Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh sản và đánh giá hiệu quả dùng vaccine trong phòng bệnh cho gà Cáy Củm sinh sản. (Khóa luận tốt nghiệp)Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh sản và đánh giá hiệu quả dùng vaccine trong phòng bệnh cho gà Cáy Củm sinh sản. (Khóa luận tốt nghiệp)Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh sản và đánh giá hiệu quả dùng vaccine trong phòng bệnh cho gà Cáy Củm sinh sản. (Khóa luận tốt nghiệp)Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh sản và đánh giá hiệu quả dùng vaccine trong phòng bệnh cho gà Cáy Củm sinh sản. (Khóa luận tốt nghiệp)Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh sản và đánh giá hiệu quả dùng vaccine trong phòng bệnh cho gà Cáy Củm sinh sản. (Khóa luận tốt nghiệp)Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh sản và đánh giá hiệu quả dùng vaccine trong phòng bệnh cho gà Cáy Củm sinh sản. (Khóa luận tốt nghiệp)Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh sản và đánh giá hiệu quả dùng vaccine trong phòng bệnh cho gà Cáy Củm sinh sản. (Khóa luận tốt nghiệp)Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh sản và đánh giá hiệu quả dùng vaccine trong phòng bệnh cho gà Cáy Củm sinh sản. (Khóa luận tốt nghiệp)
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2011 - 2016
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Lớp: K43 -TY - N01 Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2011 - 2016 Giảng viên hướng dẫn: TS Bùi Thị Thơm
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau hơn 4 năm học tập, rèn luyện tại trường và thực tập tốt nghiệp tại cơ sở, nay em đã hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp
Nhân dịp này em xin bày tỏ lòng biết ơn sự kính trọng sâu sắc tới:
Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Cùng tập thể các thầy, cô giáo Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện cho em hoàn thành bản khóa luận này
Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm của TS Bùi Thị Thơm
trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp này
Trong quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, do thời gian có hạn và kiến thức cũng như kinh nghiệm của bản thân còn hạn chế nên bài khóa luận của em không tránh khỏi những thiếu sót, em kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy, cô giáo và các bạn để bài khóa luận được hoàn thiện hơn
Ngày tháng 12 năm 2015
Sinh viên
Vy Thị Luyến
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Bố trí thí nghiệm 22
Bảng 4.1 Chế độ chiếu sáng cho đàn gà 31
Bảng 4.2 Lịch phòng vaccine cho gà 32
Bảng 4.3 Kết quả công tác tiêm phòng 33
Bảng 4.4a Kết quả công tác điều trị bệnh lô 1 38
Bảng 4.4b Kết quả công tác điều trị bệnh lô 2 38
Bảng 4.5 Tổng hợp kết quả công tác phục vụ sản xuất 39
Bảng 4.6 Kích thước các chiều đo của gà Cáy Củm sinh sản (cm) 39
Bảng 4.7 Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm 40
Bảng 4.8 Khối lượng của gà thí nghiệm qua các giai đoạn tuổi (g) 42
Bảng 4.9 Kết quả các chỉ tiêu sinh sản của gà TN 43
Bảng 4.10 Kết quả chi phí thức ăn của gà thí nghiệm 44
Bảng 4.11 Đặc điểm sinh học về khả năng sinh sản của gà Cáy Củm 44
Bảng 4.12 Kết quả tình hình mắc bệnh của gà Cáy Củm 45
Bảng 4.13 Kết quả sử dụng thuốc điều trị bệnh cho gà Cáy Củm 46
Trang 6MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
2.1 Cơ sở khoa học và pháp lý của đề tài 3
2.1.1 Đặc điểm về giống gà 3
2.1.2 Giới thiệu về giống gà Cáy Củm 4
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của gà 10
2.1.4 Một số bệnh thường gặp 11
2.2 Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước 17
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 17
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 19
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 21
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 21
3.3 Nội dung nghiên cứu 21
3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 21
3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 21
3.4.2 Các chỉ tiêu theo dõi 23
3.4.3 Phương pháp xác định các chỉ tiêu 24
3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 26
Trang 7Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 28
4.1 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 28
4.1.1 Công tác giống 28
4.1.2 Công tác chăm sóc, nuôi dưỡng đàn gà 28
4.1.3 Công tác thú y 31
4.1.4 Kết quả công tác khác 39
4.2 Kết quả nghiên cứu 39
4.2.1 Kết quả về tỷ lệ nuôi sống gà thí nghiệm 39
4.2.2 Kết quả theo dõi khả năng sinh trưởng của gà Cáy Củm sinh sản 40
4.2.3 Hiệu quả sử dụng thức ăn của gà thí nghiệm 43
4.2.4 Theo dõi tình hình mắc bệnh ở gà thí nghiệm 45
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 47
5.1 Kết luận 47
5.2 Kiến nghị 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
Trang 8Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Nước ta là một nước nông nghiệp Bên cạnh trồng trọt, ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng chiếm một vị trí rất quan trọng trong nền kinh
tế quốc dân Chăn nuôi cung cấp nguồn thực phẩm quan trọng cho con người, là cung protein cho chúng ta, ngoài ra còn cung cấp một lượng lớn phân bón cho ngành trồng trọt và một số sản phẩm phụ cho ngành công nghiệp chế biến
Chính vì thế, Đảng và nhà nước ta đặc biệt quan tâm tới phát triển chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng nhằm không ngừng nâng cao năng suất, hiệu quả chăn nuôi, cải thiện đời sống nhân dân
Trong những năm gần đây, sự du nhập các giống mới, đặc biệt là các giống nhập nội có năng suất cao đã làm suy giảm nguồn gen của các giống bản địa và gây nên những tổn thất nguồn gen rất đáng tiếc trong bảo tồn đa dạng sinh học
Thực tiễn tại nước ta, việc mở rộng giao lưu, giao thông, giao thương và phát triển khá mạnh mẽ các chương trình khuyến nông đã mang đến các giống/ dòng vật nuôi mới có năng suất cao đã gây áp lực rất lớn với những giống nội địa với năng suất bị giảm dần, hoặc đang dần tuyệt chủng hoặc bị lai tạp
Gà Cáy Củm là một giống gà địa phương mới được phát hiện tại vùng sâu vùng xa của miền núi, theo người dân địa phương thì đây là giống gà không có phao câu, thịt thơm ngon nhưng lại ít người biết đến Hiện nay, giống gà này có mặt tai
xã Đức Xuân, huyện Hòa An và một vài hộ ở xã Lưu Ngọc, huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng và đang được nuôi nghiên cứu ở Thái Nguyên
Gà Cáy Củm đang ngày càng giảm dần về số lượng, còn lại rất ít được nuôi rải rác tại một số hộ dân của người dân tộc H’mông ở vùng sâu, vùng xa địa hình hẻo lánh Để chăm sóc tốt giống gà Cáy Củm, tăng số lượng giống gà này thì chúng
ta cần biết về đăc tính sinh sản của giống gà này và quy trình phòng trị bệnh cho để đạt được hiệu quả chăn nuôi tốt nhất
Trang 9Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn sản xuất, nhằm khai thác và phát triển nguồn
gen, chúng tôi nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh sản và đánh giá
hiệu quả dùng vaccine trong phòng bệnh cho gà Cáy Củm sinh sản’’
1.2 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh sản của gà Cáy Củm giai đoạn 20 - 44 tuần
tuổi tại điều kiện Thái Nguyên
- Đánh giá hiệu quả của vaccine phòng bệnh Cáy Củm giai đoạn sinh sản 1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài sẽ đóng góp vào nghiên cứu phương thức phòng trị bệnh cho gà Cáy Củm phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và tri thức bản địa của khu vực miền núi
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học cho người chăn nuôi áp dụng các phương pháp phòng trị bệnh đạt hiệu quả cao, góp phần xóa đói, giảm nghèo cho đồng bào vùng cao
Trang 10Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học và pháp lý của đề tài
2.1.1 Đặc điểm về giống ga ̀
Cơ sở nghiên cứu về giống gà:
Các tính trạng ngoại hình gia cầm bao gồm: Màu sắc lông, da, mỏ, chân, màu mắt, dái tai, kiểu mào, màu mỏ, qua đó chia ra những màu sắc và hình dạng đặc trưng cho từng giống gà, kèm theo đó là sự khác biệt giữa gà trống và gà mái với từng chỉ tiêu đó Kết quả nghiên cứu của Đặng Hữu Lanh và cộng sự, (1999) [9] cho biết màu sắc da, lông là tín hiệu để nhận dạng một số gia cầm Đây là đặc điểm quan tâm hàng đầu của người tiêu dùng khi thu mua gia cầm, nó đã đi vào khía cạnh thẩm mỹ của con người và gà ta có màu của lá chuối khô, da vàng, chân vàng sẽ được ưu tiên
Tính trạng ngoại hình còn là chỉ tiêu đánh giá phẩm giống, nếu màu lông của đàn gà có sự đồng nhất cao cho thấy giống gà đó thuần, theo đánh giá của Johansson (1972) [8] Sắc tố da, lông ở gia cầm được xác định bởi hai yếu tố Melanin và Xantophyl Xantophil là sắc tố ở dạng tinh thể màu vàng, nằm ở da, mỏ
và chân Melanin tồn tại dạng hạt, có ở da và gốc lông, sự xuất hiện của Melanin không phụ thuộc vào lứa tuổi
Đầu: Cấu tạo xương đầu được coi như có độ tin cậy cao nhất trong việc đánh giá đầu gia cầm Da mặt và các phần phụ của đầu cho phép rút ra kết luận và sự phát triển của mô đỡ và mô liên kết Gà trống có ngoại hình đầu giống gà mái sẽ có tính dục kém, gà mái có ngoại hình của gà trống sẽ không cho năng suất cao, trứng thường không phôi Mào là đặc điểm sinh dục phụ thứ cấp có thể phân biệt trống mái Mào gà có hình thái rất đa dạng cả về hình thái, kích thước, màu sắc, có thể đặc trưng cho từng giống Hình dáng của mào, mào dưới và mào tai có thể biết được sức khỏe và điều kiện sống của chúng
Bộ lông: Lông là 1 dẫn suất của da, thể hiện đặc điểm di truyền của giống và có
ý nghĩa quan trọng trong việc phân loại Khi mới nở, gia cầm non được lông tơ che phủ, trong quá trình phát triển lông tơ sẽ dần dần được thay thế bằng lông cố định
Trang 112.1.2 Giới thiệu về giống gà Cáy Củm
Gà Cáy Củm hay còn gọi là gà cúp (gà không có phao câu) Gà Cáy Củm là tên gọi theo dân tộc Tày, đây là một giống gà nội được nuôi từ rất lâu đời không rõ nguồn gốc xuất xứ từ đâu, ngoại hình, màu lông da, phẩm chất thịt thơm ngon, giòn hơn giống gà ri, mang hương vị đặc trưng, khả năng đề kháng rất cao, được người dân coi đây là giống gà quý của địa phương
Theo báo Tiền phong, 2014 [1]: Gà Cáy Củm đã được nuôi từ lâu đời tại xã Đức Xuân và Ngũ Lão (huyện Hòa An) và xã Lưu Ngọc (huyện Trà Lĩnh, Cao Bằng) và rải rác tại một số xã thuộc huyện Hoàng Su Phì (Hà Giang), từng được dùng cúng lễ cầu may mắn và là vật linh thiêng trong nhà người H’Mông Hiện nay, giống gà này giảm số lượng và chỉ được nuôi xen kẽ rất ít ở các hộ người H’Mông,
vì theo quan niệm của người địa phương, những ngày giỗ, tết phải ăn và biếu bố mẹ
gà trống thiến to béo Gà Cáy Củm không đạt yếu tố thẩm mỹ
- Đặc điểm ngoại hình và tập tính
+ Ngoại hình
- Lông: 15 Màu sắc của lông đa dạng giống gà Ri: Màu lông nâu, xám, hoa
mơ, vàng có sọc đen, ánh xanh cánh sả, đen… Lông mượt và nhiều Lúc mới nở và còn nhỏ con trống và con mái có màu lông giống nhau Khi trưởng thành:
+ Con trống: Màu lông con trống rực rỡ, đẹp mắt Màu sắc lông đa dạng: Nâu đỏ, xám, nâu, đen, ánh vàng
+ Con mái: Màu nâu, xám, vàng nâu, đen Lông mềm sang có màu nâu, xám, lông trắng sọc đen
- Đặc biệt là lông đuôi cúp xuống (vì không có phao câu)
- Mào: Mào đơn, mào dâu, màu đỏ
- Tầm vóc: Tầm vóc thanh gọn, thân tương đối ngắn, chân cao vừa phải, mào
bé, xương nhỏ, lông xếp xít vào thân
- Màu mắt: Đen, nâu
- Màu dái tai: Trắng đỏ, trắng
- Màu sắc chân: Chủ yếu có màu vàng, có một số màu đen, nâu
- Phao câu: Không có
Trang 12Tuổi đẻ lứa đầu: 150 ngày
Sản lượng trứng: 13 – 16 quả/lứa, 130 – 150 quả/năm
Trọng lượng trứng: 35 – 45 gam/ quả
Vỏ trứng thường có màu trắng, một số ít có màu nâu
Khoảng cách lứa đẻ: Trung bình 20 ngày
Thời gian ấp nở: 21 ngày Tỷ lệ ấp nở là: 80%
* Khả năng sản xuất
Khái niệm sinh trưởng: Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, chiều ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở đặc tính di truyền từ thế hệ trước
“Thực chất của sinh trưởng chính là tăng trưởng và phân chia của các tế bào trong
cơ thể
Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường (1992) [11] đã khái quát: “Sinh trưởng
là quá trình tích lũy các chất hữu cơ thông qua trao đổi chất, là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể trên cơ sở tính di truyền có từ đời trước”
+ Sinh trưởng tuyệt đối: Là khối lượng, kích thước, thể tích của toàn cơ thể hay từng bộ phận cơ thể tăng lên trong một đơn vị thời gian
+Sinh trưởng tương đối: Là phần khối lượng kích thước, thể tích của toàn cơ thể hay từng bộ phận cơ thể tại thời điểm sinh trưởng sau tăng lên so với thời điểm sinh trưởng trước
Trang 13- Khái niệm phát dục: Phát dục là một quá trình thay đổi về chất lượng tức là
sự thay đổi, tăng thêm và hoàn chỉnh các tính chất, chức năng của cơ quan, bộ phận trong cơ thể, nhờ vậy vật nuôi hoàn thiện được các chức năng của cơ thể sống (Dương Mạnh Hùng, 2008) [5]
* Đặc điểm phát triển cơ quan tiêu hóa
Theo Nguyễn Duy Hoan, 1998 [4]: Tiêu hóa là quá trình phân giải các chất dinh dưỡng trong thức ăn từ những hợp chất hóa học phức tạp thành những hợp chất đơn giản mà cơ thể gia cầm có thể hấp thu và lợi dụng được
Cơ quan tiêu hóa gồm: Khoang miệng, hầu, thực quản trên, diều, thực quản dưới, dạ dày tuyến, dạ dày cơ, ruột non, manh tràng, trực tràng và lỗ huyệt, đồng thời có sự tham gia của gan và tụy
Gà không có môi và răng, hàm ở dạng mỏ chỉ có vai trò lấy thức ăn chứ không có tác dụng nghiền nhỏ Mỏ chia làm 3 phần: Đầu mỏ, thân mỏ và gốc mỏ
Hầu ở giữa khoang miệng và thực quản trên Khoang mũi và miệng thông về phía hầu, phía trước hầu có khe hô hấp của thanh quản
Thực quản chia làm 2 phần: Phần trên bắt đầu từ hầu và tận cùng là ở diều, phần dưới từ diều đến dạ dày tuyến Thực quản có dạng ống, đường kính gà trưởng thành khoảng 7 - 9 mm
Diều là khoảng mở rộng của thực quản ở khoang ngực Diều được hình thành trong quá trình phát triển tiến hóa của ống tiêu hóa để dự trữ và chuẩn bị tiêu hóa thức ăn
Dạ dày gồm hai phần là dạ dày cơ và dạ dày tuyến
Dạ dày cơ có dạng như hai chiếc đĩa nhỏ úp vào nhau và có thành rất dày, có màu đỏ thẫm Dạ dày tuyến giống như cái bao túi
Ruột chiều dài của ruột phụ thuộc vào loài, tuổi và đặc điểm thức ăn Chiều dài là 170 cm gấp 6 lần chiều dài của thân Ruột được chia làm 2 phần: Ruột non và ruột già
Trong phần ruột non gồm: Tá tràng, ruột non và hồi tràng Ở khoảng giữa phần ruột non có mấu vàng thô sơ phân chia ruột non với hồi tràng Phần ruột già có
Trang 14manh tràng và trực tràng Ruột già không phát triển, nó do trực tràng thô ngắn và hai manh tràng đổ vào đoạn đầu trực tràng tạo thành Trực tràng thông ra lỗ huyệt
Tuyến tụy nằm ở đoạn vòng tá tràng có dạng dải và màu vàng
Gan là một trong những tuyến to nhất, gan gà nặng 30 - 40 g Gan tiết ra dịch mật đổ vào tá tràng, gan thực hiện chức năng bảo vệ: Tiêu các chất độc xuất hiện trong máu từ ruột vào dạ dày Ở giai đoạn bào thai, gan thực hiện chức năng tạo máu Gan nằm sau tim, có màu xám hoặc màu vàng
* Đặc điểm về khả năng điều tiết thân nhiệt
Gà con lúc mới nở còn rất yếu nên chúng cần phải có những điều kiện môi trường đặc biệt
Do nhiệt độ của cơ thể cao, gà con có lớp lông tơ mỏng manh và khả năng sinh nhiệt kém nên dễ mất nhiệt, giảm thân nhiệt và chết vì lạnh, vì vậy cần phải sưởi ấm cho gà con Tuần đầu tiên gà con yếu nhất, cần ấm và thoáng khí
Gà con lúc mới nở khả năng điều tiết thân nhiệt cũng chưa hoàn chỉnh, thân nhiệt còn chịu ảnh hưởng của môi trường bên ngoài Gà con có thân nhiệt thay đổi khi nhiệt độ bên ngoài xuống thấp quá dưới 150C hoặc quá cao trên 380C Do đó gà con rất ngạy cảm với sự thay đổi nhiệt độ của môi trường bên ngoài (Phạm Văn Hùng, 2004) [7]
* Đặc điểm về khả năng miễn dịch
Gà con mới nở có thân nhiệt chưa ổn định, thân nhiệt thấp hơn gà trưởng thành (380C), khả năng điều tiết thân nhiệt kém, khả năng miễn dịch cũng kém nên phải có biên pháp phòng bệnh cho gà con từ khi mới nở để tăng khả năng miễn dịch Ngay trong tuần đầu, gà con phải tập làm quen với thức ăn, nước uống và các điều kiện ngoại cảnh rất khác biệt so với môi trường máy ấp nhằm giúp gà hoàn thiện các chức năng sinh lý để chúng sinh trưởng và phát triển tốt (Lâm Minh Thuận và cộng sự, 2013) [13])
* Đặc điểm tiêu hóa
Tiêu hóa ở miệng Gia cầm tìm thức ăn chủ yếu nhờ vào thị giác và xúc giác, rất ít khi nhờ vào khứu giác và vị giác Mỏ gà cấu tạo bằng chất sừng,
Trang 15hình thoi có mép trơn và nhọn nên rất thích hợp cho việc lấy thức ăn nhỏ và xé rách khối thức ăn lớn
Khi thức ăn đi trong khoang miệng, nó được thấm ướt nước bọt để dễ nuốt Các tuyến nước bọt của gia cầm phát triển kém Động tác nuốt ở gia cầm được thực hiện nhờ chuyển động rất nhanh của lưỡi, khi đó thức ăn được chuyển rất nhanh vào vùng trên của hầu vào thực quản Thanh quản được nâng lên phía trước và lên trên, lối vào thanh quản bị ép tới đáy của xương dưới lưỡi và gốc lưỡi, ngăn không cho thức ăn rơi vào đường hô hấp Viên thức ăn thu nhận được ở cuống lưỡi được đẩy vào lỗ thực quản và sau đó, do những co bóp nhu động của thành thực quản, nó được đẩy vào diều Ở gia cầm đói, thức ăn được đẩy thẳng vào dạ dày, không qua diều Trong thành thực quản có các tuyến nhầy hình ống, tiết ra chất nhầy, cũng có tác dụng làm ướt và trơn thức ăn khi nuốt
- Tiêu hóa ở diều
Ở gà diều là một chỗ phình rộng hơn, hình túi Diều nằm bên phải, chỗ đi vào khoang ngực, ngay trước chạc ba nối liền 2 xương đòn phải trái Mặt ngoài của diều được tiếp xúc trực tiếp với cơ da, cơ này giúp cho nó giãn nở rộng khi thức ăn rơi vào Các lỗ dẫn vào và dẫn ra của diều rất gần nhau và có các cơ thắt Giữa các
cơ thắt lại có ống diều - là một phần của diều Khi gia cầm đói, thức ăn theo ống này đi thẳng vào dạ dày, không qua túi diều Ở gà, diều chứa được 100 – 120 g thức
ăn Thức ăn ở diều được làm mềm ra, quấy trộn và được tiêu hoá từng phần bởi các men của thức ăn và các vi khuẩn nằm trong thức ăn thực vật
- Tiêu hóa ở dạ dày
Thức ăn từ diều được chuyển vào dạ dày tuyến, nó có dạng ống ngắn, vách dày, được nối với dạ dày cơ bằng một eo nhỏ Vách dạ dày tuyến cấu tạo gồm màng nhày, cơ và mô liên kết Bề mặt của màng nhầy có những nếp gấp dễ thấy, đậm và liên tục
Dịch dạ dày được tiết vào trong khoang của dạ dày tuyến, có axit clohidric, enzim và musin Dịch dạ dày tinh khiết là một chất lỏng không màu hoặc hơi trắng đục,
có pH axit Độ pH của dịch dạ dày ở gia cầm trung bình là 3,0; thường là 2,6 Độ pH sẽ giảm xuống sau khi tiếp nhận thức ăn giàu chất kiềm, cacbonat canxi, bột xương
Trang 16Dạ dày cơ (mề) có dạng hình đĩa, hơi bị bóp ở hai bên, nằm ở phía sau thuỳ trái của gan và lệch về khoang bụng trái Lối vào và lối ra ở dạ dày cơ rất gần nhau, nhờ vậy, thức ăn được giữ lại tại đây lâu hơn, chúng sẽ bị nghiền nát bằng cơ học, trộn lẫn với men và được tiêu hoá dưới tác dụng của các dịch dạ dày cũng như enzim và chất tiết của vi khuẩn Dịch tiêu hoá không được tiết ra ở dạ dày cơ
Sự co bóp nhịp nhàng của mề xảy ra trong 2 pha: Trong pha đầu, 2 cơ chính
co bóp; và sau đó là các cơ trung gian (pha thứ 2) Thời gian của mỗi nhịp co của 2 đôi cơ ở gà trong khoảng 2 - 3 giây, còn cả chu kỳ co bóp là 20 giây Tần số co bóp phụ thuộc vào độ rắn của thức ăn Khi ăn thức ăn ướt có 2 lần co bóp, còn thức ăn cứng 2 - 3 lần trong 1 phút
Nếu không có sỏi trong dạ dày cơ thì sự hấp thu các chất dinh dưỡng và hệ
số tiêu hoá thức ăn bị giảm xuống Ở gia cầm non, việc thiếu sỏi trong dạ dày làm giảm khối lượng tuyệt đối của dạ dày 30 - 35% Các cơ của dạ dày sẽ trở nên nhũn
và xuất hiện những vết loét trên màng nhầy
- Tiêu hóa ở ruột:
Quá trình tiêu hoá các chất dinh dưỡng đều xảy ra ở ruột non gia cầm Nguồn các men tiêu hoá quan trọng nhất là từ dịch dạ dày, cùng với mật đi vào manh tràng, chất tiết của các tuyến ruột có ý nghĩa kém hơn
Thành ruột cũng có lớp nhung mao nhăn nheo Các tuyến tiêu hoá phân bố suốt dọc thành niêm mạc ruột
Ở tá tràng, các chất được tiêu hoá và hấp thu với tốc độ mạnh dưới tác dụng của mật, tuyến tuỵ và tuyến ruột Dịch mật được tiết ra từ gan, có màu xanh lá cây
và sánh nhầy
Tiêu hoá ở ruột già cũng có hai quá trình lên men và thối rữa Lên men xảy
ra mạnh ở manh tràng, thối rữa ở trực tràng Manh tràng gia cầm khá phát triển nên quá trình lên men tương đối mạnh, nhất là những gia cầm ăn nhiều thức ăn thực vật thô sơ Ruột của gia cầm nói chung tương đối ngắn, thức ăn lưu lại không quá một ngày đêm
Trang 17Đầu cuối của trực tràng đổ vào một xoang chung gọi là xoang tiết niệu - sinh dục Nó do bốn bộ phận thông với nhau tạo thành Trực tràng thông với bộ phận lớn nhất gọi là bộ phận đường phân
Khi thức ăn chuyển xuống đoạn cuối ruột già, nước được hấp thu mạnh, phần
bã còn lại ở trạng thái đặc, khi đi vào xoang tiết niệu sinh dục nó hỗn hợp với nước tiểu trở nên sền sệt Phân gia cầm thải ra ngoài nổi trên mặt một màu trắng hạt bã đó
là các thể urat (muối kết tinh của axit uric)
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của gà
* Các yếu tố bên trong:
- Di truyền: Di truyền là một trong những yếu tố quan trọng nhất, ảnh hưởng
đến tốc độ sinh trưởng của gia cầm Theo tài liệu tổng hợp của Chambers (1990) [16] có rất nhiều gen ảnh hưởng tới nhóm tính trạng, có gen ảnh hưởng tới một số tính trạng riêng lẻ Trong thực tế sản xuất cũng như nghiên cứu, để xác định mức độ ảnh hưởng của di truyền đến sinh trưởng của vật nuôi người ta sử dụng hệ số di truyền (h2) Tài liệu của Đặng Hữu Lanh và cộng sự (1999) [9] cho biết gà 23 tuần tuổi có hệ số di truyền và khối lượng cơ thể là 0,55; khối lượng trứnglà 0,50; sản lượng trứng là 0,10 Theo Đặng Vũ Bình (2002) [2] người ta phân chia hệ số di truyền thành 3 nhóm, hay nói cách khác là các tính trạng thường gặp có 3 mức khác nhau về hệ số di truyền:
- Các tính trạng có hệ số di truyền thấp (từ 0 - 0,2) thường bao gồm các tính trạng
về tốc độ sinh sản như tỷ lệ đẻ, tỷ lệ nuôi sống, số con đẻ ra/ lứa, sản lượng trứng
- Các tính trạng có hệ số di truyền trung bình (từ 0,2 - 0,4) thường bao gồm các tính trạng về tốc độ sinh trưởng, tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng cơ thể
- Các tính trạng có hệ số di truyền cao (từ 0,4 trở lên) thường bao gồm các tính trạng thuộc về phẩm chất sản phẩm như khối lượng trứng, tỷ lệ mỡ sữa, tỷ lệ nạc trong thân thịt
+ Giống: Khả năng sinh trưởng của gia cầm phụ thuộc vào mỗi dòng, giống
và mỗi cơ thể Trong cùng điều kiện chăn nuôi, mỗi giống khác nhau có khả năng sản xuất khác nhau Theo Nguyễn Mạnh Hùng và cs (1995) [6] thì sự khác nhau về
Trang 18khối lượng gia cầm là rất lớn, giống gà kiêm dụng nặng hơn giống gà hướng trứng 13- 30% Giống gà thịt có tốc độ sinh trưởng cao hơn giống gà kiêm dụng và gà hướng trứng Chế độ chăm sóc và điều kiện ngoại cảnh phù hợp với tính trạng sinh trưởng ở mỗi giống sẽ khác nhau
+ Tính biệt: Tốc độ sinh trưởng ở động vật nói chung và gia cầm nói riêng
còn do tính biệt quy định, trong đó con trống tốc độ sinh trưởng nhanh hơn con mái Theo nghiên cứu của các nhà di truyền học về gia cầm, thì thật sự khác nhau về khối lượng giữa con trống và con mái là do gen liên kết với giới tính quy định ở gà trống hoạt động mạnh hơn gà mái
Trần Tuấn Ngọc (dịch) (1984) [12] cho rằng: Lúc mới nở gà trống nặng hơn
gà mái 1%, tuổi càng tăng thì sai khác càng lớn Ở 8 tuần tuổi sự sai khác về khối lượng giữa gà trống và gà mái là 27%
+ Độ tuổi: Sinh trưởng của gia cầm phụ thuộc vào độ tuổi, nó tuân theo quy
luật sinh trưởng và phát dục theo giai đoạn Quy luật sinh trưởng phát dục không đồng đều và có tính chu kỳ, gia cầm non có tốc độ sinh trưởng rất cao
2.1.4 Một số bệnh thường gặp
2.1.4.1 Một số bệnh virus thường gặp
a Bệnh Newcastle
* Đặc điểm chung:
Do virus gây ra, là bệnh đặc biệt nguy hiểm ở gà Lây lan nhanh, mạnh Gây
ốm và chết nhiều gà ở mọi lứa tuổi Bệnh xảy ra quanh năm Không thể chữa bằng thuốc, chỉ có thể phòng bằng vaccine
* Đường lây lan:
Bệnh lây lan chủ yếu qua đường hô hấp và tiêu hoá Do tiếp xúc giữa gà ốm
và gà khoẻ Do bụi, gió và không khi có mầm bệnh Do phương tiện vận chuyển, thức ăn nước uống nhiễm mầm bệnh Do dụng cụ chăn nuôi thú y nhiễm mầm bệnh
Do công nhân chăn nuôi, khách thăm quan đến từ vùng có bệnh Do động vật, chim mang mầm bệnh
Trang 19* Triệu chứng (những biểu hiện bên ngoài):
Gà ủ rũ mào thâm, ăn ít, chảy nhớt dãi Diều căng, đầy hơi Khó thở kèm theo tiếng kêu “tóc - tóc” nhất là ban đêm Tiêu chảy, phân loãng có màu trắng, xanh, cứt cò Gà ốm chết nhiều Gà sống sót để lại di chứng thần kinh, nghẹo cổ, đi vòng quanh, mổ thức ăn không chính xác
* Bệnh tích (những biểu hiện bên trong):
Xuất huyết ở lỗ huyệt, thanh khí quản có nhiều dịch nhầy và xuất huyết Dạ dày tuyến xuất huyết và loét Thành ruột xuất huyết và loét hình cúc áo Van hồi manh tràng xuất huyết
+ Điều trị bệnh: Khi có bệnh Newcastle xảy ra nên làm: Báo ngay cán bộ thú
y cơ sở Dùng vaccine cho những đàn chưa mắc bệnh, bổ xung thuốc bổ tăng sức đề kháng cho đàn gà Cách ly đàn gà ốm, đốt xác gà ốm, chết hoặc chôn rồi rắc vôi bột Không bán chạy gà ốm Không được đến thăm các nơi nuôi gà khác Sát trùng chuồng nuôi, sân thả gà, dụng cụ chăn nuôi và khu vực xung quanh hàng ngày Thu dọn chất thải phân đem đốt hàng ngày Rắc vôi bột để cách ly chuồng nuôi với khu vực xung quanh và rắc ở lối ra vào chuồng nuôi Khi đã nổ bệnh có thể đưa vaccine trở lại nhưng tỷ lệ khỏi bệnh không cao
b Bệnh đậu gà
* Đặc điểm chung:
Do virus gây ra, virus có sức đề kháng cao, tồn tại lâu trong môi trường Tạo thành những mụn đậu ở những phần không có lông (mào, tích, xung quanh mắt) Gây tỷ lệ chết cao cho gà con Bệnh xảy ra quanh năm Có thể phòng bằng vaccine
Trang 20* Đường lây lan:
Chủ yếu qua các vết xây sát ở vùng da không có lông Lây trực tiếp từ gà
ốm sang gà khoẻ Do muỗi đốt truyền mầm bệnh từ con ốm sang con khoẻ
* Triệu chứng (những biểu hiện bên ngoài):
Dạng ngoài da: Mụn đậu mọc ở những vùng da không lông (mào, tích, xung quanh mắt, chân và mặt trong cánh) Mụn có màu sắc khác nhau, từ trắng trong, hồng thẫm, màu xám, sau khô dần đóng vẩy tạo thành vết xẹo màu vàmg xám Trường hợp mụn ở mắt làm cho gà bị mù
* Bệnh tích (những biểu hiện bên trong):
Dạng hầu họng: Thường xảy ra ở gà con Gây các vết loét ở miệng họng, làm cho gà khó ăn khó thở rồi chết Trong miệng và họng có lớp màng giả màu vàng xám Gà dễ bị nhiễm vi khuẩn kế phát
Bổ sung thêm vitamin, đặc biệt vitaminA Nếu bệnh nặng cần bổ xung thêm kháng sinh phòng kế phát Các chất thải của gà , độn chuồng ổ đẻ cần đốt hết Phun sát trùng tiêu độc thường xuyên trong thời gian gà bị bệnh
c Bệnh Marek
* Đặc điểm chung:
Là một bệnh truyền nhiễm do virus gây nên, gây viêm hệ thần kinh vận động, đặc biệt là thần kinh cánh, đùi, làm tăng sinh tế bào limpho hình thành các khối u ở trong cơ thể đặc biệt ở gan, lách, buồng trứng làm gà giảm và ngừng đẻ
* Đường lây lan:
Lây lan qua môi trường chuồng trại nhiễm mầm bệnh, truyền qua đường
hô hấp do hít phải lây truyền qua lông bài tiết mầm bệnh, qua dụng cụ chăn nuôi bị nhiễm mầm bệnh hoặc người chăn nuôi mang mầm bệnh từ chuồng này qua chuồng khác
Trang 21* Triệu chứng:
Biểu hiện các khối u ở trong cơ thể gà giai đoạn gà từ 15 - 30 tuần tuổi, gà giảm ăn tiêu chảy, giảm tỷ lệ đẻ, niêm mạc nhợt nhạt, đi lại khó khăn bại liệt, xã cánh một bên, hô hấp khó khăn tỷ lệ chết từ 5 - 30%
* Đường lây lan:
Qua đường tiêu hoá, hô hấp Do tiếp xúc giữa gà ốm với gà khoẻ, do thức ăn nước uống nhiễm mầm bệnh
* Triệu chứng (những biểu hiện bên ngoài):
Tuỳ thuộc vào mức độ gây bệnh của mầm mà bệnh có thể phát ra nhanh hay chậm Trường hợp bệnh cấp tính: Gà chết đột ngột, đang đi lăn đùng ra chết Chết khi đang nằm trong ổ đẻ Trường hợp bệnh mãn tính: Gà ủ rũ bỏ ăn đi lại chậm chạp, nước nhầy chảy ra từ miệng, đôi khi lẫn máu Mào tích tím bầm Phân lỏng hoặc xanh đôi khi có dính máu Gà khó thở, chết do ngạt thở, xác tím bầm, máu đông kém Nếu bệnh kéo dài, viêm kết mạc mắt, tích sưng, khớp sưng đi lại khó khăn
Trang 22* Bệnh tích (biểu hiện bên trong):
Tụ huyết ở các cơ quan nội tạng Gan sưng có nốt hoại tử lấm tấm trắng Bao tim tích nước, xuất huyết vành tim, có dịch nhầy trong khớp
* Biện pháp phòng trị
+ Phòng bệnh
Vệ sinh sạch sẽ, giữ chuồng luôn khô ráo, thức ăn nước uống đảm bảo hợp
vệ sinh, định kỳ sử dụng kháng sinh trộn thức ăn 3 - 5 ngày/ lần
Dùng vaccine phòng bệnh không bảo hộ tốt, vì hiệu giá của vaccine này trong thực tế không cao
+ Điều trị: Có thể dùng các loại kháng sinh sau:
- Tetracylin, Streptomycine, Coxsmix forte, Neotezol, Ampicillin, Enrofloxacin Liều lượng và thời dùng theo hướng dẫn ghi trên nhãn thuốc
- Đường lây lan của bệnh:
Bệnh lây chủ yếu qua đường hô hấp từ gà bệnh sang gà khoẻ, bệnh có thể truyền từ mẹ sang con qua trứng
- Triệu trứng (biểu hiện bên ngoài):
Gà ủ rũ, xù lông, kém ăn, gầy xác Chảy nước mũi hay vẩy mỏ và ho, hen nhiều về ban đêm, sản lượng trứng giảm, gà gầy
- Bệnh tích: (biểu hiện bên trong):
Trang 23Xoang mũi thanh khí quản xuất huyết lấm tấm, đầy dịch nhày Túi khí (vùng ngực bụng) viêm dày hơn và đục, có thể viêm dính bã đậu
- Biện pháp phòng trị:
+ Phòng bệnh: Đảm bảo các biện pháp vệ sinh phòng bệnh đặc biệt chú ý
chỉ mua gà từ các cơ sở giống tốt để gà không bị bệnh, đảm bảo chuồng thông thoáng, sạch sẽ khô ráo, đủ ấm về mùa đông, mát về mùa hè Mật độ gà nuôi trong chuồng phải phù hợp tránh nuôi quá đông
+ Điều trị bệnh: Khi gà mắc bệnh có thể dùng một số chế phẩm như: Tylosin, Tylan, Tyamulin, Nofloxacin, Enrofloxacin, Octacin- en để điều trị, liều lượng theo hướng dẫn của nhà sản xuất, bổ sung thêm vitamin tổng hợp, B complex, đường glucoza Khắc phục nguyên nhân làm bệnh tái phát như nhiệt độ,
- Đường lây lan:
Do gà nuốt phải noãn nang trứng cầu trùng có trong thức ăn, nước uống chất độn chuồng nên mắc bệnh noãn nang cầu trùng có sức đề kháng cao trong môi trường, có thể tồn tại hàng tháng trong điều kiện bình thường, khó bị tiêu diệt bằng các loại thuốc sát trùng bị tiêu diệt chậm dưới ánh nắng mặt trời, dễ bị tiêu diệt ở nhiệt độ cao 600C
- Triệu chứng (biểu hiện bên ngoài):
Gà ủ rũ bỏ ăn uống nhiều nước phân lỏng, máu tươi hoặc có màu sôcôla xẫm mào chân nhợt nhạt do mất máu Gà con có thể chết hàng loạt nếu không điều trị kịp thời Gà trưởng thành chậm lớn, chết rải rác kéo dài
- Bệnh tích (biểu hiện bên trong):
Cầu trùng manh tràng thì manh tràng sưng to chứa đầy máu Cầu trùng ruột non thì ruột non căng phồng bên trong chứa đầy dịch nhầy lẫn máu
Trang 24+ Điều trị: Dùng các loại thuốc như trên với liều điều trị theo hướng dẫn của nhà sản xuất sử dụng kết hợp vitamin C, K và chất điện giải Nhốt riêng những gà
bị bệnh nặng cho uống thuốc trực tiếp vào miệng gà sẽ nhanh khỏi Thay độn chuồng mới, rắc vôi vào chỗ ẩm ướt
2.2 Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Nghề chăn nuôi gia cầm ở Việt Nam đã có từ lâu đời với quy mô nhỏ, mỗi gia đình chỉ nuôi vài con đến vài chục con
Các giống vật nuôi là một bộ phận quan trọng của đa dạng sinh học nó là tài sản quí giá hiện đang phát huy ý nghĩa kinh tế như là giống thuần thích nghi với điều kiện sinh thái địa phương đồng thời còn là nguyên liệu phục vụ cho công tác lai tạo giống trước mắt và sau này Các giống vật nuôi dưới tác động của thiên nhiên và áp lực của kinh tế thị trường cũng đang bị mất dần, bị làm nghèo đi, Lê Viết Ly và cs (1999) [10]
Vào những năm gần đây, nghành chăn nuôi ở nước ta đã phát triển rất nhanh
và đạt được những tiến bộ rõ rệt Chăn nuôi gia cầm có giá trị sản xuất 1.701 tỷ đồng năm 1986 tăng lên 3.712,8 tỷ đồng năm 2002, năm 2006 đạt 9.244,3 tỷ đồng chiếm 19% trong chăn nuôi Tổng đàn gia cầm năm 1986 có 99,9 triệu con đến năm
2003 đạt 254 triệu con (gà 185 triệu con; vịt, ngan, ngỗng 69 triệu con), tốc độ tăng bình quân 7,85%/ năm Trong đó tổng đàn gà thời gian 1990 – 2003 tăng từ 80,18 triệu con lên 185 triệu con, tốc độ tăng bình quân 7,7%/ năm Từ năm 2003 do ảnh hưởng của dịch cúm nên đầu con có giảm
Trang 25Trong những năm từ 2004 - 2006 Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương - Viện Chăn nuôi đã triển khai đề tài nghiên cứu sản xuất thịt gà an toàn chất lượng cao ở khu vực đồng bằng sông Hồng và miền Đông Nam bộ, bước đầu cũng đã xây dựng được quy trình an toàn sinh học và thú y phòng trị bệnh cho một
số giống gà lông màu, kết quả là đàn gà đạt tỷ lệ nuôi sống cao, không xảy ra dịch bệnh khi đã sử dụng vaccine, đặc biệt là trong tình hình dịch cúm đang diễn ra rất nặng nề, song đàn gà vẫn đảm bảo an toàn tuyệt đối với bệnh này, Phùng Đức Tiến
và cs (2008) [15]
Năm 2006 tổng đàn gia cầm đạt 214,6 triệu con, trong đó gà 152 triệu con, thủy cầm 62,6 triệu con Một số vùng kinh tế sinh thái có số lượng gia cầm lớn như: Vùng đồng bằng sông Hồng và Đông Bắc Bộ là hai vùng có số lượng gia cầm lớn nhất tương ứng 58,4 và 42,5 triệu con; Đồng bằng Sông Cửu Long 36,4 triệu con; Vùng Bắc Trung Bộ 33,2 triệu con; Đông Nam Bộ 15,4 triệu con; Duyên Hải Miền Trung 12,5 triệu con; Tây Bắc 8,8 triệu con
Năm 1999, Kim Thị Phương Oanh đã sử dụng phương pháp đa hình các đoạn cắt giới hạn (RFLP) nghiên cứu vùng D-loop của 3 loài gà lôi Việt Nam gồm: Gà lôi lam đuôi trắng, trĩ bạc và gà lôi hông tía Các kết quả thu được cho thấy sự sai khác về trình tự nhận biết các enzyme trong vùng trình tự nói trên
Năm 1999, một nhóm các nhà khoa học Pháp, kết hợp với Vũ Triệu An, Đại học Y Hà Nội, đã tiến hành nghiên cứu đa hình DNA ty thể người Việt Nam Dựa trên những kết quả thu được về đa hình các điểm phân cắt của các enzyme giới hạn, so sánh với các dân tộc khác thuộc khu vực Đông Á và kết hợp với các bằng chứng về miễn dịch, đã góp phần làm sáng tỏ giả thuyết về nguồn gốc của dân tộc Việt Nam
Năm 2003, Trần Thị Mỹ Linh và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu xác định trình tự nucleotide vùng siêu biến I trên mtDNA ởngười Việt Nam Đề tài mang lại những kết quả đầu tiên trong việc xây dựng phương pháp nghiên cứu vùng siêu biến
I trong mtDNA người Việt Nam, từ đó giúp xác định đặc trưng di truyền ngoài nhân của mỗi dân tộc ở các vùng địa lý khác nhau và sự liên quan tới tần suất xuất hiện các bệnh hiểm nghèo, phục vụ cho phòng ngừa và điều trị
Năm 2014, Đàm Thu Trà, đã tiến hành điều tra và nghiên cứu đặc điểm sinh học của giống gà cáy củm tại Cao Bằng
Trang 262.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Ngành chăn nuôi gia cầm trên thế giới đã và đang phát triển mạnh về số lượng và chất lượng Theo số lượng thống kê của tổ chức Nông Lương thế giới - FAO năm 2009 số lượng đầu gia cầm của thế giới như sau: Tổng đàn gà 14.191,1 triệu con và tổng đàn vịt là 1.008,3 triệu con…
Với số lượng gia cầm và thủy cầm nói trên, tổng sản lượng thịt sản xuất năm
2009 của thế giới là: Thịt gà 79,5 triệu tấn; thịt vịt 3,9 triệu tấn Cơ cấu về thịt của thế giới nhiều nhất là thịt lợn chiếm 37,7%; thịt gà 28,5%; thịt bò 22,6% tổng sản lượng thịt, còn lại 12,7% là thịt dê, cừu, ngựa, trâu, vịt và các vật nuôi khác
Có được kết quả như trên, các trung tâm nghiên cứu trên thế giới đã không ngừng cải tiến con giống cũng như dinh dưỡng và phương thức nuôi Họ đã tiến hành chọn lọc, lai tạo để tạo ra một giống gà mới với năng suất và chất lượng cao
Ở Mỹ đã tạo ra các giống gà được sử dụng như Plymouth, gà siêu thịt Avian, AA… nhiều nước đã sử dụng gà Plymouth để sản xuất gà Bloiler đạt hiệu quả cao từ nhiều dòng như dòng 488 (con trống) lai với dòng 433 (con mái), dung dòng 799 (dòng trống chuyên thịt) lai với con lai 132A tạo ra gà nuôi thịt 791 có khả năng sinh trưởng nhanh năng suất thịt cao
Pháp là một trong những nước nuôi nhiều gà lông màu chất lượng cao nhất thế giới và cũng là nước đứng đầu về tiêu thụ thịt gà thả vườn Năm 1996, số lượng gà lông màu chất lượng cao ở Pháp là 90 triệu con, sản xuất trên 133.000 tấn thịt (đã giết mổ) chiếm 20% sản lượng thịt gà và trên 10% tổng sản lượng thịt gia cầm Tại Pháp
có trên 20 tập đoàn chuyên sản xuất thịt gà chất lượng cao, bao gồm trên 6.000 chủ trang trại hay hợp tác xã chuyên nuôi gà lông màu, có khoảng 60 trại ấp trứng, 120 nhà máy sản xuất thức ăn, 110 nhà máy giết mổ và chế biến thịt Sản phẩm thịt gà chất lượng cao của nước này được tiêu thụ chủ yếu trong nước, chỉ khoảng 5 – 6 % dành cho xuất khẩu
Các nước có ngành chăn nuôi gia cầm nổi tiếng trên thế giới luôn ứng dụng công nghệ di truyền hiện đại để chọn tạo các dòng gà có năng suất và chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người chăn nuôi
Trang 27Pháp là một trong những nước tạo ra nhiều giống gà thả vườn để đáp ứng nhu cầu chăn nuôi gà thả vườn:
+ Công ty Shave tạo ra các giống gà Troicbro: Có sức chịu nóng và chịu ẩm
độ cao, lông màu nâu, chân vàng Công ty còn tạo ra giống Redbo: Lông màu đỏ, ngoại hình đẹp, da và chân đều vàng
+ Năm 1978, hãng Sasso đã tiến hành nhân giống, chọn lọc, lai tạo ra giống
gà Sasso gồm 18 dòng gà trống và 6 dòng gà mái với mục đích sử dụng khác nhau Giống gà này có khả năng thích nghi cao, đễ nuôi ở điều kiện nóng ẩm, sức kháng bệnh tốt, chất lượng thịt thơm ngon
+ Hãng ISA đã tạo ra giống gà S457 nuôi thả vườn rất tốt, lông màu vàng hoặc trắng nâu, chân vàng; Hãng Hubbard ISA Pháp năm 2002 đã sử dụng trống dòng S44 x mái dòng JA57 tạo con lai ở 63 ngày có khối lượng cơ thể 2209 gam, tiêu tốn thức ăn/ kg tăng khối lượng 2,24 – 2,30 kg
Ở Israel, công ty Kabir đã tạo ra giống gà Kabir từ con lai của giống gà địa phương Sinai có sức chịu nóng cao với Whiter Leghon, Plymouth Hiện nay, công
ty Kabir đã tạo ra 28 dòng gà chuyên thịt lông trắng và lông màu trong đó có 13 dòng nổi tiếng bán ra khắp thế giới là dòng trống K100, K100N, K400, K666, K666N và K66; dòng mái gồm K44, K25, K123 (lông trắng) và K156 (lông nâu)
Công ty Kabir chickens L td Israel (1999) [17] sử dụng trống GGK lai gà mái K277 tạo con lai thương phẩm ở 63 ngày có khối lượng cơ thể 2460 gam, tiêu tốn thức ăn /kg tăng khối lượng là 2,28 kg
Trang 28Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Gà Cáy Củm sinh sản
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh sản của gà Cáy Củm và
đánh giá hiệu quả của vaccine phòng bệnh
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa Điểm: Chi nhánh nghiên cứu động thực vật bản địa - Công ty cổ phần
khai khoáng miền núi
- Thời gian: Từ ngày 25/ 5/ 2015 đến ngày 21/ 11/ 2015
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá khả năng sinh sản của gà Cáy Củm nuôi sinh sản giai đoạn 20 - 44 tuần tuổi
- Xác định được một số bệnh thường gặp ở gà Cáy Củm nuôi sinh sản
- Đánh giá hiệu quả việc dùng vaccine phòng bệnh cho gà Cáy Củm sinh sản
3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi
3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Phân lô đối chứng và lô thí nghiệm
Chọn mẫu: Chọn gà khoẻ mạnh tiến hành thí nghiệm
Bố trí thí nghiệm:
Lấy số gà đã chọn nuôi thí nghiệm
Bố trí thí nghiệm: Chia số gà khoẻ mạnh làm 2 lô, 1 lô có sử dụng vaccine để phòng bệnh theo quy định, 1 lô không sử dụng vaccine theo quy định để đánh giá sự kháng bệnh của giống gà Cáy Củm; mỗi lô 90 con gà Cáy Củm bắt đầu từ 20 tuần tuổi Thí nghiệm được lặp lại 3 lần
Gà được nuôi theo phương thức thả vườn, có bổ sung thức ăn theo 2 lần/ ngày (sáng, chiều tối)
Trang 29Cân khối lượng gà qua các tháng tuổi
Theo dõi tình trạng sức khoẻ của mỗi con gà Cáy Củm trong 2 lô đã bố trí thí nghiệm
Đàn gà ở 2 lô đảm bảo đồng đều tất cả các yếu tố như: Môi trường nuôi: Nhiệt độ, ánh sáng, giống, thức ăn, thời gian nuôi…chỉ khác nhau về vaccine sử dụng và điều kiện vệ sinh sát trùng
Không dùng vaccine phòng bệnh theo quy định thú y
Bệnh Tụ huyết trùng: Herbal KC Bệnh Newcastle: Không có thuốc đặc trị chỉ tiêm lại vaccine Newcastle liều gấp đôi và dùng thuốc bổ trợ Bệnh Cầu trùng: Hancoc
Bệnh CRD: Anti - CRD Bệnh giun đũa: Tetramisol
(Ghi chú: Số lượng gà trống nhốt riêng để khai thác tinh)
Trang 30Bảng 3.2 Phác đồ phòng và điều trị một số bệnh
STT Tên bệnh Phòng bệnh Phương pháp trị bệnh
Tiêm vaccine Tụ huyết trùng, tiêm dưới da liều 1 ml/
con, 6 tháng tiêm nhắc lại
Liệu trình 5 ngày
- Sáng: Herbal KC 2 g/1l nước + Liversol 3 ml/1l nước + Paracetamol
- Chiều: FlosalD 1 ml/ 1l nước + Herbal
KC 2 g/1l nước
Tiêm vaccine Newcastle, tiêm dưới da 0,5 ml/ con,
6 tháng tiêm nhắc lại
Tiêm lại vaccine newcastle liều gấp đôi -Điện giải Gluco K,C 2 – 3 g/ 1 lít nước Hòa nước cho uống 2 lần/ ngày Dùng liên tục 5 - 7 ngày
Tiêm vaccine Inacti/
vac – FC 3, tiêm dưới da cổ liều 0,5 ml/ con, 6 tháng tiêm nhắc lại
Không có thuốc điều trị đặc hiệu nên không được điều trị mà tiến hành tiêu hủy
Tiêm vaccine Đậu
gà, tiêm dưới da liều
1 ml/con, 6 tháng tiêm nhắc lại
Dùng cồn iod 1 - 2 % bôi lên mụn đậu Nếu mụn đậu quá to thì dùng dao sắc gọt cắt sau đó bôi thuốc
Dùng B.complex, vitamin C nâng cao sức đề kháng cơ thể
pháp phòng bệnh
Hancoc, liều lượng 1,5 - 2 ml/ lít nước uống dùng trong 4 - 5 ngày liên tục, nghỉ 3 ngày rồi lại dùng 5 ngày liên tục nữa
pháp phòng bệnh
Anti– CRD: Liều 2 gam/ lít nước uống, dùng liên tục trong vòng 3 - 5 ngày Kết hợp với
B.Complex, 1 gam/ 3 lít nước
pháp phòng bệnh
Tetramisol: dùng liều 40 mg/ kg thể trọng gà, thuốc có thể pha nước cho gà uống trực tiếp hoặc trộn thức ăn cho gà Liệu trình 3 - 5 ngày
(Ghi chú: Lô 1 sử dụng vaccine phòng bệnh, lô 2 không dùng vaccine phòng bệnh,
phác đồ điều trị bệnh ở 2 lô thí nghiệm là như nhau)
3.4.2 Các chỉ tiêu theo dõi
Trang 31-Theo dõi các chỉ tiêu về tỷ lệ nuôi sống, khối lượng cơ thể qua các giai
đoạn tuổi (20, 24, 28….44 tuần tuổi), tỷ lệ đẻ, năng suất trứng, tỷ lệ ấp nở, tiêu tốn thức ăn/ 10 quả trứng
- Theo dõi các triệu trứng, bệnh tích và cách phòng trị một số bệnh thường gặp ở đàn gà Cáy Củm sinh sản
- Đánh giá hiệu quả của một số vaccine phòng bệnh
3.4.3 Phương pháp xác định các chỉ tiêu
a Phương pháp đánh giá khối lượng của gà Cáy Củm sinh sản:
- Để đánh giá về sự sinh trưởng và phát dục của gà sinh sản người ta dùng phương pháp định kỳ cân khối lượng và đo kích thước các chiều cơ thể
Gà Cáy Củm cân đảm bảo cùng 1 người cân, loại cân, cùng điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, chế độ thức ăn, nước uống,… và được cân vào buổi sáng trước khi cho gà thí nghiệm ăn
Khối lượng gà được cân theo tháng, đánh giá được khối lượng của gà sinh sản để điều chỉnh công tác chăm sóc nuôi dưỡng
+ Xác định khối lượng gà sinh sản: Là khối lượng cơ thể gia cầm qua các giai đoạn tuổi Cân vào các thời điểm: Bắt đầu thí nghiệm 20 tuần tuổi, đẻ bói, đẻ
rộ, ngừng đẻ Cân vào ngày, giờ nhất định trước khi cho ăn, cân từng con một Trong thực tế thường cân gia cầm vào buổi sáng, trước khi cho ăn, uống
+ Phương pháp đo các chiều:
Thời điểm đo có thể cùng thời điểm với cân nhưng chỉ đo kích thước các chiều khi gà đã sinh sản Từ đó đánh giá được một số đặc điểm của giống gà Cáy Củm sinh sản
Phương pháp đo: Dùng thước dây đo, với các chỉ tiêu như sau:
Dài cổ: Từ đốt xương cổ đầu tiên đến đốt sống cổ cuối cùng
Dài thân: Từ đốt xương cổ cuối cùng tới đốt xương sống đuôi đầu tiên
Dài lườn: Từ mép trước của lườn, dọc theo đường thẳng tới cuối hốc ngực phía trước
Vòng ngực: Chu vi ngực tiếp giáp phía sau hốc nách
Vòng chân: Chu vi nơi nhỏ nhất của xương bàn chân