1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích vai trò của vùng đệm đối với các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên

75 236 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, các tổ chức, liên minh có quyền lực, có vai trò và trách nhiệm, đảm bảo việc thực hiện những biện pháp bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, đã xây dựng các công trình để bảo

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình làm đề tài: “Phân tích vai trò của vùng đệm đối với các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên”, em xin gửi lời cảm ơn sâu

sắc tới thầy giáo ThS Nguyễn Văn Minh, giảng viên khoa Sử - Địa, trường Đại

học Tây Bắc đã chỉ bảo tận tình giúp đỡ và hướng dẫn em hoàn thành đề tài này

Em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Sử - Địa, phòng thư viện nhà trường và các bạn sinh viên lớp K51 Đại học

Sư phạm Địa Lý đã tạo điều kiện thuận lợi để em hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học

Do công tác nghiên cứu khoa học, do thời gian hạn chế nên phạm vi đề tài thu hẹp, nên không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô và các bạn sinh viên để đề tài hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Sơn La, ngày 04 tháng 05 năm 2014

Sinh viên thực hiện

Lò Thị Phương Lợi

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu 1

1.2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

1.3 Giới hạn nghiên cứu 3

1.4 Tổng quan nguồn tài liệu, dữ liệu 3

1.5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 5

1.5.1 Quan điểm nghiên cứu 5

1.5.2 Phương pháp nghiên cứu 5

1.6 Những đóng góp của đề tài 6

1.7 Bố cục của đề tài 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7

1.1 Cơ sở lý luận 7

1.1.1 Khái niệm VQG&KBTTN trên thế giớ i 8

1.1.2 Khái niệm, quy định về VQG&KBTTN ở Viê ̣t Nam 9

1.1.3 Các loại bảo tồn khác 15

1.2 Cơ sở thực tiễn 16

1.2.1 Trên thế giới 16

1.2.2 Ở Việt Nam 18

CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA VÙNG ĐỆM ĐỐI VỚI CÁC VƯỜN QUỐC GIA VÀ KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN 22

2.1 Hệ thống các Vươ ̀ n quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên 22

2.1.1 Vườ n quốc gia 22

2.1.2 Hệ thống Vườn quốc gia ở Việt Nam 22

2.1.3 Phân loại Vườ n quốc gia 24

2.2 Khu ba ̉ o tồn và đă ̣c điểm của nó 24

Trang 3

2.3 Hiện trạng tại các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên ở Việt

Nam 27

2.4 Vai tro ̀ của vùng đê ̣m ở một số Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên tiêu biểu 31

2.4.1 VQG Cúc Phương ở Ninh Bình 31

2.4.2 Khu bảo tồn Xuân Nha ở Mộc Châu (Sơn La) 47

2.4.3 Khu bảo tồn Nà Hẩu (Yên Bái) 53

2.5 Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và vai trò của vùng đệm đối với các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên 62

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 64 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

IUCN Liên minh quốc tế bảo tồn thiên nhiên và

Tài nguyên thiên nhiên UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa

của Liên hiệp quốc

VQG&KBT Vườn quốc gia và khu bảo tồn VQG&KBTTN Vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU - HÌNH ẢNH

1 Bảng 1.1 Danh mục các chương trình , đề án, dự án ưu tiên 20

2 Bảng 2.1 Danh sách các VQG của Việt Nam theo vùng 22

3 Bảng 2.2 Danh sách các Khu dự trữ thiên nhiên ở Việt Nam 24

4 Bảng 2.3 Danh sách các KBT loài – sinh cảnh ở Việt Nam 26

5 Hình 2.1 Lược đồ tỉnh Ninh Bình (nguồn Vi.wikipedia.org) 31

6 Hình 2.2 VQG Cúc Phương (nguồn tourdulich.org.vn) 32

7 Hình 2.3 Khu biệt thự nghỉ dưỡng cạnh rừng Cúc Phương

8 Hình 2.4 Lược đồ tỉnh Sơn La (nguồn Vi.wikipedia.org) 48

9 Hình 2.5 Lược đồ tỉnh Yên Bái (nguồn Vi.wikipedia.org) 54

Trang 6

MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu

Nguồn tài nguyên thiên nhiên trên thế giới rất đa dạng và phong phú Nhưng hiện nay, trong những năm gần đây nguồn tài nguyên này đang bị suy thoái mạnh, do rất nhiều nguyên nhân tác động làm ảnh hưởng nghiêm trọng Nhiều nước có nguồn tài nguyên tự nhiên rất giàu có nhưng đang bị suy giảm, ví dụ: rừng nhiệt đới Amazon bao bọc toàn bộ lưu vực con sông Amazon ở Nam

Mỹ, là “lá phổi xanh” của Trái Đất, hơn một nửa diện tích rừng sẽ bị tàn phá

nặng nề hoặc có thể biến mất vào năm 2030 do biến đổi khí hậu và nạn chặt phá rừng, ngoài ra việc người dân phát quang rừng để canh tác sẽ phát thải một lượng khí CO2 tương đương với tổng khối lượng khí thải trên toàn cầu trong vòng hơn 2 năm; rừng Bulô tại Siberia của nước Nga, đang bị khai phá và chịu nhiều tác động của người dân sống xung quanh khu rừng này;… Không chỉ trên thế giới mà Việt Nam cũng là một trong những nước nằm trong sự suy giảm nghiêm trọng đó Nguyên nhân chính dẫn tới hiện trạng suy thoái này là rừng bị chặt phá để khai thác gỗ, để mở mang các khu định cư mới cho con người, cũng như phát quang chuyển đổi rừng thành đất khai thác nông nghiệp

Hiện nay, với nhịp độ phát triển của nền công nghiệp hóa và hiện đại hóa thì khối lượng nguyên liệu được sử dụng tăng lên không ngừng để cung ứng và đảm bảo cho việc phát triển công nghiệp, nông nghiệp; từ đó, những chất thải trong công nghiệp, các chất hóa học dùng trong nông nghiệp đã làm cho không khí, nước và đất bị nhiễm độc Những tác động này của con người đã làm suy thoái mạnh về các thành phần tự nhiên, bị ảnh hưởng trực tiếp và suy giảm mạnh nhất là tài nguyên rừng, tài nguyên sinh vật Thường người ta cho rằng, quy mô hoạt động của con người thấm vào đâu đối với quy mô vĩ đại của Trái Đất, nhưng thực chất con người đã làm thay đổi ở một chừng mực đáng kể đối với tự nhiên

Chính từ thực trạng trên, nhiều nước trên thế giới đã có những luật lệ chặt chẽ về việc khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn lợi từ tự nhiên, về vấn đề bảo

Trang 7

vệ môi trường sống của con người Hiện nay, các tổ chức, liên minh có quyền lực, có vai trò và trách nhiệm, đảm bảo việc thực hiện những biện pháp bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, đã xây dựng các công trình để bảo vệ như: Vườn quốc gia (VQG), Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN), Khu dự trữ thiên nhiên (KDTTN), Khu bảo tồn sinh quyển (KBTSQ), vùng lõi, vùng đệm,… Trong các chiến lược bảo tồn này, vấn đề được chú trọng quan tâm nhất là vùng đệm, đây

là một trong các giải pháp có tầm chiến lược lâu dài để bảo vệ rừng, bảo vệ thiên nhiên và môi trường, đặc biệt chú trọng hướng tới việc nâng cao vai trò của người dân sống ở vùng đệm trong việc bảo tồn các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên (VQG&KBTTN)

Trong thời gian gần đây đã có rất nhiều nhận định về vùng đệm Vậy làm thế nào để chúng ta tìm hiểu và làm rõ được vai trò, ý nghĩa và ảnh hưởng của vùng đệm đến các VQG&KBTTN? Để làm sáng tỏ điều này, tôi đã lựa chọn đề

tài “Phân tích vai trò của vùng đệm đối với các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn

thiên nhiên” làm đề tài nghiên cứu khoa học cho mình

1.2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Với nội dung mà đề tài đề cập, mục tiêu của đề tài là:

- Nêu ra được đặc điểm của VQG&KBTTN, vùng đệm đối với VQG&KBTTN

- Phân tích vai trò của vùng đệm đối với các VQG&KBTTN

- Đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng và vai trò của vùng đệm đối với VQG&KBTTN

1.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu giải quyết các vấn đề sau:

- Sưu tập tài liệu, số liệu thống kê, bản đồ và biểu đồ, tranh ảnh, phân tích tổng hợp số liệu, xử lý số liệu về các VQG&KBTTN

- Trình bày đặc điểm của VQG&KBTTN

- Phân tích hiện trạng và đặc điểm của vùng đệm ở một số VQG&KBTTN tiêu biểu

Trang 8

1.3 Giới hạn nghiên cứu

- Nội dung: Đề tài nghiên cứu phân tích vai trò của vùng đệm đối với các VQG&KBTTN

- Không gian: Nghiên cứu về các KBTTN, VQG, vùng đệm ở Việt Nam Chủ yếu nghiên cứu: VQG Cúc Phương (Ninh Bình); Khu bảo tồn (KBT) Xuân Nha (Sơn La) và Nà Hẩu (Yên Bái)

- Thời gian: Nghiên cứu phân tích trong khoảng thời gian gần đây (từ năm

1999 - 2011)

1.4 Tổng quan nguồn tài liệu, dữ liệu

Các VQG&KBTTN là khu vực tự nhiên có những vai trò và chức năng to lớn trong việc bảo tồn và duy trì trong tình trạng tự nhiên các hệ sinh thái đặc trưng, đại diện, các quần xã sinh vật, các loài, nguồn gen; các đặc tính địa mạo, giá trị tinh thần và thẩm mỹ Ngoài ra còn phục vụ nghiên cứu khoa học, tham quan vì mục đích giáo dục và du lịch sinh thái… Quan trọng nhất là vùng đệm với mục đích đẩy mạnh công tác bảo tồn và hạn chế bớt các hoạt động phá hoại của con người trong những khu vực bao quanh KBT

Trên thế giới đã có nhiều tổ chức nghiên cứu, tìm hiểu và đánh giá về vai trò của vùng đệm đối với các VQG&KBTTN Các nghiên cứu khoa học đó đã cho thấy vai trò của vùng đệm rất quan trọng và cấp thiết, nó luôn song hành và

đi đôi với các chiến lược phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên (IUCN) đã đưa ra các định nghĩa về vùng đệm (Gilmour et al, 1999) và đã xác định vùng đệm có tư cách pháp lý khác vùng lõi, vị trí của vùng đệm phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó quan trọng nhất là sự có mặt của các thôn bản hoặc các khu định cư lâu dài trong khu vực quanh KBT Như vậy, các VQG&KBTTN và vùng đệm đang ở trong môi trường hấp dẫn đối với cuộc sống cộng đồng, nơi mà sự phát triển kinh tế và

sự bảo tồn các tài nguyên thiên nhiên cần phải được tôn trọng và quan tâm một cách đặc biệt

Ở Việt Nam, vùng đệm cũng được tiếp cận khá sớm Từ trước những năm

1990, vùng đệm được hiểu là những khu vực nằm bên trong KBTTN và bao

Trang 9

quanh khu bảo vệ nghiêm ngặt của KBTTN Đến năm 1993, quan niệm về vùng đệm được thay đổi; trong công văn số 1586/LN-KL, ngày 13 tháng 9 năm 1993

của Bộ Lâm nghiệp thì: “vùng đệm là một vùng nằm ở rìa của KBTTN, bao

quanh toàn bộ hoặc một phần của KBTTN" Ở nước ta, vùng đệm đã được chú

trọng phát triển cùng với chiến lược phát triển kinh tế quốc gia, nêu cao và đánh giá tầm quan trọng vai trò của vùng đệm đối với vườn quốc gia và khu bảo tồn (VQG&KBT) trong nước Gần đây, vấn đề vùng đệm được người ta quan tâm nghiên cứu và kết quả là đã xác định được tầm quan trọng của vùng đệm đối với các VQG&KBTTN; đưa ra được một số biện pháp, một số chương trình giáo dục moi trường tại vùng đệm, xây dựng một số kế hoạch phát triển kinh tế tại vùng đệm nhằm tăng cường nhận thức về vai trò vùng đệm và hạn chế bớt tác động của cư dân vùng đệm tới các VQG&KBTTN Tuy nhiên, số lượng các công trình nghiên cứu thuộc lĩnh vực này chưa nhiều, đăc biệt là các công trình nghiên cứu ở trong nước Có thể kể tới các công trình nghiên cứu khoa học sau:

+ Đề tài “Giáo dục môi trường trung học cơ sở tại vùng đệm các VQG”

của Bộ Giáo dục và Đào tạo Hà Nội (2011), đã giới thiệu về rừng, VQG&KBTTN, vùng lõi, vùng đệm; phân tích các hoạt động giáo dục môi trường tại vùng đệm và vai trò của vùng đệm đối với các VQG&KBTTN

+ Thái Văn Trừng – Nguyễn Văn Trương – Mai Xuân Vấn (1971), “Xây

dựng khu bảo vệ thiên nhiên”, đã phân tích thực trạng các khu vực tự nhiên cần

được bảo vệ dưới những tác động của con người gây ra sự suy giảm nguồn tài nguyên thiên nhiên, vai trò quan trọng của việc bảo vệ thiên nhiên, từ đó xây dựng các khu bảo vệ thiên nhiên

+ Chương trình bảo vệ tài nguyên rừng và bảo tồn đa dạng sinh học VQG Bidoup Núi Bà, đã phân tích hiện trạng tác động của con người tại vùng đệm của VQG Núi Bà, xây dựng các chương trình bảo vệ thiên nhiên nhằm nang cao vai trò của cư dân sống tại vùng đệm ở VQG Bidoup Núi Bà

+ Chương trình môi trường Liên hợp quốc (UNEP), đã hỗ trợ các nước đang phát triển trong việc thực hiện các chính sách bảo vệ môi trường, quản lý môi trường và nền kinh tế xanh, bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên (HSTTN)

Trang 10

Các đề tài nghiên cứu khoa học và các chương trình bảo vệ tài nguyên thiên nhiên ở trên đã cung cấp tài liệu quan trọng và thông tin cần thiết có liên quan đến vấn đề nghiên cứu khoa học của mình, nên tôi đã chọn các tài liệu trên

làm cơ sở lý luận cho đề tài khoa học “Phân tích vai trò của vùng đệm đối với

các VQG&KBTTN”

1.5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

1.5.1 Quan điểm nghiên cứu

Nghiên cứ u hiê ̣n tra ̣ng thực tế tại các VQG &KBTTN, tiếp câ ̣n tổng hợp các yếu tố để phát hiện mối quan hệ giữa cộng đồng dân cư với VQG &KBTTN từ đó đưa ra giải pháp nhằm giải quyết hài hoà các mối quan hê ̣ Trong đó, chú trọng mối quan hệ giữa phát triển sinh kế của cộng đồng với việc quản lý VQG&KBTTN

Dựa trên viê ̣c nghiên cứu, sưu tầm, thu thâ ̣p, phân tích tài liệu, tổng hợp

và xử lý số liệu về các VQG &KBTTN từ đó đưa ra những nhâ ̣n đi ̣nh cho riêng mình Để thấy được vai trò rất quan trọng của vùng đệm đối với VQG&KBTTN

1.5.2 Phương pha ́ p nghiên cứu

Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu

Thu thập tài liệu là bước đầu là bước đầu tiên của quá trình nghiên cứu một đề tài nghiên cứu khoa học Đề tài tập trung nghiên cứu về VQG Cúc Phương (Ninh Bình); KBT Xuân Nha (Sơn La) và Nà Hẩu (Yên Bái), nên tài liệu chính thống còn hạn chế, vì thế việc thu thập tài liệu qua nhiều nguồn thông tin khác nhau chủ yếu từ cơ quan nghiên cứu, thư viện, với các đầu sách báo, tạp chí, các trang web, Sau khi thu thập các tài liệu tôi sẽ tiến hành lựa chọn, xử lý theo mục đích, nội dung, đối tượng nghiên cứu của đề tài

Phương pháp bản đồ biểu đồ

Trong quá trình nghiên cứu địa lý tự nhiên không thể thiếu nguồn tài liệu

là bản đồ và biểu đồ Các loại bản đồ, biểu đồ có liên quan như: bản đồ địa lý Việt Nam; bản đồ các tỉnh: Ninh Bình, Sơn La, Yên Bái

Việc nghiên cứu bản đồ, biểu đồ có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tư duy lôgic, trực quan khoa học hơn, tăng sức thuyết phục và giá trị cho đề tài

Trang 11

Phương pháp thực địa

Phương pháp thực địa có ý nghĩa quan trọng trong việc khảo sát địa lý địa phương, khi nghiên cứu về địa phương, muốn tìm hiểu sâu sắc vấn đề hiện trạng thì việc thực hiện khảo sát cho chúng ta có cái nhìn toàn diện và sâu sắc Từ đó giúp ta đánh giá đúng tiềm năng hiện có và biện pháp cần khắc phục

Bên cạnh đó, khi nghiên cứu về địa phương thì nguồn tài liệu chính ít, mặt khác những tài liệu tham khảo không nhiều, vì vậy việc khảo sát thực địa có ý nghĩa rất lớn với đề tài nghiên cứu, nhằm làm sáng tỏ các mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài nghiên cứu đặt ra Đề tài của tôi đã vâ ̣n du ̣ng phương pháp thực địa

1.6 Những đóng góp của đề tài

Phân tích, trình bày về ảnh hưởng vùng đệm, vùng lõi của VQG&KBTTN

mô ̣t cách chính thống và lôgic

Làm sáng tỏ v ề vùng đệm và vai trò của vùng đệm đối với các

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài bao gồm 2 chương:

Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn;

Chương II: Vai trò của vùng đệm đối với các Vườn quốc gia và Khu bảo

tồn thiên nhiên

Trang 12

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Cơ sở lý luận

Trong tự nhiên tài nguyên rừng rất giàu có và đa da ̣ng Rừng có vai trò rất

quan tro ̣ng, rừng là “lá phổi xanh” của Trái Đất, giúp cân bằng hê ̣ sinh thái, điều

hoà khí hậu cho Trái Đất Hơn nữa, rừng có ý nghĩa đặc biệt trong đời sống con người, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh tế phát triển nhờ sự giàu có của nó Nhưng hiê ̣n nay, con người đã quá la ̣m du ̣ng viê ̣c khai thác rừng để phục vụ cho lợi ích kinh tế của mình nhất là người dân sống ở vùng đệm tại các VQG&KBTTN Sự có mă ̣t của các cư dân sống và đi ̣nh cư lâu dài trong khu vực xung quanh KBT có vai trò rất quan tro ̣ng, vùng đệm vừa là lá chắn bao bọc , bảo vệ và phát triển tà i nguyên rừng cùng các hê ̣ sinh thái khác trong các VQG&KBTTN; song bên cạnh đó, vừa là một mối đe doa ̣ nguy hiểm ở mức báo

đô ̣ng khẩn cấp, bởi các tác đô ̣ng và sự ảnh hưởng trực tiếp của nó , vùng đệm đã khai thác và sử dụng HSTTN không hợp lý, đă ̣c biê ̣t là nguồn tài nguyên rừng ở các VQG&KBTTN

Vấn đề mà các quốc gia cần chú tro ̣ng quan tâm là vùng đê ̣m Vùng đệm

có vai trò rất quan trọng đối với sự bảo tồn và phát triển của các VQG&KBTTN

Do vâ ̣y, mô ̣t trong các giải pháp có tầm chiến lược lâu dài để bảo vê ̣ rừng , bảo

vê ̣ thiên nhiên và môi trường hiê ̣n nay là : lồng ghép và thực hiê ̣n song song đồng thời các hoa ̣t đô ̣ng ở vùng đê ̣m ; nhất là viê ̣c bảo tồn và h ỗ trợ phát triển kinh tế vùng đê ̣m; nhằm tăng thu nhâ ̣p phu ̣c vu ̣ cuô ̣c sống cô ̣ng đồng vùng đê ̣m

ở các VQG&KBTTN

Từ lâu, vấn đề bảo vệ thiên nhiên đã được nhiều nước trên thế giới chú ý đến, các nước quan tâm đến vấn đề này đã tổ chức những hội nghị quốc tế bàn

về những biện pháp bảo vệ thiên nhiên Hội nghị quốc tế tổ chức tại London (thủ

đô nước Anh) ngày 8 – 11 - 1933 đã quy định các loa ̣i KBTTN gồm có : VQG, KDTTN, khu dự trữ động vật, khu dự trữ đặc biệt,…

Trang 13

1.1.1 Khái niệm VQG&KBTTN trên thế giơ ́ i

1.1.1.1 Khái niệm rừng

Rừng là bô ̣ phâ ̣n cấu thành quan tro ̣ng nhất của sinh quyển và có ý nghĩa lớn trong sự phát triển kinh tế xã hô ̣i, sinh thái và môi trường Trên thực tế, rừng đã có li ̣ch sử phát triển lâu dài nhưng những hiểu biết về rừng chỉ mới thực sự có được từ thế kỷ XIX Cùng với sự ra đời của sinh thái học, các khái niệm về rừng

và khoa học rừng dần dần được sáng tỏ Theo quan điểm ho ̣c thuyết về hê ̣ sinh thái rừng được xem như là hệ sinh thái điển hình trong sinh quyển (Temslay, 1935; Vili, 1997; Odum, 1996) Mặt khác trên cơ sở ho ̣c thuyết về rừng của Morodov, Sukasov thì rừng được coi là mô ̣t sinh đi ̣a quần la ̣c (Biogeocenose)

Rừng được hiểu là mô ̣t hê ̣ sinh thái hoă ̣c mô ̣t quần la ̣c sinh đi ̣a , là sự thống nhất trong mối quan hê ̣ biê ̣n chứng và phát triển giữa sinh vâ ̣t , đất và môi trường Với mô ̣t đối tượng rừng rô ̣ng lớn, để tiến hành nghiên cứu cũng như các hoạt động kinh doanh rừng ổn định bền vững trước hết phải phân loại rừng thành những đơn vị cơ bản có những đặc điểm tự nhiên giống nhau Những đơn

vị cơ bản đó được gọi là các kiểu rừng

1.1.1.2 Khái niệm Vườn quốc gia

VQG là mô ̣t khu vực đất hay biển được bảo tồn bằng các quy đi ̣nh pháp luâ ̣t của chính quyền sở ta ̣i ; được bảo vê ̣ nghiêm ngă ̣t khỏi sự khai thác , can thiê ̣p bởi con người; được thành lâ ̣p ở những khu vực có đi ̣a ma ̣o đ ộc đáo có giá trị khoa học hoặc những khu vực có hệ sinh thái phong phú, có nhiều loài đô ̣ng - thực vâ ̣t có nguy cơ tuyê ̣t chủng cao cần được bảo vê ̣ nghiêm ngă ̣t trước sự khai thác của con người VQG lớn nhất thế giới là VQG Đông Bắc đảo Greenland được thành lâ ̣p năm 1974

Theo đi ̣nh nghĩa của IUCN thì VQG là : “Bảo vệ tình trạng nguyên vẹn

sinh thái của một hay nhiều hê ̣ sinh thái cho các thế hê ̣ hiê ̣n tại và tương lai Loại bỏ việc khai thác hay chiếm giữ không thân thiê ̣n đối với các mục đích của viê ̣c chọn lựa khu vực và chuẩn bi ̣ cơ sở cho các cơ hội tinh thần , khoa ho ̣c, giáo dục, giải trí và thăm quan, tất cả các cơ hội đó phải có tính tương thí ch về văn hoá và môi trường”

Trang 14

1.1.1.3 Khái niệm Khu bảo tồn thiên nhiên

Năm 1994, Tổ chức IUCN đã đưa ra khái niệm về KBTTN như sau:

“KBTTN là một khu vực trên đất liền hoặc trên biển được khoanh vùng để bảo

vệ đa dạng sinh học, các tài nguyên thiên nhiên và văn hóa đi kèm, được quản lý bằng các công cụ pháp luật hoặc các hình thức quản lý có hiệu quả khác”

1.1.2 Khái niệm, quy đi ̣nh về VQG&KBTTN ở Viê ̣t Nam

1.1.2.1 Khái niệm và phân loại rừng của Việt Nam

(1) Khái niệm rừng

Luật bảo vệ và phát triển rừng của Việt Nam (2004) đưa ra khái niệm về

rừng như sau: "Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động

vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây

gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng"

Trang 15

văn hóa, danh lam thắng cảnh; phục vụ nghỉ ngơi, du lịch, kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường

Rừng đặc dụng bao gồm các loại sau:

a) VQG;

b) KBTTN gồm KDTTN, KBT loài - sinh cảnh;

c) Khu bảo vệ cảnh quan gồm khu rừng di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh;

d) Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học

1.1.2.2 Vườn quốc gia

(1) Khái niệm Vườn quốc gia

Quyết định số 26/2005/QĐ-BNN ngày 12 tháng 10 năm 2005 về việc ban hành quy định về tiêu chí phân loại rừng đặc dụng đưa ra khái niệm VQG như

sau: "VQG là một khu vực tự nhiên trên đất liền hoặc có hợp phần đất ngập

nước trên biển, có diện tích đủ lớn để thực hiện mục đích bảo tồn một hay nhiều

hệ sinh thái đặc trưng hoặc đại diện khỏi bị tác động hay chỉ bị tác động rất ít; bảo tồn các loài sinh vật đặc hữu hoặc bị đe dọa cho các thế hệ hôm nay và mai sau"

VQG là nền tảng cho các hoạt động tinh thần, khoa học, giáo dục, giải trí

và các hoạt động du lịch sinh thái được kiểm soát và ít có tác động tiêu cực

(2) Vai trò chức năng của Vườn quốc gia

VQG có những vai trò, chức năng chính sau:

Trang 16

a) Bảo tồn và duy trì tình trạng tự nhiên các hệ sinh thái đặc trưng, đại diện, các quần xã sinh vật, các loài, nguồn gen; các đặc tính địa mạo, giá trị tinh thần và thẩm mỹ

b) Phục vụ nghiên cứu khoa học về sinh thái, sinh học và bảo tồn

c) Tham quan vì mục đích giáo dục, văn hóa, giải trí, tinh thần, và du lịch sinh thái

d) Tạo điều kiện cải thiện chất lượng đời sống của người dân sống trong và xung quanh VQG

(3) Tiêu chí xác lập Vườn quốc gia

Điều 5, Nghị định 117/2010/NĐ-CP về Tổ chức quản lí hệ thống rừng đặc dụng, quy định các tiêu chí xác lập các loại rừng đặc dụng, trong đó rừng được công nhận là một VQG cần phải đáp ứng được ít nhất một trong ba tiêu chí sau đây:

a) Có ít nhất 01 mẫu chuẩn hệ sinh thái đặc trưng của một vùng sinh thái hoặc của quốc gia, quốc tế; có diện tích liền vùng tối thiểu trên 10.000 ha, trong

đó ít nhất 70% diện tích là các HSTTN; diện tích đất nông nghiệp và đất thổ cư phải nhỏ hơn 5%

b) Có ít nhất 01 loài sinh vật đặc hữu của Việt Nam hoặc có thể bảo tồn sinh cảnh trên 05 loài sinh vật nguy cấp, quý, hiếm theo quy định của pháp luật;

có diện tích liền vùng tối thiểu trên 7.000ha, trong đó ít nhất 70% diện tích là các HSTTN; diện tích đất nông nghiệp và đất thổ cư phải nhỏ hơn 5%

c) Có giá trị đặc biệt quan trọng về bảo vệ cảnh quan, nghiên cứu thực nghiệm khoa học của quốc gia được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

1.1.2.3 Khu bảo tồn thiên nhiên

(1) Khái niệm Khu bảo tồn thiên nhiên

Năm 1994, Tổ chức IUCN đã đưa ra khái niệm về KBTTN như sau:

“KBTTN là một khu vực trên đất liền hoặc trên biển được khoanh vùng để bảo

vệ đa dạng sinh học, các tài nguyên thiên nhiên và văn hóa đi kèm, được quản lý bằng các công cụ pháp luật hoặc các hình thức quản lý có hiệu quả khác”

Trang 17

Theo quyết định số 186/2006/QĐ-TTg về việc ban hành quy chế quản lý rừng, KBTTN gồm hai loại đó là: KDTTN và KBT loài - sinh cảnh

KDTTN là khu vực có rừng và HSTTN trên đất liền hoặc ở vùng đất ngập nước, hải đảo, được xác lập để bảo tồn bền vững các hệ sinh thái chưa hoặc ít bị biến đổi; có các loài sinh vật đặc hữu, quý, hiếm hoặc đang nguy cấp

KBT loài sinh cảnh là khu vực có rừng và HSTTN trên đất liền hoặc có hợp phần đất ngập nước được xác lập để bảo tồn loài, bảo vệ môi trường sống nhằm duy trì nơi cư trú và sự tồn tại lâu dài của các loài sinh vật đặc hữu, quý, hiếm hoặc đang nguy cấp

(2) Vai trò, chức năng của Khu bảo tồn thiên nhiên

 Khu dự trữ thiên nhiên

a) Bảo tồn và duy trì các mẫu chuẩn của tự nhiên, duy trì quá trình sinh thái, các quần xã sinh vật, các loài, nguồn gen và các thắng cảnh có tầm quan trọng quốc gia về khoa học, giáo dục, tinh thần, giải trí và du lịch sinh thái

b) Phục vụ nghiên cứu khoa học về sinh thái, sinh học và bảo tồn

c) Tham quan vì mục đích giáo dục, văn hóa, tinh thần giải trí và du lịch sinh thái ở mức độ đảm bảo duy trì trạng thái tự nhiên hay gần tự nhiên

d) Tạo điều kiện cải thiện đời sống của người dân sống trong và xung quanh KDTTN, phù hợp với các mục tiêu bảo tồn

 Khu bảo tồn loài sinh cảnh

a) Bảo tồn và duy trì môi trường sống tự nhiên của các loài, nhóm loài, quần thể sinh vật đặc trưng, có sự tác động phù hợp của con người

b) Phục vụ nghiên cứu khoa học, giám sát môi trường và giáo dục cộng đồng, phục vụ cho công tác quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên

c) Tạo điều kiện cải thiện đời sống người dân sống trong và xung quanh KBT loài – sinh cảnh, phù hợp với mục tiêu bảo tồn

(3) Tiêu chí xác lập khu bảo tồn thiên nhiên

Điều 5, Nghị định 117/2010/NĐ-CP về tổ chức và quản lý hệ thống rừng đặc dụng, quy định các tiêu chí xác lập các loại rừng đặc dụng, trong đó khu vực

Trang 18

được công nhận là KDTTN hoặc KBT loài – sinh cảnh cần đáp ứng được những tiêu chí sau đây:

Khu dự trữ thiên nhiên

a) Có ít nhất 01 hệ sinh thái rừng tự nhiên quan trọng đối với quốc gia, quốc tế chưa hoặc ít bị biến đổi, có giá trị đặc biệt về khoa học, giáo dục hoặc

du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng Trong trường hợp đặc biệt nếu là rừng trồng thì khu rừng đó phải đảm bảo diễn thế phát triển ổn định tiếp cận và từng bước tái tạo HSTTN;

b) Là sinh cảnh của ít nhất 05 loài sinh vật là các loài động, thực vật nguy cấp, quý, hiếm ưu tiên bảo vệ theo quy định của pháp luật;

c) Diện tích liền vùng tối thiểu trên 5.000ha, trong đó ít nhất 90% diện tích là các HSTTN (hoặc nếu là rừng trồng thì khu rừng đó phải đảm bảo diễn thế phát triển ổn định tiếp cận và từng bước tái tạo HSTTN)

Khu bảo tồn loài - sinh cảnh

a) Có ít nhất 01 loài sinh vật đặc hữu hoặc loài nguy cấp, quý, hiếm theo quy định của pháp luật;

b) Phải đảm bảo các điều kiện sinh sống, thức ăn, sinh sản,… để bảo tồn bền vững các loài sinh vật đặc hữu, nguy cấp, quý, hiếm;

c) Có diện tích liền vùng đáp ứng yêu cầu bảo tồn bền vững của các loài sinh vật đặc hữu, nguy cấp, quý, hiếm

1.1.2.4 Khái niệm vùng lõi của Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên

Vùng lõi là khu vực nằm bên trong ranh giới hành chính của một VQG&KBTTN, được quản lý và bảo vệ bằng nhiều biện pháp khác nhau Theo quyết định số 186/2006/QĐ-TTg, vùng lõi VQG&KBTTN nhiên được chia thành các phân khu chức năng sau:

a) Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt

Là khu vực có diện tích vừa đủ để bảo vệ nguyên vẹn HSTTN như mẫu chuẩn sinh thái quốc gia, được quản lý, bảo vệ chặt chẽ để theo dõi diễn biến tự

nhiên của rừng và hệ sinh thái

Trang 19

Đối với rừng đặc dụng ở vùng đất ngập nước, phạm vi và quy mô của phân khu bảo vệ nghiêm ngặt được xác định theo mục tiêu, đối tượng, tiêu chí

bảo tồn và điều kiện thủy văn

b) Phân khu phục hồi sinh thái

Là khu vực được quản lý, bảo vệ chặt chẽ để khôi phục các hệ sinh thái

rừng thông qua việc thực hiện một số hoạt động lâm sinh

c) Phân khu dịch vụ - hành chính

Là khu vực để xây dựng các công trình làm việc và sinh hoạt của ban quản lý, các cơ sở nghiên cứu – thí nghiệm, dịch vụ du lịch, vui chơi giải trí

Các phân khu chức năng trong VQG&KBTTN được điều chỉnh về phạm

vi ranh giới của từng phân khu dựa trên đặc điểm, thực trạng diễn biến của rừng

và mục đích quản lý, sử dụng rừng; việc điều chỉnh ranh giới của các phân khu được thực hiện sau mỗi kỳ quy hoạch hoặc sau mỗi lần rà soát diện tích các loại rừng theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ

1.1.2.5 Khái niệm vùng đệm của Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên

Vùng đệm là khu vực nằm tiếp giáp VQG hoặc KBTTN, có vai trò là vùng chuyển tiếp giữa khu vực được bảo vệ bên trong (vùng lõi) và khu vực không được bảo vệ hoặc canh tác nằm bên ngoài KBT

Vùng đệm là nơi có thể đáp ứng được một số nhu cầu nhất định của người dân địa phương về tài nguyên rừng Tuy nhiên mục đích chủ yếu của vùng đệm

là giúp đẩy mạnh công tác bảo tồn và hạn chế bớt các hoạt động phá hoại của con người trong những khu vực bao quanh KBT Vùng đệm có tư cách pháp lý khác với vùng lõi Vị trí của vùng đệm tùy thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó quan trọng nhất là sự có mặt của các thôn bản hoặc các khu định cư lâu dài trong khu vực xung quanh KBT Các hoạt động kinh tế của cộng đồng dân cư trong vùng đệm được hạn chế và kiểm soát sao cho không gây tác động xấu đến tài nguyên của KBT và đó phải là những phương thức sử dụng đất bền vững Tổ

chức IUCN định nghĩa vùng đệm như sau (Gilour et al, 1999): “Vùng đệm là

những vùng được xác định ranh giới rõ ràng, có hoặc không có rừng, nằm ngoài ranh giới KBT và được quản lý để nâng cao việc bảo tồn của KBT và chính

Trang 20

vùng đệm, đồng thời mang lại lợi ích cho nhân dân sống quanh KBT Điều này

có thể thực hiện được bằng cách áp dụng các hoạt động cụ thể, đặc biệt góp phần vào việc nâng cao đời sống kinh tế - xã hội của các cư dân sống trong vùng đệm”

1.1.3 Các loại bảo tồn khác

1.1.3.1 Khu dư ̣ trữ sinh quyển (KDTSQ)

KDTSQ thế giới là mô ̣t danh hiê ̣u do tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) trao tă ̣ng cho các KBTTN các hê ̣ đô ̣ng thực

vâ ̣t đô ̣c đáo , phong phú đa da ̣ng Theo đi ̣nh nghĩa của UNESCO , KDTSQ thế giới là những khu vực hê ̣ sinh thái bờ biển hoă ̣c trên ca ̣n giúp thúc đẩy các giải pháp điều hoà việc bảo tồn sự đa dạng sinh học với việc phát triển bền vững khu vực đó có giá tri ̣ nổi bâ ̣t, được quốc tế công nhâ ̣n

Theo đi ̣nh nghĩa của UNESCO , KDTSQ là những vùng có các hệ sinh thái trên cạn hoă ̣c ven biển được quốc tế công nhâ ̣n trong pha ̣m vi Chương trình con người và sinh quyển nhằm thúc đẩy và trình diễn mối quan hê ̣ cân bằng giữa con người và thiên nhiên

Hiện nay, trên lãnh thổ Việt Nam có tất cả 8 KDTSQ được tổ chức

UNESCO công nhận, cụ thể gồm các khu sau:

8 KDTSQTây Nghệ An

1.1.3.2 Khu bảo tồn cảnh quan trên đất liền và trên biển

KBT cảnh quan trên đất liền và trên biển được thành lập nhằm bảo tồn các cảnh quan Ở đây cho phép khai thác, sử dụng tài nguyên theo cách cổ truyền, không có tính phá hủy, đặc biệt tại những nơi mà việc khai thác, sử dụng tài

Trang 21

nguyên đã hình thành nên những đặc tính văn hóa, thẩm mỹ và sinh thái học đặc sắc Những nơi này tạo nhiều cơ hội phát triển cho ngành du lịch và nghỉ ngơi giải trí.

1.1.3.3 Trung tâm con người và thiên nhiên

Trung tâm Con người và Thiên nhiên là tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận hoạt động nhằm bảo vệ môi trường, bảo tồn sự đa dạng và phong phú của thiên nhiên, nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng địa phương thông qua tìm kiếm, quảng bá, thực hiện các biện pháp bền vững và thân thiện với môi trường

1.1.3.4 Trung tâm bảo tồn nguồn gen cây trồng

Trung tâm bảo tồn nguồn gen cây trồng thuộc trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, được thành lập theo quyết định số 1242/QĐ-NNH trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

và HSTTN nằm trong VQG&KBTTN

Vùng đệm là một thuật ngữ tương đối mới, mặc dù nguyên lý của nó đã được sử dụng trong một thời gian dài Quản lý vùng đệm là một lĩnh vực được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau, gây khó khăn cho việc đưa ra một định nghĩa chung

Trang 22

Khái niệm về vùng đệm trên thế giới, trước hết là chức năng quản lý vùng đệm đã phát triển qua 3 giai đoạn như sau:

- Giai đoạn đầu: Các vùng đệm được xây dựng chủ yếu như là những phương tiện bảo vệ con người và mùa màng để tránh sự tấn công và phá hoại của động vật sống trong các KBT và rừng

- Giai đoạn tiếp (từ 10 - 20 năm trước đây): Các vùng đệm được xem như

là những phương cách để bảo vệ các KBT tránh khỏi những tác động tiêu cực của con người

- Gai đoạn hiện nay: Vùng đệm thường được áp dụng đồng thời cho việc giảm thiểu các hoạt động của con người lên các KBT với việc hướng tới những nhu cầu và mong muốn về kinh tế - xã hội dưới tác động của dân số

Hiện tại, chưa có định nghĩa chung về vùng đệm trên phạm vi toàn thế giới, mà chỉ có các định nghĩa và sự mô tả khác về vấn đề ở cấp quốc gia hoặc

 Vùng đệm thứ cấp

Sơ đồ khu bảo tồn theo UNESCO

- Năm 1982, Ấn Độ đã áp dụng chiến lược ''vùng đệm - vùng lõi - vùng sử

dụng đa dạng'' Mục đích của chiến lược này là tách rời với sử dụng đất bất hợp

lý, đặc biệt là trong mối quan hệ với môi trường sống của động vật hoang dã Theo cách tiếp cận này, thì vùng đệm có thể được đă ̣t dưới sự quản lý của VQG Trong một số trường hợp có thể cho phép cả kiểm soát sự sử dụng các sản phẩm lâm nghiệp Vùng sử dụng đa dạng được đặt ở bên ngoài khu vực VQG, nơi

Trang 23

được thiết kế phục vụ cho phát triển nông thôn Vùng đệm trong bối cảnh lâm nghiệp Ấn Độ có thể được quy lại như sau:

+ Một vùng đệm được nằm hoàn toàn trong ranh giới của VQG

+ Một vùng đệm với một KBT nằm liền kề với vườn quốc gia hoặc KBT

Ở các nước có nền kinh tế phát triển, sinh kế của con người không phụ thuộc vào KBT và người dân có một nhận thức cao về giá trị giải trí, văn hóa, bảo tồn đa dạng sinh học, đồng thời pháp luật được tôn trọng thì vùng đệm được xây dựng và phát triển một cách bình thường, hiếm có tác dụng tiêu cực của con người tấn công vào rừng

Ngược lại, các nước có nền kinh tế chưa phát triển, đời sống kinh tế văn hóa, dân trí thấp, sức ép dân số ngày càng tăng, coi thường pháp luật thì vùng đệm trở nên rất quan trọng Bởi vì sự tồn tại, phát triển hay hủy diệt đối với KBT phụ thuộc vào nhân dân vùng đệm là chủ yếu

1.2.2 Ở Việt Nam

Nước ta thuộc vùng nhiệt đới gió mùa ẩm, lãnh thổ đất nước ta chạy từ vùng biển nhiệt đới đến giáp Bắc chí tuyến, có núi cao 2000 - 3000m, có những vùng đảo đặc sắc, lại ở trên luồng giao lưu của động vật và thực vật Nên có những cây cỏ và chim thú quý giá của nhiều vùng khí hậu khác nhau Nhiều nhà

khoa học đã nhận định rằng: "Nước ta là một bảo tàng lớn, là trường học, là cơ

sở nghiên cứu cho nhiều nhà khoa học trên thế giới"

Ở Việt Nam, khái niệm vùng đệm cũng được tiếp cận khá sớm, từ trước những năm 1990 Tuy nhiên, trước năm 1990, vùng đệm được hiểu là những khu vực nằm bên trong KBTTN và bao quanh khu bảo vệ nghiêm ngặt của KBTTN

Đến năm 1993, quan niệm về vùng đệm được thay đổi Trong công văn số 1586/LN-KL, ngày 13 tháng 09 năm 1993, của Bộ Lâm nghiệp thì vùng đệm là một vùng nằm ở rìa của KBTTN, bao quanh toàn bộ hoặc một phần của KBTTN Vùng đệm không thuộc diện tích của KBTTN và không chịu sự quản

lý của Ban quản lý KBTTN

Trang 24

Khái niệm toàn diện nhất về vùng đệm được nêu ra trong quyết định số

08/2001/QĐ-TTg ngày 11/01/2001 của Thủ tướng Chính phủ: “Vùng đệm là

vùng rừng, vùng đất hoặc vùng đất có mặt nước, có dân cư, nằm sát ranh giới với các VQG&KBT; có tác dụng ngăn chặn hoặc giảm nhẹ sự xâm phạm khu rừng đặc dụng Mọi hoạt động trong vùng đệm phải nhằm mục đích hỗ trợ cho công tác bảo tồn, quản lý và bảo vệ khu rừng đặc dụng; hạn chế dân cư từ bên ngoài vào vùng đệm, cấm săn bắt bẫy bắt các loài động vật và chặt phá các loài thực vật hoang dã là đối tượng bảo vệ Diện tích của vùng đệm không tính vào diện tích của khu rừng đặc dụng; Dự án đầu tư, xây dựng và phát triển vùng đệm được phê duyệt cùng với Dự án đầu tư của khu rừng đặc dụng”

Tại vùng đệm ở các VQG&KBTTN các chương trình giáo dục bảo tồn thường được tổ chức với cộng đồng và có sự cộng tác của các dự án khác hay các đoàn thể địa phương (Chi đoàn thanh niên, chi hội phụ nữ) Nhằm mục đích

là khuyến khích phát triển kinh tế hài hòa với môi trường (Ví dụ: Các chương trình tổ chức ở VQG Ba Bể, VQG Cúc Phương, VQG Cát Bà, VQG Bạch Mã, VQG Pù Mát, KBTTN Na Hang, KBT Xuân Nha, KBT Nà Hẩu, )

Các chương trình giáo dục môi trường thường sử dụng những bộ phim ngắn, phim đèn chiếu, biểu diễn các vở kịch ngắn mang thông điệp bảo tồn nhằm giúp nâng cao nhận thức của người dân địa phương và giảm bớt một nửa

độ phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên rừng

Để phát huy vai trò của vùng đệm có các chương trình, dự án, chiến lược được thực hiện tại các VQG&KBTTN ở Việt Nam, thể hiện ở bảng 1, danh mục các chương trình, đề án, dự án ưu tiên:

Trang 25

Bảng 1.1: Danh mục các chương trình, đề án, dự án ưu tiên

Số

TT

Danh mục các chương

trình, đề án, dự án ưu tiên Cơ quan chủ trì

Cơ quan phối hợp

Thời gian thực hiện

1

Chương trình tăng cường

năng lực bảo tồn đa dạng

sinh học cho các cán bộ quản

lý đa dạng sinh học ở cấp

trung ương, địa phương và

các ban quản lý khu bảo tồn

Bộ tài nguyên và môi trường

Bộ nông nghiệp

và phát triển nông thôn

2013 –

2015

2

Nghiên cứu, đề xuất đổi mới

cơ chế tiền lương nhằm

khuyến khích cán bộ công

tác tại các khu bảo tồn vùng

xâu, vùng xa, các cán bộ

kiểm lâm, kiểm ngư

Bộ nông nghiệp

và phát triển nông thôn

Bộ lao đông, thương binh và

xã hội

2013 –

2015

3

Thực hiện các mô hình bảo

tồn đa dạng sinh học dựa vào

cộng đồng

Bộ Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, UBND cấp tỉnh

2013 -

2020

4

Chương trình kiểm soát hoạt

đông khai thác, buôn bán,

tiêu dùng

Bộ Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn

Xây dựng các quy hoạch, các

kế hoạch quản lý các khu bảo

2013 -

2016

Trang 26

6 Đa dạng hóa nguồn đầu tư

cho khu bảo tồn

Bộ kế hoạch và Đầu tư

Bộ Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn, Bộ Tài nguyên và Môi trường

2014 -

2016

7

Xây dựng 2 khu vực ưu tiên

bảo tồn hổ tại khu bảo tồn

liên biên giới với Lào và

Campuchia

Bộ Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn

Bộ Tài nguyên

và Môi trường, UBND cấp tỉnh

2015 –

2020

8

Cập nhật, ban hành Danh lục

đỏ, Sách đỏ Việt Nam ddược

điều của Việt Nam dựa trên

các hướng dẫn của IUCN

Bộ Tài nguyên

và Môi trường

Viện Khoa học Việt Nam

2014 –

2017

9

Đánh giá các mô hình đồng

quản lý các khu bảo tồn và

nhân rộng các mô hình tiên

tiến; tiếp tịc xây dựng các mô

hình thí điểm để phát huy vai

trò của người dân trong công

tác bảo tồn, chú trọng đến

việc phân quyền trong quản

lý tài nguyên đa dạng sinh

2013 –

2017

(Nguồn thuvienphapluat.vn)

Trang 27

CHƯƠNG 2 VAI TRÒ CỦA VÙNG ĐỆM ĐỐI VỚI CÁC VƯỜN

QUỐC GIA VÀ KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN

2.1 Hệ thống các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên

2.1.1 Vươ ̀n quốc gia

Theo đi ̣nh nghĩa cuả Viê ̣t Nam thì : "VQG là một khu vực tự nhiên trên đất

liền hoặc có hợp phần đất ngập nước trên biển , có diện tích đủ lớn để thực hiện

mục đích bảo tồn một hay nhiều hê ̣ sinh thái đặc trưng hoặc đại diê ̣n khỏi bị tác

động hay chỉ bi ̣ tác động rất ít; bảo tồn các loài sinh vật đặc hữu hoặc bị đe doạ

cho các thế hê ̣ hôm nay và mai sau" Hệ thống VQG ở Việt Nam khá đa dạng từ

Bắc vào Nam

2.1.2 Hệ thống Vườn quốc gia ở Việt Nam

Giới thiệu hệ thống VQG ở Việt Nam:

Đến tháng 08 năm 2010, Việt Nam có 30 VQG Danh sách các VQG ở

các vùng khác nhau trên lãnh thổ Việt Nam được trình bày ở bảng 2.1

Bảng 2.1 Danh sách các VQG của Việt Nam theo vùng

Cai Đồng Bằng

Bắc Bộ

Trang 28

4 Cúc Phương 1966 20.000

Ninh Bình - Thanh Hóa – hòa Bình

Tây Nguyên

1 Chư Mom

2 Kon Ka

4 U Minh

(Nguồn Vi.wikipedia.org)

Trang 29

2.1.3 Phân loại Vươ ̀n quốc gia

Mỗi VQG ở mỗi vùng sinh thái trên cả nước đều có những đặc trưng riêng Tuy nhiên trong nghiên cứu này chúng tôi chia các VQG trong cả nước thành ba nhóm lớn có những điều kiện khác nhau rõ rệt như sau:

- Nhóm thứ nhất: Các VQG ở vùng núi, đại diện là các hệ sinh thái rừng á nhiệt đới núi thấp và trung bình (VQG Hoàng Liên Sơn, VQG Chư Yang Sin,…), hệ sinh thái rừng thưa cây lá rộng (VQG Yok Đôn, VQG Cát Tiên,…)

- Nhóm thứ hai: Các VQG ở vùng đất ngập nước, đại diện là các hệ sinh thái rừng ngập mặn (VQG Mũi Cà Mau, VQG Xuân Thủy,…), hệ sinh thái rừng tràm (VQG U Minh Thượng, VQG Tràm Chim,…)

- Nhóm thứ ba: Các VQG ở vùng đảo như: VQG Cát Bà, VQG Phú Quốc

2.2 Khu ba ̉ o tồn và đă ̣c điểm của nó

(1) Khu dự trữ thiên nhiên

Theo số liệu rà soát của Cục kiểm lâm vào tháng 03 năm 2008, danh sách

các KDTTN được trình bày ở bảng 2.2

Bảng 2.2 Danh sách các Khu dự trữ thiên nhiên ở Việt Nam

Trung du và

miền núi phía

Bắc

1 Đồng Sơn – Kỳ Thượng 14.851 Quảng Ninh

2 Tây Yên Tử 13.023 Bắc Giang

3 Hữu Liên 8.293 Lạng Sơn

4 Núi Pia Oắc 10.261 Cao Bằng

5 Kim Hỷ 14.772 Bắc Kạn

6 Thần Sa – Phượng Hoàng 18.859 Thái Nguyên

7 Chạm Chu 15.902 Tuyên Quang

8 Na Hang 22.402 Tuyên Quang

9 Bắc Mê 9.043 Hà Giang

10 Bát Đại Sơn 4.531 Hà Giang

11 Du Già 11.540 Hà Giang

12 Phong Quang 7.911 Hà Giang

13 Tây Côn Lĩnh 14.489 Hà Giang

14 Văn Bàn 25.173 Lào Cai

15 Mường Tè 33.775 Lai Châu

Trang 30

16 Mường Nhé 44.940 Điện Biên

17 Co Pia 11.996 Sơn La

18 Sốp Cộp 17.369 Sơn La

19 Tà Xùa 13.412 Sơn La

20 Xuân Nha 16.317 Sơn La

21 Nà Hẩu 16.400 Yên Bái

22 Hang Kia – Pà Cò 5.258 Hòa Bình

23 Ngọc Sơn – Ngổ Luông 15.891 Hòa Bình

24 Phu Canh 5.647 Hòa Bình

25 Thượng Tiến 5.873 Hòa Bình Đồng Bằng

Bắc Bộ

1 Tiền Hải 3.245 Thái Bình

2 Vân Long 1.947 Ninh Bình

Bắc Trung

Bộ

1 Pù Hu 23.028 Thanh Hóa

2 Pù Luông 16.902 Thanh Hóa

3 Xuân Liên 23.475 Thanh Hóa

2753 (Quảng Nam)

3 Ngọc Linh 17.576 Quảng Nam

4 Sông Thanh 79.694 Quảng Nam

5 An Toàn 22.545 Bình Định

6 Hòn Bà 19.164 Khánh Hòa

7 Krong Trai 13.392 Phú Yên

8 Núi Ông 24.017 Bình Thuận

9 Tà Kou 8.468 Bình Thuận Tây Nguyên 1 Ngô Linh 38.109 Kon Tum

Trang 31

2 Kon Cha Răng (Kon Chư Răng)

15.446 Gia Lai

3 Ea Sô 24.017 Đăk Lăk

4 Nam Kar 21.912 Đăk Lăk

5 Nam Nung 10.912 Đăk Nông

6 Tà Đùng 17.915 Đăk Nông Đông Nam

3 Ấp Canh Điền 363 Bạc Liêu

4 Hòn Chông 965 Kiên Giang

(Nguồn Vi.wikipedia.org)

(2) Khu bảo tồn loài – sinh cảnh

Theo số liệu tổng hợp vào năm 2011, danh sách các KBT loài - sinh cảnh

ở Việt Nam được trình bày ở bảng 2.3

Bảng 2.3 Danh sách các KBT loài - sinh cảnh ở Việt Nam

2 Khhu bảo tồn loài và sinh

3 Khu bảo tồn loài và sinh cảnh vọoc mũi hếch Khau Ca 2.010 Hà Giang

4 Khu bảo tồn loài và sinh

Bắc Trung

Bộ

1 Khu bảo tồn Hương Nguyên 10.311 Thừa Thiên - Huế

2 Khu bảo tồn Sao La Thừa Thừa Thiên - Huế

Trang 32

Thiên Huế Nam Trung

Bộ

1 Khu bảo tồn Sao La Quảng

Tây

Nguyên

2 Khu bảo tồn sinh cảnh

Tây Nam

Bộ

1 Khu bảo tồn thiên nhiên

2 Khu bảo tồn thiên nhiên

Trong những năm qua chúng ta đã nhận thức rất rõ các nguyên nhân gây

ra mất rừng, suy thoái rừng và đã có rất nhiều nỗ lực để giải quyết vấn đề này và

đã đạt được những hiệu quả nhất định Nhất là trong công tác bảo vệ và phát triển rừng bền vững tại vùng đệm ở các VQG&KBTTN

Sự thành lập các KBTTN, Ban Quản lý KBT, UBNND các xã trong KBT

đã tổ chức các hoạt động tuyên truyền bằng nhiều “kênh” khác nhau để nâng

cao nhận thức cho người dân Song, một thực tế vẫn tồn tại chưa thể khắc phục

Trang 33

được là tình trạng người dân, lâm tặc vẫn lén lút khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép, phát lấn rừng trong KBT, làm nương rẫy Điển hình là việc sản xuất lâm nghiệp trong KBT, gây không ít khó khăn cho các lực lượng làm nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng tại đây

Hiện nay, dưới áp lực ngày càng gia tăng của đói nghèo, sinh kế, ưu tiên phát triển kinh tế thị trường (lâm sản và động vật hoang dã), rừng đặc dụng phải thường xuyên chịu áp lực bởi các hoạt động khai thác trái phép, bị đánh đổi cho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng (giao thông, thủy điện, khai khoáng và du lịch) cũng như chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng Tại các địa phương lại có cách hiểu, cách tiếp cận và huy động người dân tham gia vào công tác bảo vệ và chia sẻ lợi ích từ rừng khác nhau Thậm chí, việc kêu gọi người dân cùng tham gia vào đồng quản lý và chia sẻ lợi ích tại nhiều địa phương vẫn chưa được quan tâm đúng mức Như vậy, việc nâng cao nhận thức và cải thiện đời sống cho nhân dân sống trong vùng đệm tại các VQG&KBTTN là rất quan trọng và cấp thiết

Theo số liệu Báo cáo Chương trình điều tra, theo dõi và đánh giá tài nguyên rừng toàn quốc (NFIMAP) chu kỳ III, hơn 2/3 diện tích rừng tự nhiên của Việt Nam được coi là rừng nghèo; Rừng giàu và rừng trung bình chỉ chiếm 4,6 % tổng diện tích rừng và phần lớn phân bố tại các vùng núi cao, vùng sâu, vùng xa Nhiều khu rừng ngập mặn và rừng tràm tại vùng đồng bằng ven biển có vai trò quan trọng trong việc duy trì đa dạng sinh học dường như đã biến mất

Cơ hội tái sinh tự nhiên có trữ lượng lớn thường độc lập và manh mún Báo cáo cũng cho thấy chất lượng và đa dạng sinh học rừng tiếp tục bị suy giảm Trong giai đoạn 1999 - 2005, diện tích rừng tự nhiên giàu giảm 10,2% và rừng trung bình giảm 13,4% Nhiều diện tích rừng tự nhiên rộng lớn tại vùng Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Bắc đã bị mất trong giai đoạn từ 1991 – 2001

Chúng ta, đã và đang chặt phá rừng để phát triển nông nghiệp, mở rộng chăn nuôi, xây dựng nhà cửa, đô thị… Sự tàn phá rừng, không những gây mất cân bằng sinh thái ở nước ta mà còn làm giảm khả năng hấp thụCO2 và gián tiếp làm tăng thêm lượng khí CO2 phát thải ra khí quyển, góp phần làm cho biến đổi khí hậu toàn cầu tăng nhanh Như vậy, sự giảm sút đa dạng sinh học, nhất là

Trang 34

giảm sút diện tích rừng đã thúc đẩy sự gia tăng biến đổi khí hậu toàn cầu, nhưng ngược lại sự nóng lên toàn cầu cũng đã ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại và phát triển của các loài sinh vật và đa dạng sinh học

Các VQG&KBTTN tại Việt Nam trong những năm gần đây được hỗ trợ bởi các tổ chức phi chính phủ (WWF, IUCN, ENV,…), dành cho những nhóm đối tượng mục tiêu khác nhau Ví dụ, tổ chức giáo dục môi trường cho khách tham quan và cán bộ nhân viên các VQG, học sinh và cư dân sống trong vùng đệm của các VQG hay các KBTTN khác hoặc hỗ trợ cho các câu lạc bộ bảo tồn Tại vùng đệm của các VQG&KBTTN, các chương trình giáo dục bảo tồn thường được tổ chức với cộng đồng và có sự công tác của các dự án khác hay các đoàn thể địa phương (Chi đoàn thanh niên, Chi hội phụ nữ) Mục đích của những chương trình này là khuyến khích phát triển kinh tế hài hòa với môi trường (Ví dụ các chương trình tổ chức ở VQG Ba Bể, VQG Cúc Phương, VQG Cát Bà, VQG Bạch Mã, KBTTN Na Hang, KBT Xuân Nha, KBT Nà Hẩu,…) Các chương trình giáo dục môi trường tổ chức nhằm nâng cao nhận thức của người dân địa phương và giảm bớt mức độ phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên rừng

Năm 1998, đa ̣i sứ quán Hà Lan đã tài trợ dự án nhỏ (tăng cường năng lực cho khu Ramsar Xuân Thủy ) Ban quản lý đã dùng mô ̣t kinh phí của dự án kế t hợp với Hô ̣i phu ̣ nữ của 2 xã vùng đệm cho phụ nữ nghèo vay vốn tín dụng để phát triển sản xuất Cho đến nay, Quỹ tín dụng môi trường vẫn hoạt động và đạt được hiê ̣u quả tốt, được hô ̣i phu ̣ nữ và chính quyền đi ̣a phương đánh giá rất cao

+) Trong khoảng thời gian từ năm 1999 đến năm 2000 được sự giúp đỡ của Chương trình tài trợ các dự án nhỏ của Quỹ môi trường toàn cầu (GEF/GPS), ban quản lý đã triển khai dự án: Nâng cao nhâ ̣n thức và hỗ trợ cô ̣ng đồng vùng đê ̣m KBTTN Dự án đã tiến hành nhiều hoa ̣t đô ̣ng giáo du ̣c môi trường và xây dựng được mô hình sản xuất nhỏ như : mô hình chăn nuôi , mô hình trồng trọt, thuê chuyên gia truyền đa ̣t kỹ thuâ ̣t chăn nuôi , trồng tro ̣t đối với các xã vùng đệm đã đạt kết quả tương đối tốt

Trang 35

+) Từ 2001 - 2004 Quỹ bảo tồn thiên nhiên Nhật Bản (RNCF) đã tài trợ triển khai dự án hỗ trợ xây dựng Câu la ̣c bô ̣ bảo tồn vùng chim quan tro ̣ng Cồn

Lu

+) Năm 2004 - 2006, Trung tâm bảo tồn biển và phát triển cô ̣ng đồng (MCD) đã cùng với VQG Xuân Thủy thực hiê ̣n các chương trình dự án , như: tổ chức các đợt truyền thông làm sa ̣ch biển, giúp đỡ các học sinh trung học của một số xã vùng đê ̣m tham qua n tìm hiểu VQG Tổ chức buổi liên hoan giao lưu văn nghê ̣ với chủ đề bảo vê ̣ tài nguyên – môi trường của Vườn quốc gia cho hô ̣i phu ̣ nữ các xã vùng đê ̣m Trong chương trình giao lưu này có lồng ghép các chương trình tuyên truyền giáo dục môi trường, đào ta ̣o và hỗ trợ nhân dân vùng đê ̣m về

du li ̣ch sinh thái cô ̣ng đồng

+) Ngoài ra , VQG Xuân Thủ y còn thường xuyên tổ chức các hoa ̣t đô ̣ng phối hợp với sinh viên tình nguyê ̣n của các trường đa ̣i ho ̣c (Đa ̣i ho ̣c quốc gia Hà

Nô ̣i, Đa ̣i ho ̣c Bá ch khoa , Đa ̣i ho ̣c Lâm nghiê ̣p , ) thực hiê ̣n các chiến di ̣ch truyền thông hưởng ứng ngày môi trường thế giới , tổ chức các chương trình làm sạch môi trường , truyền thông rô ̣ng rãi trong cô ̣ng đồng đă ̣c biê ̣t là nhân dân vùng đệm

Trong chương trình của dự án bảo tồn biển và rùa biển do UICN tài trợ năm 2009 Ban quản lý VQG Bái Tử Long đã phối hợp với ngành giáo dục huyê ̣n Vân Đồn, tổ chức nhiều hoa ̣t đô ̣ng tuyên truyền có ý nghĩa thiết thực, cho các đối tượng nhân dân vùng đệm

Ngoài ra, còn nhiều chương trình ở các vùng đệm được tổ chức và đã đạt được nhiều hiê ̣u quả thiết thực đối với nhân dân vùng đê ̣m Trước tiên giúp nâng cao nhâ ̣n thức của người dân sống trong vùng đê ̣m cùng với đó là nâng ca o đời sống cả mă ̣t kinh tế - xã hội, văn hóa

Song bên ca ̣nh đó , công tác bảo tồn và phát triển đối với các KBT không

rõ ràng đã dẫn đến nhiều bất cập trong quá trình quản lý bền vững các tiêu chuẩn giá trị của từng loại hệ sinh thái rừng Đặc biệt là nhân dân vùng đệm còn nhiều khó khăn, sống chủ yếu dựa vào viê ̣c khai thác nguồn tài nguyên rừng , săn bắt các động thực vật quý, hiếm nên đã ta ̣o ra nhiều bất câ ̣p trong viê ̣c quản lý Vấn

Trang 36

đề cấp thiết đặt ra là phải cải thiện đ ời sống cho nhân dân vùng đệ m để người dân nâng cao viê ̣c bảo vê ̣ các VQG&KBTTN

2.4 Vai tro ̀ của vùng đê ̣m ở một số Vườn quốc g ia và Khu bảo tồn thiên nhiên tiêu biểu

2.4.1 VQG Cúc Phương ở Ninh Bình

2.4.1.1 Đặc điểm của VQG Cúc Phương

 Vị trí địa lí và lãnh thổ:

Ninh Bình là tỉnh nằm ở phía Nam và Tây Nam của đồng bằng sông

Hồng, có tọa độ địa lí từ 19°55’39’’ Bắc (cửa sông Đáy , thuô ̣c bãi Cồn Thoi , huyê ̣n Kim Sơn ) đến 20°26’25’’ Bắc xóm Lạc Hồng, xã Xích Thổ, huyê ̣n Nho Quan) Từ 105°32’27’’ Đông (núi Điện thuộc rừng quốc gia Cúc Phương ) đến 106°10’15’’ Đông (Bến Đò Mười thuô ̣c xã Xuâ ̣n T hiê ̣n huyê ̣n Yên Khánh ), huyê ̣n: Gia Viễn , Hoa Lư , Yên Mô , Nho Quan , Yên Khánh , Kim Sơn nằm ở vùng cực Nam đồng bằng châu thổ sông Hồng, cách thủ đô Hà Nội 93km

Hình 2.1 Lược đồ tỉnh Ninh Bình (Nguồn Vi.wkipedia.org)

Vị trí tiếp giáp: Phía Bắc giáp với t ỉnh Nam Định và Hà Nam , phía Đông tiếp giáp với biển Đông , phía Tây Nam tiếp giáp với tỉnh Thanh Hóa , phía Tây

VQG Cúc Phương

Trang 37

và phía Đông Bắc tiếp giáp với tỉnh Hòa Bình Nằm trên tuyến đườ ng giao thông Bắc - Nam, ngoài quốc lộ 1A, đường sắt Bắc - Nam, Ninh Bình còn có hê ̣ thống cảng biển, hê ̣ thống cửa sông dày đă ̣c: Sông Đáy, sông Hoàng Long, sông Càn, sông Va ̣c, sông Vân, đường biển thuâ ̣n lợi đã ta ̣o đi ều kiện thuận lợi cho viê ̣c giao lưu, hợp tác, phát triển toàn diện v ới các tỉnh khác trong cả nước và quốc tế

 Đặc điểm:

Ninh Bình nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng và vùng Bắc Bô ̣ rô ̣ng lớn, giàu tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên , dân cư đông đúc, nguồn lao đô ̣ng dồi dào Đồng thời nằm trong vùng ảnh hưởng trực tiếp của tam giác tă ng trưởng kinh tế: Hà Nội - Hải Phòng - Hạ Long và đều có ảnh hưởng lớn đến việc phát triển kinh tế của tỉnh Bên ca ̣nh đó , Ninh Bình còn l iên la ̣c trực tiếp và là cửa ngõ giao lưu của các tỉnh phía Nam và vùng Tây Bắc giàu tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên nhưng la ̣i thiếu nhân lực, vốn và kỹ thuâ ̣t

Hình 2.2 VQG Cúc Phương (Nguồn tourdulich.org.vn)

Ninh Bình có vị trí chiến lược quan trọng, là nơi tiếp nối giao lưu kinh tế

và văn hóa giữa lưu vực sông Hồng và lưu vực sông Mã, giữa vùng Đồng Bằng Bắc Bộ với vùng Tây Bắc của tổ quốc

Với vị trí địa lí thuận lợi, đây là điều kiện thuận lợi cho Ninh Bình phát triển một nền kinh tế toàn diện Đồng thời vị trí cũng ảnh hưởng rất lớn tới điều

Ngày đăng: 06/02/2018, 21:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Giáo dục môi trường trong trường trung học cơ sơ tại vùng đệm các vườn quốc gia, Hà Nội Khác
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Tài liệu hướng dẫn giáo dục môi trường cho học sinh trung học cơ sở tại vùng đệm các vườn quốc gia, Hà Nội Khác
3. Bùi Văn Huy – Nguyễn Thị Mến (2012), Đánh giá vai trò của Vườn quốc gia Cúc Phương ở Ninh Bình, (đề tài) Khác
4. Lê Thông, Địa lí các tỉnh và thành phố Việt Nam, phần miền Bắc, NXB Giáo dục Khác
5. Nguyễn Tạo (1963), Bảo vệ thiên nhiên, NXB Khoa học Khác
6. Thái Văn Trừng – Nguyễn Văn Trương – Mai Xuân Vấn (1971), Xây dựng khu bảo vệ thiên nhiên, NXB Nông thôn.7. www.google.com.vn Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w