Tình hình nhiễm bệnh đường hô hấp trên đàn lợn thịt và so sánh hiệu lực của thuốc điều trị bệnh tại trại lợn xã Tân Đức huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên. (Khóa luận tốt nghiệp)Tình hình nhiễm bệnh đường hô hấp trên đàn lợn thịt và so sánh hiệu lực của thuốc điều trị bệnh tại trại lợn xã Tân Đức huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên. (Khóa luận tốt nghiệp)Tình hình nhiễm bệnh đường hô hấp trên đàn lợn thịt và so sánh hiệu lực của thuốc điều trị bệnh tại trại lợn xã Tân Đức huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên. (Khóa luận tốt nghiệp)Tình hình nhiễm bệnh đường hô hấp trên đàn lợn thịt và so sánh hiệu lực của thuốc điều trị bệnh tại trại lợn xã Tân Đức huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên. (Khóa luận tốt nghiệp)Tình hình nhiễm bệnh đường hô hấp trên đàn lợn thịt và so sánh hiệu lực của thuốc điều trị bệnh tại trại lợn xã Tân Đức huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên. (Khóa luận tốt nghiệp)Tình hình nhiễm bệnh đường hô hấp trên đàn lợn thịt và so sánh hiệu lực của thuốc điều trị bệnh tại trại lợn xã Tân Đức huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên. (Khóa luận tốt nghiệp)Tình hình nhiễm bệnh đường hô hấp trên đàn lợn thịt và so sánh hiệu lực của thuốc điều trị bệnh tại trại lợn xã Tân Đức huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên. (Khóa luận tốt nghiệp)
Trang 1- -
VŨ THỊ NGUYỆT
Tên đề tài:
TÌNH HÌNH NHIỄM BỆNH ĐƯỜNG HÔ HẤP TRÊN ĐÀN LỢN THỊT VÀ
SO SÁNH HIỆU LỰC CỦA THUỐC ĐIỀU TRỊ BỆNH TẠI TRẠI LỢN XÃ
TÂN ĐỨC, HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2011 - 2016
Thái Nguyên – 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -
VŨ THỊ NGUYỆT
Tên đề tài:
TÌNH HÌNH NHIỄM BỆNH ĐƯỜNG HÔ HẤP TRÊN ĐÀN LỢN THỊT VÀ
SO SÁNH HIỆU LỰC CỦA THUỐC ĐIỀU TRỊ BỆNH TẠI TRẠI LỢN XÃ
TÂN ĐỨC, HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Lớp: K43 - TY
Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2011 - 2016 Giảng viên hướng dẫn: TS Trần Thi ̣ Hoan
Thái Nguyên – 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cũng như trong thời gian thực tập tại trại lợn của ông Đào Duy Lễ, xã Tân Đức, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên tôi đã nhận được sự giúp đỡ rất nhiệt tình và quý báu của các thầy cô, Ban Giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn bộ các thầy cô trong khoa Nhân dịp này em xin bầy tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến:
Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Ban lãnh đạo, cùng các kỹ thuật viên và công nhân tại trại ông Lễ Cùng tập thể các thầy cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
đã tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành khóa luận này đúng thời hạn
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ rất nhiệt tình
của cô giáo hướng dẫn TS Trần Thị Hoan Nhân đây tôi cũng xin bầy tỏ
lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã thường xuyên tạo mọi điều kiện giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này
Cuối cùng tôi xin chúc các thầy cô giáo mạnh khỏe, hạnh phúc, đạt nhiều thành tích trong giảng dạy và nhiều thành công trong nghiên cứu khoa học
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Trang 4
LỜI NÓI ĐẦU
Thực tập tốt nghiệp là khâu cuối cùng của quá trình đào tạo, đóng vai trò không thể thiếu trong nền giáo dục hiện nay Trong quá trình thực tập giúp sinh viên tiếp cận và nắm bắt thực tế sản xuất, củng cố kiến thức đã học, đồng thời áp dụng lý thuyết vào thực tiễn sản xuất, từ đó nâng cao kiến thức chuyên môn nắm vững các phương pháp nghiên cứu khoa học
Ngoài ra thực tập tốt nghiệp cũng là thời gian sinh viên rèn luyện, học hỏi kinh nghiệm của người đi trước, nhằm trang bị những kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ và công tác quản lý sau khi tốt nghiệp ra trường có thể trở thành một người cán bộ khoa học có trình độ chuyên môn, tay nghề vững vàng
Xuất phát từ cơ sở trên, theo nguyện vọng của bản thân và sự nhất trí của Ban Giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và sự giúp đỡ của trại ông Lễ - Ban lãnh đạo xã Tân Đức, cùng với sự hướng dẫn tận tình của thầy cô, cán
bộ kỹ thuật trại tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tình hình nhiễm bệnh
đường hô hấp trên đàn lợn thịt và so sánh hiệu lực của thuốc điều trị
bệnh tại trại lợn xã Tân Đức, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên”
Tuy nhiên, do thời gian thực tập có hạn và trình độ bản thân còn nhiều hạn chế nên khoá luận tốt nghiệp của tôi không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong được sự bổ sung, góp ý của thầy cô và bạn bè để khoá luận tốt nghiệp của tôi hoàn thiện hơn
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 27
Bảng 4.1 Lịch phòng bệnh cho đàn lợn thịt 32
Bảng 4.2 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 34
Bảng 4.3 Tỷ lệ mắc bệnh đường hô hấp ở lợn nuôi tại trại 35
Bảng 4.4 Tỷ lệ mắc bệnh đường hô hấp ở lợn theo tính biệt 36
Bảng 4.5 Tỷ lệ mắc bệnh đường hô hấp theo tháng trong năm 37
Bảng 4.6 Tỷ lệ mắc bệnh đường hô hấp theo tuổi lợn 38
Bảng 4.7 Một số triệu chứng điển hình của lợn mắc bệnh đường hô hấp 39
Bảng 4.8 Tỷ lệ lợn chết do bê ̣nh đường hô hấp 40
Bảng 4.9 Hiệu quả của hai loại thuốc trong điều trị bệnh đường hô hấp 41
Bảng 4.10 Chi phí thuốc thú y 42
Trang 6Đơn vị tính Nhà xuất bản
Số thứ tự
Trang 7MỤC LỤC
Trang
Phần 1 : MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.4 Ý nghĩa của đề tài 2
1.4.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 2
Phần 2 : TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
2.1.1 Những hiểu biết về hê ̣ hô hấp của lợn 3
2.1.2 Nguyên nhân gây bệnh 4
2.1.3 Dịch tễ học của bệnh 5
2.1.5 Một số bệnh hô hấp thường gặp ở lợn 12
2.1.6 Nguyên tắc phòng và điều trị bệnh 17
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 21
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 21
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 22
Phần 3 : ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 25
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 25
3.3 Nội dung nghiên cứu 25
3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 25
3.4.1 Phương pháp xác định tình hình mắc bệnh đường hô hấp trên đàn lợn nuôi tại trại lợn ông Đào Duy Lễ, xã Tân Đức, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 25
Trang 83.4.2 Phương pháp nghiên cứu triệu chứng lâm sàng và bệnh tích của bệnh
đường hô hấp ở lợn giai đoạn từ sau cai sữa đến 5 tháng tuổi 26
3.4.3 Phương pháp so sánh hiệu lực điều trị bệnh đường hô hấp của 2 loại thuốc tylosin – 50 và tulavitryl 26
3.4.4 Các chỉ tiêu theo dõi 28
3.4.5 Phương pháp theo dõi từng chỉ tiêu 28
3.4.6 Phương pháp xử lý số liệu 30
Phần 4 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31
4.1 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 31
4.1.1 Công tác chăn nuôi 31
4.1.2 Công tác vệ sinh thú y 31
4.1.3 Công tác phòng bệnh 31
4.1.4 Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh 32
4.1.5 Công tác khác 34
4.2 Kết quả nghiên cứu 35
4.2.1 Tỷ lệ mắc bệnh đường hô hấp ở lợn thịt tại trại 35
4.2.2 Kết quả theo dõi lợn mắc bệnh đường hô hấp theo tính biệt 36
4.2.3 Kết quả theo dõi lợn mắc bệnh đường hô hấp theo tháng trong năm 37
4.2.4 Kết quả theo dõi lợn mắc bệnh đường hô hấp theo tuổi lợn 38
4.2.5 Một số triệu chứng chính của lợn mắc bệnh đường hô hấp 39
4.2.6 Kết quả theo dõi tỷ lê ̣ lợn chết do bê ̣nh đường hô hấp 40
4.2.7 Hiệu lực của hai loại thuốc dùng trong điều trị bệnh đường hô hấp cho lợn 41
4.2.8 Sơ bộ hoạch toán kinh tế khi sử dụng hai loại thuốc 42
Phần 5 : KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 44
5.1 Kết luận 44
5.2 Đề nghị 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
Trang 9tư của nhà nước…
Bên cạnh những thuận lợi đó, thì ngành chăn nuôi lợn còn gặp không ít khó khăn như phương thức chăn nuôi còn lạc hậu, dịch bệnh xảy ra nhiều gây tổn thất lớn cho người chăn nuôi Tình hình dịch bệnh diễn ra khá phức tạp và
có nhiều diễn biến xấu Trong những năm gần đây bệnh hô hấp đã xuất hiện phổ biến trên đàn lợn, nhất là trong điều kiện nuôi với số lượng nhiều, mật độ nuôi cao như trong trại nuôi tập trung Mặc dù tỷ lệ chết không cao nhưng gây thiệt hại lớn về kinh tế, do lợn sinh trưởng chậm, hiệu quả sử dụng thức ăn thấp, bệnh thường kéo dài và chi phí thuốc điều trị lớn, đặc biệt bệnh dễ lan rộng dẫn đến giảm hiệu quả chăn nuôi
Bệnh đường hô hấp hay xảy ra khi mật độ nuôi cao, khi bệnh đã xảy ra việc khắc phục là khó khăn, do vậy để giảm thiệt hại do bệnh gây ra thì cần đề cao công tác phòng bệnh và trị bệnh
Trang 10Xuất phát từ nhu cầu thực tế sản xuất, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Tình hình nhiễm bệnh đường hô hấp trên đàn lợn thịt và so sánh hiệu lực của thuốc điều trị bệnh tại trại lợn xã Tân Đức, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên”
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được tỷ lệ nhiễm bệnh đường hô hấp trên đàn lợn của trại lợn ông Đào Duy Lễ thuộc xã Tân Đức, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
- Xác định biểu hiện triệu chứng lâm sàng của lợn mắc bệnh đường
- Nắm bắt được tình hình chăn nuôi, dịch bệnh của trại
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
- Qua điều tra nắm bắt được tình hình mắc bê ̣n h đường hô hấp trên đàn lợn của tra ̣i
- Có thêm các kinh nghiệm trong chẩn đoán và điều trị bệnh cho vật nuôi
- Đánh giá được hiê ̣u lực của các loại thuốc sử du ̣ng, từ đó có thể đưa ra phác đồ điều trị hiệu quả bệnh đường hô hấp
Trang 11Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Như ̃ng hiểu biết về hê ̣ hô hấp của lợn
Hô hấp là tập hợp nhiều quá trình để tế bào động vật sử dụng O2, thải trừ CO2 và chuyển hóa năng lượng vào dạng sinh học có ích thường là dạng hóa năng trong ATP Nó có một vai trò hết sức quan trọng đối với sự sống vì trong điều kiện sinh lý bình thường động vật có thể nhịn ăn, nhịn uống trong một thời gian dài nhưng không thể nhịn thở quá 10 phút
Đối với gia súc khỏe động tác hô hấp hít vào, thở ra thường lặng lẽ và vừa đủ (trừ sau khi cơ thể vận động mạnh) Số lần gia súc hít vào và thở ra trong một phút khi nghỉ ngơi được gọi là tần số hô hấp, tần số này thay đổi theo giống và loài gia súc gồm ba pha bằng nhau: Hít vào, thở ra và ngừng thở Tần số hô hấp có thể tăng ở gia súc khỏe mạnh sau khi vận động hay tăng lên trong điều kiện nhiệt độ và độ ẩm môi trường thay đổi bất thường
Ở lợn, thực hiện hô hấp là nhờ sự co rút, phối hợp của nhiều cơ riêng biệt Sự phối hợp trong điều hòa bởi trung khu hô hấp, là nhóm tế bào đặc biệt nằm trong hành tủy Cơ quan hô hấp có phổi để trao đổi khí và hệ thống ống dẫn khí vào phổi (mũi, họng hầu, khí quản, phế quản) Nhờ sự vận động của lớp vi lông nhung trên niêm mạc đường dẫn khí mà bụi được đẩy ra ngoài Cơ quan cảm thụ trên đường hô hấp rất nhạy cảm với các phần tử vật lạ có trong không khí từ đó tạo ra các phản xạ tự vệ như ho, hắt hơi… để đẩy các vật lạ ra ngoài Trong đường ống dẫn khí có dịch nhày, có các nhung mao Lông mũi có tác dụng ngăn cản và giữ lại các vật lạ không cho chúng xâm nhập vào sâu bên trong đường hô hấp Các phế nang nằm trong một mạng lưới sợi liên kết đàn hồi rắn chắc Số lượng phế nang lại rất lớn nên bề mặt trao đổi khí rộng, tạo điều kiện cho sự trao đổi khí được thuận lợi
Trang 12Quá trình hô hấp của lợn gồm 3 giai đoạn Tất cả các cơ quan chỉ có nhiệm vụ thực hiện việc hô hấp bên ngoài
+ Hô hấp ngoài (hô hấp phổi): Là quá trình trao đổi khí giữa cơ thể với môi trường bên ngoài thông qua thành phế nang của phổi
+ Hô hấp trong (hô hấp mô bào): Bao gồm sự trao đổi khí giữa máu và các tế bào của cơ thể, hay nói cách khác là quá trình mô bào sử dụng O2 và thải trừ CO2
Bất kì một bộ phận nào của cơ thể bị đau cũng gây nên phản xạ tăng nhanh nhịp hô hấp Lợn khi bị bệnh thì tần số hô hấp có thể tăng lên 60 - 100
- 150, thậm chí tăng lên tới 200 lần/phút như bệnh suyễn
2.1.2 Nguyên nhân gây bệnh
Do trong quá trình hô hấp, mũi là nơi tiếp xúc đầu tiên với môi trường không khí, cùng với đặc tính phàm ăn, hay ủi rũi nền chuồng, máng ăn… nên trong đường hô hấp của lợn luôn có một hệ vi sinh vật cư trú Bình thường giữa cơ thể và vi sinh vật ở trạng thái cân bằng, nhưng nếu có một nguyên nhân nào đó tác động gây bất lợi cho cơ thể lợn, làm phá vỡ thế cân bằng sinh học trên thì có thể có hàng loạt vi khuẩn sẽ tăng cường độc lực và nhân lên theo số lượng cư trú trong cơ thể tùy theo sức đề kháng của từng cá thể mà chúng có thể bị nhiễm nặng hay nhẹ
Bệnh thường lây trực tiếp qua đường hô hấp từ con ốm sang con khỏe qua đường không khí, chất thải dịch mũi… Mầm bệnh tập trung chủ yếu ở các dịch tiết đường hô hấp và có thể phát tán qua không khí đến 3,5km Bệnh đường hô hấp thường xảy ra khi:
+ Thời tiết thay đổi từ ấm sang lạnh ẩm, thường cuối mùa thu sang mùa đông đến đầu mùa xuân
+ Tiểu khí hậu trong chuồng nuôi kém, hàm lượng amoniac cao, nhiệt độ không khí ngày càng thay đổi lớn, thời tiết lạnh gây phân tiết histamin, bụi bặm
Trang 13+ Các stress do chăn nuôi quản lý kém
Lợn con cảm nhiễm mạnh Lợn lớn có sức đề kháng cao hơn nhưng trở thành vật mang và thải trùng kéo dài nhiều năm Các trại lợn nuôi tập trung thường bị bệnh nhiều hơn lợn chăn nuôi hộ gia đình
Dựa vào sự có mặt thường xuyên hay không thường xuyên mà có thể chia vi khuẩn trong đường hô hấp thành 2 nhóm chính:
- Nhóm vi khuẩn cố định: Là những vi khuẩn thường gặp trong đường hô
hấp như: Pasteurella, Streptococcus, Staphylococcus, Diplococcus, Pneumoniae,
Klebsiella, Haemophilus…
- Nhóm vi khuẩn không cố định: Là những vi khuẩn ít gặp trong đường
hô hấp như: Samonella
Đường lây lan chủ yếu là tiếp xúc trực tiếp thông qua hô hấp, lợn khỏe tiếp xúc trực tiếp với lợn bị bệnh hoặc từ mẹ sang con Lợn bệnh ho bài xuất một lượng rất lớn mầm bệnh ra không khí Các hạt nhỏ bắn ra không khí mang theo mầm bệnh sẽ tồn tại lâu hơn khi có độ ẩm cao và ít thông thoáng Các vật dụng chăn nuôi và người cũng có thể mang mầm bệnh từ chuồng lợn bệnh sang chuồng lợn khỏe Bệnh thường xảy ra khi có sự chuyển tiếp mùa
vụ, chẳng hạn bệnh cúm lợn mầm bệnh lưu hành trên đàn lợn trong suốt một năm nhưng thường gây dịch vào cuối mùa hè đầu mùa thu,… Ở những nơi chăn nuôi tập trung, bệnh càng dễ xảy ra Sự xuất hiện và lây lan bệnh thường liên quan đến vận chuyển lợn hoặc sản phẩm lợn chưa qua xử lý
Trang 142.1.4 Những đối tượng thường gặp trong đường hô hấp của lợn
* Vi khuẩn
- Pasteurella multocida
Theo Nguyễn Vĩnh Phước (1978) [29], thì Pasteurella multocida là một
loại cầu trực khuẩn tác động chủ yếu đến bộ máy hô hấp của lợn gây thùy phế viêm Có đặc điểm:
+ Hình thái: Là loại cầu trực khuẩn nhỏ, hình trứng hoặc hình bầu dục,
hai đầu tròn, kích thước 0,25 - 0,4 x 0,4 - 1,5 µm, không có lông, không di động, không hình thành nha bào, bắt màu gram (–)
+ Đặc tính sinh hó a: Lên men không sinh hơi gluco, xaccaro, mannit,
socbit Lên men bất thường manno, ramno, levulo, inulin Không lên men lacto, arabino, xalixin, glixerin, dunxit, adonit
+ Sứ c đề kháng: Dễ bị tiêu diệt bởi sức nóng, ánh sáng mặt trời và các chất sát trùng thông thường Vi khuẩn được bảo tồn khá lâu trong đất ẩm có chứa nhiều nitrat và thiếu ánh sáng, trong nước giếng có chứa nhiều chất hữu cơ Trong đất
ẩm, ở những lớp không có dưỡng khí vi khuẩn sống được hàng tháng
1000C chết ngay), ánh sáng mặt trời và các chất sát trùng thông thường có thể tiêu diệt được vi khuẩn như: Axit phenic 5% trong 1 phút, creotin 3%, nước vôi 15% trong 3 - 5 phút Trong đất ẩm có nhiều nitrat và thiếu ánh sáng thì vi khuẩn có thể tồn tại và phát triển Trong chuồng nuôi, trên đồng cỏ, trong đất vi khuẩn có thể tồn tại vài tháng (Nguyễn Bá Hiên và Nguyễn Minh Tâm, 2007) [8]
Nguyễn Quang Tuyên (2008) [36] cho biết: Pasteurella multocida có thể
tồn tại trong đất, nước, phân… vào cơ thể động vật qua đường tiêu hóa, hô hấp Vi khuẩn sống nhờ trong đườ ng hô hấp và tiêu hóa của gia súc khỏe ma ̣nh, khi sức
đề kháng của động vật giảm thì vi khuẩn sẽ tác động gây bệnh Bệnh thể hiện triệu chứng bại huyết kèm theo tụ huyết, xuất huyết ở các tổ chức, niêm mạc và phủ tạng Trong phòng thí nghiê ̣m, chuô ̣t ba ̣ch và thỏ dễ cảm nhiễm nhất
- Staphylococcus aureus
Theo Nguyễn Quang Tuyên (2008) [36] thì Staphylococcus aureus là giống gây bệnh thường hay gặp nhất trong giống Staphylococcus, chúng gây
Trang 15nên các nhiễm trùng ở các loài vật nuôi và người với nhiều biểu hiện khác nhau như nhiễm trùng của da, tổ chức dưới da hoặc trong cơ quan nội tạng gây mưng mủ điển hình
Staphylococcus aureus có đặc điểm sau:
+ Hình thái: Có hình cầu, đường kính khoảng từ 0,8 - 1,5 µm, bắt màu
Gr (+), không di động, không sinh nha bào, một số chủng có giáp mô, sắp xếp không có thứ tự nhất định, thường tụ lại thành đám
+ Đặc tính nuôi cấy: Tụ cầu khuẩn là loại hiếu khí và kỵ khí tùy nghi
Chúng phát triển tốt trong các môi trường dinh dưỡng thông thường ở nhiệt độ
370C (giới hạn nhiệt độ của chúng từ 100
C - 450C và pH từ 7,2 - 7,4) Ở nhiệt độ phòng thoáng, có ánh sáng, tụ cầu khuẩn sinh ra sắc tố (pigment) như: Sắc tố vàng, sắc tố trắng, sắc tố vàng chanh Các sắc tố của tụ cầu không tan trong nước nhưng tan trong ether, benzen, aceton, chloroform Tạo sắc tố tốt nhất khi nuôi cấy tụ cầu ở môi trường thạch sữa, thạch khoai tây ở nhiệt độ 200
C - 250C
Theo Lê Văn Phụng (2009) [28] cho biết trên thạch thường, tụ cầu mọc với khuẩn lạc dạng S trơn lồi, đường kính khoảng 1 - 2mm Sau 24 giờ ở
370C, khuẩn lạc thường có màu vàng chanh
Trên môi trường MSA (Manitol salt agar) hay còn gọi là môi trường Chapman, khuẩn lạc tròn, bờ đều và lồi, màu vàng nhạt đến vàng đậm và làm vàng môi trường xung quanh khuẩn lạc (do lên men đường manitol) (Mary K.S và John L.M, 2002) [41]
+ Khả năng đề kháng:
Đối với nhiệt độ: Tụ cầu vàng kém bền vững với nhiệt, các phương pháp chế biến thông thường đều diệt được vi khuẩn dễ dàng Vi khuẩn bị tiêu diệt ở 800
C trong 10 - 30 phút, 1000C chết trong vài phút
Với hoá chất: Axit fenic 3 - 5 % diệt vi khuẩn trong 3 - 5 phút Formon
1% trong 1 giờ Staphylococcus aureus có khả năng đề kháng với chất tẩy uế
(Kenneth Todar, 2005) [39]
Ngược lại với vi khuẩn, độc tố tụ cầu chịu nhiệt rất cao, cao hơn tất cả các độc tố của vi khuẩn khác Muốn khử độc tố tụ cầu phải đun sôi ít nhất 2 giờ Ngoài đặc tính chịu nhiệt cao, độc tố tụ cầu cũng rất bền vững với các men phân giải protein, rượu, cồn, formandehyt, clo
Trang 16- Streptococcus
Theo Nguyễn Quang Tuyên (2008) [36], thì liên cầu khuẩn có đặc điểm:
+ Hình thái: Vi khuẩn có dạng hình cầu, xếp thành chuỗi dài như dây
xích, đường kính 1 µ bắt màu gram (+), không có lông, không di động, không hình thành nha bào, không sinh giáp mô
+ Đặc tính sinh hóa : Lên men đường glucoza, lactoza, saccaroza,
salixin, trehaloza Không lên men đường mannit, ilulin, rafinoza, dunxit, sorbit, glyxerin Các phản ứng sinh indol, H2S, catalaza đều âm tính
chất Ở nhiệt độ 700C chết trong 30 - 45 phút, 1000C chết trong 1 phút Các chất sát trùng thông thường đều tiêu diệt được liên cầu
+ Đặc tính nuôi cấy: Là loại vi khuẩn sống hiếu khí hay yếm khí không bắt buộc, mọc tốt ở tất cả các môi trường, nhiệt độ thích hợp 370C
Liên cầu khuẩn phát triển tốt hơn ở điều kiện khí trường có thêm CO2, Nhiệt độ thích hợp là 370C, một số phát triển được ở 10 - 400C như liên cầu đường ruột (Đoàn Thị Nguyện, 2009) [24]
Nguyễn Như Thanh và cs (2001) [30] cho biết: Bình thường vi khuẩn tồn tại trên niêm mạc, da của động vật khi có các tác nhân gây bệnh đóng
vai trò là “người mở đường” thì Streptococcus sẽ trỗi dậy gây bệnh cục bộ
hay toàn thân đối với cơ thể động vật Liên cầu còn tiết nội độc tố, ngoại độc tố và một số enzym
- Diplococcus pneumonia
Trần Cẩm Vân (2005) [37] cho rằng Diplococcus pneumonia có các đặc điểm:
- Hình thái cấu tạo: Là vi khuẩn có hình cầu, một đầu nhọn như ngọn
nến, thường đứng thành đôi ít khi đứng riêng lẻ, bắt màu gram (+), hình thành
giáp mô, không di động, không hình thành nha bào
Trang 17- Tính chất nuôi cấy: Khó nuôi cấy ở môi trường thông thường, mọc tốt trên các môi trường nhiều dinh dưỡng, môi trường bổ sung huyết thanh, máu, dịch mô, glyxerin Phát triển tốt ở nhiệt độ 370C, pH = 7,2 - 7,6
- Sứ c đề kháng: Diplococcus pneumoniae dễ bị tiêu diệt bởi nhiệt độ và
các chất sát trùng thông thường Ở nhiệt độ 600C vi khuẩn bị tiêu diệt trong
10 phút Nhưng lại chịu đựng được nhiệt độ thấp
Theo Nguyễn Quang Tuyên (2008) [36] trong tự nhiên song cầu khuẩn viêm phổi gây bệnh chủ yếu cho động vật non như: Bê, nghé, dê, cừu, lợn mới sinh được vài ngày tuổi…nhưng cũng có thể gây bệnh cho động vật trưởng thành Vi khuẩn gây bại huyết, viêm phổi, viêm dạ dày và ruột cho gia súc
Trong phòng thí nghiệm: Thỏ, chuột bạch dễ cảm nhiễm với song cầu khuẩn, sau khi tiêm vi khuẩn vào xoang phúc mạc hoặc dưới da, chuột bạch chết sau 12 - 30 giờ, thỏ chết sau 2 - 3 ngày, có bệnh tích bại huyết
- Haemophylus influenzae
Là vi khuẩn đa hình thái, nhuộm bắt màu Gram (–), không có lông, không di động, có thể có vỏ, không sinh nha bào Nuôi cấy phải ở môi trường giàu dinh dưỡng, trong môi trường cần có máu vi khuẩn mới mọc được, CO2
từ 5 - 10% (Cao Văn Thu, 2008) [33]
Đoàn Thị Nguyện (2009) [24] cho biết: Haemophylus influenzae là loại
vi khuẩn chịu đựng rất kém với các yếu tố ngoại cảnh Trong bệnh phẩm, chúng chết nhanh chóng nếu để ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp, để khô hoặc lạnh giá Các chất sát khuẩn thông thường tiêu diệt vi khuẩn này một cách dễ dàng
Haemophylus influenzae có nhiều trong tự nhiên, người ta thấy rằng vi
khuẩn này là một trong những nguyên nhân gây nhiễm khuẩn kế phát của đường hô hấp như: Viêm phổi, viêm phế quản, cúm lợn… còn bản thân vi khuẩn này không có khả năng gây bệnh
Trang 18- Mycoplasma
Theo Trần Huy Toản (2009) [34] thì Mycoplasma có đặc điểm sau:
+ Hình thái: Rất đa dạng (hình thoi, hình gậy ngắn hoặc hình cầu), nó thay đổi tùy thuộc vào tuổi canh trùng và các yếu tố môi trường
+ Đặc tính nuôi cấy: Mycoplasma nuôi cấy rất khó vì nó đòi hỏi chất
lượng môi trường khá cao, khuẩn lạc của nó có hình trứng ốp nếp
Mycoplasma có thể nuôi cấy được trên những môi trường có hoặc không có tế
bào sống, trên phôi gà
+ Sức đề kháng: Tương đối bền vững khi dùng phương pháp đông băng, bị tiêu diệt ở nhiệt độ 45 - 550C trong 15 phút Chúng mẫn cảm với sự khô cạn, với tia tử ngoại và những chất sát trùng
Tất cả các loài Mycoplasma đề kháng với penicillin
+ Tính gây bệnh:
Mycoplasma hyopneumoniae cư trú ở phổi lợn, khi thời tiết thay đổi
hoặc khi điều kiện vệ sinh kém, mật độ nuôi nhốt quá chật, khi sức đề kháng
giảm thì Mycoplasma hyopneumoniae tăng độc lực gây bệnh
Đặng Xuân Bình và Đặng Thị Mai Lan (2011) [2] cho biết: Mycoplasma
hyopneumoniae là nguyên nhân chủ yếu gây bệnh đường hô hấp trong chăn nuôi
lợn công nghiệp
* Virus
- Virus PRRS
Nguyễn Quang Tuyên (2008) [36] cho biết virus PRRS có đặc điểm:
này có khối lượng khoảng 15.1kb và chứa nhân nucleocapsid, kích thước 25
-35 nm, trên bề mặt có những gai nhô ra rõ Virus PRRS có dạng hình cầu, kích thước 45 - 80 nm và có cấu trúc vỏ bọc
Trang 19+ Sứ c đề kháng : Nhiệt độ ảnh hưởng tới sự tồn tại của virus PRRS, virus ổn định trong thời gian dài nhiều tháng tới nhiều năm ở nhiệt độ -200C đến -700C, nhưng mất khả năng gây nhiễm 90% ở nhiệt độ 40
C trong vòng 1 tuần Khả năng lây nhiễm của virus tồn tại ở 20 - 210C trong 1 - 6 ngày; ở nhiệt độ 370C trong 3 - 24 giờ và ở 560C trong 6 - 20 phút
Virus tồn tại và ổn định trong môi trường có pH = 6,5 - 7,5 nhưng khả năng lây nhiễm sẽ mất đi nhanh chóng ở pH < 6,0 và >7,5 Virus bị diệt dưới ánh sáng mặt trời, trong dung môi hòa tan chất béo như: Chloroform hay ete
+ Đặc tính sinh hóa: Virus có thể nhân lên trong môi tường tế bào phổi
lợn, biểu mô khí quản, tim, thận, tủy xương
+ Tính gây bệnh : Virus có trong dịch mũi, nước bọt, phân, nước tiểu
của lợn ốm hoặc mang trùng và phát tán ra môi trường Chúng có khả năng phân tán thông qua các hình thức như vận chuyển lợn mang trùng theo gió có thể đi xa tới 3km, bụi, nước bọt, dụng cụ chăn nuôi, tinh dịch lợn và có thể do một số loài chim hoang dã
- Pneumonia of big virus
+ Hình thái: Virus có hình bầu dục, kích thước 100 - 140 nm
+ Môi trường tế bào: Virus có thể nhân lên trong môi trường tổ chức
sống có tế bào thận lợn, tế bào phôi thai gà, phôi thai lợn
+ Sức đề kháng: Virus có sức đề kháng kém với ngoại cảnh, tồn tại
ngoài môi trường không quá 36 giờ, sống được 7 ngày trong tủ lạnh từ 1 -
40C Các chất sát trùng thông thường diệt được virus như NaOH nồng độ 0,2% diệt virus trong 25 phút, 1% trong 10 phút
+ Tính gây bệnh: Virus gây bệnh cho mọi giống lợn, kể cả lợn rừng
Biểu hiện bằng bệnh tích viêm phổi và màng dịch phổi có dịch bài xuất, vách ngăn các thùy sưng to, có triệu chứng thở khó, thở nhanh, chảy nước mũi đặc,
ho, sốt 40 - 420C, viêm khớp xương… (Nguyễn Quang Tuyên, 2008) [36]
Trang 20* Ký sinh trùng
- Metastronggylus (giun phổi lợn) ký sinh ở khí quản và nhánh khí
quản của lợn
Triệu chứng của bệnh: Con vật gầy còm suy dinh dưỡng, hiện tượng ho
rõ nhất vào buổi sáng sớm và buổi tối, giai đoạn đầu con vật ăn uống bình thường nhưng gầy dần, giai đoạn sau ăn ít, khó thở và chết
- Ấu trùng giun đũa lợn Ascaris suum trong giai đoạn di hành qua phổi
Triệu chứng của bệnh: Con vật ho, gầy còm, lông xù, chậm lớn
2.1.5 Một số bệnh hô hấp thường gặp ở lợn
2.1.5.1 Bệnh tụ huyết trùng lợn
Bệnh tụ huyết trùng lợn là một bệnh truyền nhiễm cấp tính sảy ra ở lợn
Bệnh do vi khuẩn Pasteurella multocida gây ra, đặc điểm của bệnh là viêm
phổi, màng tim và bại huyết (Nguyễn Bá Hiên và cs, 2008) [9]
Theo Nguyễn Bá Hiên và Nguyễn Minh Tâm (2007) [8]: Bệnh tụ huyết trùng thường sảy ra vào mùa nóng ẩm, mùa mưa, khí hậu thay đổi đột ngột hoặc do điều kiện vệ sinh chăm sóc kém Những yếu tố này làm sức đề kháng của con vật giảm sút tạo điều kiện cho vi khuẩn tụ huyết trùng có sẵn trong cơ thể hoặc từ ngoài xâm nhập vào gây bệnh
Vi khuẩn có thể vào cơ thể qua đường tiêu hóa, hô hấp hay vết thương
hở ngoài da (Trần Văn Bình, 2008) [4]
Nguyễn Bá Hiên và cs (2012) [10] cho rằng: Pasteurella multocida
thường gây bệnh tụ huyết trùng cho lợn ở 3 thể:
- Thể cấp tính: Thường xảy ra ở thời kỳ đầu của ổ dịch Xuất hiện các
triệu chứng nhiễm trùng huyết, sốt cao 42,20C, khó thở, thở thể bụng, mệt mỏi, ủ rũ, tím tái ở vùng bụng - tai - bẹn Tỷ lệ chết cao (5 - 40%)
- Thể á cấp tính: Thể này thường do các chủng gây viêm màng phổi gây
ra, phổ biến ở lợn trưởng thành hoặc lợn vỗ béo ở giai đoạn cuối Lợn có biểu hiện ho, thở thể bụng
Trang 21- Thể mãn tính: Bệnh thường xảy ra ở lợn từ 10 - 16 tuần tuổi Đặc
trưng của bệnh là hiện tượng ho, thở mạnh, sốt nhẹ hoặc sốt không điển hình
Bệnh tích của lợn mắc bệnh tụ huyết trùng: vùng dưới da có tụ máu và keo nhầy, phổi bị xung huyết hoặc viêm nặng có màu vân đá hoa Xoang ngực, xoang bao tim tích nước màu vàng, thanh quản, phế quản xuất huyết, có dịch màu đỏ Tim, gan, thận, lách sưng to, xuất huyết (Nguyễn Văn Thanh, 2004) [31]
Lê Hồng Mận (2008) [22] cho rằng: Vi khuẩn Pasteurella multocida có
nhiều chủng chống lại các thuốc kháng sinh nên cần làm kháng sinh đồ để có hiệu quả điều trị và điều trị sớm
2.1.5.2 Bệnh suyễn lợn
Nguyễn Bá Hiên và cs (2008) [9] cho biết: Bệnh suyễn lợn hay còn gọi
là dịch viêm phổi địa phương của lợn là một bệnh truyền nhiễm thường ở thể
mãn tính và lưu hành ở một địa phương do Mycoplasma hyopneumonia gây ra
với đặc điểm là chứng viêm phế quản - phổi tiến triển chậm
Theo Trần Văn Bình (2008) [4] thì lợn ở các lứa tuổi đều mắc bệnh nhưng lợn con từ 1 - 3 tháng tuổi có tỷ lệ mắc cao nhất, đặc biệt là lợn con vừa cai sữa Tiếp theo là lợn nái đang có chửa sắp đẻ và cho con bú Lợn thịt
vỗ béo ít mắc hơn
Bệnh tích chủ yếu tập trung chủ yếu ở phổi Sau 4 - 5 ngày nhiễm bệnh hiện tượng viêm phổi từ thùy tim lan sang thùy nhọn, thùy đỉnh ở phía trước và thùy hoành ở phía sau Lúc đầu xuất hiện chỉ là những chấm viêm đỏ hoặc xám rồi to dần ra, tập lại thành vùng rộng lớn (Nguyễn Bá Hiên và Nguyễn Minh Tâm, 2007) [8]
2.1.5.3 Bệnh do Hemophillus parasuis
Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [15] cho rằng: Vi khuẩn Hemophillus
parasuis là tác nhân gây bệnh viêm đường hô hấp cho lợn Vi khuẩn gồm 4
nhóm A, B, C, D và mỗi nhóm lại có một số chủng, vi khuẩn thuộc type II (nhóm B) có độc lực cao gây bệnh cho lợn là chủ yếu
Trang 22Bệnh gây viêm thanh dịch và viêm khớp ở lợn con, có khả năng lây lan
và gây hại cho nghành chăn nuôi lợn Tỷ lệ mắc bệnh trong đàn trong những
năm gần đây ngày càng tăng
Theo Nguyễn Bá Hiên và cs (2012) [10] bệnh do Hemophillus parasuis
gây ra ở lợn với 2 thể:
- Thể cấp tính: Thời gian nung bệnh vài ngày Lợn bị sốt cao, bỏ ăn, lười vận động Tiếp đó là hiện tượng khó thở, đau đớn, khớp sưng, què, run rẩy Lợn nái mang thai có thể bị sảy, lợn đực thường bị què
- Thể mãn tính: Lợn con theo mẹ thường mắc bệnh ở thể mãn tính với
tỷ lệ mắc 10 - 15% trong một đàn Lợn nhợt nhạt, giảm khả năng tăng trọng Ngoài ra, con vật có biểu hiện ho, khó thở, què, lông dựng
2.1.5.4 Bệnh viêm màng phổi và phổi ở lợn
Nguyễn Bá Hiên và cs (2012) [10] cho rằng: Bệnh viêm màng phổi và
phổi xảy ra do vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumonia Lợn bị bệnh thường
có triệu chứng viêm phế quản, sau đó đến phổi và màng phổi
Bệnh xảy ra phổ biến ở mọi lứa tuổi, nhưng thường nhiễm ở lợn từ 2 - 6 tháng tuổi, đôi khi gây xuất huyết trên lợn nái và lợn hậu bị
Triệu chứng của bệnh thay đổi tùy thuộc lứa tuổi, sức đề kháng của cơ thể, điều kiện môi trường và mức độ mẫn cảm với các mầm bệnh truyền nhiễm
- Thể quá cấp tính: Lợn khó thở, tần số mạch nhanh Da vùng mũi, tai, chân và sau đó toàn cơ thể có màu tím xanh Lợn chết nhanh chóng trong vòng 24 - 36 giờ
- Thể cấp tính: Có nhiều lợn trong cùng một chuồng hoặc các chuồng khác nhau bị sốt cao (40,5 - 410C), da có nốt đỏ, lợn bỏ ăn, lười vận động, lười uống nước Lợn có triệu chứng hô hấp như khó thở, ho, đôi khi phải há mồm ra để thở
- Thể mãn tính: Lợn thường không sốt hoặc sốt nhẹ, ho liên tục hoặc ho ngắt quãng Lợn bỏ ăn, khả năng tăng trọng giảm
Trang 232.1.5.5 Bệnh cúm lợn
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [15], thì bệnh cúm lợn là một bệnh truyền nhiễm cấp tính đặc trưng trên đường hô hấp gây ra do virus cúm A,
H1N1, H3N2, H1N2 gây ra Trong môi trường tự nhiên, virus cúm có thể tồn tại
Trương Lăng và Xuân Giao (2002) [17] cho rằng: Để điều trị bệnh cúm lợn dùng hỗn hợp penicillin và streptomycin với liều cao, tiêm cách nhau 4 giờ một lần
2.1.5.6 Bệnh rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn
Bệnh rối loạn sinh sản và hô hấp trên lợn (PRRS: Porcine reproductive
respiratory syndrome) do virus thuộc họ Arteriviridae gây ra, ảnh hưởng trên
heo ở mọi lứa tuổi Bệnh gây sảy thai, lợn nái chậm lên giống lại, lợn con còi cọc chậm lớn Đặc biệt những biểu hiện hô hấp trầm trọng trên heo con theo
mẹ và sau cai sữa (Nguyễn Bá Hiên và cs, 2012) [10]
Theo Đào Lệ Hằng và cs (2008) [5] triệu chứng của bệnh PRRS ở đàn lợn phụ thuộc vào độc lực, các chủng gây bệnh, trạng thái miễn dịch của bệnh súc và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng Thời gian ủ bệnh 3 - 5 ngày Bệnh lan
Trang 24rất nhanh, trong vòng vài ba ngày cả đàn đã bị bệnh, 1 - 2 tuần lây nhiễm cả vùng Biểu hiện cả đàn bỏ ăn, sốt cao liên tục (41 - 420C), da đỏ, nằm li bì, lười vận động, tím dái tai
Nguyễn Bá Hiên và cs (2012) [10] cho biết, lợn mắc bệnh PRRS có triệu chứng:
- Ở lợn theo mẹ có thể gây bệnh hô hấp nhẹ, bỏ ăn, hắt hơi, tăng tần số
hô hấp, thở há mõm, có vết xanh tím ở tai Mặt có thể bị phù, viêm kết mạc, phù thũng mí mắt, có thể bị chảy máu ở rốn, phân có thể màu nâu hoặc xám (do xuất huyết ruột) Ở lợn cai sữa, phát triển không đồng đều trong đàn Biểu hiện lâm sàng chủ yếu trên lợn lứa tuổi này là ho, đặc biệt là giai đoạn từ 40 -
50 ngày tuổi
- Lợn trưởng thành biểu hiện lâm sàng không rõ, lợn nái rối loạn sinh sản kéo dài có biểu hiện sảy thai cuối kỳ (2 - 3 tuần trước khi đẻ), nhiều lợn con sơ sinh chết hoặc chết khô
- Ở lợn nái, trong tháng đầu tiên khi bị nhiễm virus lợn biếng ăn từ 7 -
14 ngày Sốt 39 - 400C Sảy thai thường vào giai đoạn cuối, bị đẻ non, động dục giả Lợn ho và có dấu hiệu của viêm phổi
- Ở lợn đực giống, con vật bỏ ăn, sốt, đờ đẫn hoặc hôn mê, có triệu chứng hô hấp, giảm hưng phấn hoặc mất tính dục Lượng tinh dịch ít, chất lượng tinh kém và cho lợn sinh ra nhỏ
Trương Lăng và Xuân Giao (2002) [17] cho rằng: Đặc điểm là lợn con, lợn choai bị bệnh phần lớn tai bị xanh từng đám giống nốt chấm nên còn gọi
là “ bệnh lợn tai xanh”
2.1.5.7 Ký sinh trùng đường hô hấp
* Bệnh giun phổi lợn:
Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [12] cho biết: Bệnh do 3 loài giun tròn
Metastrongylus elongatus, Metastrongylus pudendotectus, Metastrongylus salmi thuộc họ Metastrongylidae gây ra
Trang 25- Hình thái căn bệnh: Cơ thể hình sợi chỉ, mảnh và dài, màu trắng hoặc trắng ngà, túi miệng nhỏ, đầu có 2 môi chia thành 3 thùy Giun cái đẻ trứng
có ấu trùng, âm hộ gần hậu môn và có nắp âm hộ
- Tác động: Ấu trùng di hành phá hoại thành ruột, hạch lâm ba, mạch máu và tổ chức phổi, mang vi khuẩn vào các tổ chức đó Giun tiết độc tố, độc
tố hấp thu vào máu làm lợn trúng độc
- Triệu chứng: Khi bị nhẹ triệu chứng không rõ Khi bị nặng con vật
gầy còm, suy dinh dưỡng, ho Hiện tượng ho rõ nhất vào buổi sáng sớm và buổi tối Giai đoạn đầu con vật vẫn ăn bình thường nhưng gầy dần, giai đoạn cuối ăn ít hoặc bỏ ăn, mệt mỏi
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [16] bệnh tích của bệnh là: Phổi có đốm trắng, nhất là ở rìa ngoài, cắt ra có nhiều giun ở trong phế quản, nhiều thùy phổi trở nên cứng và dai do mất cấu tạo xốp, giun vít chặt các khí quản, giun cuộn dày, niêm dịch và các chất thẩm xuất tạo thành chất quánh có màu vàng sẫm hoặc biến thành màu đen
* Ấu trùng giun đũa lợn Ascaris suum:
Ấu trùng Ascaris suum di hành gây tổn thương nhiều khí quản và mở đường
cho vi khuẩn xâm nhập và gây bệnh kế phát như: Gây xuất huyết và thoái hóa gan, gây viêm phổi, nhiều khí quản khác cũng bị tổn thương (Phan Lục, 2006) [19]
Nguyễn Kim Lan (2012) [12] cho biết: Ấu trùng giun đũa lợn Ascaris suum
trong giai đoạn di hành qua phổi làm cho con vật ho, gầy còm, lông xù, chậm lớn
Trang 26kỹ trước khi nhập đàn Đối với đực giống, cần phải kiểm tra chặt chẽ hơn: Kiểm tra lại dịch, nguồn gốc, nhốt riêng ít nhất hai tháng, hàng ngày theo dõi triệu chứng hô hấp sao cho đảm bảo mới đưa vào sử dụng
Nuôi dưỡng, chăm sóc tốt cho đàn lợn đảm bảo khẩu phần ăn đầy đủ dinh dưỡng, nhằm nâng cao sức đề kháng của chúng với bệnh dịch
Thường xuyên theo dõi đàn lợn, phát hiện sớm lợn có biểu hiện lâm sàng, cách ly điều trị kịp thời hoặc xử lý để tránh lây nhiễm bệnh trong đàn
Thực hiện vệ sinh chuồng trại và môi trường chăn nuôi lợn, định kỳ phun thuốc sát trùng: kiểm soát nồng độ NH3, CO2 trong chuồng nuôi Đảm bảo chuồng trại kín, ấm vào mùa đông và thoáng mát, khô sạch vào mùa hè, mật độ nuôi nhốt vừa phải
Tiêm các loại vaccine phòng bệnh hội chứng bệnh đường hô hấp như: vaccine suyễn, vaccine phòng bệnh viêm phổi - màng phổi… góp phần tích cực trong công tác phòng bệnh
* Phòng bệnh khi có dịch
Theo Nguyễn Bá Hiên và cs (2008) [9], (2012) [10], Nguyễn Vĩnh Phước (1978) [29] thì bệnh này phải sử dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp mới đạt hiệu quả cao trong việc phòng trừ dịch bệnh, tạo cho con vật sức đề kháng tốt, sinh trưởng, phát triển nhanh
Có chuồng cách ly để nuôi dưỡng những lợn mới nhập hoặc những lợn ốm
Định kỳ sát trùng, tiêu độc chuồng trại, phân rác, dụng cụ chăn nuôi bằng nước vôi 20%, NaOH 10%, crizin 5 - 10%, formon 5%, rắc vôi bột xung quanh chuồng trại
Chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn tốt, cho thức ăn tốt, đủ protein, vitamin
và muối khoáng, có thể trộn thêm kháng sinh oreomicin, tetramycin vào thức
ăn để phòng bệnh
Trang 272.1.6.2 Điều trị bệnh
Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2005) [20] cho biết, hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại thuốc kháng sinh dùng để điều trị bệnh đường hô hấp, có thể sử dụng một trong các loại thuốc kháng sinh sau:
+ Tiamulin 10% chứa tiamulin hydrogen fumarate tiêm với liều 1ml/10kg TT
+ Tylosin 20% chứa tylosin tartrate tiêm với liều 0,5 - 1ml/10kg TT + Lincomycin 10% chứa lincomycin tiêm với liều 1ml/ 10kg TT
+ Linspec 5/10 chứa lincomycin và spectinomycin tiêm với liều 1ml/ 10kg TT
+ Sun - Tylan, tiêm bắp thi ̣t thuốc có t ác dụng kéo dài 60h, nếu trường hợp bê ̣nh nă ̣ng tiêm 1 lần/ngày
+ Bio Genta - Tylosin, tiêm bắp, liều 1ml/20 kg thể trọng, dùng liên tục 3 - 5 ngày
- Ngoài ra kết hợp với các loại thuốc trợ sức, trợ lực nhằm tăng cường sức đề kháng: Cafein, vitamin C, B.complex,…và thuốc điều trị triệu trứng như: Bromhexan, diclofenac
Theo Trương Lăng và Xuân Giao (2006) [18] còn có thể sử dụng một trong các kháng sinh sau để điều trị lợn mắc bệnh đường hô hấp gồm: Rifampicin, ceftazidin và ciprofloxacin
Nếu lợn ho do giun phổi hoặc ấu trùng giun tròn thì có thể dùng một trong các loại thuốc sau: Hanmectin 25% hoặc levamisol 7,5% tiêm dưới da hoặc menbendazol cho uống
2.1.7 Như ̃ng hiểu biết về thuốc sử dụng trong các phác đ ồ điều trị
Chúng tôi sử dụng hai loại thuốc là tulavitryl và tylosin – 50
* Thuốc tulavitryl
- Thành phần: Trong mỗi ml chứa:
Tulathromycin 100mg
Monothioglycerol 5mg
Trang 28- Tác dụng:
Trâu, bò: Điều trị và phòng bệnh đường hô hấp gây ra bởi các vi khuẩn:
Mannheimia haemolytica, Pasteurella multocida, Histophilus somni và Mycoplasma bovis nhạy cảm với tulathromycin
Viêm kết giác mạc do vi khuẩn Moraxella bovis nhạy cảm với
tulathromycin gây ra
Lợn: Điều trị và phòng bệnh đường hô hấp gây ra bởi các vi khuẩn:
Actinobacillus pleuropneumoniae, Pasteurella multocida, Mycoplasma hyopneumoniae và Hemophilus parasuis nhạy cảm với Tulathromycin
Gia súc: Viêm phổi - phế, suyễn Viêm bao khớp, khớp Viêm dạ con,
bệnh lepto, lỵ, viêm teo mũi truyền nhiễm và các bệnh gây bởi Mycoplasma
Trang 292.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Clifton - Harlley và cs (1986) [38] đã nghiên cứu và xác định được vi
khuẩn Streptococcus suis luôn có mặt trong hạch amidan và xoang mũi của
lợn khỏe mà không có triệu chứng lâm sàng, nhưng chúng là một trong những
tác nhân gây bệnh ở lợn khi có điều kiện thuận lợi Bệnh do Streptococcus
suis gây ra có thể phát sinh dịch bệnh vào đầu mùa xuân hoặc sau những thay
đổi thời tiết đột ngột Streptococcus suis là những nguyên nhân của những ổ
dịch nhiễm trùng huyết, viêm não, viêm khớp, viêm hạch dưới hàm Bên cạnh
đó Streptococcus suis có liên quan đến viêm não tủy, viêm phế quản phổi,
viêm màng bao tim, viêm âm đạo
Theo Herenda.D và cs (1994) [7] thì viêm phổi là hiện tượng viêm do
vi khuẩn, virus, nấm, ký sinh trùng hoặc các tác nhân vật lý và hoá học gây ra
Nó thường kèm với viêm phế quản, viêm phế nang và viêm màng phổi Vì thế thuật ngữ “viêm phổi - phế quản” thường được sử dụng để chỉ bệnh này Ở
lợn, bệnh viêm phổi địa phương do Mycoplasma hyopneumoniae và viêm phổi màng phổi do Haemophilus pleuropneumoniae là hay gặp nhất
Laval.A (2000) [13] nghiên cứu thấy vi khuẩn có thể truyền từ lợn mẹ sang lợn con qua đường hô hấp và từ lợn con sang lợn con khác khi tách đàn để