương mô liên kết dưới da có những đám bã đậu, gan lách có đám cazein hoá

Điều trị bệnh

Theo Phan Thanh Phượng và cs (2006) [23], trong thực tế vi khuẩn P

multocida có nhiều biến chủng kháng lại các thuốc kháng sinh thông thường, nên

muốn điều trị có hiệu quả cần phải tiến hành kiểm tra tính mẫn cảm với kháng sinh

để chọn loại kháng sinh có hiệu quả Đỗ Quốc Tuấn (2008) [33] cho biết, các chủng

P multocida phân lập được ở lợn tại một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam mẫn

cảm cao với norfloxacin, lincomycin, neomycin và đã chọn hai kháng sinh là

lincomycin và norfloxacin điều trị lợn mắc bệnh do vi khuẩn P multocida gây ra, tỷ

lệ lợn khỏi bệnh từ 84,37% đến 91,48%

Trang 30

2.1.3.3 Vi khuẩn S suis và bệnh viêm phổi ở lợn do vi khuẩn S suis gây ra

 Vi khuẩn S suis

Hình thái, kích thước và đặc tính nuôi cấy

Vi khuẩn S suis thuộc giống Streptococcus, họ Streptococcaceae, bộ Lactobacillales, lớp Bacilli Streptococcus là vi khuẩn Gram dương, hình cầu hoặc

hình trứng, đường kính nhỏ hơn 1 gm, chúng thường đứng riêng lẻ, xếp thành đôi hoặc thành từng chuỗi ngắn như chuỗi hạt, có độ dài ngắn không đều nhau Chiều dài của chuỗi tuỳ thuộc vào điều kiện môi trường Vi khuẩn thuộc nhóm yếm khí tùy tiện, không di động, không sinh nha bào, nhưng có khả năng hình thành giáp

mô Vi khuẩn S suis là những vi khuẩn hiếu khí hay yếm khí tùy tiện, gây bệnh

thích hợp ở nhiệt độ 370C và phát triển tốt trên nhiều loại môi trường như:

- Môi trường nước thịt: vi khuẩn S suis hình thành hạt hoặc những bông, rồi

lắng xuống đáy ống Sau 2 giờ nuôi cấy môi trường trong, đáy ống có cặn

- Môi trường thạch thường: vi khuẩn S suis hình thành khuẩn lạc dạng S,

khuẩn lạc nhỏ, tròn, lồi, bóng, màu hơi xám

- Trên môi trường đặc: có thể quan sát thấy khuẩn lạc sau 24 giờ nuôi cấy với kích thước khoảng 1 - 2 mm Sau 72 giờ thì kích thước khuẩn lạc lớn nhất, có thể đạt tới 3 - 4 mm Nếu được nuôi trong điều kiện có 5 - 10% CO2 thì khuẩn lạc sẽ phát triển nhanh hơn và rộng hơn Dạng khuẩn lạc trên môi trường thạch thường nhỏ và khô hơn trên môi trường có bổ sung dinh dưỡng

- Trên môi trường thạch máu: vi khuẩn hình thành khuẩn lạc tròn, gọn, hơi vồng, sáng trắng, mịn, dung huyết sau 24 giờ nuôi cấy

- Trên môi trường MacConkey: vi khuẩn mọc tốt, sau 24 giờ nuôi cấy, hình thành các khuẩn lạc nhỏ bằng đầu đinh ghim

Đặc tính sinh hóa

Vi khuẩn S suis có khả năng lên men đường glucose, lactose, succrose,

inulin, trehalose, maltose, fructose; không lên men các loại đường ribose, arabinose, sorbitol, mannitol, dextrose và xylose Các phản ứng Oxydase, Catalase, Indol: Âm tính (Trịnh Phú Ngọc (2002) [19])

Trang 31

Khả năng đề kháng với kháng sinh

Ở Việt Nam, Trịnh Phú Ngọc (2002) [19] khi kiểm tra khả năng mẫn cảm

với kháng sinh của các chủng vi khuẩn Streptococcus phân lập được cho thấy số

chủng mẫn cảm với penicillin G biến động từ 59,09 - 63,63% Sau đó, Trương Quang Hải và cs (2012) [9] khi xác định khả năng mẫn cảm với kháng sinh của vi

khuẩn S suis phân lập được ở lợn mắc bệnh viêm phổi cho biết các chủng vi khuẩn

S suis mẫn cảm cao với các loại kháng sinh như ceftiofur, florfenicol, amoxicillin,

amikacin và có hiện tượng kháng lại một số kháng sinh streptomycin, neomycin,

tetracycline, penicillin G Điều này đã thể hiện theo thời gian vi khuẩn S suis đã có

hiện tượng kháng thuốc với một số kháng sinh thông dụng như streptomycin, neomycin, tetracycline và penicillin G

 Bệnh viêm phổi ở lợn do vi khuẩn S suis gây ra

Bệnh do vi khuẩn S suis gây ra ở lợn đã được thông báo là xảy ra ở hầu khắp

các nước trên thế giới đặc biệt là các nước có ngành chăn nuôi lợn phát triển Khả

năng gây bệnh của S suis phụ thuộc vào nhiều yếu tố như sức đề kháng của con vật,

điều kiện vệ sinh môi trường, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, thời tiết khí hậu, tính chất kháng nguyên và độc lực của vi khuẩn sản sinh Bệnh có thể bị lây nhiễm từ trại lợn này sang trại khác thông qua vật chủ trung gian là ruồi

Triệu chứng và bệnh tích

Lợn từ 1 - 3 tuần tuổi thường mắc thể viêm não và viêm màng não với các triệu chứng như ủ rũ, kém ăn, sưng hầu, khó nuốt, đi lại khó khăn, lông khô, dựng đứng, sốt, da mẩn đỏ

Lợn hoạt động khó khăn, đi lại loạng choạng, khi nằm có biểu hiện tư thế như bơi chèo, tê liệt Lợn mắc bệnh có hiện tượng viêm một khớp, khớp viêm thường là khớp bẹn, đầu gối hoặc khớp bàn chân Các tổn thương đầu tiên bao gồm thủy thũng, sưng khớp, màng khớp xung huyết, dịch khớp đục Các biến đổi về bệnh tích vi thể không có sự sai khác giữa các serotype gây bệnh và thường tập trung ở não, phổi, tim và các khớp Các tổn thương quan sát thấy như viêm màng não, viêm não, viêm phổi - màng phổi có mủ hoặc viêm phổi kẽ

Trang 32

Lê Văn Tạo (2007) [29] cho biết, để gây bệnh vi khuẩn S suis sau khi vào cơ

thể sẽ nhân lên tại hạch hạch nhân rồi vào máu gây nhiễm trùng huyết, nên triệu chứng đầu tiên là sốt 40,6 - 41,70C, triệu chứng thần kinh như run rẩy, đứng không vững, liệt, dẫn đến chết Triệu chứng, bệnh tích và các thể bệnh thường thấy:

- Thể nhiễm trùng huyết: lợn bệnh sốt rất cao (41 - 420C), chảy nước mắt, ly

bì, nằm bệt, niêm mạc đỏ sẫm, da đỏ tím từng mảng Lợn bệnh chết trong khoảng 1 đến 3 ngày, tỷ lệ chết lên đến 100% Bệnh tích: da đỏ tím từng mảng, tụ huyết và xuất huyết ở một số phủ tạng (lách, thận, hạch lâm ba)

- Thể viêm não tuỷ: lợn bệnh sốt cao, bỏ ăn, đi lại siêu vẹo, run rẩy, co giật, nôn mửa, hôn mê và chết sau 2 - 3 ngày Bệnh thường thấy ở lợn sau cai sữa và lợn

từ 2 - 3 tháng tuổi, tỷ lệ chết 100% Bệnh tích: màng não tụ huyết và xuất huyết, dịch não và tủy vẩn đục

- Thể viêm họng, viêm phế quản, viêm phổi: lợn bệnh sốt cao, chảy nước mắt, dịch mũi, họng sưng, bỏ ăn, thở khó, thở nhanh; da tụ huyết từng mảng Thể này thường gặp ở lợn con và lợn sau cai sữa, tỷ lệ chết 60 - 70% Bệnh tích: hạch amidan sưng, tụ máu, niêm mạc phế quản tụ huyết, niêm mạc mũi có màng giả, tiểu phế quản và phế nang viêm có dịch thẩm xuất, có mủ và bọt khí; hạch phổi sưng, tụ huyết Lợn bị bệnh thể phổi gây ra bệnh tích ở phổi có các mức độ biểu hiện khác nhau từ viêm phổi - màng phổi dạng nhục hoá đến viêm phổi dạng fibrin có mủ

- Thể viêm hạch: Sốt cao, hạch hầu và hạch mang tai sưng thủy thũng, sau thành apxe mủ, lâu thành bã đậu Bệnh thấy ở lợn vỗ béo, diễn biến 5 - 8 ngày, tỷ lệ chết 20 - 30% Bệnh tích: hạch hầu, hạch trước vai, trước đùi sưng tụ huyết ở giai đoạn đầu, giai đoạn cuối viêm bã đậu

Điều trị bệnh

Chẩn đoán phát hiện sớm bệnh do vi khuẩn S suis gây ra và điều trị bằng

kháng sinh thích hợp là biện pháp nhằm tăng khả năng sống sót cho đàn lợn Trịnh

Phú Ngọc (2002) [19] cho biết vi khuẩn S suis phân lập được mẫn cảm với

penicilin và trong thực tế, khi sử dụng penicilin kết hợp dexamethasone điều trị

bệnh do S suis gây ra ở lợn, điều trị từng cá thể kết hợp với chăm sóc và nuôi

Trang 33

dưỡng tốt có thể khỏi bệnh hoàn toàn Theo Trương Quang Hải và cs (2012) [9]

trong 25 chủng vi khuẩn S suis phân lập được ở lợn mắc bệnh viêm phổi mẫn cảm

cao với cefiofur (92,0%), florfenicol (88,0%), amoxicillin (88,0%) và amikacin (72,0%) nên có thể sử dụng một trong các kháng sinh trên để điều trị cho lợn khi

mắc viêm phổi do vi khuẩn S suis gây ra

2.1.4 Tình hình bệnh

2.1.4.1 Tình hình dịch PRRS trên thế giới

Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn được ghi nhận lần đầu tiên trong các báo cáo về các thiệt hại của ngành công nghiệp chăn nuôi tại Mỹ Tại các ổ dịch biểu hiện các triệu chứng lâm sàng của PRRS đã được báo cáo ở

Mỹ vào cuối những năm 80 của thế kỷ trước (1987) người ta thấy số lượng lợn chết trong điều kiện bình thường tăng lên và lợn chậm lớn Các triệu chứng lâm sàng bao gồm rối loạn sinh sản nghiêm trọng, viêm phổi ở lợn con sau cai sữa, chậm lớn, giảm năng suất và tỷ lệ tử vong tăng Khi đó đã có nhiều giả thuyết được đặt ra, người ta cũng bắt đầu kiểm tra sự bất thường ở đường sinh sản của lợn giống nhưng vào thời điểm đó vẫn chưa thể biết được mối liên hệ của nguyên nhân gây ra tình trạng nêu trên, bệnh vẫn còn là một bí ẩn Hàng năm ước tính tiêu phí ngành công nghiệp chăn nuôi lợn ở Mỹ là 560 triệu USD cho bệnh Tai xanh

Rất nhanh chóng, năm 1988 bệnh Tai xanh đã lan sang nước láng giềng Canada

và tiếp tục hoành hành, trong khi đó bí ẩn về căn bệnh vẫn chưa được giải mã

Hai năm sau, các ổ dịch có các triệu chứng lâm sàng tương tự đã được báo cáo ở CHLB Đức (1990) Năm năm sau (1991) kể từ khi có báo cáo đầu tiên về bệnh, virus đã được tìm thấy tại Hà Lan Các tác giả người Hà Lan đã xác định được đặc tính của virus sau khi thực nghiệm thành công các chỉ tiêu của định đề Koch và virus được đặt tên là virus Lelystad, là tên Viện Thú y đã phát hiện ra virus Sau đó không lâu, virus PRRS được Mỹ đặt tên là ATCC VR - 2332 (Collin và cs (1992) [35]) Đứng trước những thiệt hại cũng như diễn biến phức tạp của bệnh, năm 1992, tại hội nghị quốc tế về bệnh tổ chức ở St.Paul, Minnesota, tổ chức Thú y thế giới (OIE) đã chính thức đặt tên cho bệnh này là Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome - PRRS)

Trang 34

Tính từ năm 2005 trở lại đây, 25 nước vùng lãnh thổ thuộc tất cả các châu lục trên Thế giới (trừ châu Úc và New Zealand) đã phát hiện có PRRS lưu hành Con

số thực tế sẽ còn khác rất nhiều Trong số các nước trên có cả các nước có ngành chăn nuôi phát triển mạnh như Mỹ, Hà Lan, Đan Mạch, Anh, Pháp, Đức…

Hình 1.1 Bản đồ lịch sử xuất hiện PRRS trên thế giới

Tại Trung Quốc, dịch bệnh PRRS đã xuất hiện trong những năm gần đây và hiện đang còn tồn tại Virus PRRS gây ra đại dịch lây lan ở hơn 10 tỉnh thành của Trung Quốc làm chết 2.000.000 con lợn, trong đó có hơn 400.000 sảy thai, đẻ non Qua một số nghiên cứu với qui mô lớn, người ta đã xác định virus gây bệnh PRRS tại Trung Quốc thuộc chủng Bắc Mỹ thể cường độc gây ra

Tại Thái Lan, một nghiên cứu quy mô rộng lớn từ năm 2000 - 2003 cho thấy các virus PRRS được phân lập từ nhiều địa phương gồm cả chủng Châu Âu và chủng Bắc Mỹ, trong đó virus thuộc chủng Bắc Mỹ chiếm 33,58% Dịch bệnh PRRS lần đầu tiên xuất hiện ở nước này vào năm 1989 và tỷ lệ lưu hành huyết thanh của bệnh cũng thay đổi khác nhau, từ 8,7% vào năm 1991 và trên 76% vào năm 2002 Nguồn gốc PRRS tại Thái Lan là do việc sử dụng tinh lợn nhập nội đã bị nhiễm virus PRRS hoặc là do các đàn nhập nội mang trùng

2.1.4.2 Tình hình dịch PRRS ở Việt Nam

Lần đầu tiên trong lịch sử xuất hiện PRRS ở Việt Nam vào năm 1997, PRRS được phát hiện trên đàn lợn nhập từ Mỹ vào các tỉnh miền Nam Theo Cục Thú y (2007) [6], kết quả kiểm tra thấy 10/51 lợn giống nhập khẩu có huyết thanh dương tính với PRRS Toàn bộ số lợn này đã được xử lý vào thời gian đó Tuy nhiên, trong

Trang 35

những năm tiếp theo, các nghiên cứu về bệnh trên những trại lợn giống tại các tỉnh phía Nam cho thấy tỷ lệ lợn có huyết thanh dương tính với bệnh rất khác nhau, từ 1,3% cho tới 68,29% (Bộ NN và PTNT (2007) [4])

Như vậy, virus PRRS đã xuất hiện và lưu hành tại nước ta trong một thời gian dài Tuy nhiên, kể từ khi xác định được lợn có kháng thể kháng virus PRRS ở đàn lợn giống nhập từ Mỹ, tại Việt nam chưa từng có vụ dịch PRRS nào xảy ra

Dấu ấn quan trọng của dịch PRRS tại Việt Nam được bắt đầu từ ngày 12/3/2007 khi hàng loạt đàn lợn tại Hải Dương có những biểu hiện ốm khác thường, sau đó lây lan ra các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ gây thiệt hại rất lớn cho ngành chăn nuôi lợn (Tô Long Thành và cs (2008) [28])

Đầu năm 2008, dịch tái xuất hiện ở nhiều xã thuộc tỉnh Hà Tĩnh và chỉ 1 tháng sau (tháng 4/2008) dịch đã bùng phát ở 775 xã, phường thuộc 57 huyện thị của 10 tỉnh: Hà Tĩnh, Thanh Hoá, Quảng Nam, Nghệ An, Lâm Đồng, Thừa Thiên Huế, Thái Bình, Thái Nguyên, Ninh Bình và Nam Định với tổng số lợn mắc bệnh khoảng 255.250 con, số chết và phải tiêu huỷ là 254.242 con Đây là đợt dịch lớn nhất từ trước đến nay

Tháng 3/2010 dịch bệnh PRRS tái xuất hiện ở Hải Dương sau một thời gian lắng xuống, rất nhanh chóng phát tán cả 3 miền Bắc, Trung, Nam Theo Cục thú y tính đến 05/10/2010 cả nước trên 621.000 lợn mắc dịch, chết và tiêu hủy trên 336.000 con

Theo báo cáo cáo năm 2012 của Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn, toàn quốc ghi nhận các ổ dịch tai xanh tại 453 xã/ phường, thị trấn của 95 quận/ huyện thuộc 28 tỉnh Tổng số lợn mắc bệnh là 90.688, tổng số chết là 14.065 con, tổng số lợn phải tiêu hủy là 51.761 con Qua giám sát diễn biến của từng ổ dịch theo từng tháng của năm, có thể thấy rằng dịch bắt đầu xuất hiện lẻ tẻ vào đầu tháng 1 đến cuối tháng 3, sau đó phát triển lây lan trên diện rộng trong giai đoạn tháng 4 đến cuối tháng 7

Theo báo cáo ngày 25/6/2013 của Cục thú y (Bộ NN - PTNT) dịch tai xanh tuy không bùng phát mạnh mẽ nhưng vẫn xuất hiện rải rác tại một vài tỉnh trong

Trang 36

khoảng thời gian từ tháng 2 đến tháng 5 đã làm chết và tiêu hủy hơn 6000 con lợn Nguy cơ dịch nổ ra ở bất cứ địa phương nào, bất cứ thời điểm nào là rất lớn đặc biệt những tháng Đông - Xuân, là mối nguy cơ bùng phát dịch bệnh vẫn tiềm ẩn đối với việc phát triển chăn nuôi bền vững của Việt Nam

Theo Báo cáo số 744/CCTY - DT ngày 13/10/2015 của Chi cục Thú y Tiền Giang, dịch tai xanh đã phát ra ngày 01/10/2015 tại 01 hộ chăn nuôi, thuộc xã Thạnh Nhựt, huyện Gò Công Tây Tổng số lợn mắc bệnh là 25 con, trong đó đã chết

05 con và tiêu hủy 09 con (ngày tiêu hủy cuối cùng là 10/10/2015) Đàn lợn trước

đó chưa tiêm phòng vacine Tai xanh Chi cục Thú y và chính quyền địa phương thực hiện các biện pháp chống dịch theo quy định

Hiện nay, tính đến ngày 18/11/2015 theo thông tin của cục thú y cả nước có

11 ổ dịch Tai xanh xảy ra ta ̣i 07 huyê ̣n của 04 tỉnh chưa qua 21 ngày cu ̣ thể như sau:

- Tỉnh Hà Tĩnh có 01 ổ dịch tại xã Cẩm Quan, huyện Cẩm Xuyên (đã qua

20 ngày);

- Tỉnh Sóc Trăng có 07 ổ dịch, cụ thể:

+ Huyện Long Phú có 02 ổ dịch: Ổ dịch tại xã Tân Thạnh và xã Long Phú

(đã qua 14 ngày);

+ Thành phố Sóc Trăng có 04 ổ dịch: 02 ổ dịch tại Phường 7 và Phường 8

(đã qua 15 ngày); 02 ổ dịch tại Phường 6 và Phường 10 (đã qua 07 ngày);

+ Huyện Trần Đề : có ổ dịch tại xã Thạnh Thới Thuận (đã qua 12 ngày)

- Tỉnh Nghệ An có 01 ổ dịch tại xã Hưng Mỹ, huyện Hưng Nguyên (đã qua

20 ngày);

- Tỉnh Long An có 02 ổ dịch, cụ thể:

- Huyện Thủ Thừa có ổ di ̣ch tại xã Mỹ Thạnh (đã qua 14 ngày);

- Huyện Châu Thành có ổ dịch tại xã Phú Ngãi Trị (đã qua 14 ngày)

Căn cứ vào tình hình dịch Tai xanh trong thời gian gần đây, có thể thấy virus Tai xanh đang tiềm ẩn trong đàn lợn ở nhiều địa phương trong cả nước Dịch Tai xanh mới xảy ra trong thời gian khoảng hơn 1 tháng gần đây tại Campuchia, trong

đó có 3 tỉnh có đường biên giới với Việt Nam, cho thấy nguy cơ dịch Tai xanh có

Trang 37

xu hướng xảy ra trở lại Các địa phương cần tăng cường công tác giám sát, phát hiện sớm ổ dịch, thực hiện nghiêm các qui định về kiểm dịch vận chuyển lợn và các sản phẩm của lợn, tăng cường kiểm soát giết mổ lợn, chủ động ngăn chặn xảy ra vào địa bàn

Trang 38

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Lợn dương tính với PRRSV tại 3 huyện (thành phố): Bắc Ninh, Quế Võ, Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh

Vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis phân lập từ lợn

- Bộ môn Vi trùng - Viện Thú y Quốc gia

3.2.2 Thời gian tiến hành

Đề tài được thực hiện từ ngày 18 tháng 5 năm 2015 đến ngày 25 tháng 11

năm 2015

3.3 Nội dung nghiên cứu

3.3.1 Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh Tai xanh ở tỉnh Bắc Ninh

- Xác định tỷ lệ lợn mắc và chết do PRRS tại 3 huyện (thành phố): Bắc Ninh, Quế Võ, Thuận Thành từ năm 2010 - 2015

- Xác định tỷ lệ lợn mắc và chết do PRRS theo lứa tuổi, theo mùa vụ

3.3.3 Nghiên cứu phác đồ điều trị bệnh viêm phổi

Căn cứ vào kết quả xác định tính mẫn cảm với kháng sinh của các chủng vi

khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis phân lập được, chúng tôi lựa

Ngày đăng: 13/02/2018, 09:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm