Cơ sở lý luận để giải quyết vấn đề đặt ra tại bài tập 1 1.1 Sản phẩm mới và các vấn đề đặt ra đối với việc phát triển sản phẩm mới Với những thay đổi rất nhanh chóng của thị hiếu người t
Trang 1Bài tập Phân tích điểm hòa vốn Quyết định đưa sản phẩm ra thị trường và phân tích hồi quy
1 Phân tích điểm hòa vốn - Quyết định đưa sản phẩm ra thị trường
2 Phân tích hồi quy
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2
1 Cơ sở lý luận để giải quyết vấn đề đặt ra tại bài tập 1 2
1.1 Sản phẩm mới và các vấn đề đặt ra đối với việc phát triển sản phẩm mới 2
2.2 Để giảm thiểu rủi ro khi tung sản phẩm mới ra thị trường 2
2 Giải quyết vấn đề đặt ra ở bài tập số 1 2
3 Cơ sở lý luận để giải quyết vấn đề đặt ra tại bài tập 2 2
4 Giải quyết vấn đề đặt ra tại bài tập 2 2
4.1 Xác định hàm hồi quy giữa các biến và phân tích ảnh hưởng của từng nhân tố tới các biến: 2
4.2 Kiểm định ảnh hưởng thực sự của từng nhân tố tới lượng hàng hóa với mức ý nghĩa 5% 2
4.2.1 Kiểm định hệ số hồi quy β1 xem có moi liên hệ thực sự giữa số lượng công nhân mỗi ca (X1) với khối lượng hàng hóa xếp trong ca (Y) 2
4.2.2 Kiểm định hệ số hồi quy β2 xem có mối liên hệ thực sự giữa số lượng xe vận chuyển (X2) với khối lượng hàng hóa xếp trong ca (Y) 2
4.2.3 Kiểm định hệ số hồi quy β3 xem có mối liên hệ thực sự giữa số lượng máy xúc (X3)với khối lượng hàng hóa xếp trong ca (Y) 2
4.3 Hệ số xác định bội và ý nghĩa 2
4.4 Kiểm định sự phù hợp của mô hình 2
4.5 Dự đoán lượng hàng hóa xếp dỡ 2
KẾT LUẬN 2
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 2
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Nội dung cơ bản của hoạt động quản trị là việc ra các quyết định, bởi vì việc điều hành một tổ chức từ những công việc đơn giản hàng ngày đến những chiến lược lớn, dài hạn cũng đều dựa trên cơ sở những quyết định thích hợp Nhà quản trị mong muốn kết quả đạt được như thế nào hay nói một cách khác đó là mục tiêu đặt ra cho quyết định quản trị Để có thể thực hiện tốt bước này, nhà quản trị cần phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch và phương án đã lựa chọn Nắm bắt những thông tin được sử dụng có chính xác không? Kế hoạch được thực hiện như thế nào? Kết quả đạt được của kế hoạch đã đặt ra?Trong quá trình thực hiện quyết định sẽ nảy sinh nhiều vấn đề mà bản thân nhà quản trị và các cộng sự chưa thể lường trước được Do đó, việc theo dõi, kiểm tra sẽ giúp nhà quản trị nắm được những vướng mắc phát sinh cần giải quyết trong khi thực hiện quyết định Trên cơ sở đó, tiến hành chỉnh
lý, bổ sung, sửa đổi để quyết định quản trị đưa ra phù hợp với thực tế của công việc đòi hỏi và như vậy kết quả thu được sẽ tốt hơn
Một quyết định hiệu quả là quyết định có logic dựa trên các thông tin sẵn có và
sự phản ánh các sở thích của người ra quyết định Điều quan trọng cần nắm ở đây là hiệu quả của quyết định không liên quan tới tác động của nó Một quyết định tốt đều
có thể mang cả hậu quả tốt lẫn xấu Tương tự như vậy, một quyết định tồi ( quyết định
do thiếu thông tin hoặc không phản ánh sở thích của người ra quyết định ) có thể mang đến một kết quả khả quan Quyết định phải đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả với các cân nhắc về phí tổn, sức lực và các hậu quả có liên quan Liệu các biện pháp thay thế có đem tới hậu quả tiêu cực làm cho chọn lựa trở nên ít được mong chờ hơn không? Quyết định cũng phải lưu ý đến các tác dụng phụ hoặc các lợi thế gián tiếp Một ứng cử viên cho vị trí nhân viên có thể có các khả năng trội hơn không liên quan trực tiếp tới công việc nhưng những khả năng này lại có thể sẽ có ích cho công ty Một lần nữa bạn hãy nhớ chú ý đến điều này
Trang 4NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1 Cơ sở lý luận để giải quyết vấn đề đặt ra tại bài tập 1
1.1 Sản phẩm mới và các vấn đề đặt ra đối với việc phát triển sản phẩm mới
Với những thay đổi rất nhanh chóng của thị hiếu người tiêu dùng, công nghệ sản xuất và cạnh tranh thị trường, một doanh nghiệp không thể chỉ dựa vào những sản phẩm hiện có của mình được Khách hàng luôn mong muốn và chờ đợi những sản phẩm mới và hoàn thiện hơn Các đối thủ sẽ làm hết sức mình để tung ra những sản phẩm có khả năng cạnh tranh cao Vì vậy mỗi doanh nghiệp cần có một chương trình phát triển sản phẩm mới
Doanh nghiệp có thể có được một sản phẩm mới bằng hai cách: một là thông qua việc mua lại (asquisition), bằng cách mua cả một doanh nghiệp, một bằng sáng chế, hay một giấy phép để sản xuất sản phẩm của người khác Cách thứ hai là thông qua việc phát triển sản phẩm mới, bằng cách thành lập bộ phận nghiên cứu và phát triển riêng của mình hay ký hợp đồng với các cá nhân và tổ chức nghiên cứu và phát triển để thực hiện Chúng ta sẽ tập trung vào việc phân tích tiến trình phát triển sản phẩm mới
Ngày nay ở các nước phát triển chỉ có khoảng 10% số sản phẩm mới là thực sự mới đối với thế giới Những sản phẩm này có chi phí và rủi ro rất lớn, vì chúng mới cả đối với doanh nghiệp lẫn thị trường Do đó, phần đông các doanh nghiệp thường tập trung cố gắng của mình vào việc nghiên cứu cải tiến các sản phẩm hiện có thay vì nghiên cứu phát triển sản phẩm hoàn toàn mới Ví dụ hãng Sony dành 80% hoạt động
về sản phẩm mới cho công việc cải tiến các sản phẩm hiện có của mình
Việc phát triển sản phẩm mới thường gặp nhiều thất bại hơn là thành công Tại sao có nhiều sản phẩm mới bị thất bại? Có nhiều lý do Một nhà quản trị cấp cao có thể đã ủng hộ ý tưởng mà ông ta ưa thích, bất chấp những kết quả marketing cho thấy
là bất lợi Hoặc ý tưởng thì tốt, nhưng người đã đánh giá quá cao qui mô thị trường của nó Hoặc sản phẩm đã không được chế tạo hoàn hảo đúng mức Hoặc nó đã bị định vị sai trong thị trường, hay không được quảng cáo chu đáo, hay do định giá quá cao Đôi khi những chi phí cho việc triển khai lại cao hơn dự kiến, hoặc các đối thủ cạnh tranh đã phản ứng mạnh hơn mức doanh nghiệp dự tính Như thế các doanh nghiệp gặp phải tình trạng tiến thoái lưỡng nan, họ phải triển khai sản phẩm mới
Trang 5nhưng không chắc gì thành công Các doanh nghiệp có thể hạn chế rủi ro bằng việc lập kế hoạch có tính hệ thống hơn và thiết lập một tiến trình phát triển sản phẩm mới
có hiệu quả hơn
2.2 Để giảm thiểu rủi ro khi tung sản phẩm mới ra thị trường
Việc phát triển sản phẩm mới bắt đầu bằng việc tìm kiếm những ý tưởng mới Một doanh nghiệp thường phải hình thành được nhiều ý tưởng để tìm ra những ý tưởng tốt nhất Việc tìm kiếm ý tưởng mới phải được tiến hành một cách có hệ thống chứ không thể là một sự ngẫu nhiên
Để hình thành những ý tưởng mới về sản phẩm, doanh nghiệp phải tích cực nghiên cứu từ rất nhiều nguồn khác nhau
-Khách hàng Theo quan điểm marketing, những nhu cầu và mong muốn của khách hàng là xuất phát điểm cho mọi ý tưởng về sản phẩm mới Thông qua việc nghiên cứu những nhóm khách hàng chủ yếu sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp bằng các cuộc thăm dò, phỏng vấn và trắc nghiệm cá nhân hay trao đổi nhóm tập trung và qua những thư góp ý, khiếu nại của họ, doanh nghiệp có thể tìm hiểu những yêu cầu cải tiến sản phẩm mà họ đặt ra cho nhà sản xuất và các nhà nghiên cứu phát triển sản phẩm có thể phát hiện ra những ý tưởng hay cho nguồn cảm hứng sáng tạo sản phẩm mới
- Những chuyên gia đầu ngành.Các doanh nghiệp cũng có thể dựa vào những ý kiến của các nhà khoa học đầu ngành, các kỷ sư, các nhà thiết kế giỏi trong và ngoài doanh nghiệp để hình thành nên những ý tưởng về sản phẩm mới
- Đối thủ cạnh tranh Tìm hiểu ý định của đối thủ cạnh tranh và nghiên cứu các sản phẩm của họ cũng như lý do khách hàng chọn dùng sản phẩm của đối thủ là một cách rất tốt để đưa ra những cải tiến sản phẩm hơn hẳn sản phẩm của đối thủ cạnh tranh
- Những nhà cung ứng và phân phối sản phẩmlà một nguồn cung cấp thông tin quan trọng giúp cho việc hình thành nên những ý tưởng có tính khả thi cao Họ luôn là những người gần gủi khách hàng, hiểu rõ những ý kiến khen ngợi hay phàn nàn về sản phẩm của doanh nghiệp từ phía khách hàng, do đó có thể có những ý tưởng hay trong việc thiết kế cải tiến sản phẩm nhằm thỏa mãn tốt hơn những đòi hỏi và mong muốn của khách hàng
Trang 6- Ban lãnh đạo doanh nghiệp cũng là một nguồn chủ yếu phát sinh các ý tưởng mới về sản phẩm Họ có thể đề xuất và tổ chức thực hiện đến cùng ý tưởng về sản phẩm mới của mình hay ủng hộ một ý tưởng mà họ cho là có triển vọng thành công, hay không chấp nhận một ý tưởng có thể tốt nhưng không được họ đánh giá cao
Trong giai đoạn này, để khắc phục những sai sót có thể xảy ra, các doanh nghiệp có thể áp dụng các phương pháp hình thành ý tưởng như phương pháp liệt kê các thuộc tính (phân tích, đánh giá các thuộc tính đang có, từ đó thiết kế các giải pháp hoàn thiện và tạo ra sản phẩm mới), phương pháp phân tích hình thái học (phát hiện các cấu trúc, khảo sát các mối quan hệ giữa chúng và tìm ra những cách kết hợp mới), phương pháp phát hiện nhu cầu và vấn đề qua ý kiến của khách hàng, hay phương pháp động não trong nhóm sáng tạo (khuyến khích đưa ra càng nhiều ý tưởng càng tốt, chưa cần phê phán, khuyến khích kết hợp và phát triển các ý tưởng)
2 Giải quyết vấn đề đặt ra ở bài tập số 1
a) Theo nguyên tắc A:
Với giả thiết là cầu về SP có phân phối chuẩn, nguyên tắc A phát biểu rằng sẽ đưa SP ra thị trường nếu µ>BE (điểm hòa vốn) Theo thông tin đã cho của thị trường của loại quạt mà công ty đang tiêu thụ với lượng tiêu thụ trung bình µ=4000 sản phẩm
và 3500 sản phẩm thì mới hòa vốn trong 1 năm Vì vậy, công ty nên đưa loại quạt này
ra thị trường Quyết định có thể minh họa như đồ thị dưới đây:
b) Vẽ đồ thị của phân phối chuẩn:
5,500 5,000
4,500 4,000
3,500 3,000
2,500
f(X)
X
3,500
Trang 7Ta thấy 4000 là mức tiêu thụ trung bình Nếu điểm hòa vốn là 3500 sản phẩm thì (D>BE)>0.5, khi đó cầu trung bình là 4000 sẽ lớn hơn 3500
c) Chứng tỏ rằng hai nguyên tắc cùng đưa đến 1 quyết định:
- Theo nguyên tắc B:
Normal distribution
P(lower) P(upper) z X mean std.dev
.1587 .8413 -1.00 3,500 4,000 500
5,500 5,000
4,500 4,000
3,500 3,000
2,500
f(X)
X
3,500
Theo kết quả tính toán tren đây, xác suất để cầu sản phẩm lớn hơn điểm hòa vốn, tức là P(D>3500)=0,8413 Xác suất này lớn hơn mức rủi ro tối thiểu mà công ty mong muốn là 0,8 Vầy theo nguyên tắc B, thì công ty nên đưa sản phẩm ra thị trường
Có thể thức hiện tính theo cách thứ 2 là tính cầu trung bình tại điểm hòa vốn M:
M=BE – zpσ với P(z>zp)=p
Với p=0,8, nên P(z>zp)=0,8, do đó zp= -0,84
Trang 8Vậy M=3500+0,84*500=3920 Ta vẫn nhận được 4000>3920, do đó công ty vẫn nên đưa sản phẩm ra thị trường Minh họa tính toán như đồ thị dưới đây
Normal distribution
P(lower) P(upper) z X mean std.dev
.2000 .8000 -0.84 3,579.2 4,000.0 500.0
5,500.0 5,000.0
4,500.0 4,000.0
3,500.0 3,000.0
2,500.0
f(X)
X
3,579.2
3 Cơ sở lý luận để giải quyết vấn đề đặt ra tại bài tập 2
Còn gọi là phương pháp hồi quy đa biến, dùng phân tích mối quan hệ giữa nhiều biến số độc lập (tức biến giải thích hay biến nguyên nhân) ảnh hưởng đến 1 biến phụ thuộc (tức biến phân tích hay biến kết quả)
Trong thực tế, có rất nhiều bài toán kinh tế – cả lĩnh vực kinh doanh và kinh tế học, phải cần đến phương pháp hồi quy đa biến Chẳng hạn như phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập quốc dân, sự biến động của tỷ giá ngoại hối; xét doanh thu trong trường hợp có nhiều mặt hàng; phân tích tổng chi phí với nhiều nhân tố tác động; phân tích giá thành chi tiết; những nguyên nhân ảnh hưởng đến khối lượng tiêu thụ…
Một chỉ tiêu kinh tế chịu sự tác động cùng lúc của rất nhiều nhân tố thuận chiều hoặc trái chiều nhau Chẳng hạn như doanh thu lệ thuộc và giá cả, thu nhập bình quân xã hội, lãi suất tiền gửi, mùa vụ, thời tiết, quảng cáo tiếp thị… Mặt
Trang 9khác, giữa những nhân tố lại cũng có sự tương quan tuyến tính nội tại với nhau Phân tích hồi quy giúp ta vừa kiểm định lại giả thiết về những nhân tố tác động và mức
độ ảnh hưởng, vừa định lượng được các quan hệ kinh tế giữa chúng Từ đó, làm nền tảng cho phân tích dự báo và có những quyết sách phù hợp, hiệu quả, thúc đẩy tăng trưởng
Phương trình hồi quy đa biến dưới dạng tuyến tính:
Y = b0 + b1X1 + b2X2 + … + biXi + bnXn + e (1.12)
Trong đó: Y: biến số phụ thuộc (kết quả phân tích); b0: tung độ gốc;
b1: các độ dốc của phương trình theo các biến Xi;
Xi: các biến số (các nhân tố ảnh hưởng); e: các sai số
Lưu ý: Y trong phương trình trên được biểu hiện là Y ước lượng, người ta thường viết dưới hình thức có nón Yˆ
Mục tiêu của phương pháp hồi quy đa biến là dựa vào dữ liệu lịch sử các biến
số Yi, Xi, dùng thuật toán để đi tìm các thông số b0 và bi xây dựng phương trình hồi quy để dự báo cho ước lượng trung bình của biến Yi
Từ nghiên cứu nội dung và phương pháp phân tích có thể thấy hệ thống phân tích bao gồm các yếu tố có liên hệ chặt chẽ với nhau: chi tiết, so sánh, liên hệ, loại trừ (thay thế liên hoàn), tương quan hồi qui… nhiệm vụ của Tổ chức phân tích kinh doanh là tạo mối liên hệ giữa các yếu tố này trong từng nội dung phân tích cụ thể như sản xuất, cung ứng và tiêu thụ, chi phí, tài chính… nhằm đánh giá đúng đắn tình hình kinh doanh của đơn vị và vạch ra những tiềm năng còn có thể khai thác trong kỳ kinh doanh tới Như vậy, tổ chức phân tích chính là vận dụng tổng hợp các phương pháp phân tích để đánh giá đúng kết quả, chỉ rõ những sai lầm và tìm biện pháp sửa chữa thiếu sót trong kinh doanh Đây là yêu cầu rất cơ bản, có ý nghĩa rất thực tiễn đối với người quản lý kinh doanh
Rõ ràng, trong kinh doanh mọi tác phong hay cách nghiên cứu chung chung, đại khái chắc chắn sẽ thất bại Vì vậy sau khi thấu hiểu nội dung, phương pháp phân tích cần biết lựa chọn nội dung, sưu tầm và kiểm tra tài liệu theo nội dung ấn định, xây dựng hệ thống chỉ tiêu và lựa chọn hệ thống phương pháp thích ứng Ngoài ra, cũng như mọi mặt tổ chức khác, tổ chức phân tích cần được hoàn thiện thường xuyên nhằm thỏa mãn ngày càng đầy đủ hơn những nhu cầu thông tin cho quản lý kinh doanh, đây là phân khái quát nội dung các khâu công việc chủ yếu
Trang 104 Giải quyết vấn đề đặt ra tại bài tập 2
4.1 Xác định hàm hồi quy giữa các biến và phân tích ảnh hưởng của từng nhân tố tới các biến:
Ta quy ước:
Biến phụ thuộc:
Y: số lượng hàng hóa xếp trong ca (đơn vị tấn/ca) Biến độc lập:
X1: số công nhân làm việc trong ca X2: số xe vận chuyển trong ca X3: số xe máy xúc trong ca
Từ Phương trình hồi quy bội có dạng Y
^
¿ =β
0+β1X1+β2X2+ +βn X n
¿
Ta sẽ có tương ứng phương trình giả định cần tìm là:
Y
^
¿ =β
0+β1X1+β2X2+β3X3
Với bộ số liệu đã cho, sử dụng công cụ Excel, ta có được các thông số tương ứng:
SUMMARY OUTPUT
Regression Statistics
Adjusted R Square 0.99218395
Standard Error 50.7516705
9
Regression Analysis
R² 0.994 Adjusted R² 0.992 n 18
R 0.997 k 3 Std Error 50.752 Dep Var Số lượng hàng hóa xếp trong ca (tấn/ca) (Y)
ANOVA table
Regression 5,566,184.1956 3 1,855,394.7319 720.34 1.43E-15
Residual 36,060.2489 14 2,575.7321
Total 5,602,244.4444 17
variables coefficients std error t (df=14) p-value 95% lower 95% upper
Intercept -402.5653 31.4111 -12.816 4.00E-09 -469.9354 -335.1952
Số công nhân (X1) 17.4918 5.0422 3.469 0038 6.6775 28.3062