PHÂN TÍCH ĐỂ LÀM RÕ NHỮNG SAI LẦM CỦA VINASHIN TRONGLĨNH VỰC QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP Phần 3 Những sai lầm của VINASHIN trong quản lý tài chính DN 11 Phần 4 Bài học kinh nghiệm về
Trang 1PHÂN TÍCH ĐỂ LÀM RÕ NHỮNG SAI LẦM CỦA VINASHIN TRONG
LĨNH VỰC QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
Phần 3 Những sai lầm của VINASHIN trong quản lý tài chính DN 11
Phần 4 Bài học kinh nghiệm về quản trị tài chính doanh nghiệp rút ra
từ sai lầm của VINASHIN
18
4.2 Bài học về công tác quản lý vốn và đầu tư – tránh
đầu tư dàn trải, mất kiểm soát
19
4.3 Bài học về công tác kiểm tra, giám sát các tập
đoàn của các cơ quan chức năng
19
LỜI NÓI ĐẦU
Trang 2Nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển, nhu cầu xuất khẩu nhập khẩu đang giatăng nhanh nhất là khi Việt Nam hội nhập và nền kinh tế với việc trở thành thành viên thứ 150của Tổ chức Thương mại quốc tế WTO Thị trường vận tải biển trong và ngoài nước mặc dùhiện tại đang có những khó khăn nhất định nhưng vẫn tiềm ẩn những cơ hội phát triển rất lớn.Tập đoàn Vinashin được thành lập với tầm nhìn là đơn vị dẫn đầu ngành công nghiệp tàu thủyViệt Nam Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu vào ngày Vinashin chuyển đổi thành môhình tập đoàn: “Vinashin phải là nòng cốt của ngành công nghiệp tàu thủy Việt Nam” Còn ôngPhạm Thanh Bình, lúc bấy giờ là chủ tịch HĐQT Vinashin tự hào nói: “Trên bản đồ ngành côngnghiệp đóng tàu thế giới đã xuất hiện một chấm đỏ mới: Việt Nam”.
Được kỳ vọng rất nhiều và đầu tư cũng không ít, Vinashin đã bước đầu đạt được nhữngthành công, thương hiệu Vinashin được công nhận trên trường Quốc Tế, đội ngũ lao động cótrình độ cao, năng lực hiện đại, cơ sở vật chất ngành công nghiệp đóng tàu dần được hoànthiện… những thành tựu to lớn đó được kỳ vọng sẽ góp phần đáng kể cho mục tiêu phát triểnkinh tế Biển của Việt Nam, nhằm tận dụng tối đa những lợi thế của một quốc gia nhiều BiểnĐảo Tuy vậy, vào những năm 2008-2010 cùng với sự lao dốc của kinh tế thế giới nói chung,ngành công nghiệp đóng tàu nói riêng, con tàu Vinashin cũng bộc lộ những yếu kém nghiêmtrọng của mình, đặc biệt là trong công tác quản trị doanh nghiệp Đến tháng 6 năm 2010, tổngtài sản của Tập đoàn Vinashin khoảng 104.000 tỷ đồng nhưng tổng số nợ là 86.000 tỷ đồng, vốnđiều lệ thấp lại sử dụng vốn dàn trải nên tỷ lệ nợ phải trả/vốn chủ sở hữu gần 11 lần, rơi vàotình trạng mất cân đối tài chính nghiêm trọng, đứng trước nguy cơ phá sản, sản xuất đình đốn,công nhân chuyển việc, bỏ việc gần 17.000 người, mất việc gần 5.000 người
Vậy nguyên nhân do đâu mà từ một Tập đoàn kinh tế hùng mạnh, Vinashin đã rơi vàotình trạng khủng hoảng nợ nần? Liệu Vinashin có khả năng được phục hồi để tránh cho ngànhcông nghiệp đóng tàu Việt Nam phải làm lại từ đầu? Qua môn học Tài chính Doanh nghiệp,được hướng dẫn tận tình của Thầy Đặng Ngọc Đại, nhóm 2 đã nắm bắt được những bài học
về quản trị tài chính cần rút ra sau vụ vỡ nợ của Vinashin để hoàn thành tiểu luận của nhóm
Tuy nhiên thời gian và kiến thức còn nhiều hạn chế kính mong sự nhận xét đóng góp của
Thầy và các bạn cùng lớp IeMBA D01 để tiểu luận của nhóm 2 được hoàn thiện hơn.
PHẦN 1: GIỚI THIỆU VỀ TẬP ĐOÀN VINASHIN
1.1 Khái quát về tập đoàn kinh tế Vinashin:
Trang 3Tập đoàn Kinh tế Vinashin (Vinashin Business Group, viết tắt là VINASHIN) làmột tập đoàn kinh tế chuyên về hoạt động đóng tàu do Nhà nước nắm quyền sở hữu chi
phối Tập đoàn được thành lập ngày15/05/2006 trên cơ sở tổ chức vàsắp xếp lại Tổng công ty Côngnghiệp tàu thủy Việt Nam
Trước khi tái việc tái cơ cấu hoàntất, Tập đoàn hoạt động theo môhình công ty mẹ - công ty con Gồmcông ty mẹ là Tập đoàn công nghiệptàu thủy Việt Nam, 24 công ty con, 6 công ty liên kết và 10 liên doanh
1.2 Quá trình hình thành:
- Tiền thân của tập đoàn là Tổng Công ty 91 được thành lập vào ngày 31 tháng 1năm 1996 Căn cứ vào Quyết định số 69/TTg ngày 31 tháng 1 năm 1996 của Thủ tướngChính phủ về việc thành lập Tổng Công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam
- Ngày 15 tháng 5 năm 2006, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số103/2006/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án thí điểm hình thành Tập đoàn kinh tế, đa sởhữu, trong đó sở hữu Nhà nước chi phối, trên cơ sở sắp xếp tổ chức lại Tổng Công tyCông nghiệp Tàu thuỷ Việt Nam
- Ngày 15 tháng 5 năm 2006, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ký Quyết định số104/2006/QĐ-TTg về việc thành lập Công ty mẹ - Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy ViệtNam Theo Quyết định này, Công ty mẹ - Tập đoàn Công nghiệp tàu thuỷ Việt Namđược thành lập trên cơ sở tổ chức lại cơ quan quản lý, điều hành và các đơn vị thànhviên hạch toán phụ thuộc của Tổng Công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam Sự kiệnnày đánh dấu chính thức sự ra đời của tập đoàn Vinashin
1.3 Sự phát triển:
Trang 4Khi mới ra đời Vinashin được mệnh danh là “Cú đấm thép” của nền kinh tế.Vinashin được kì vọng sẽ là nòng cốt, là doanh nghiệp đi tiên phong để phát triểnnghành công nghiệp đóng tàu Việt Nam khi đó còn khá sơ khai, lạc hậu cũng như phục
vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế Biển, đáp ứng những nhu cầu quốc phòng, an ninh củaViệt Nam Và thực tế, kể từ khi ra đời năm 1996 (Tổng công ty Công nghiệp tàu thủyViệt Nam) cho đến khi chuyển đổi thành mô hình tập đoàn kinh tế, Vinashin đã đạt đượcnhiều thành tựu quan trọng:
- Bước đầu, đã hình thành được cơ sở vật chất kỹ thuật quan trọng và khá đồng bộcủa ngành công nghiệp đóng tàu biển với 28 nhà máy đóng tàu đang hoạt động có trình
độ công nghệ tiên tiến, sản phẩm tàu biển được thế giới công nhận về chất lượng, cóthương hiệu, uy tín trong ngành đóng tàu thế giới
- Đội ngũ lao động trên 70.000 người, trong đó trình độ đại học, trên đại học12.500 người, công nhân kỹ thuật trên 55.000 người với tay nghề khá, có hơn 5.000người đạt chứng chỉ quốc tế Đã thiết kế được phần công nghệ, bước đầu thực hiện đượcphần thiết kế kỹ thuật cho các tàu 58.000 tấn, 115.000 tấn Xây dựng được một số cơ sởsản xuất công nghiệp phụ trợ, nâng cao được một bước tỷ lệ nội địa hóa trong đóng vàsửa chữa tàu biển
- Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm giai đoạn 1996-2007 đạt từ35%-40%/năm, đều có lãi; doanh thu thuần năm 2008 đạt gần 29.000 tỷ đồng Tổng sốđến hết năm 2009 đã đóng góp vào ngân sách nhà nước trên 3.300 tỷ đồng Từ chỗ vốnchủ sở hữu chỉ có hơn 100 tỷ đồng và chỉ đóng được tàu 1.000 - 3.000 tấn, đến nay, vốnchủ sở hữu đã tăng lên 8.000 tỷ đồng, giá trị tài sản 104.000 tỷ đồng, đóng được tàuhàng đến 53.000 tấn, tàu chở dầu thô đến 105.000 tấn, tàu chở ô tô đến 6.900 xe, kho nổichứa xuất dầu…
- Đến tháng 3 năm 2009, đã có nhiều đơn hàng và thỏa thuận hợp đồng sơ bộ đóngtàu với tổng giá trị khoảng 12 tỷ USD Đã hoàn thành đóng và bàn giao được 279 tàu trịgiá trên 1,8 tỷ USD, bao gồm: 59 tàu trọng tải 6.500 tấn, 15.000 tấn, 9 tàu 22.500 tấn -34.000 tấn, 9 tàu 53.000 tấn, 6 tàu container, 1 tàu chở ô tô 4.900 xe, kho nổi chứa xuấtdầu 150.000 tấn và nhiều loại tàu khác Trong số tàu trên, đã xuất khẩu cho các chủ tàunước ngoài 155 tàu, trị giá trên 1,1 tỷ USD; bán cho các chủ tàu trong nước 124 tàu, trị
Trang 5giá 700 triệu USD Ngoài ra, còn hoàn thành nhiều loại phương tiện thủy khác phục vụcho nhu cầu rất đa dạng của nền kinh tế và quốc phòng, an ninh
- Đã hình thành được đội tàu viễn dương có tổng tải trọng khoảng 700 nghìn tấn từnguồn tự đóng mới và mua của nước ngoài, góp phần tăng thêm năng lực vận biển củađất nước
- Chế tạo thành công thép tấm khổ lớn, cần cẩu 150 tấn, cổng trục 450 tấn, máy
ép thủy lực 2.000 tấn, máy uốn tôn cán được khổ 13m, sản xuất dây hàn lõi thuốc, nắphầm hàng, cáp điện tàu thủy, chân vịt tàu 10.000 tấn, lắp ráp động cơ 8.400 mã lực… mà
5 năm trước phải nhập khẩu 100%
PHẦN 2: PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẬP ĐOÀN VINASHIN
Tiền và các khoản tương đương tiền 44.070.135.245 5.453.573.892
Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn
-Các khoản phải thu ngắn hạn
1.099.583.421.54
3 1.429.198.028.894 Hàng tồn kho 2.172.390.809.29 1 647.890.059.581
Tỷ số thanh toán hiện hành 0,823550351 0,882755852
Tỷ số thanh toán bằng tiền 0,010446024 0,002283859
Trang 62.1.2 Tỷ số thanh toán hiện hành:
Năm 2009 cho thấy cứ 1 đồng nợ ngắn hạn chỉ có 0.88 đồng tài sản lưu động đảm bảo, còn năm 2010 thì cứ 1 đồng nợ ngắn hạn chỉ có 0.82 đồng tài sản lưu động đảm bảo
Tỷ số thanh toán hiện hành của công ty giai đoạn 2009 – 2010 giảm 0.0 59% Tỷ số này giảm nhẹ do tốc độ tăng nợ ngắn hạn
Tỷ số này giảm cho thấy khả năng thanh toán giảm nhẹ và cũng là dấu hiệu công ty sử dụng quá nhiều nợ ngắn hạn và báo trước khó khăn về tài chính
2.1.3 Tỷ số thanh toán nhanh:
Cho ta thấy khả năng thanh toán thực của một công ty Tỷ số thanh tóan của công tyVINASHIN giai đọan 2009 – 2010 giảm 0.30%
Tỷ số thanh toán nhanh của VINASHIN năm 2010 là 0.61, điều này cho thấy công tyVINASHIN có 61% tài sản có tinh thanh khoản cho mỗi đồng nợ đến hạn Tỷ số thanhtoán nhanh 0.61 cho biết rằng nếu hàng tồn kho của công ty VINASHIN ứ động, khôngđáng giá thì công ty sẽ lâm vào khó khăn tài chính gọi là “không có khả năng chi trả”
Mà hàng tồn kho của năm 2010 tăng gấp 3 lần so với năm 2009 cho thấy công tyVINASHIN sẽ gặp khó khăn về tài chính trong tương lai nếu không có biện pháp khắcphục
2.1.4 Tỷ số thanh tóan bằng tiền:
Khả năng thanh toán tiền của công ty nhanh, giai đoạn 2009 – 2010 tăng 5 lần
Tỷ số hoạt động được thể hiện thông qua các chỉ tiêu:
Doanh thu thuầnVòng quay các khoản phải thu =
Các khoản phải thu
Doanh thu thuần
Số vòng quay hàng tồn kho =
Trang 7Số vòng quay các khoản phải thu: Từ năm 2009 đến năm 2010, số vòng quay các
khoản phải thu giảm từ 0.49 lần xuống còn 0.014 lần Nguyên nhân là do doanh thuthuần của công ty năm 2010 giảm so với năm 2009 là 694.938.215.666 đồng, và cáckhoản ngắn hạn phải thu của công ty cũng giảm xuống so với 2009 là 329.614.607.351đồng
Xét riêng các khoản phải thu ngắn hạn:
Các khoản thu ngắn hạn 1.099.583.421.543 1.429.198.028.894 -329.614.607.351
Phải thu khách hàng 112.572.000 112.822.200.894 -112.709.628.894
Trả trước cho người bán 622.992.404.387 716.299.632.698 -93.307.228.311
Các khoản phải thu khác 480.860.861.787 567.222.921.330 -86.362.059.543
Trang 8Dự phòng phải thu ngắn hạn khó
Số tiền phải thu khách hàng của năm 2010 giảm nhiều so với năm 2009 là
112.709.628.894 đồng do vậy có thể nói là công ty bán không bán được hàng hóa hơn
so với năm 2009
Về khoản trả trước cho khách hàng, năm 2010 giảm xuống 93.307.228.311 đồng
so với năm 2009 Vậy có thể nói công ty làm ăn thua lỗ hơn năm 2009
Xét về các khoản phải thu khác, năm 2010 cũng giảm xuống 86.362.059.543đồng so với năm 2009
Qua việc xét riêng các khoản phải thu ngắn hạn, ta có thể thấy công ty đang kinhdoanh sa sút Do đó, nếu công ty không có chế độ thu hồi nợ tốt sẽ dẫn tới tình trạng thuhồi vốn chậm, vốn của công ty bị tồn đọng và bị các khách hàng chiếm dụng, sẽ gây rakhó khăn trong việc thanh toán của công ty
Về số vòng quay các hàng tồn kho, năm 2010 giảm so với năm 2009 (từ 1.097 lầnnăm 2009, giảm xuống 0.007 lần năm 2010) Số vòng giảm chứng tỏ chất lượng sảnphẩm của doanh nghiệp ngày càng thấp nên lượng hàng bán ra ít hơn, hàng hóa ứ đọngcòn kéo theo việc công ty phải cho thêm một khoản để dự trữ hàng tồn kho, làm công tykhó khăn trong xoay vòng vốn để mở rộng sản xuất
2.3 Tỉ số đòn bẩy:
Tỷ số đòn bẩy tài chính đánh giá mức độ mà một công ty tài trợ cho hoạt độngkinh doanh của mình bằng vốn vay Đối với công ty, tỷ số đòn bẩy tài chính sẽ giúp nhàquản trị tài chính lựa chọn cấu trúc vốn hợp lý nhất cho công ty mình.Qua tỷ số đòn bẩytài chính nhà đầu tư thấy được rũi ro về tài chính của công ty từ đó dẫn đến quyết địnhđầu tư của mình
Tỷ số đòn bẩy được thể hiện qua các chỉ tiêu:
Tỷ số nợ/tài sản
trên tài sản
Trang 9Tỷ số nợ trên tài sản
Tỷ số này năm 2010 tăng 0.02% so với năm 2009 Điều này cho thấy phần trăm tài sản được tài trợ bằng vốn vay của công ty đã gia tăng
2.4 Các chỉ số “Khả năng sinh lời”:
Tỷ số này đo lường thu nhập của công ty với các nhân tố khác tạo ra lợi nhuận như
doanh thu thuần, tổng tài sản, vốn cổ phần
Tỷ số này được thể hiện trên các chỉ tiêu:
Thu nhập thuần
Tỷ số Lãi (TLL) =
Doanh thu bán hàng
Thu nhập trước lãi tiền vay và thuế
Tỷ suất thu nhập của tài sản (TNTS) =
Trang 10-Tổng nợ tăng, tổng tài sản năm 2010 cũng tăng (Tỷ số nợ trên tài sản tăng)chứng tỏ VINASHIN sử dụng vốn vay để đầu tư vào tài sản, Vinashinkhông chú ý đến yếu tố an toàn của doanh nghiệp
- Vinashin sử dụng quá nhiều vốn vay, nợ ngắn hạn dẫn đến rủi ro về tàichính
- Các chỉ số TNTS, ROA,ROE năm 2010 đều âm chứng tỏ tập đoàn
VINASHIN đang bị thua lỗ
Kết quả phân tích trên nhóm 2 dẫn trích từ bảng cân đối kếtoán, báo cáo kết quả kinh doanh các năm của tập đoàn Vinashin gửicho chi cục thuế, cho chúng ta thấy: năm 2009, VINASHIN kinh doanhvẫn có lãi, chỉ đến năm 2010 VINASHIN mới bắt đầu thua lỗ Tuy nhiêntrên thực tế Tập đoàn Vinashin rơi vào tình cảnh khó khăn bắt đầu từnăm 2008
PHẦN 3: NHỮNG SAI LẦM CỦA VINASHIN TRONG LĨNH VỰC QUẢN
LÝ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
3.1 Tổng quan vụ việc:
Bên cạnh những thành tựu to lớn mà Vinashin đã đạt được, tập đoàn cũng đã mắckhông ít những sai lầm, mà đỉnh điểm là vụ vỡ nợ của Vinashin năm 2010 Vụ việckhông chỉ gây nên tổn thất cho riêng tập đoàn mà còn trực tiếp gây tổn hại cho cả nềnkinh tế
Bước vào năm 2008, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu làm cho kinh tế thế
giới suy giảm mạnh, hàng loạt định chếtài chính, tập đoàn kinh tế lớn trên thếgiới có bề dày hoạt động cả trăm năm bịsụp đổ; nền kinh tế nước ta bị ảnh hưởngrất lớn, thị trường xuất khẩu thu hẹp, sảnxuất khó khăn, tốc độ tăng trưởng kinh tế
Trang 11chậm lại và giảm thấp; Tập đoàn Vinashin chịu tác động hết sức nặng nề, đặc biệt về thịtrường và nguồn vốn.
Ngân hàng thắt chặt cho vay, các dự án đầu tư đang triển khai thiếu vốn khônghoàn thành được để đưa vào sản xuất Nhiều hợp đồng đóng tàu đã ký không tiếp tục vayđược vốn để hoàn thành đúng tiến độ
Ngành vận tải viễn dương bị đình đốn, các chủ tàu đã hủy hợp đồng và các thỏathuận đóng tàu trị giá hơn 8 tỉ USD Riêng trong năm 2010 số hợp đồng đóng tàu cónguy cơ bị hủy lên tới trên 700 triệu USD
Mặt khác, do công tác dự báo còn nhiều bất cập nên việc lập kế hoạch phát triểnsản xuất kinh doanh và kế hoạch đầu tư không chính xác Các dự án đầu tư quá nhiều,dàn trải, vượt khả năng cân đối tài chính, có dự án chưa thật cần thiết, nên nhiều dự ánchỉ được phân bổ vốn chưa đến 50% tổng mức đầu tư Vốn điều lệ còn hạn chế, vốn tự
có trong nhiều dự án rất thấp, có dự án đầu tư bằng 100% vốn vay Do vậy, hầu hết các
dự án đầu tư đều triển khai dở dang, như các dự án giải phóng mặt bằng khu côngnghiệp, dự án đóng tàu xuất khẩu, những dự án này chưa đưa vào sử dụng nhưng vẫnphải trả lãi Đầu tư cho phát triển đội tàu trong đó có những tàu mua của nước ngoài quá
cũ, hoạt động kém hiệu quả Phát triển nhanh nhiều doanh nghiệp, góp vốn ra ngoàingành sản xuất kinh doanh chính quá rộng, cho vay và bảo lãnh cho các công ty liên kếtvay, nhiều đơn vị làm ăn không hiệu quả, không trả được nợ, không kiểm soát được.Việc sử dụng vốn không hiệu quả nêu trên đã gây hậu quả nặng nề về tài chính đối vớiTập đoàn Vinashin
Để giải quyết khó khăn nêu trên, Tập đoàn Vinashin đã phải vay nợ mới để trả nợ
cũ, vay ngắn hạn trả dài hạn, thậm chí lấy vốn lưu động để chi đầu tư Kết quả là từ năm
2009 Tập đoàn Vinashin kinh doanh thua
lỗ Đến tháng 6 năm 2010, tổng tài sảncủa Tập đoàn Vinashin khoảng 104.000
tỷ đồng nhưng tổng số nợ là 86 nghìn tỷđồng (trong đó có hai khoản nợ lớn là
750 triệu USD nợ nước ngoài do Chínhphủ bảo lãnh và 600 triệu USD Vinashin