1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Đánh giá công tác tái định cư của dự án xây dựng công trình thủy lợi Bản Chang tại xã Bằng Vân huyện Ngân Sơn tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2013 2015. (Khóa luận tốt nghiệp)

73 141 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá công tác tái định cư của dự án xây dựng công trình thủy lợi Bản Chang tại xã Bằng Vân huyện Ngân Sơn tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2013 2015. (Khóa luận tốt nghiệp)Đánh giá công tác tái định cư của dự án xây dựng công trình thủy lợi Bản Chang tại xã Bằng Vân huyện Ngân Sơn tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2013 2015. (Khóa luận tốt nghiệp)Đánh giá công tác tái định cư của dự án xây dựng công trình thủy lợi Bản Chang tại xã Bằng Vân huyện Ngân Sơn tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2013 2015. (Khóa luận tốt nghiệp)Đánh giá công tác tái định cư của dự án xây dựng công trình thủy lợi Bản Chang tại xã Bằng Vân huyện Ngân Sơn tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2013 2015. (Khóa luận tốt nghiệp)Đánh giá công tác tái định cư của dự án xây dựng công trình thủy lợi Bản Chang tại xã Bằng Vân huyện Ngân Sơn tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2013 2015. (Khóa luận tốt nghiệp)Đánh giá công tác tái định cư của dự án xây dựng công trình thủy lợi Bản Chang tại xã Bằng Vân huyện Ngân Sơn tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2013 2015. (Khóa luận tốt nghiệp)Đánh giá công tác tái định cư của dự án xây dựng công trình thủy lợi Bản Chang tại xã Bằng Vân huyện Ngân Sơn tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2013 2015. (Khóa luận tốt nghiệp)Đánh giá công tác tái định cư của dự án xây dựng công trình thủy lợi Bản Chang tại xã Bằng Vân huyện Ngân Sơn tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2013 2015. (Khóa luận tốt nghiệp)

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

Khóa học

: Chính quy : Quản lý đất đai : Quản lý tài nguyên : 2012 – 2016

Thái Nguyên, năm 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

Khoa Khóa học Giảng viên hướng dẫn

: Chính quy : Quản lý đất đai : K44 - QLĐĐ - N01 : Quản lý tài nguyên : 2012 – 2016

: ThS Nguyễn Đình Thi

Thái Nguyên, năm 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Thực tập tốt nghiệp là học phần quan trọng giúp cho sinh viên được tiếp xúc với công việc thực tế, áp dụng những kiến thức đã học được trên ghế nhà trường

Trong bốn năm theo học tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên,

em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo trong trường, đặc biệt là các thầy, cô giáo trong khoa Quản lý Tài nguyên Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong trường nói chung và trong khoa Quản lý Tài nguyên nói riêng

Đặc biệt, để hoàn thành đợt thực tập tốt nghiệp này, ngoài sự nỗ lực của

bản thân, em còn nhận được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của Thầy giáo Th.S Nguyễn Đình Thi, cán bộ Phòng TN&MT huyện Ngân Sơn cùng với

UBND xã Bằng Vân đã trực tiếp giúp đỡ em trong thời gian nghiên cứu đề tài, sự động viên, quan tâm, giúp đỡ của gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện thuận lợi để em hoàn thành đợt thực tập

Khóa luận tốt nghiệp sẽ không tránh khỏi những thiếu xót, nên em mong nhận được sự đóng góp, chỉ bảo của các thầy, cô giáo cùng các bạn sinh viên để em có thể vững bước hơn trong chuyên môn sau này

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 27 tháng 11 năm 2015

Sinh viên

Dương Thị Diệu

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1 Tăng trưởng kinh tế và thu nhập bình quân đầu người 32

Bảng 4.2 Chuyển dịch tỷ trọng theo cơ cấu kinh tế qua các năm 33

Bảng 4.3 Tình hình dân số và lao động tại xã Bằng Vân, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2013 - 2015 36

Bảng 4.4 Danh sách giao đất ở cho 10 hộ tại xã Bằng Vân 40

Bảng 4.5 Danh sách giao đất nông nghiệp cho 10 hộ tại xã Bằng Vân 41

Bảng 4.6 Tổng các kinh phí dự án khu TĐC Pù Pét 45

Bảng 4.7 Tình hình biến động dân số tại điểm tái định cư tại Xã Bằng Vân 46 Bảng 4.8 Cơ cấu lao động của các hộ tái định cư 47

Bảng 4.9 Trình độ học vấn của người lao động khu tái định cư Pù Pét 48

Bảng 4.10 Tổng hợp mức thu nhập bình quân/ hộ/ năm của người dân tái định cư tại xã Bằng Vân 49

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 4.1 Bản đồ xã Bằng Vân 27

Hình 4.2 Biểu đồ thể hiện cơ cấu dân tộc của xã Bằng Vân 35

Hình 4.3 Các hộ dân còn lại 39

Hình 4.4 Hệ thống kênh mương sau 1 thời gian 43

Hình 4.5 Ruộng lúa thiếu nước 44

Trang 7

MỤC LỤC

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1.1.Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu tổng quát 2

1.3 Mục tiêu cụ thể 2

1.4 Yêu cầu của đề tài 3

1.5 Ý nghĩa của đề tài 3

1.5.1 Ý nghĩa trong học tập 3

1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

2.1.1 Cơ sở lí luận của đề tài 4

2.1.2 Khái niệm về công tác thu hồi, bồi thường, hỗ trợ tái định cư 6

2.1.3 Nhìn nhận về công tác tái định cư 6

2.1.4 Một số yếu tố tác động đến công tác bồi thường, tái định cư 8

2.2 Cơ sở pháp lí của đề tài 12

2.3 Cơ sở thực tiễn 12

2.3.1 Tình hình bồi thường, hỗ trợ di dân tái định cư trên thế giới 12

2.3.2 Chính sách Pháp luật có liên quan tới công tác bồi thường, hỗ trợ tái định cư để xây dựng các công trình thủy lợi ở Việt Nam 18

2.3.3 Khát quát về công trình thủy lợi Bản Chang và thực trạng đời sống việc làm người dân bị thu hồi đất trước khi thực hiện dự án 23

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 24

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 24

Trang 8

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 24

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 24

3.3 Nội dung nghiên cứu 24

3.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 24

3.3.2 Đánh giá kết quả thực trạng công tác tái định cư tại xã Bằng Vân 24 3.3.3 Đánh giá thực trạng quy hoạch tái định cư tại xã Bằng Vân 24

3.3.4 Thuận lợi, khó khăn, đề xuất giải pháp khắc phục 25

3.4 Phương pháp nghiên cứu 25

3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 25

3.4.2 Phương pháp phân tích và xử lí số liệu 26

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27

4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Bằng Vân 27

4.1.1 Điều kiện tự nhiên 27

4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 32

4.2 Thực trạng về việc triển khai công tác di dân tái định cư của thủy lợi Bản Chang tại xã Bằng Vân 38

4.2.1 Xây dựng khu tái định cư 38

4.2.2 Kết quả di chuyển dân 39

4.2.3 Kết quả giao đất ở 39

4.2.4 Kết quả giao đất sản xuất 41

4.2.5 Kết quả hỗ trợ phát triển sản xuất cho hộ tái định cư 42

4.2.6 Kết quả đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng 43

4.2.7 Kết quả kinh phí đầu tư xây dựng dự án tái định cư 45

4.3 Đánh giá thực trạng quy hoạch khu tái định cư tại xã Bằng Vân 46

4.3.1 Thực trạng về dân số và việc làm 46

4.3.2 Thực trạng sản xuất và thu nhập 48

Trang 9

4.3.3 Kết quả tổng hợp ý kiến người dân tái định cư về nhu cầu hỗ trợ tái định cư bổ sung 50 4.4 Những thuận lợi, khó khăn và đề xuất biện pháp của công tác tái định

cư tại xã Bằng Vân 50 4.4.1 Những mặt đã đạt được 50 4.4.2 Những tồn tại cần được tiếp tục hỗ trợ đầu tư 51 4.4.3 Những đề xuất biện pháp bổ sung tiếp tục đầu tư ổn định cuộc sống 53

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 57

5.1 Kết luận 57 5.2 Đề nghị 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 10

PHẦN 1

MỞ ĐẦU

1.1.Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá , là điều kiện tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật khác trên trái đất Đất đai là nguồn lực to lớn để phục vụ sự nghiệp Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa đất nước

Nhà nước thực hiện thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp, khu

đô thị, khu dân cư, kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, các công trình công cộng phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội Trong đó, các dự án tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đòi hỏi phải thu hồi một diện tích đất rất lớn với tính chất đặc thù của công trình thủy điện là được xây dựng chủ yếu ở các khu vực thuộc địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống theo cộng đồng, mỗi dân tộc có một phong tục tập quán riêng, hơn nữa việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ở các dự án, các địa phương không thống nhất, không đồng bộ, không công bằng; vấn đề đời sống, lao động và việc làm của người dân sau khi không còn hoặc thiếu đất sản xuất, vấn đề tái định cư,… nên việc thu hồi đất sẽ làm nảy sinh nhiều vấn đề về kinh tế xã hội, sẽ gây nhiều nguy cơ mất ổn định an ninh trật tự, chính trị, an toàn xã hội làm cho đất nước phát triển không đảm bảo tính bền vững cũng như ảnh hưởng tới lối sống của người dân bản địa

Do gặp nhiều khó khăn như vậy, nên việc đánh giá công tác tái định

cư để thấy được những thuận lợi và hạn chế, nhằm đưa ra phương án khả thi

để giải quyết các vấn đề khó khăn một cách có hiệu quả đang là một vấn đề cấp thiết của xã hội Để có đất cho việc xây dựng trên cần phải di dời và tái định cư người dân vùng lòng hồ Đến nay cơ bản đã hoàn thành công tác di dân tái định cư, bước đầu cuộc sống của người dân đã được ổn định Tuy

Trang 11

nhiên người dân khu tái định cư vẫn còn gặp nhiều khó khăn vì các nguyên nhân chủ yếu như: chuyển đến nơi ở mới còn thiếu tư liệu sản xuất, phong tục tập quán tại nơi đến tái định cư khác với nơi họ từng sinh sống, trong khi

đó số hộ nghèo cao, điều này ảnh hưởng không nhỏ tới mục tiêu của dự án

Xã Bằng Vân là một xã nằm ở phía Đông Bắc của huyện Ngân Sơn,

để có đất cho việc xây dựng trên cần phải di dời và tái định cư người dân vùng lòng hồ Đến nay cơ bản đã hoàn thành công tác di dân tái định cư, bước đầu cuộc sống của người dân đã được ổn định Tuy nhiên người dân khu tái định cư vẫn còn gặp nhiều khó khăn Do vậy, để thấy được những mặt tồn tại và yếu kém trong công tác tái định cư, cũng như việc đảm bảo điều kiện sống cho người dân tái định cư được đầy đủ nhất ta cần đánh giá khách quan kết quả đạt được , trên cơ sở khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường

Xuất phát từ những vấn đề trên, được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Khoa Quản lý Tài nguyên cùng với sự hướng dẫn của:

ThS.Nguyễn Đình Thi em thực hiện đề tài: “Đánh giá công tác tái định cư của dự án xây dựng công trình thủy lợi Bản Chang tại xã Bằng Vân, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2013 - 2015”

1.2 Mục tiêu tổng quát

Phân tích, đánh giá công tác tái định cư thủy lợi Bản Chang tại xã Bằng Vân để tìm ra những thuận lợi, khó khăn còn tồn tại trong việc thực hiện công tác tái đinh cư trên địa bàn xã, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm

Trang 12

- Đánh giá kết quả thực hiện xây dựng khu tái định cư xã Bằng Vân

- Đề xuất một số giải pháp có tính khoa học phù hợp với thực tế góp phần nâng cao đời sống và hiệu quả xây dựng khu tái định cư tại xã Bằng Vân

1.4 Yêu cầu của đề tài

- Nắm vững chính sách pháp luật về đất đai, chính sách bồi thường hỗ

trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và các văn bản có liên quan

- Công tác điều tra thu thập tài liệu, số liệu phải đầy đủ, chính xác, trung thực, khách quan, có nguồn gốc rõ ràng Xác định đúng đối tượng, đúng mục đích, phạm vi cần nghiên cứu từ đó đánh giá những tồn tại khó khăn tìm ra nguyên nhân để đưa ra những giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn

1.5 Ý nghĩa của đề tài

1.5.1 Ý nghĩa trong học tập

- Nâng cao năng lực, rèn luyện kỹ năng, vận dụng được những kiến thức đã học vào thực tiễn Giúp sinh viên nắm chắc các chính sách pháp luật

về đất đai, chính sách hỗ trợ tái định cư để vận dụng vào thực tế

- Thực hiện đề tài sẽ là cơ hội cho sinh viên củng cố những kiến thức

đã học, đồng thời là cơ hội cho sinh viên bước đầu tiếp cận với công tác tái định cư

1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn

Qua việc nghiên cứu về công tác xây dựng khu tái định cư nhằm tìm

ra thuận lợi, khó khăn của công tác tái định cư để từ đó rút ra những giải

pháp khắc phục phù hợp cho công tác xây dựng, ổn định đời sống người dân

Trang 13

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

2.1.1 Cơ sở lí luận của đề tài

Thực chất công tác tái định cư là việc đưa người dân từ nơi này sang nơi khác, nơi có điều kiện sống đầy đủ hơn, cuộc sống tốt đẹp hơn

Theo điều 86 Bố trí tái định cư cho người có đất ở thu hồi mà phải di chuyển chỗ ở của Luật đất đai 2013 quy định như sau:

1 Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện giao trách nhiệm bố trí tái định cư phải thông báo cho người có đất ở thu hồi thuộc đối tượng phải

di chuyển chỗ ở về dự kiến phương án bố trí tái định cư và niêm yết công khai ít nhất là 15 ngày tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi và tại nơi tái định cư trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phương án bố trí tái định cư

Nội dung thông báo gồm địa điểm, quy mô quỹ đất, quỹ nhà tái định

cư, thiết kế, diện tích từng lô đất, căn hộ, giá đất, giá nhà tái định cư; dự kiến

bố trí tái định cư cho người có đất thu hồi

2 Người có đất thu hồi được bố trí tái định cư tại chỗ nếu tại khu vực thu hồi đất có dự án tái định cư hoặc có điều kiện bố trí tái định cư Ưu tiên

vị trí thuận lợi cho người có đất thu hồi sớm bàn giao mặt bằng, người có đất thu hồi là người có công với cách mạng

Phương án bố trí tái định cư đã được phê duyệt phải được công bố công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi và tại nơi tái định cư

Trang 14

3 Giá đất cụ thể tính thu tiền sử dụng đất tại nơi tái định cư, giá bán

nhà ở tái định cư do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định

4 Trường hợp người có đất thu hồi được bố trí tái định cư mà tiền bồi

thường, hỗ trợ không đủ để mua một suất tái định cư tối thiểu thì được Nhà

nước hỗ trợ tiền đủ để mua một suất tái định cư tối thiểu

Chính phủ quy định cụ thể suất tái định cư tối thiểu cho phù hợp với

điều kiện từng vùng, miền và địa phương.[7]

2.1.2 Cơ sở pháp lí của đề tài

1 Luật Đất đai 2013

2 Các nghị định, thông tư có liên quan đến công tác tái định cư như:

- Nghị Định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ về quy

định chi tiết thi hành một số điều của luật đất đai

- Nghị Định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ Quy

định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất

cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;

- Nghị định số 64/CP ngày 27 tháng 9 năm 1993 quy định việc giao

đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục

đích sản xuất nông nghiệp

- Thông tư 30/2014 ngày 02/06/2014 của Bộ tài nguyên và môi trường

Quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu

hồi đất

Trang 15

- Thông tư 37/2014 ngày 30/06/2014 của Bộ tài nguyên và môi trường

về quy định chi tiết bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất

3 Những văn bản pháp quy của tỉnh Bắc Kạn có liên quan đến công tác tái định cư:

- Quyết định 21/2014 ngày 22/10/2014 của UBND tỉnh Bắc Kạn về việc ban hành quy định một số nội dung cụ thể trong công tác quản lý nhà nước về đất đai áp dụng trên đi ̣a bàn tỉnh Bắc Kạn

- Quyết định 22/2014 ngày 22/10/2014 của UBND tỉnh Bắc Kạn về việc ban hành quy định một số nội dung về bồi thường , hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh bắc kạn

- Quyết định số 1585/QĐ-UB ngày 03/9/2004 của UBND tỉnh Bắc Kạn v/v lập dự án giải phóng mặt bằng, tái định cư, xây dựng đoạn kênh chính, kênh cấp II của dự án sửa chữa, nâng cấp cụm công trình thủy lợi Bản Chang, huyện Ngân Sơn

- Quyết định số 2313/QĐ-UB ngày 26/11/2002 của UBND tỉnh Bắc Kạn v/v phê duyệt thiết kế kĩ thuật thi công- tổng dự toán công trình: khôi phục và nâng cấp hồ chứa nước Bản Chang, xã Đức Vân, huyện Ngân Sơn

- Quyết định số 703/QĐ-UBND ngày 08/05/2012 của UBND tỉnh Bắc Kạn v/v công nhận kết quả thực hiện dự án khoa học công nghệ cấp tỉnh trên

dự án: Nghiên cứu phương thức canh tác nông lâm kết hợp tại Khu tái định

cư Pù Pét huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn

2.1.3 Nhìn nhận về công tác tái định cư

Do quá trình phát triển lâu dài, trải qua nhiều biến động lịch sử và đang hướng tới một đô thị hiện đại, có bản sắc truyền thống nên nước ta trong quá trình đô thị hoá tất yếu phải vừa phát triển mới và cải tạo, chỉnh trang nhất là

hệ thống hạ tầng kỹ thuật Bởi vậy, trước hết cần phải nhìn nhận đúng đắn

về nhà ở tái định cư, đó là:

Trang 16

1 Các nhà lãnh đạo cũng như người dân phải xác định việc tạo lập nhà

ớ tái định cư là quá trình mang tính chiến lược gắn kết với lịch sử phát triển thủ đô chứ không phái chỉ là những giải pháp, chiến dịch tạm thời của chú đầu tư từng khu đô thị mới hay của một cấp chính quyền cơ sở

2 Nhà ớ tái định cư cần phải được cung cấp đúng đối tượng được nhận Nhìn lại việc cung cấp nhà ở tái định cư tại một số nơi cho thấy không ít đối tượng được cung cấp nhà ở tái định cư lại không sử dụng mà lại sang nhượng Nhiều đối tượng cần nhà ở mà lại không có thông tin, không được quyển tiếp cận mà phải nhận nhà ở không thích hợp Tình trạng này do nhiều nguyên nhân nhưng trước hết chưa có sự phân loại hợp lý về các đối tượng tái định cư để có cơ chế tương thích

3 Nhà ở tái định cư cũng là loại hình nhà ở cần có chất lượng tốt và đồng bộ hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật Đến nay cũng còn nhiều người cho rằng nhà ở tái định cư chỉ cần chất lượng tối thiểu, diện tích nhỏ thậm chí không quan tâm nhiều đến tính thẩm mỹ, giải pháp kiến trúc và môi trường sống cũng như cảnh quan đô thị Cách nhìn nhận này sẽ dẫn đến tình trạng chỉ giải quyết đơn thuần cho xong vể thủ tục tái định cư mà chưa nhận thấy sẽ đế lại

“gánh nặng” cho đô thị trong tương lai

4 Giải quyết nhà ở tái định cư cần phải được xem xét trong hài hoà của

cả ba lợi ích là chính quyền thành phố, chủ đầu tư và người dân trong đó lợi ích của người dân tái định cư nên được xem xét linh hoạt và là hạt nhân của mối quan hệ.[2]

Hiện nay, quyền lợi của người tái định cư phải được xác định trong khung cơ chế, khung giá theo quy định của Nhà nước Bởi vậy, nếu chủ trương xem xét đến vai trò của người dân trong phát triển đô thị, chưa xét tới mong muốn để hướng tới chỗ ở có chất lượng cho sau này Xét cho đến cùng thì giải phóng mặt bằng, tái định cư chính là để hướng tới một đô thị phát

Trang 17

triển bền vững vì quyền lợi của cả cộng đồng Vì vậy, Nhà nước phải có sự hỗ trợ về quy hoạch, xây dựng dự án, hỗ trợ về đồng bộ Cơ sở hạ tầng

Công tác tái định cư góp phần cải thiện môi trường đầu tư, khai thác các nguồn lực từ đất đai cho đầu tư phát triển, các cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội

ở nước ta đã được Đảng và Nhà nước quan tâm đầu từ hầu khắp các vùng, miền trên cả nước, đặc biệt các thành phố lớn đã đóng góp vào sự thành công bước đầu của công cuộc “ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, thúc đẩy kinh tế phát triển, đáp ứng nhu cầu vật chất tinh thần của nhân dân

Thực hiện công tác di dân tái định cư đúng tiến độ sẽ tiết kiệm được thời gian, chi phí và sớm thực hiện dự án và đưa vào sử dụng mang lại hiệu quả kinh tế xã hội Ngược lại, làm chậm tiến độ dự án, lãng phí thời gian, tăng chi phí, giảm hiệu quả dự án

Thực hiện tái định cư tốt sẽ giảm chi phí, có điều kiện tập chung vốn cho mở rộng đầu tư Ngược lại, chi phí bồi thường lớn, không kịp hoàn thành tiến độ dự án dẫn đến quay vòng vốn chậm gây khó khăn cho các nhà đầu tư

Đối với các dự án đầu tư sản xuất kinh doanh nếu không kịp đáp ứng được tiến độ đầu tư thì mất cơ hội kinh doanh, hiệu quả kinh doanh thấp Đối với dự án đầu tư không kinh doanh, thời gian thi công kéo dài, tiến độ thi công bị ngắt quãng gây ra lãng phí và ảnh hưởng tới chất lượng công trình

2.2 Khái quát về vấn đề nghiên cứu

2.2.1 Khái niệm về công tác thu hồi, bồi thường, hỗ trợ tái định cư

2.2.1.1 Thu hồi đất

- Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai.[7]

2.2.1.2 Bồi thường đất

Trang 18

- Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất [7]

2.2.1.3 Hỗ trợ

- Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người

có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển [7]

2.2.1.4 Tái định cư

- Tái định cư là người sử dụng đất bị Nhà nước thu hồi đất theo quy định mà phải di chuyển chỗ ở thì được bố trí tái định cư bằng một trong các hình thức sau: Bồi thường bằng nhà ở, bồi thường bằng giao đất ở mới, bồi thường bằng tiền để tự lo chỗ ở mới

Qua nghiên cứu chính sách bồi thường hỗ trợ và tái định cư của Việt Nam qua các thời kỳ cho thấy vấn đề bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đã được đặt ra từ rất sớm, các chính sách đều xuất phát từ nhu cầu thực tiễn và được điều chỉnh tích cực để phù hợp hơn với sự phát triển của đất nước Trên thực tế các chính sách đó đã có tác dụng tích cực trong việc đảm bảo sự

ổn định trong phát triển, khuyến khích đầu tư và giữ nguyên tắc công bằng Tuy nhiên, hiện nay vấn đề bồi thường, hỗ trợ tái định cư và công tác quy hoạch xây dựng khu tái định cư diễn ra rất chậm, chưa hiệu quả, còn nhiều vướng mắc gây khiếu kiện trong nhân dân làm ảnh hưởng đến tiến độ đầu tư, triển khai dự án

Việc bồi thường thiệt hại nhìn chung cơ bản các địa phương đã áp dụng chính sách tại thời điểm thu hồi Nhà nước chỉ bồi thường về giá trị đất

và tài sản trên đất còn cuộc sống của người dân bị mất đất sau khi thu hồi thì chưa được quan tâm [1]

2.2.2 Khát quát về công trình thủy lợi Bản Chang và thực trạng đời sống việc làm người dân bị thu hồi đất trước khi thực hiện dự án

2.2.2.1 Khát quát về dự án thủy lợi Bản Chang

Trang 19

Ngày 29 tháng 7 năm 2004 Bộ NN và PTNT ra quyết định phê duyệt

dự án sửa chữa, nâng cấp cụm công trình thủy lợi Bản Chang huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn

Dự án đầu tư xây dựng công trình thủy lợi Bản Chang được khởi công xây dựng năm 2005, là cụm công trình thủy lợi lớn nhất huyện Ngân Sơn, đảm bảo phục vụ tưới ổn định cho 400 ha lúa nước và 146 ha cây trồng cạn, ngoài ra con tạo nguồn cấp nước sinh hoạt cho hơn 4.000 dân của 2 xã Đức Vân và Bằng Vân góp phần ổn định đời sống nhân dân và xóa đói giảm nghèo

Khi cụm công trình thủy lợi Bản Chang thực hiện xây dựng xong thì vùng lòng hồ Bản Chang một số hộ dân phải di chuyển do nước ngập vào vùng dân cư và vùng ruộng canh tác do đó cần phải chuyển các hộ dân vùng

bị ảnh hưởng sang khu định cư mới

2.2.2.2 Mục tiêu, yêu cầu di dân tái định cư của dự án

Mục tiêu: Di dân, tái định cư Dự án thủy lợi Bản Chang phải tạo được

các điều kiện thuận lợi để đồng bào tái định cư có đời sống tốt hơn nơi ở cũ, dựa trên cơ sở khai thác tiềm năng về tài nguyên và sức lao động, từng bước thay đổi cơ cấu kinh tế phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân tái định cư, góp phần phát triển kinh tế xã hội của tỉnh theo hướng tăng dần tỉ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ; hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, giữ vững ổn định chính trị- xã hội, quốc phòng,

an ninh và bảo vệ môi trường sinh thái…

Yêu cầu: Công tác di dân tái định cư phải được các cấp, các ngành,

mặt trận tổ quốc và các đoàn thể phối hợp chặt chẽ để tổ chức thực hiện theo phương châm: Trung ương quy định cơ chế, chính sách chung; tỉnh cụ thể hóa và triển khai thực hiện

Tái định cư trong vùng, trong tỉnh chính là thực hiện tái định cư tập chung nông thôn, tái định cư đô thị, tái định cư xen ghép và tái định cư tự nguyện di chuyển, phù hợp với các điều kiện cho sản xuất, phong tục, tập

Trang 20

quán và nguyện vọng của đồng bào các dân tộc nơi đi cũng như nơi đến Khuyến khích đồng bào tự di chuyển nhà cũ, tự xây dựng nhà ở tại nơi tái định cư theo quy hoạch và khuyến khích hình thức tái định cư xen ghép Di dân, tái định cư cần coi trọng việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa, sự đoàn kết giữa người dân tái định cư và người dân sở tại

Đến năm 2008 hoàn thành việc bồi thường, di chuyển và tái định cư các hộ gia đình và cá nhân thuộc đối tượng di dân tái định cư; bồi thường và xây dựng lại kết cấu hạ tầng, công trình kiến trúc - văn hóa xã hội của các tổ chức, đơn vị trong mặt bằng thi công và vùng ngập hồ chứa thủy lợi

Về số dân phải di chuyển đến khu TĐC:

Dự án đã được lập và phê duyệt có 34 hộ dân với 240 nhân khẩu sinh sống di dời xuống khu tái định cư mới Người dân bị thu hồi đất chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu số, cụ thể: Tày chiếm 66,6%;Nùng chiếm 20,8%, Dao chiếm 10%,còn lại là kinh chiếm 2,6% Nghề nghiệp chủ yếu là sản xuất nông nghiệp chiếm 80,4%

Tổng số có 34 căn nhà với tổng diện tích là 3.510 m2

phải di chuyển

và 249 cái mồ mả phải di chuyển Ngoài ra còn thiệt hại lớn về cây trồng, vật nuôi trên đất bị thu hồi

Phương án tạo quỹ đất lập khu TĐC:

Quỹ đất lập khu, điểm tái định cư được hình thành chủ yếu từ việc khai hoang mở rộng diện tích; chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa người dân sở tại với người dân tái định cư và từ quỹ đất chưa sử dụng tại địa bàn xã Bằng Vân, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn

Về diện tích đất giao cho các hộ tái định cư nông nghiệp là 700m2/khẩu; hộ tái định cư phi nông nghiệp từ 250 - 400 m2/hộ; đất sản xuất nông nghiệp giao cho từng hộ tái định cư tùy thuộc vào quỹ đất của từng vùng tái định cư, được quy định cụ thể

2.2.2.3 Thực trạng đời sống việc làm của người dân

Trang 21

Đời sống người dân còn gặp nhiều khó khăn, bấp bênh trong cuộc sống do thu nhập trong gia đình còn ít, trung bình mỗi hộ chỉ có 2-3 người lao động Trình độ dân trí còn thấp nên suy nghĩ chưa được chín chắn, đa số người dân nơi đây chỉ gọi là tạm ổn trong cuộc sống

Nghề nghiệp chủ yếu của người dân chỉ là nông-lâm nghiệp, có nhiều gia đình chưa biết định hướng cho con cái để làm ăn vì vậy có nhiều thanh niên đến tuổi lao động vẫn chưa có việc làm

2.2.3 Một số yếu tố tác động đến công tác bồi thường, tái định cư

Trong quá trình thực hiện bồi thường, tái định cư có rất nhiều yếu tố tác động, nó có thể thúc đẩy quá trình diễn ra nhanh chóng, nhưng cũng có thể làm chậm tiến độ thực hiện, điều đó còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như:

- Yếu tố quản lý Nhà nước về đất đai: những cơ chế, chính sách của Nhà nước trong vấn đề bồi thường tái định cư

- Tác động của công tác quy hoạch, kế hoạch hóa việc sử dụng đất

- Nhiệm vụ ban hành và quản lý thực hiện các văn bản pháp luật về quản lý, sử dụng đất tác động đến công tác bồi thường tái định cư

- Tác động của công tác giao đất, cho thuê đất

- Yếu tố con người: Là những cán bộ trực tiếp tham gia vào công tác bồi thường, tái định cư và trình độ nhận thức của người dân trong việc chấp hành trao trả mặt bằng đất bị thu hồi cho Nhà nước, cho chủ dự án đầu tư

2.3 Những kết quả nghiên cứu về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

2.3.1 Tình hình bồi thường, hỗ trợ di dân tái định cư trên thế giới

2.3.1.1 Chính sách bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất của một số tổ chức quốc tế[9]

* Ngân hàng thế giới (WB)

Ngân hàng thế giới (WB) là tổ chức đầu tiên đưa ra chính sách tái định cư không tự nguyện, và từng bước, nghiên cứu phát triển (chu kỳ 4 năm) Năm 1980, WB đưa ra Chính sách chung cho tái định cư không tự

Trang 22

nguyện trong Bản hướng dẫn hoạt động về những vấn đề xã hội trong tái định cư không tự nguyện trong các dự án do WB đầu tư Năm 2004, WB đưa

ra bản hướng dẫn hoạt động về tái định cư không tự nguyện Chính sách tái định cư không tự nguyện của WB dựa trên nguyên tắc lựa chọn phương án tái định cư ít nhất và có sự tham gia của các tổ chức phi chính phủ, đại diện của những người thiệt hại vào thiết kế, khai thác, theo dõi giám sát quá trình công việc tái định cư.[9]

* Chính sách bồi thường khi thu hồi đất của các ngân hàng Mỹ, Ngân

hàng Châu Á và ngân hàng phát triển Châu Phi

Tiếp theo chính sách tái định cư không tự nguyện được các ngân hàng khu vực đưa ra như: Ngân hàng phát triển liên Mỹ (Inter Americal Development Bank - IDB) 1993; Ngân hàng phát triển Châu Á - ADB( 1995); Sổtay tái định cư (1998); Ngân hàng phát triển Châu Phi (1995).[9]

* Các tổ chức quốc tế khác

Năm 1990, một số tổ chức quốc tế như: Trung tâm Liên hiệp quốc tế

về định cư (United Nation Center of Human Settlement/Habitats); Ủy ban Liên hiệp quốc tế về quyền con người (UNCHR); Tổ chức Nông Lương thế giới (FAO) đã tập chung nghiên cứu vấn đề thu hồi đất - chỗ ở bắt buộc; năm 1997 UNCHR đưa ra hướng dẫn thực tiễn thu hồi đất - chỗ ở bắt buộc Đặc điểm chung của các chính sách này là nguyên tắc chia sẻ lợi ích giữa các bên liên quan đến dự án, chi phối từ pháp luật, chính sách, quy hoạch, thu nhập, thuế ở tầm quốc gia đối với việc triển khai trên thực tế có liên quan đến chính quyền địa phương, nhà đầu tư, cộng đồng dân cư bị ảnh hưởng và người dân bị thiệt hại với những vấn đề chủ yếu như: Tổ chức tốt việc tái định cư cộng đồng dân cư bị ảnh hưởng và người dân bị thiệt hại gắn với môi trường sống, việc làm, sinh hoạt cộng đồng liên quan đến tập quán, văn hóa, tâm linh; Bảo đảm quyền hưởng lợi của địa phương, cộng đồng dân cư bị ảnh hưởng và người dân bị thiệt hại từ thuế, phí, giá ưu đãi mua sản phẩm của

Trang 23

dự án; Sự gắn kết lâu dài giữa dự án và cộng đồng dân cư địa phương nhằm đảm bảo tự chủ,bình đẳng giữa hai bên với sự gắn kết quyền lợi lâu dài

Nguyên tắc chia sẻ lợi ích giữa các bên liên quan đến dự án đã được

áp dụng trong nhiều dự án đã triển khai ở các nước trên thế giới, đặc biệt các

dự án thủy lợi, thủy điện.[9]

2.3.1.2 Tình hình bồi thường hỗ trợ tái định cư ở một số nước trên thế giới [9]

a Trung Quốc

Trung Quốc thi hành chế độ công hữu hóa xã hội chủ nghĩa về đất đai, gồm hai loại: Đất đô thị thuộc sở hữu nhà nước; đất nông thôn, ngoại thành, ngoại thị thuộc sở hữu tập thể Hiến pháp lần sửa đổi mới nhất năm 2005 quy định: Quốc gia do sự cần thiết vì lợi ích công cộng có thể căn cứ vào pháp luật mà trưng thu hay trưng dụng đất đai và trả bồi thường Các nhà làm luật giải thích rằng trưng thu áp dụng đối với đất thuộc sở hữu tập thể

do phải chuyển quyền sở hữu tập thể sang sở hữu nhà nước, còn trưng dụng thì áp dụng đối với đất thuộc sở hữu nhà nước vì chỉ thay đổi mục đích sử dụng đất

Luật đất đai ra đời năm 1986, đã qua nhiều lần sửa đổi bổ sung vào các năm 1988, 1998 và 2004, chia đất đai thành đất nông dụng, đất dùng vào xây dựng (kiến thiết) và đất chưa lợi dụng Luật quy định mọi đơn vị và

cá nhân khi cần đất đai để tiến hành xây dựng thì phải căn cứ vào pháp luật

mà xin sử dụng đất thuộc sở hữu của nhà nước, trừ trường hợp xây dựng nhà ở nông thôn, cơ sở hạ tầng và công ích hương trấn

Trung Quốc rất coi trọng việc bảo vệ đất canh tác, đặc biệt là “đất ruộng cơ bản” đã được chính quyền xác định dùng vào sản xuất lương thực, bông, dầu ăn, rau hoặc đã có công trình thủy lợi tốt trên đó Luật còn quy định cụ thể đất ruộng cơ bản phải chiếm 80% trở lên đất canh tác của mỗi tỉnh Cấm không được chiếm dụng đất canh tác để xây lò gạch, mồ mả hoặc

Trang 24

tự ý xây nhà, đào lấy đất cát, khai thác đá, quặng, Việc trưng thu Đất ruộng

cơ bản; đất canh tác vượt quá 35 ha; đất khác vượt quá 70 ha phải được Quốc vụ viện phê chuẩn Trưng thu các đất khác do chính quyền cấp tỉnh phê chuẩn rồi báo cáo Quốc vụ viện

Đối với đất thuộc sở hữu của nhà nước, khi nhu cầu đất vì lợi ích công cộng để cải tạo các khu đô thị cũ đã được cấp có thẩm quyền phê chuẩn thì được thu hồi quyền sử dụng đất có bồi thường Khi đó để thu hồi đất buộc phải di dời nhà cửa, vì vậy năm 1991 Quốc vụ viện ban hành điều lệ quản lý

di dời nhà cửa đô thị, đến năm 2001 thì thay bằng Điều lệ mới Theo điều

lệ này thì bên di dời phải bồi thường về nhà cửa cho bên bị di dời bằng tiền tính theo giá thị trường hoặc bằng cách chuyển đổi tài sản Không bồi thường nhà xây trái phép hoặc nhà tạm đã hết hạn.[9]

b Pháp

Trong số các nước phát triển Pháp là nước được coi có thể chế trưng thu chi tiết và hoàn chỉnh nhất và Pháp đã áp dụng rộng rãi thể chế này khi thực hiện các dự án có mục đích vì lợi ích công cộng Trong luật pháp của Pháp nguyên tắc sở hữu tài sản là một nguyên tắc bất khả xâm phạm và thiêng liêng, không ai có thể lấy đi trừ khi vì sự cần thiết công cộng được pháp luật xác nhận và yêu cầu, đồng thời với điều kiện có sự bồi thường công bằng và trả trước

Thủ tục trưng thu của Pháp được quy định trong luật sau nhiều lần sửa đổi và bổ sung đến nay có thể tóm tắt như sau: trước tiên bên có nhu cầu thực hiện dự án vì lợi ích công cộng nộp hồ sơ cho tỉnh trưởng Tỉnh trưởng

sẽ bổ nhiệm một điều tra viên hoặc một hội đồng điều tra để tiến hành điều thời thông báo trên báo chí, cách thức để công chúng tìm hiểu, nêu ý kiến về

hồ sơ dự án Thông thường chi phí điều tra do bên chủ dự án chịu Tiếp đó trên cơ sở kết quả điều tra được trình lên tỉnh trưởng sẽ thông báo lại kết quả

Trang 25

đó cho chủ dự án, tòa án hành chính và cũng gửi nó cho tất cả các xã, tra sơ

bộ và chỉ rõ đối tượng, thời gian điều tra (không ít hơn 15 ngày), đồng phường liên quan Chậm nhất là một năm sau khi kết thúc điều tra sơ bộ, tùy từng trường hợp theo luật định, sẽ ra tuyên bố về lợi ích công cộng của dự

án và tỉnh trưởng ra quyết định về tính khả nhượng của các tài sản có trong danh mục trưng thu, chuyển quyết định đó ra tòa án Khi đã có lệnh của tòa, chủ sở hữu không được chuyển nhượng, thế chấp tài sản nhưng vẫn hưởng lợi và chỉ chuyển giao tài sản trưng thu sau khi nhận được tiền bồi thường Sau đó, chủ dự án thông báo dự kiến về mức độ bồi thường và mời các bên

bị trưng thu cho biết yêu cầu của họ trong vòng 15 ngày Hai bên có thời gian một tháng để xử lý những bất đồng, nếu không thống nhất được thì mức bồi thường sẽ do tòa án quyết định, có nêu rõ khoản bồi thường chính, các khoản bồi thường phụ(như việc làm, di chuyển, hoa màu, kinh doanh, ), cơ

sở của việc tính toán Những khoản bồi thường này sẽ phải trả đầy đủ tính theo giá trong ngày ra lệnh trưng thu và chủ dự án phải trả chi phí xác định mức bồi thường của quan tòa.[9]

c Đài Loan

Đài Loan là một quần đảo nhỏ 36.000 km2

nằm trên vịnh Bắc Bộ Sớm nhận thức được hạn chế của mình là đất chật người đông tài nguyên khoáng sản nghèo nàn mức độ phụ thuộc của nền kinh tế vào ngoại thương rất lớn nên ngay từ cuối những năm 50 của thế kỷ XX các nhà hoạch định chính sách của Đài Loan đã xác định muốn tồn tại và phát triển được thì Đài Loan phải xây dựng mô hình kinh tế theo “cơ chế hướng ngoại” và phát triển công nghiệp Công tác xây dựng quy hoach phát triển các Khu công nghiệp

ở Đài Loan được tổ chức rất khoa học và chặt chẽ Quy hoạch xây dựng và phát triển Khu công nghiệp của Đài Loan không phải cố định mà thường

xuyên được kiểm tra và đánh giá lại về tính phù hợp giữa quy hoạch và thực

Trang 26

tế nhất là những vấn đề liên quan đến môi trường để kịp thời điều chỉnh bổ sung Theo quy định hiện nay việc kiểm tra đánh giá được tiến hành 3 năm

một lần

Việc quy hoạch xây dựng các khu công nghiệp của Đài Loan luôn tuân theo nguyên tắc là khai thác và sử dụng có hiệu quả lợi thế so sánh của từng vùng và đất nước hạn chế sử dụng đất nông nghiệp vào việc phát triển các khu công nghiệp Vì vậy, rất nhiều khu công nghiệp ở Đài Loan được xây dựng ở những vùng đất cằn cối hoặc lấn đất biển Việc xây dựng các khu công nghiệp ở những nơi này không chỉ tiết kiệm được được quỹ đất nông nghiệp vốn rất khan hiếm của Đài Loan mà còn giảm thiểu được các chi phí về đền bù giải phóng mặt bằng và có điều kiện để xây dựng ngay từ đầu một hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ và hiện đại theo chuẩn mực quốc

tế [9]

d Hàn Quốc

Vào những năm 70 của thế kỷ trước, trước tình trạng di dân ồ ạt từ các vùng nông thôn và đô thị, thủ đô Xơ-un đã phải đối mặt với tình trạng thiếu đất định cư trầm trọng trong thành phố Để giải quyết nhà ở cho dân nhập cư, chính quyền thành phố phải tiến hành thu hồi đất nông dân vùng phụ cận.Việc đền bù được thực hiện thông qua các công cụ chính sách như hỗ trợ tài chính, cho quyền mua căn hộ do thành phố quản lý và chính sách tái định cư

Các hộ bị thu hồi đất có quyền mua hoặc nhận các căn hộ do thành phố quản lý, được xây tại khu đất được thu hồi có bán kính cách Xơ-un khoảng 5 km Vào những năm 70 của thế kỷ trước, khi thị trường bất động sản bùng nổ, hầu hết các hộ có quyền mua căn hộ có thể bán lại quyền mua căn hộ của mình với giá cao hơn nhiều lần so với giá gốc.[9]

Trang 27

2.3.2 Chính sách Pháp luật có liên quan tới công tác bồi thường, hỗ trợ tái định cư để xây dựng các công trình thủy lợi ở Việt Nam

- Đối với đất hoa màu thì bồi thường đúng mức

- Đối với nhà cửa, vật kiến trúc và các công trình phục vụ sinh hoạt được giúp đỡ xây dựng cái khác

- Ngoài ra, mồ mả thì căn cứ vào tình hình cụ thể về phong tục tập quán của địa phương mà giúp họ một số tiền làm phí tổn di chuyển

Những nguyên tắc cơ bản của việc bồi thường thiệt hại tại Nghị định này đáp ứng nhu cầu trưng dụng đất đai trong những năm 1960 cho đến khi Hiến pháp 1980 ra đời

Luật đất đai 1988 ban hành quy định về bồi thường cũng cơ bản dựa trên những quy định tại Hiến pháp 1980.[8]

Ngày 31/05/1990, Hội đồng Bộ trưởng ban hành quyết định số 186/HĐBT về việc đền bù thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng khi bị chuyển mục đích sử dụng vào mục đích khác thì phải bồi thường.[6] Căn cứ

để tình bồi thường thiệt hại về đất nông nghiệp và đất có rừng theo quyết định này là diện tích, chất lượng và vị trí đất UBND các tỉnh, thành phố quy định mức bồi thường thiệt hại của địa phương mình sát với giá đất thực tế của địa phương nhưng không thấp hơn hoặc cao hơn khung giá định mức

Tổ chức,cá nhân được Nhà nước giao đất nông nghiệp, đất có rừng cho nhà nước Khoản tiền này được nộp vào ngân sách Nhà nước và sử dụng vào

Trang 28

việc khai hoang, phục hóa, trồng rừng cải tạo đất nông nghiệp, ổn định cuộc sống, định canh, định cư cho vùng bị lấy đất.[8]

Quan niệm việc đền bù, tái định cư cho người dân khi Nhà nước thu hồi đất xây dựng các công trình thủy điện cũng như các công trình phục vụ lợi ích quốc gia khác chủ yếu dựa trên quan niệm đất đai là tài sản quốc gia, nên trong trường hợp cần thiết Nhà nước thu hồi đất không nhất thiết đền bù cho dân mà chỉ hỗ trợ một phần Nếu có chỉ đền bù cho chính quyền địa phương hay tập thể đang sử dụng đất về các tài sản bị thiệt hại theo sự thỏa thuận Khi xây dựng các công trình thủy điện Thác Bà, Hòa Bình hàng chục vạn đồng bào các dân tộc đã hi sinh quyền lợi của mình đóng góp cho sự phát triển của quốc gia Trong thời gian này có ba văn bản liên quan đến việc hỗ trợ cho người sử dụng đất khi Nhà nước tiến hành thu hồi đất là:

- Nghị định số 151/CP của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 14 tháng 4 năm 1959 về “ thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất ” là văn bản pháp quy liên quan đến việc trưng dụng ruộng đất của nhân dân cho việc xây dựng những công trình do nhà nước quản lý

- Thông tư số1792-TTg ban hành ngày 11 tháng 01 năm 1970 quy định một số điểm tạm thời về bồi thường nhà cửa, đất đai cây cối lưu niên, các hoa màu cho nhân dân ở những vùng xây dựng kinh tế, mở rộng thành phố

- Quyết định số186/HDBT của Hội đồng bộ trưởng ban hành ngày 31 tháng 5 năm 1990 về đền bù thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển sang sử dụng vào mục đích khác đã đưa ra căn cứ để tính mức đền

bù thiệt hại về đất nông nghiệp và đất có rừng theo diện tích, chất lượng và

vị trí của đất Hơn nữa mức đền bù còn được phân biệt theo thời hạn sử dụng lâu dài hay tạm thời

Có thể thấy thời kỳ này đất đai chưa được thừa nhận là có giá nên chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng còn nhiều hạn chế, thể hiện

Trang 29

trong cách tính giá trị bồi thường, phương thức thực hiện Tuy nhiên, nhìn nhận một cách khách quan và công bằng thì những chính sách này cũng đã đóng góp một vai trò tích cực trong giải phóng mặt bằng để có quỹ đất cho nhu cầu xây dựng và phát triển các công trình quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng của đất nước

2.3.2.2 Từ năm 1993 đến nay

Để cụ thể hóa các quy định của Luật đất đai, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản có liên quan trực tiếp đến hoạt động thu hồi đất hoặc là cơ sở cho việc tính toán để thực hiện việc đền bù cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bị thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất:

- Nghị định số 64/CP ngày 27 tháng 9 năm 1993 quy định việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp Đây là tài liệu cơ bản nhất về chính sách nông nghiệp hiện hành quy định việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân trong khi hạn chế tối đa việc phân bổ lại đất bằng cách cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hầu hết những người đang sử dụng đất.[5]

- Nghị định số 87/CP ngày 17 tháng 08 năm 1993 quy định khung giá các loại đất và phân loại đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp Việc tính thuế đất dựa trên việc phân chia theo vị trí đồng bằng, trung du, miền núi Dựa vào khung giá đất này, Ủy ban nhân dân các tỉnh quy định giá đất cho việc đền

bù khi Nhà nước thu hồi đất và giá này có thể được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh điều chỉnh cho phù hợp với thực tế biến động của giá cả thị trường đất

- Thông tư số 05-BXD/TT ngày 09 tháng 02 năm 1993, là phân cấp nhà ở với mục đích đánh giá mức thuế, đền bù và bán công trình, Chính phủ Việt Nam đã xác lập một hệ thống về phân cấp nhà cửa Đây là cơ sở để các tỉnh tính toán xây dựng đơn giá đền bù cho vật kiến trúc bị ảnh hưởng

Trang 30

- Nghị định số 90/CP ngày 17 tháng 08 năm 1994, đây là nghị định đầu tiên của Chính phủ về đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất Trong giai đoạn này, cùng với việc phát triển cơ sở hạ tầng, việc thu hồi đất của người dân có tác động lớn đến kinh tế- xã hội, những Nghị định này mới chỉ chú trọng đến việc đền bù thiệt hại khi thu hồi đất mà chưa đề cập đầy đủ đến việc tái định cư

- Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24 tháng 04 năm 1998 về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích an ninh quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thay thế Nghị định 90/CP, trong đó quy định các dự án có thu hồi đất ở và đất sản xuất phải lập khu tái định cư để đảm bảo những người bị ảnh hưởng có thể ổn định đời sống và

ổn định thu nhập

Nội dung chính của Nghị định số 22/1998/NĐ-CP liên quan đến công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư gồm: Quy định đền bù thiệt hại về đất, điều kiện được đền bù đất, khung giá đất; Quy định đền bù thiệt hại về tài sản gắn liền với đất: cây trồng, vật kiến trúc, nhà ở, di chuyển mồ mả, công trình văn hóa, di tích lịch sử, ; Quy định về khu tái định cư: quỹ đất xây dựng khu tái định cư, quy hoạch xây dựng điểm dân cư, hệ thống kết cấu hạ tầng, ; Quy định về hỗ trợ tái định cư: hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ sản xuất, hỗ trợ lương thực, y tế, giáo dục, hỗ trợ gia đình chính sách, thưởng di chuyển đúng tiến độ; Tổ chức tái định cư: vai trò của chủ đầu tư, chính quyền địa phương, hộ dân phải di chuyển

Nghị định số 22/1998/NĐ-CP cung cấp chi tiết hơn về kiểm đếm tài sản, phương pháp và mức đền bù, cách thức nhận đền bù và tổ chức thực hiện, quy định giá đất đền bù được tính theo giá của địa phương ban hành nhân với hệ số k Hệ số “K” là hệ số quan hệ tỉ lệ giữa giá đất tính theo khả năng sinh lợi hoặc giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế với giá

Trang 31

đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định Nghị định số 22/1998/NĐ-CP là căn cứ pháp lý chính thức để xây dựng các bản Quy định tạm thời và chính thức cho việc triển khai công tác tái định cư của các dự án thủy lợi

Nghị định số22/1998/NĐ-CP đã có nhiều cải thiện như các quy định ở trên Tuy nhiên qua quá trình thực hiện đã cho thấy một số hạn chế: Đơn giá

do Ủy ban nhân dân các tỉnh xây dựng để thực hiện đền bù đối với đất, các loại tài sản bị thiệt hại của người dân như nhà cửa, đất đai, nhất là đất thổ cư thường thấp hơn giá thị trường; Các chính sách hỗ trợ chủ yếu tập chung vào

ổn định cuộc sống trong giai đoạn đầu tái định cư mà chưa chú ý tới hỗ trợ sản xuất và phục hồi thu nhập

Luật đất đai năm 2003 được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2004, riêng về đền bù, hỗ trợ tái định cư có ba điểm mới so với Luật đất đai trước đó về bồi thường là: Khung đơn giá, chính sách về tái định cư và hạn chế quy mô giải phóng mặt bằng Trong Luật đất đai 2003 từ điều 38 đến điều 45 trình bày về nội dung thu hồi đất, đền bù và tái định cư Nội dung của điều 42 nói về việc bồi thường, tái định cư cho người có đất bị thu hồi Khi Nhà nước thu hồi đất, người sử dụng đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định thì được bồi thường Người bị thu hồi đất sẽ được bồi thường bằng đất có mục đích sử dụng hoặc bằng giá trị quyền sử dụng đất Nếu phải di chuyển chỗ ở sẽ được bố trí vào khu tái định

cư có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ Trường hợp thu hồi đất của các hộ dân trực tiếp sản xuất mà không có đất để bồi thường cho việc tiếp tục sản xuất thì ngoài việc bồi thường bằng tiền, người bị thu hồi đất còn được hỗ trợ để ổn định đời sống, đào tạo chuyển đổi ngành nghề, bố trí việc làm mới.[7]

Trang 32

Tuy nhiên, những chính sách trên còn có nhiều hạn chế đặc biệt là với đối tượng tái định cư ở các công trình thủy lợi Về phạm vi áp dụng: việc thu hồi đất để xây dựng các công trình thủy lợi chiếm một diện tích lớn đất đai, gồm cả đất ở và đất canh tác, số lượng dân cư di dời lớn, tập chung có tính chất đặc thù nên áp dụng các chính sách trên là chưa phù hợp; Về đối tượng đền bù thiệt hại và điều kiện để được đền bù về đất: quy định tính hợp pháp của đất đai của chủ sở hữu

Điều này sẽ gây khó khăn cho đồng bào miền núi, dân tộc vì đất đai của họ mới trong quá trình được hợp pháp hóa, chưa đủ các thủ tục.Trên thực tế, nảy sinh nhiều vướng mắc trong công tác thống kê, kiểm kê và đền

bù không đầy đủ, dẫn đến khiếu kiện; các yếu tố tự nhiên kinh tế, xã hội theo đặc thù từng vùng, nhóm dân tộc chưa được tính toán đầy đủ, cân nhắc trước khi đưa ra các chính sách cụ thể và phương án tái định cư, tạo lập môi trường sống mới để đảm bảo yếu tố phù hợp đối với các cộng đồng dân cư; lập khu tái định cư; các Nghị định của Chính phủ chưa hướng dẫn cụ thể về mặt tiêu chí quy mô cũng như các tiêu chuẩn đối với việc quy hoạch thiết kế xây dựng khu tái định cư, dẫn đến không thống nhất giữa các dự án; quy định về xây dựng các khu tái định cư ở miền núi theo tiêu chuẩn nông thôn (400m2 đất ở/hộ) là chưa phù hợp với đặc điểm, tập quán sinh sống của người dân Hầu hết người dân phải tiếp nhận diện tích đất ít hơn nhiều so với diện tích đất họ đã có trước đó; chính sách hỗ trợ còn thấp và chưa đủ để người dân ổn định được cuộc sống.[3]

Trang 33

3.1 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Kết quả xây dựng khu tái định cư trên địa bàn xã Bằng Vân

- Diện tích đất đai, kết quả đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng tại điểm tái định cư Pù Pét của dự án Thủy lợi Bản Chang trên địa bàn xã Bằng Vân

- Cuộc sống, việc làm, thu nhập của các hộ khu tái định cư trên địa bàn xã Bằng Vân

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu

- Kết quả thực hiện quy hoạch khu tái định cư trên địa bàn xã Bằng Vân

- Khu vực hồ chứa nước Bản Chang, Khu tái định cư Pù Pét trên địa bàn xã Bằng Vân

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành

- Địa điểm: Phòng TN&MT huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn

- Thời gian: Từ ngày 17/8/2015 đến ngày 29/11/2015

3.3 Nội dung nghiên cứu

3.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

- Điều kiện tự nhiên

- Điều kiện kinh tế - xã hội

3.3.2 Đánh giá kết quả thực trạng công tác tái định cư tại xã Bằng Vân

3.3.2.1 Kết quả di chuyển dân, kết quả xây dựng hạ tầng kỹ thuật các khu tái định cư của dự án thủy lợi Bản Chang trên địa bàn xã Bằng Vân

3.3.2.2 Kết quả thực hiện hỗ trợ sản xuất, giao đất tái định cư, khả năng sử dụng vốn và tình hình sản xuất của các hộ tái định cư trên địa bàn xã Bằng Vân

3.3.3 Đánh giá thực trạng quy hoạch tái định cư tại xã Bằng Vân

3.3.3.1 Thực trạng về dân số và việc làm

3.3.3.2 Thực trạng sản xuất và thu nhập

Trang 34

3.3.3.3 Kết quả tổng hợp ý kiến người dân tái định cư về nhu cầu hỗ trợ tái định cư

3.3.4 Thuận lợi, khó khăn, đề xuất giải pháp khắc phục

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu

- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp:

+ Phỏng vấn cán bộ quản lí và cán bộ chuyên môn phụ trách về công tác thu hồi, bồi thường, hỗ trợ tái định cư về đất đai để nắm được tình hình cũng như các nguyên nhân dẫn đến tình trạng thu hồi, bồi thường, hỗ trợ tái định cư về đất đai trên địa bàn xã

+ Phỏng vấn người dân thông qua các câu hỏi trong phiếu điều tra, với tổng số phiếu điều tra là 50 phiếu, để biết được nhu cầu hỗ trợ tái định cư về đất đai

- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: thu thập số liệu từ sách báo,

báo cáo kinh tế xã hội của xã Bằng Vân, của Phòng TN&MT huyện Ngân Sơn và các ban ngành có liên quan như Ban Quản lý dự án huyện Ngân Sơn,… các tài liệu số liệu về kinh tế xã hội, đời sống, việc làm của các hộ tái định cư trong khu vực xã

3.4.2 Phương pháp thống kê, tổng hợp số liệu điều tra

- Thống kê các số liệu về kết quả đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật các khu tái định cư; kết quả hỗ trợ đất ở, đất sản xuất cho các hộ tái định cư; tổng hợp, so sánh các thông tin, số liệu điều tra thu thập được phục

vụ mục đích nghiên cứu

- Từ các số liệu đã thu thập được tiến hành phân tích, tổng hợp sao cho phù hợp với các mục tiêu của đề tài

Trang 35

3.4.2 Phương pháp phân tích và xử lí số liệu

Phân tích đánh giá kết quả xây dựng khu tái định cư trên cơ sở các số liệu đã thu thập được

Từ các nguồn số liệu thu thập được trên địa bàn nghiên cứu, em tiến hành tổng hợp và phân tích số liệu sử dụng một số phương pháp sau:

- Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu: tổng hợp các số liệu thu thập được sau đó xử lý trên bảng Excel

- Phương pháp so sánh và phân tích số liệu

-Phương pháp đánh giá và phân tích thông qua ý kiến của các ban ngành, cơ quan chuyên môn, chính quyền cơ sở có liên quan đến công tác di dân tái định cư

Trang 36

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Bằng Vân

4.1.1 Điều kiện tự nhiên

4.1.1.1 Vị trí địa lý

Xã Bằng Vân nằm về phía Đông

Bắc, cách trung tâm huyện Ngân Sơn

khoảng 12 km theo quốc lộ 3 Xã có

tổng diện tích tự nhiên là 6.598,19 ha,

chiếm 10,22% tổng diện tích tự nhiên

của huyện

Ranh giới của xã:

Thám và Thịnh Vượng của huyện Nguyên

Bình, tỉnh Cao Bằng

Khai và Quang Trọng của huyện Thạch An,

tỉnh Cao Bằng

Hình 4.1 Bản đồ xã Bằng Vân

- Phía Nam giáp xã Đức Vân, huyện Ngân Sơn

- Phía Tây giáp xã Thượng Ân, huyện Ngân Sơn

Xã Bằng Vân có đường Quốc lộ 3 chạy qua trung tâm xã nên rất thuận lợi cho giao thông đi lại giao lưu hàng hoá

4.1.1.2 Địa hình, địa mạo

Địa hình của xã Bằng Vân là nơi hội tụ của hệ thống nếp lồi dạng cánh cung, bị chia cắt mạnh bởi hệ thống sông suối, núi đồi trùng điệp và thung lũng sâu tạo thành các kiểu địa hình khác nhau tương đối phức tạp: Địa hình đồi núi cao, độ dốc lớn, bình quân 26- 300, diện tích đồi núi chiếm khoảng 90% tổng diện tích tự nhiên, diện tích đất bằng chiếm khoảng 10%, đất sản

Ngày đăng: 13/02/2018, 09:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w