1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

KHAI THÁC KÊNH HÌNH KHI dạy bài 12 “vƣợt QUA TÌNH THẾ HIỂM NGHÈO” SÁCH GIÁO KHOA LỊCH sử và địa lý lớp 5

55 154 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kiến thức cơ bản trọng tâm của bài học lịch sử ở tiểu học chủ yếu là: mốc thời gian, hiện vật lịch sử, tranh ảnh lịch sử, các phương tiện trực quan quy ước như bản đồ, sơ đồ, lược đồ, đồ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

ĐINH VĂN THẮNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

KHAI THÁC KÊNH HÌNH KHI DẠY BÀI 12: “VƯỢT QUA TÌNH THẾ HIỂM NGHÈO” - SÁCH GIÁO KHOA

LỊCH SỬ VÀ ĐỊA LÝ LỚP 5

Sơn La, tháng 5 năm 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

ĐINH VĂN THẮNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

KHAI THÁC KÊNH HÌNH KHI DẠY BÀI 12: “VƯỢT QUA TÌNH THẾ HIỂM NGHÈO” - SÁCH GIÁO KHOA

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

giáo TS Phạm Văn Lực, người đã trực tiếp hướng dẫn em trong suốt quá trình

thực hiện khóa luận

Đại học Tây Bắc, Ban chủ nhiệm khoa Tiểu học – Mầm non đã tạo điều kiện giúp đỡ em

trường Tiểu học Quyết Tâm, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đã giúp đỡ em trong quá trình khảo sát và thực nghiệm dạy môn Lịch sử

đã có những ý kiến đóng góp thiết thực, những tư liệu tham khảo quý báu để giúp em trong quá trình thực hiện khóa luận này

Em xin chân thành cảm ơn!

Sơn La, tháng 5 năm 2014

Người thực hiện

Đinh Văn Thắng

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, mục đích, ý nghĩa, nhiệm vụ và đóng góp của khóa luận 3

4 Giả thiết khoa học 4

5 Kết cấu của khóa luận 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC KHAI THÁC KÊNH CHỮ, KÊNH HÌNH 5

1.1 Cơ sở lí luận 5

1.1.1 Nhiệm vụ, mục tiêu của môn học lịch sử ở trường phổ thông 5

1.1.2 Quan niê ̣m về “kiến thức” và “kiến thức li ̣ch sử” 8

1.1.3 Vai trò của kênh hình trong quá trình cung cấp kiến thức cho học sinh 9

1.2 Cơ sở thực tiễn của việc khai thác kênh hình trong dạy học lịch sử 16

Chương 2: THỰC TRẠNG CỦA VIỆC KHAI THÁC KÊNH HÌNH TRONG DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 24

2.1 Quan niệm của giáo viên và học sinh 24

2.2 Phương pháp dạy học cũ 25

2.3 Phương pháp dạy học mới 25

2.4 Giải pháp 26

2.4.1 Khâu chuẩn bị về kênh hình 27

2.4.2 Cách thức khai thác và hệ thống câu hỏi cho một số dạng kênh hình 28

2.5 Khai thác một số kênh hình trong bài 12: “Vượt qua tình thế hiểm nghèo” 33 2.5.1 Khai thác kênh hình 1: 33

2.5.2 Khai thác kênh hình 2: 33

2.5.3 Khai thác kênh hình 3: 34

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 36

3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 36

Trang 6

3.2 Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm 36

3.3 Nội dung và phương pháp tiến hành thực nghiệm 36

3.3.1 Nội dung thực nghiệm 36

3.3.2 Phương pháp tiến hành thực nghiệm 37

3.4 Kết quả thực nghiệm 38

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 39

TÀI LIỆU THAM KHẢO 40

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Kiến thức cơ bản trọng tâm là những đơn vị kiến thức của bài học bắt buộc giáo viên phải truyền thụ cho học sinh Kiến thức cơ bản trọng tâm của bài học lịch sử ở tiểu học chủ yếu là: mốc thời gian, hiện vật lịch sử, tranh ảnh lịch sử, các phương tiện trực quan quy ước như bản đồ, sơ đồ, lược đồ, đồ thị, biểu đồ…

Để có kiến thức cơ bản trọng tâm của bài học truyền thụ cho học sinh, đòi hỏi giáo viên phải có biện pháp cách thức cụ thể để khai thác trong sách giáo khoa, nhất là trong kênh hình Thế nhưng, hiện nay vấn đề này vẫn chưa được quan tâm một cách đúng mức; nguyên nhân của tình trạng này có nhiều, song chủ yếu là:

+ Chúng ta mới chỉ chú ý đến kênh chữ của SGK và coi đây là nguồn cung cấp kiến thức duy nhất trong dạy học lịch sử mà không thấy rằng kênh hình không chỉ là nguồn kiến thức quan trọng cung cấp một lượng thông tin đáng kể

mà còn là phương tiện trực quan có giá trị giúp bài học trở nên sinh động, hấp dẫn hơn, gây hứng thú học tập hơn cho học sinh

+ Không ít giáo viên chưa hiểu rõ xuất sứ nội dung ý nghĩa của kênh hình trong SGK Trong các đợt bồi dưỡng thay sách, giáo viên hầu như chỉ được giải thích về cấu tạo chương trình, những điểm mới về nội dung SGK mà không được chú trọng bồi dưỡng về việc khai thác sử dụng kênh hình, mặc dù số lượng kênh hình trong SGK hiện nay đã được tăng cường đáng kể so với trước

+ Nhiều giáo viên nhận thức đầy đủ giá trị, nội dung của kênh hình nhưng lại ngại sử dụng và sợ mất thời gian hoặc nếu có sử dụng thì phần nhiều vẫn chủ yếu là để minh hoạ cho kênh chữ…

Vì thế, việc lựa chọn “Khai thác kênh hình khi dạy bài 12: Vượt qua tình

thế hiểm nghèo - sách giáo khoa Lịch sử và Địa lý lớp 5” làm đề tài nghiên cứu,

có ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Trang 8

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Khai thác kênh hình trong dạy học phần lịch sử (trong môn Tự nhiên, xã hội) ở Tiểu học đã được đề cập trong một số công trình, bài viết cụ thể:

+“Biểu tượng lịch sử với học sinh tiểu học” của tác giả Trần Văn Lưu

trường Trung hoc sư phạm Thanh Hóa Tìm hiểu về một số biện pháp cụ thể hóa

sự kiện, nhân vật [1]

+ Trong cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử” tập 1, Giáo sư Phan Ngọc Liên (chủ biên), Phó giáo sư Tiến sĩ Trịnh Đình Tùng, Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Thị Côi, Nhà xuất bản Đại học sư phạm 2002, nêu lên những vấn đề khái quát nhất về biểu tượng lịch sử Giúp chúng ta hiểu thế nào là biểu tượng lịch sử, vai trò và việc phân loại biểu tượng, các biện pháp sư phạm để tạo biểu tượng lịch

sử [2]

+ Trong cuốn “Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong SGK lịch sử THCS phần lịch sử Việt Nam” và cuốn “Kênh hình trong dạy học lịch sử ở trường THPT” tập 1 phần lịch sử Việt Nam do Giáo sư Nguyễn Thị Côi chủ biên cho chúng ta nắm được và lựa chọn các phương pháp phù hợp để tạo biểu tượng lịch

sử cho học sinh Vì đặc điểm của tri thức lịch sử ở cấp tiểu học cũng như ở các cấp học cao hơn, chỉ khác là nó ở mức đơn giản hơn nhưng ta có thể vận dụng Nguyễn Thị Côi, (2011), “Các con đường biện pháp để nâng cao hiệu quả bài

+ Nguyễn Anh Dũng, Trần Vĩnh Tường, (2003), “Những vấn đề chung về bộ môn phương pháp dạy học Lịch sử ở trường Cao đẳng sư phạm”, NXB Đại học sư phạm, nêu lên vai trò, nhiệm vụ của phân môn lịch sử ở trường phổ thông [5]

+ Nguyễn Thị Côi (chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Trần Viết Thụ, Nguyễn Mạnh Khởi, Đoàn Văn Hưng, Nguyễn Thị Thúy Bình, (2011), “Rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm môn Lịch sử”, NXB Đại học sư phạm nêu lên những kĩ năng cơ bản mà người GV cần phải có, làm gì để có được những kĩ năng đó [7]

+ Hội Giáo dục Lịch sử (thuộc hội khoa học Lịch sử Việt Nam), khoa Sử trường Đại học Sư phạm (ĐHQG HN), trung tâm nội dung phương pháp (Viện Khoa học Giáo dục), (1996), “Đổi mới việc dạy học lịch sử lấy “học sinh làm

Trang 9

trung tâm”, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, để ra cách thức, nhiệm vụ cần làm

để đối mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực lấy HS làm trung tâm, ý nghĩa của phương pháp này đối với kết quả giảng dạy [9]

Ngoài ra, vấn đề này còn được đề cập trong một số công trình của

đi sâu nghiên cứu vấn đề này có ý nghĩa khoa học và thực tiễn

3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu, mục đích, ý nghĩa, nhiệm vụ và đóng góp của khóa luận

+ Đối tƣợng nghiên cứu: Kênh hình, kênh chữ trong bài 12: vượt qua tình

thế hiểm nghèo sách giáo khoa Lịch sử và Địa lý lớp 5

+ Phạm vi nghiên cứu: Do khả năng và điều kiện hạn chế, tôi chỉ nghiên

cứu khai thác kiến thức cơ bản trọng tâm chứa đựng trong kênh hình, kênh chữ trong SGK lịch sử lớp 5, cụ thể là bài 12: “vượt qua tình thế hiểm nghèo” ở trường Tiểu học: trường tiểu học Quyết Tâm- thành phố Sơn La – tỉnh Sơn La

+ Mục đích nghiên cứu: Thông qua việc khai thác sử dụng kênh hình,

kênh chữ trong SGK truyền thụ tốt những kiến thức lịch sử cho học sinh, giúp học sinh lĩnh hội kiến thức lịch sử một cách chủ động tích cực, sáng tạo, đồng thời cải tiến dạy học lịch sử theo phương pháp mới

+ Khách thể và địa bàn nghiên cứu: Học sinh khối 5 trường Tiểu học Quyết Tâm- thành phố Sơn La- Sơn La

+ Nhiệm vụ nghiên cứu:

* Tìm hiểu cơ sở lý luận của việc khai thác kênh hình, kênh chữ trong dạy học Lịch sử 5

Trang 10

* Tiến hành tìm hiểu thực trạng của việc khai thác kiến thức cơ bản trong kênh hình, kênh chữ trong dạy học Lịch sử 5 ở một số trường Tiểu học ở thành phố Sơn La

* Một số giải pháp nhằm khai thác kiến thức cơ bản trong kênh hình, kênh chữ để đạt hiệu quả

* Tiến hành thể nghiệm dạy học ở một số trường Tiểu học

+ Đóng góp của khóa luận:

* Cụ thể và làm phong phú thêm hệ thống các PPDH Lịch sử ở trường Tiểu

4 Giả thiết khoa học

Hiện nay việc khai thác kiến thức trọng tâm trong kênh hình, kênh chữ môn Lịch sử ở trường Tiểu học còn chưa được chú trọng và kết quả chưa cao Nếu đưa ra một số giải pháp cho việc khai thác kiến thức cơ bản của kênh hình, kênh chữ ở trong các bài học nhằm đổi mới phương pháp dạy học để giúp các

em khắc sâu kiến thức hơn, từ đó đạt kết quả học tập cao hơn

5 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục khóa luận được kết cấu thành ba chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc khai thác kênh hình kênh chữ Chương 2 Thực trạng của việc khai thác kênh hình trong dạy học phần lịch

sử ở trường Tiểu học trong những năm gần đây

Chương 3 Thực nghiệm sư phạm

Trang 11

“Vì lợi ích mười năm phải trồng cây

Vì lợi ích trăm năm phải trồng người”

Lời dạy đó của Người đã khẳng định vai trò to lớn của sự nghiệp giáo dục đối với sự phát triển của xã hội

Theo Nghị quyết của Đại hội X (năm 2006) khẳng định mục tiêu của giáo dục phổ thông là: “giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam XHCN, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [9] Nhiều văn kiện chính trị cũng khẳng định mục tiêu giáo dục phổ thông là đào tạo những con người có năng lực, phẩm chất, đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mĩ, đào tạo những con người “vừa hồng vừa chuyên” như lời Bác Hồ đã dạy

Để đạt được mục tiêu trên đây mỗi môn học có vai trò, vị trí nhất định, trong đó môn lịch sử có ưu thế đặc biệt trong việc giáo dục tư tưởng, đạo đức, hình thành thế giới quan cho thế hệ trẻ Cũng như các môn học khác môn lịch sử

có 3 nhiệm vụ cơ bản: giáo dưỡng, giáo dục và phát triển Cùng với các môn học khác, các hoạt động ở trường phổ thông, môn Lịch sử với chức năng và nhiệm

vụ của mình góp phần tích cực cùng xã hội hoàn thành sứ mạng giáo dục thế hệ trẻ trong điều kiện hiện tại

* Giáo dưỡng

Môn Lịch sử cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản của khoa học lịch sử, trên cơ sở cung cấp, phát triển nội dung kiến thức lịch sử đã học ở Tiểu học, THCS, hợp thành nội dung giáo dục lịch sử của bậc THPT

Trang 12

Ở bậc Tiểu học, môn lịch sử trang bị cho các em một số hiểu biết cơ bản, đơn giản, những kiến thức chủ yếu về quá trình phát triển lịch sử với những sự kiện nổi bật ở từng thời kì từ nguồn gốc đến nay mà trọng tâm là thời kì cận đại

và hiện đại chú trọng đến những vấn đề, sự kiện có liên quan đến lịch sử dân tộc

Ở cấp học này các em được tiếp cận ban đầu với quan điểm duy vật lịch sử, về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử, sự phát triển hợp quy luật của xã hội loài người, vai trò, ý nghĩa của lao động sản xuất với sự phát triển của con người và xã hội

Ở bậc THCS, THPT học sinh được nâng cao những hiểu biết đã được học một cách có hệ thống, sâu sắc hơn Môn học Lịch sử ở trường THCS, THPT cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản bao gồm: sự kiện lịch sử cơ bản, các khái niệm, thuật ngữ, tên người, tên đất, niên đại, những hiểu biết về quan điểm lí luận sơ giản, những vấn đề về phương pháp nghiên cứu và học tập phù hợp với yêu cầu và trình độ học sinh Ở cấp học này học sinh được nâng cao và hoàn chỉnh hơn, những kiến thức về lịch sử xã hội loài người từ thời nguyên thuỷ, cổ đại, trung đại đến các thời kì cận đại, hiện đại Qua đó, học sinh hiểu rõ hơn quy luật phát triển của xã hội loài người, những tác động, ảnh hưởng của lịch sử thế giới đến lịch sử dân tộc, mối quan hệ giữa lịch sử nước ta với lịch sử thế giới

* Giáo dục

Tất cả các môn học từ tự nhiên đến xã hội ở những mức độ khác nhau đều góp phần vào việc giáo dục tư tưởng, tình cảm cho học sinh Ví dụ như: môn Địa lí dạy cho học sinh hiểu rõ đất nước mình để tăng thêm lòng yêu Tổ quốc, yêu quê hương, nâng cao trách nhiệm bảo vệ môi trường, thiên nhiên; môn Văn học giúp cho học sinh hiểu tính nhân văn, yêu quý con người, dân tộc và văn hoá Việt Nam Riêng môn Lịch sử có những ưu thế rất lớn mà không bộ môn nào có được trong giáo dục truyền thống đoàn kết, yêu nước; truyền thống đấu tranh kiên cường và bất khuất của dân tộc Việt Nam trong công cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc và lao động xây dựng đất nước, cùng những truyền thống đạo lý

và ý thức tốt đẹp của dân tộc Lịch sử không chỉ giáo dục học sinh tình cảm yêu

Trang 13

ghét trong đấu tranh giai cấp, sự căm thù, chủ nghĩa anh hùng cách mạng mà còn bồi dưỡng cho học sinh biết yêu quý trân trọng lao động và các giá trị của lao động, yêu cái đẹp, có óc thẩm mĩ, biết cách ứng xử đúng đắn trong cuộc sống Như vậy, tác dụng giáo dục của lịch sử ở trường Tiểu học,THCS,THPT là giáo dục trí tuệ, tư tưởng tình cảm, đạo đức; lịch sử còn góp phần quan trọng vào việc giáo dục lí tưởng cho thế hệ trẻ Tác dụng giáo dục của Lịch sử là “dạy chữ nên người” [2]

* Phát triển

sở đó hoàn chỉnh và nâng cao những năng lực đã được hình thành ở trường Tiểu học, cụ thể là:

động, biết đánh giá, phân tích, liên hệ

giáo khoa, các tài liệu tham khảo khác, khả năng trình bày nói và viết, làm và sử dụng một số đồ dùng trực quan nhất là loại đồ dùng trực quan quy ước, những hoạt động ngoại khoá của môn học

kiến thức cơ bản, có hệ thống về lịch sử phát triển hợp quy luật của dân tộc và

xã hội loài người Trên cơ sở đó giáo dục lòng yêu nước, tự hào dân tộc, lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, rèn luyện năng lực tư duy và thực hành Thực hiện một cách hoàn chỉnh các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển Việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông góp phần nâng cao sự hiểu biết

mà học sinh đã tiếp thu ở Tiểu học đặc biệt là trình độ lí thuyết trong nhận thức lịch sử và năng lực tư duy, thực hành

Để thực hiện được các mục tiêu nêu trên có nhiều yếu tố chi phối, tác động: sự quan tâm của xã hội với môn Lịch sử, sự đầu tư trang thiết bị dạy học lịch sử Song yếu tố quyết định là vấn đề phương pháp dạy học lịch sử Gần đây liên tục có những hội thảo về đổi mới phương pháp dạy học lịch sử trong đó các

Trang 14

nhà giáo dục lịch sử khá quan tâm đến một phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan bao gồm cả việc khai thác kênh hình trong sách giáo khoa nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh

Kiến thức là những tri thức tương đối hoàn chỉnh, có ý nghĩa thiết thực

đối với cuộc sống của mỗi người cũng như cả cộng đồng và được truyền cho nhau “Kiến thứ c” và “tri thức” đều là những hiểu biết của con người về tự nhiên, xã hội và bản thân mình, nhưng kiến thứ c là những tri thức được cho ̣n lo ̣c nên hoàn chỉnh hơn, có ý nghĩa giáo dục, có tác dụng thiết thực đối với đời sống con người và xã hô ̣i Những tri thức, kiến thức đó chỉ có thể trở thành kiến thức của mỗi HS thông qua quá trình nhận thức, học tập

Thuật ngữ “lịch sử” có hai ý chính là “hiện thực lịch sử” và “nhận thức

lịch sử” Kiến thức lịch sử là những hiểu biết của con người về quá trình phát

triển của xã hô ̣i loài người và dân tô ̣c từ xưa đến nay đã được khoa ho ̣c li ̣ch sử xác nhận

Kiến thức lịch sử ở trường phổ thông được lựa cho ̣n từ kiến thức sử h ọc,

(SGK) Chúng b ao gồm sự kiê ̣n , nhân vâ ̣t , không gian, thời gian , biểu tượng , khái niệm, nguyên lý, quy luâ ̣t, những hiểu biết về phương pháp học tập … giúp

HS nhâ ̣n thức li ̣ch sử m ột cách cu ̣ thể , toàn diện, có hệ thống Những đặc trưng

cơ bản của kiến thức lịch sử ở trường phổ thông gồm: tính quá khứ, tính không lặp lại, tính cụ thể, tính hệ thống, tính thực tiễn và tính toàn diện

Bên cạnh những đặc trưng ấy, kiến thức lịch sử ở trường phổ thông còn được chia thành nhiều loại khác nhau như kiến thức các lớp 4, 5… đến 12; kiến thức mang tên các yếu tố sự kiện, biểu tượng, khái niệm, quy luật…; kiến thức lịch sử Việt Nam và lịch sử thế giới; kiến thức “sử” và “luận”; kiến thức về các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự, văn hoá…; kiến thức cơ bản và kiến thức không cơ bản Trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông, người ta dùng tất cả các cách ấy, trong đó cách phân loại kiến thức lịch sử thành kiến thức cơ bản và kiến thức không cơ bản được sử dụng nhiều nhất

Trang 15

1.1.3 Vai trò của kênh hình trong quá trình cung cấp kiến thức cho học sinh

Đặc điểm của tri thức lịch sử và vai trò của việc sử dụng kênh hình trong

dạy học lịch sử

mạnh mẽ đến việc sử dụng kênh hình trong dạy học lịch sử nói chung và trong dạy học phần Lịch sử Việt Nam nói riêng

Tính quá khứ

Lịch sử là bộ môn mang đậm tính quá khứ bởi vì lịch sử là quá trình phát triển của xã hội loài người từ khi con người xuất hiện đến nay Đó là tất cả những gì đã xảy ra trong quá khứ, là những chuyện đã xảy ra và kết thúc trong quá khứ, ví dụ : chiến tranh thế giới 1, chiến tranh thế giới 2, cách mạng tháng Tám ở Việt Nam, chiến tranh của Mĩ ở Việt nam … Vì vậy trong học tập lịch

sử học sinh không thể trực tiếp quan sát (“trực quan sinh động”) đối tượng nghiên cứu như trong các bộ môn khoa học khác Trong học tập lịch sử cũng không thể tiến hành các thí nghiệm để dựng lại hiện thực lịch sử khách quan (trừ một vài trường hợp đặc biệt) Người ta thường chỉ nhận thức được lịch sử một cách giàn tiếp thông qua các tài liệu được lưu lại, các dấu vết của quá khứ hoặc dựa vào các hiện tượng lịch sử tương tự của cái mới, của các dân tộc khác để phân tích, suy nghĩ những vấn đề chúng ta đang nghiên cứu cần phải lưu ý rằng khi sử dụng các nguồn tài liệu chỉ sử dụng để tham khảo, cần phải loại bỏ yếu tố chủ quan, phi hiện thực, yếu tố hư cấu để nhận thức đúng hiện thực lịch sử như

nó đã diễn ra trong quá khứ

Tính không lặp lại

Tri thức lịch sử nhìn chung mang tính không lặp lại về thời gian và không gian Mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử chỉ xảy ra một lần trong một thời gian và không gian nhất định Điều đó để phân biệt sự kiện này với sự kiện khác (ví dụ chiến tranh thế giới 2 gần với khoảng thời gian từ 1939 đến 1945, gắn với không gian là chiến trường ở các khu vực ở Châu Âu, Châu Á - Thái Bình Dương, Bắc Phi…), Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII gắn với mốc thời gian năm

1789 với không gian là nhà ngục Baxti…) Không có một hiện tượng nào hoàn

Trang 16

toàn giống với sự kiện nào mà chỉ có những sự kiện giống nhau lặp lại trên cơ sở không lặp lại (ví dụ như cùng xảy ra trên dòng sông Bạch Đằng song cuộc kháng chiến chống quân Nam Hán của Ngô Quyền và cuộc kháng chiến chống Mông- Nguyên thời Trần diễn ra trong những khoảng thời gian khác nhau và có diễn biến ý nghĩa… khác nhau)

Đời sống xã hội là một dòng chảy không ngừng mà ở đó mọi mặt từ kinh

tế, chính trị, văn hoá … đều thay đổi ít nhiều cùng thời gian Do đó trong giảng dạy lịch sử giáo viên cần chú ý đến thời gian và không gian diễn ra các sự kiện, hiện tượng lịch sử đó

Lịch sử mang tính cụ thể đậm nét

Lịch sử là khoa học nghiên cứu tiến trình lịch sử cụ thể của các nước, các dân tộc khác nhau và quy luật phát triển của nó Trên cơ sở những quy luật chung của lịch sử xã hội loài người, mỗi quốc gia, dân tộc đều có diện mạo riêng

do những điều kiện riêng quy định Lịch sử mỗi nước phản ánh, mô tả chi tiết,

cụ thể và đầy đủ về tiến trình phát triển của dân tộc mình Tuy cùng chịu sự tác động của quy luật lịch sử chung song mỗi nước lại chịu tác động ở mỗi mức độ khác nhau, ví dụ: Nhân loại trải qua 5 hình thái kinh tế xã hội: Cộng sản nguyên thuỷ, Chiếm hữu nô lệ, Phong kiến, Tư bản chủ nghĩa, Xã hội chủ nghĩa nhưng

ở nhiều quốc gia quá trình đó không diễn ra tuần tự như vậy, ví dụ Mĩ bỏ qua hình thái phong kiến từ chế độ chiếm hữu nô lệ tiến thẳng lên tư bản chủ nghĩa, Việt Nam, Trung Quốc bỏ qua hình thái tư bản chủ nghĩa tiến thẳng lên xây dựng chủ nghĩa xã hội Hay như với việc cùng trải qua thời kì chiếm hữu nô lệ song ở Trung Quốc là chế độ nô lệ gia trưởng khác hẳn chế độ nô lệ ở phương Tây, hoặc như việc cùng trải qua hình thái kinh tế xã hội phong kiến song chế độ phong kiến ở Trung Quốc là chế độ phong kiến Trung ương tập quyền còn phong kiến Tây Âu là lãnh địa phong kiến

Đặc điểm này của khoa học lịch sử để phân biệt lịch sử dân tộc này với kịch sử dân tộc khác, sự hình thành và phát triển của quốc gia nay với quốc gia khác Điều đó đòi hỏi việc trình bày các sự kiện, hiện tượng lịch sử càng cụ thể bao nhiêu, càng sinh động bao nhiêu càng hấp dẫn bấy nhiêu

Trang 17

Lịch sử mang tính hệ thống

Lịch sử phản ánh toàn bộ hoạt động của đời sống con người từ kinh tế, chính trị, văn hoá, tư tưởng, khoa học Những nội dung tri thức lịch sử đó lại có mối quan hệ chằng chịt, phức tạp, tác động qua lại lẫn nhau, ví dụ cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng Vì thế người giáo viên lịch sử phải luôn chú ý đến mối quan hệ ngang dọc, trước sau của các vấn đề lịch sử

Mặt khác lịch sử là một quá trình vận đông không ngừng, là mối quan hệ nhân quả và tác động qua lại lẫn nhau cả về thời gian và không gian Do đó cần làm rõ mối quan hệ ấy để nhận thức lịch sử một cách khách quan

Tính hệ thống, lôgíc của lịch sử được thể hiện qua việc xây dựng chương trình lịch sử Đó là việc sắp xếp hai chương trình Lịch sử thế giới và Lịch sử Việt nam nhưng Lịch sử thế giới được dạy trước bởi Lịch sử Việt Nam là một

bộ phận của Lịch sử thế giới, cần phải đi từ cái chung, cái khái quát trước rồi mới đi vào cái cụ thể, riêng lẻ Sắp xếp như vậy học sinh sẽ thấy được tác động của Lịch sử thế giới đối với Lịch sử Việt Nam và những đóng góp của lịch sử dân tộc cho lịch sử thế giới

* Đặc điểm của nhận thức lịch sử

Quá trình học tập lịch sử cũng là một quá trình nhận thức cho nên việc nhận thức môn học này cũng tuân thủ theo quy luật chung của quá trình nhận thức: từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng trở về với thực tiễn Song xuất phát từ những đặc trưng của môn lịch sử mà quá trình nhận thức lịch sử cũng có những đặc điểm riêng:

Trong học tập lịch sử học sinh không thể “trực quan sinh động” được đối tượng nghiên cứu Do đó giai đoạn trực quan trong nhận thức lịch sử là giai đoạn học sinh tiếp xúc với tài liệu, với những dấu vết của quá khứ

Nhận thức lịch sử bao giờ cũng phức tạp vì con người là bộ phận không tách rời của đối tượng nghiên cứu - xã hội loài người Do đó giai đoạn tư duy trừu tượng trong nhận thức lịch sử là giai đoạn mà học sinh thông qua tiếp xúc với tài liệu dùng những thao tác tư duy của mình: tưởng tượng, tái tạo, ghi nhớ… để từ đó đi sâu vào bản chất của sự kiện, hiện tượng lịch sử

Trang 18

Cuối cùng giai đoạn từ trực quan sinh động trở về thực tiễn là quá trình

mà học sinh trên cơ sở những hiểu biết sâu sắc về lịch sử vận dụng các tri thức

ấy để hiểu hiện tại và có nhưng hành động phù hợp trong thực tiễn và tương lai Mặt khác chương trình lịch sử được cấu tạo từ các sự kiện ở quá khứ cho đến hiện tại mà quá trình nhận thức của học sinh lại đi từ gần đến xa do đó học sinh dễ rơi vào tình trạnh “hiện đại hoá” lịch sử

Do những dặc điểm như vậy, qua trình nhận thức lịch sử bắt đầu từ việc nắm các sự kiện Khoa học chân chính khác với các quan niệm duy tâm ở chỗ nó dựa trên các sự kiện chân thực: “Bất cứ lĩnh vực khoa học nào trong lĩnh vực tự nhiên cũng như xã hội, lịch sử phải xuất phát từ sự kiện chúng ta biết được” [9]

Từ những điều đã nói ở trên việc tổ chức dẫn dắt học sinh tạo biểu tượng lịch sử là cái chốt để đi vào khám phá hiện thực lịch sử Sử dụng kênh hình trong dạy học lịch sử là chìa khoá hữu hiệu để mở cái chốt ấy Vì vậy giáo viên lịch sử cấn nắm được cách khai thác và nội dung các kênh hình đồng thời phải hướng dẫn học sinh khai thác được nội dung kiến thức chứa đựng trong phần kênh hình có trong sách giáo khoa

* Vai trò của kênh hình trong dạy học lịch sử

Khái niệm kênh hình trong sách giáo khoa

Kênh hình trong sách giáo khoa là những ảnh chụp, tranh vẽ, hình vẽ, sơ

đồ, đồ thị, biểu đồ… theo quan điểm có tính chất “cổ điển” song có tính sư phạm của việc biên soạn và sử dụng sách giáo khoa, sách giáo khoa gồm hai phần: bài viết và cơ chế sư phạm Theo quan điểm này “kênh hình là một bộ phận của phần cơ chế sư phạm”[3] Còn theo quan điểm phổ biến thì kênh hình

là một bộ phận tương đương với phần bài viết (theo quan điểm sách giáo khoa gồm phần kênh chữ và kênh hình)

Phân loại kênh hình trong sách giáo khoa

* Phân loại theo chức năng

Theo chức năng kênh hình chia làm 4 loại chính:

- Loại minh hoạ để cụ thể hoá nội dung sự kiện lịch sử quan trọng Loại

nay thường được ghi kèm những yêu cầu và hướng dẫn thực hiện

Trang 19

- Loại cung cấp thông tin, thường không có giải thích, tuy nhiên có thể chú

thích ngắn gọn để học sinh tìm hiểu nội dung của sự kiện, mà không diễn tả thành văn (thường là tranh, ảnh tư liệu lịch sử)

- Loại vừa cung cấp thông tin, vừa minh hoạ cho kênh chữ, loại này thường

có kèm theo câu hỏi và hướng dẫn sử dụng

- Loại dùng để rèn luyện kỹ năng thực hành, kiểm tra kiến thức (loại bài tập

thực hành) Loại này thường kèm theo câu hỏi và hướng dẫn sử dụng

* Phân loại theo hình thức

- Sơ đồ, đồ thị: phản ánh tiến trình phát triển của một sự kiện, hiện tượng, quá trình Theo hình thức thì kênh hình được phân thành các loại chủ yếu sau:

- Lược đồ lịch sử: thường là diễn tả không gian, diễn biến của một sự kiện, phong trào lịch sử nào đó

Vai trò của kênh hình trong dạy học lịch sử

Đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông bao gồm nhiều loại: hiện vật lịch sử, tranh, ảnh lịch sử, các phương tiện trực quan quy ước như bản đồ, sơ đồ, đồ thị,… Các loại đồ dùng trực quan này góp phần không nhỏ vào việc tạo biểu tượng, hình thành khái niệm, phát triển tư duy, cung cấp kiến thức, bồi dưỡng tình cảm, nâng cao nhận thức lịch sử, khả năng thực hành… vì vậy, nội dung sách giáo khoa lịch sử hiện nay, trong điều kiện kinh tế, kĩ thuật, mĩ thuật… cho phép, đã dành cho kênh hình một tỉ lệ đáng kể Kênh hình trong sách giáo khoa không chỉ sử dụng trong khi trình bày kiến thức mới mà cả khi ôn tập, tổng kết, kiểm tra, hoạt động ngoại khoá và thực hành Kênh hình trong sách giáo khoa lịch sử có chức năng chủ yếu nhằm đa dạng nguồn kiến thức,tạo hình ảnh giúp học sinh lĩnh hội kiến thức một cách sinh động, làm cho bài giảng lịch sử bớt phần khô khan và thêm phần hấp dẫn

Trang 20

Kênh hình là một phương tiện trực quan trong dạy học lịch sử Sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa có ý nghĩa to lớn trong việc bồi dưỡng kiến thức cho học sinh Do tính quá khứ của lịch sử quy định nên học sinh không thể trực tiếp tri giác, quan sát những sự kiện, hiện tượng lịch sử đang học Do đó để tạo biểu tượng lịch sử chân thực, để dựng lại bức tranh quá khứ với bộ mặt đúng như nó đã diễn ra thì ngoài lời nói sinh động của giáo viên phải có phương tiện trực quan mà phổ biến nhất hiện nay vẫn là kênh hình trong sách giáo khoa Trong sách giáo khoa lịch sử bao giờ kênh hình cũng luôn phải gắn liền với nội dung bài viết, câu hỏi và bài tập nhằm tạo nên tổ hợp kiến thức phong phú Do

đó khi biên soạn sách giáo khoa lịch sử, nhiều loại kênh hình đã thay thế một phần nội dung đáng kể của phần bài viết Đồng thời kênh hình cũng có tác dụng

cụ thể hóa, minh hoạ cho kiến thức của phần bài viết Nội dung bài viết là cơ sở

để hiểu kênh hình Ngược lại kênh hình lại làm phong phú, sâu sắc thêm kiến thức của phần bài viết Học sinh được sự hướng dẫn của giáo viên tìm hiểu nội dung kênh hình, qua đó nhận thức sự kiện đang học một cách hứng thú, sinh động, sâu sắc mà lại nhớ lâu Như vậy, nội dung kiến thức trong hai kênh thông tin bổ sung và hỗ trợ cho nhau Trong dạy học lịch sử, chúng ta không nên xem nhẹ bất cứ một loại kênh thông tin nào cả Thế nhưng suốt một thời gian dài đã qua, phần kênh hình chưa được sử dụng, khai thác trong dạy học lịch sử

Kênh hình trong sách giáo khoa lịch sử còn có vai trò quan trọng trong việc giáo dục thái độ, tư tương,tình cảm, đạo đức cho học sinh Qua quan sát kênh hình trong sách giáo khoa, dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh không chỉ hiểu sâu sắc sự kiện, hiện tượng lịch sử mà còn hình thành lên những cảm xúc với sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử đó: khâm phục, quý trọng, yêu, ghét, căm giận, thương xót, lên án…

Qua khai thác kênh hình trong sách giáo khoa còn có tác dụng truyền cản mạnh mẽ, bồi dưỡng cho học sinh những quan điểm và cảm xúc thẩm mĩ Bằng

sự quan sát có chủ định cùng với những hình ảnh rõ ràng, sinh động từ kênh hình cộng với lời nói truyền cảm của giáo viên sẽ tạo ra ở các em sự rung động thẩm mĩ, những cảm nhận có tính chất hội hoạ, nghệ thuật, biết đánh giá, yêu

Trang 21

thích những bức tranh, bức ảnh đẹp, hiểu được tư tưởng đạo đức ẩn chứa trong các kênh hình

Bên cạnh đó kênh hình còn có ý nghĩa to lớn đối với việc phát triển học sinh Khi nhìn vào bất cứ kênh hình nào học sinh cũng muốn nhận xét, phán đoán, hình dung, tưởng tượng quá khứ lịch sử được phản ánh ở trong đó rồi suy nghĩ tìm cách diễn đạt bằng lời nói sao cho phù hợp với kênh hình đó Như vậy, qua khai thác kênh hình đã rèn luyện cho học sinh kĩ năng quan sát, trí tưởng tượng, phân tích, đánh giá và năng lực tư duy ngôn ngữ Qua sử dụng kênh hình học sinh cũng dần trở lên năng động, tự tin, linh hoạt trước tập thể và ngày càng làm chủ kiến thức của mình

Như vậy, sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa là một biện pháp hữu hiệu nằm trong tổng thể các biện pháp giúp học sinh nắm vững kiến thức cơ bản

Từ đó, bồi dưỡng học sinh tư tuởng, tình cảm, đạo đức tốt đẹp cho học sinh đồng thời góp phần phát triển toàn diện các em Có thể nói, sử dụng, khai thác kênh hình trong sách giáo khoa lịch sử, với tư cách là một nguồn kiến thức quan trọng là một đòi hỏi của việc đổi mới phương pháp dạy học lịch sử, khắc phục tình trạng mà hơn 30 năm trước cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói: “ Lịch sử đâu có phải là một chuỗi những sự kiện để người viết sử ghi lại, rồi người giảng sử đọc lại, người học sử lại học thuộc lòng” Việc đổi mới phương pháp dạy học phải tiến hành “một cuộc cách mạng”, khắc phục thói quen cũ:

“đọc- chép”, phải bỏ nhiều công sức mới có thể thực hiện có hiệu quả bài học lịch sử Việc đổi mới trong sử dụng đồ dùng trực quan nói chung, kênh hình nói chung riêng, trong dạy học lịch sử, trước hết phải nắn vững nội dung lịch sử được phản ánh trong tranh, ảnh , bản đồ và các loại đồ dùng trực quan khác Không nắm được nội dung lịch sử thì không thể đổi mới phương pháp dạy học lịch sử nói chung và phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan nói riêng

Yêu cầu với kênh hình trong sách giáo khoa

Để đạt hiệu quả trong nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục, phát triển nói trên, kênh hình trong sách giáo khoa phải đảm bảo các yêu cầu sau đây:

Trang 22

- Kênh hình phải phản ánh đúng nội dung đối tượng nghiên cứu, phù hợp với nội dung trình bày ở phần kênh chữ, không có những thông tin sai lệch về mặt khoa học hoặc làm phân tán sự tập trung chú ý của học sinh về sự kiện đang học

- Màu sắc hài hoà, tươi sáng gần gũi với tự nhiên

- Các hình ảnh đặt ngay cạnh phần kênh chữ phải có nội dung tương ứng,

có bố cục cân đối Tranh,ảnh, đồ dùng trực quan quy ước được đánh số thứ tự từ

số 1 đến số cuối ở mỗi bài kèm theo lời ghi chú ngắn gọn (nếu thấy cần thiết)

- Phần kênh hình phải đa dạng, phong phú Nếu chưa tăng ngay được số lượng kênh hình trong sách giáo khoa thì trước mắt phải bổ sung ngay một số bản đồ quan trọng Cần bổ sung ở mức độ cần thiết các hình vẽ minh hoạ, các bảng so sánh, các bảng thống kê, niên biểu tổng hợp để tăng cường sự hiểu biết bằng hình ảnh cho học sinh

- Các tranh ảnh cần ghi chú ngắn gọn về nguồn gốc (chụp năm nào, do ai chụp hay vẽ) Đối với chân dung các nhân vật lịch sử cần lựa chọn những nhân vật tiêu biểu trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội bao gồm cả nhân vật chính diện và phản diện Có thể là hình ảnh những anh hùng chiến đấu, những anh hùng lao động, những con người thông minh, sáng tạo lao động sản xuất, phát triển khoa học kĩ thuật, những nhà yêu nước cách mạng hoặc những nhân vật tàn

ác, phản động sẽ góp phần đắc lực vào việc giáo dục tư tưởng, đậo đức, phẩm chất cho các em học sinh

1.2 Cơ sở thực tiễn của việc khai thác kênh hình trong dạy học lịch sử

Mặc dù thời lượng dành cho môn Lịch sử là không nhiều so với các môn học khác chỉ 1- 2 tiết/ tuần, nhưng môn Lịch sử cũng đã có những đóng góp to lớn vào những thành tựu chung của nền giáo dục Việt Nam Đó là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, góp phần xây dựng con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Trong thời gian qua việc dạy học lịch sử cũng đã đạt được những thành tựu đáng kể:

Trang 23

Thứ nhất: Nội dung chương trình luôn được điều chỉnh, bổ sung, cập nhật bắt kịp với sự phát triển của khoa học lịch sử Chương trình sách giáo khoa được giảm tải, hoàn thiện đảm bảo cung cấp cho học sinh những tri thức lịch sử đầy

đủ, chính xác và hệ thống qua đó làm rõ các giai đoạn phát triển của Lịch sử dân tộc và Lịch sử thế giới Từ đó rút ra các quy luật, bài học lịch sử Hệ thống kiến thức đưa vào đảm bảo trình độ phổ thông

Thứ hai: Nhiều giáo viên lịch sử đã cố gắng tìm tòi, nghiên cứu và áp dụng các phương pháp, phương tiện dạy học mới để tạo hứng thú học tập lịch sử cho học sinh Giáo viên lịch sử đã chú trọng đến vận dụng phương pháp liên môn Văn - Sử, chú ý cách trình bày miệng sao cho sinh động, hấp dẫn, giàu hình ảnh

để lôi cuốn học sinh; cố gắng kết hợp nhiều phương pháp trong một giờ học để thay thế cho một phương pháp truyền thống là phương pháp thuyết trình; áp dụng các phương pháp dạy học mới theo hướng phát huy tính tích cực học tập của học sinh: dạy học theo nhóm, dạy học nêu vấn đề, và bước đầu vận dụng phương pháp tích cực… Giáo viên lịch sử cũng chú trọng đến sử dụng các phương tiện kĩ thuật hiện đại vào dạy học: Power point, Violet… tạo ra hứng thú học tập lịch sử cho học sinh

Thứ ba: Hằng năm có nhiều cuộc thi lịch sử được tổ chức: Thi Olympic lịch sử, thi học sinh giỏi môn lịch sử các cấp… đem lại thành công to lớn, phát hiện ra nhiều nhân tài cho đất nước Nhiều cuộc thi tìm hiểu lịch sử được phát động trên các phương tiện truyền thông đại chúng: “Theo dòng lịch sử”, thi tìm hiểu và học tập theo tấm gương đạo đưc Hồ Chí Minh …thu hút được sự quan tâm, tham gia và hưởng ứng của đông đảo quần chúng Trong các sân chơi trí tuệ như: “Ai là triệu phú”, “Đấu trường 100”, “Đường lên đỉnh Ôlympia”… Số lượng các câu hỏi thuộc lĩnh vực Sử học chiếm tỉ lệ khá lớn Đó là những tín hiệu đáng mừng cho các nhà giáo dục lịch sử

Tuy nhiên quá trình day-học lịch sử vẫn còn đang tồn tại những bất cập và hạn chế lớn chưa thể khắc phục:

Một hiên trạng rất đáng buồn là trong những năm gần đây có hiện tượng

“dân ta” không biết “sử ta” Trong thời gian gần đây do nhiều nguyên nhân chủ

Trang 24

quan và khách quan chất lương dạy-học lịch sử ngày càng giảm sút đến mức báo động Các phương tiện truyền thông đại chúng đã lên tiếng về tình trạng giảm sút chất lượng một cách nghiêm trọng của môn Lịch sử Qua một cuộc thi trên truyền hình nhiều người không khỏi bàng hoàng, giật mình khi trường họp một sinh viên của Trường Đại học Văn Lang lại không biết tên quốc hiệu của nước

ta thời các Vua Hùng Một cuộc điều tra với chủ đề “Thanh niên Hồ Chí Minh trong sự nghiệp bảo tồn và phát huy văn hoá dân tộc” đã thu được những kết quả đấng buồn sau: Trong số 1800 người được hỏi thì có 39% số người không biết Hùng Vương là ai, 65% số người không biết về Trương Định, 49% nói sai

về Trần Quốc Tuấn; 64% trong tổng số 468 sinh viên của một số trường đại học không biết gì về Lương Thế Vinh; 83%học sinh, sinh viên không biết về các nhân vật, sự kiện lịch sử đặt tên cho các đường phố, địa danh mà họ đang sống hoặc rất quen thuộc Nhiều bài báo đã nêu lên những nhầm lẫn lớn như cho rằng

Lý Thường Kiệt là 1 trong 108 anh hùng Lương Sơn Bạc, Nguyễn Thị Minh Khai lãnh đạo cách mạng tháng Tám Hay như Đài truyền hình Việt Nam đã phản ánh một số trường hợp xuyên tạc lịch sử do có ý hoặc nhầm lẫn như đó là việc viết chỉ thị “Nhật-Pháp chơi nhau, Việt Nam vớ bở” thay vì phải viết là Chỉ thị “Nhật- Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” hoặc có thí sinh đã viết: Hoà thượng Thích Quảng Đức treo cổ tự tử ở Ngã Tư Sở trong khi sự kiện là Hoà thượng Thích Quảng Đức tự thiêu ở một ngã tư đường phố Sài Gòn Rất nhiều bài thi lịch sử cười ra nước mắt khiến cho cả xã hội và các nhà giáo dục lịch sử không biết nên khóc hay nên cười Kì thi Đại học năm 2008 đã lượm lặt được rất nhiều những bài thi lịch sử cười ra nước mắt mà trước đó chưa từng thu được Nhiều thí sinh trả lời sai kiến thức, sự kiện, khái niệm cơ bản, diễn đạt hành văn lủng củng, sai từ ngữ, sự nhầm lẫn và nhận thức lịch sử lệch lạc Một thí sinh đã viết: “Chiến dịch Hồ Chí Minh 1970, quân ta tiến vào Him Lam, Bản Kéo, lần lượt giành các đồi A1, C1, D, E…Hai bên chiến đấu giằng co quyết liệt

và cuối cùng ta đã giành được thắng lợi cuối cùng buộc địch phải kí kết Hiệp định Pari năm 1972 Cũng câu hỏi về Chiến dịch Hồ Chí Minh, có thí sinh đã trả lời: “…Đêm 30-12, rạng sáng ngày 1-1-1975, nhân lúc quân Mĩ đang say sưa,

Trang 25

quân ta tấn công Tiếng súng đầu tiên nổ lên, kháng chiến bắt đầu, giặc lúng túng chống trả không kịp, bỏ cả đồn bốt chạy sang Trung Quốc” Có thí sinh nhầm lẫn sự kiện Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 với chiến dịch lịch

sử Điện biên Phủ “…Đến ngày 30-4-1975, bộ đội ta đã bao vây và tiến thẳng vào Điện Biên Phủ…”

Khi nói về tội ác của Mỹ-Diệm có thí sinh đã viết: “…Mỹ-Diệm đã đàn

áp nhân dân, lôi kéo nhân dân vào nhà chứa đưa họ vào con đường nghiện ngập

… Mở các lớp học không học về lịch sử Việt Nam mà phải học những gì mà các giáo sư Mĩ dạy” Viết về ý nghĩa của Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, thí sinh viết “…Mùa xuân 1974-1975, quân và dân ta không chịu được cảnh đàn

áp của thực dân Pháp… Sau Lê Lai, Lê Lợi không chịu được cảnh lòng lang dạ sói của thực dân Pháp, đã nổi dậy đấu tranh năm 1975… nổ ra ròng rã 2 ngày 1 đêm và quân ta đã đánh đuổi thực dân Pháp… Mùa xuân 1975 máu chảy thành sông, người chết thì nhiều Sau Lê Lợi lên làm vua được vài năm thì chết”

Đặc biệt, qua quá trình thực tập phổ thông bản thân tôi thấy rõ thực trạng học tập lịch sử Rất nhiều học sinh đã nhầm lẫn Hai Bà Trưng lãnh đạo khởi nghĩa Hai Bà Trưng là Bà Trưng và Bà Triệu Đặc biệt là thái độ của học sinh đối với môn lịch sử là điều đáng nói khiến các nhà giáo dục lịch sử phải suy ngẫm Tại trường THPT Tân Lạc-Hoà Bình trong giờ học lịch sử học sinh đã xuyên tạc “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn: “…Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm kêu đói…” hoặc khi đọc lời biểu dụ của Quang Trung khi xuất quân ra Bắc tiêu diệt quân Thanh thì đã có em học sinh đọc như sau:

“ Đánh cho để rụng tóc

Đánh cho để long răng…”

Thiết nghĩ vị trí của bộ môn lịch sử chua được đặt đúng chỗ của nó Lịch sử cần phải được quan tâm hơn nữa để ít nhất là những người không biết và không thích lịch sử không còn xuyên tạc lịch sử như vậy nữa

Đặc biệt sự hiểu biết về Lịch sử thế giới còn tệ hại hơn mà chủ yếu là không biết đúng lịch sử, không thuộc sự kiện lịch sử Ví dụ trình bày cuộc nội chiến ở Trung Quốc (1946-1949), có thí sinh viết: “…Mở đầu là cuộc binh biến

Trang 26

Ba Son Tại đây công nhân đã nổi dậy đình công đứng đầu là Ba Son, một liệt sĩ cách mạng Phong trào bị Phát xít Nhật đàn áp dã man Ba Son bị giết hại…”

Có thí sinh khác lại viết “…Năm 1946 ở trung quốc hình thành hai tầng lớp riêng biệt đó là cách mạng XHCN do Mao Trạch Đông lãnh đạo và giai cấp vô sản do Tưởng Giới Thạch lãnh đạo…”[9]

Và với nhiều sự nhầm lẫn, môn lịch sử vài năm gần đây luôn giữ vị trí

“đội sổ” trong tương quan với các môn học khác Ví dụ kì thi đại học năm 2007

có hơn 150.000 bài “gặt” mức điểm từ 4,5 trở xuống điểm số trung bình của môn Sử là 2,09/10 so với điểm số trung bình các môn khác là 4,28 và so với môn Lý là 5,19, môn Hoá là 4,49, môn Văn là 4.41, môn Toán là 3,65 và môn Ngoại Ngữ là 3,64 Theo thống kê của Cục công nghệ thông tin (Bộ GD-ĐT) cho thấy độ vênh giữa mức điểm trung bình thi tuyển sinh và thi tú tài ở môn lịch sử là cao nhất (4,10 so với độ vênh 2,40 của trung bình các môn còn lại) Như Hồ Chí Minh đã khẳng định “biết” để “tường” (hiểu cặn kẽ) “gốc tích”, vậy không biết thì không thể hiểu lịch sử GS Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam cho hay những người trong ngành nhận thấy tình trạng sa sút của bộ môn lịch sử Từ năm 1999, Hội đã đưa ra những lời cảnh báo và đề xuất phương hướng giải quyết

Nguyên nhân của thực trạng trên có nhiều Thực sự lịch sử chưa được đặt đúng vị trí của nó, chưa được quan tâm như nó đáng được quan tâm Việc đầu tư trang thiết bị cho dạy học lịch sử chưa được quan tâm thoả đáng Trong một thời gian dài đã có quan niệm chưa đúng về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của môn lịch sử Từ thời cổ đại , vị trí của môn lịch sử được khẳng định: “ Lịch sử là thầy giáo của cuộc đời, là ngọn đuốc soi đường đi đến tương lai” Có một thời có không ít quan niệm cho rằng mọi khoa học đều bắt nguồn từ lịch sử Thế nhưng, những năm gần đây không ít quan niệm cho rằng lịch sử là “môn phụ” nên không quan tâm đến môn học này Cá biệt có quan niệm cho rằng môn lịch sử không có ý nghĩa gì đối với sự phát triển xã hội Do đó vai trò, vị trí của bộ môn lịch sử trong việc giáo dục thế hệ trẻ bị phủ nhận hoặc hạ thấp

Trang 27

Bên cạnh đó, phương pháp dạy học chậm được đổi mới, nhiều giáo viên không chịu đổi mới phương pháp mà khư khư giữ lấy phương pháp dạy học kiểu

“thầy đọc-trò ghi”

Việc biên soạn SGK còn nhiều bất cập Hiện thực lịch sử thì vô cùng phong phú nhưng nội dung SGK thì chủ yếu là kênh chữ, kênh hình rất hạn chế làm cho môn học lịch sử rất khô khan Số lượng kênh hình trong SGK hiện nay đã tăng lên đáng kể so với trước nhưng so với SGK lịch sử các nước khác vẫn là ít

ỏi Ví dụ bài “Thời tiền sử” ở quyển SGK “Lịch sử nước Pháp” dùng cho học sinh Nhì trường tiểu học Pháp xuất bản 1980, phần bài viết chỉ có 2 cột trong một trang, với 2 mục nhỏ “Thời kì đá chẻ” và “Thời kì đá mài” “Bài biết chỉ có trên 400 từ Trong khi đó, sách dành một phần lớn giới thiệu ảnh “Hang động Âydi”, một di chỉ khảo cổ thời đồ đá cũ, ảnh 3 công cụ đồ đá chẻ và một ảnh chụp “Tranh vẽ trên vách hang”, một bức tranh về cảnh sinh hoạt, lao động sản xuất và các công cụ lao động của con người thời kì ấy Kèm theo kênh hình là phần giới thiệu ngắn gọn nội dung các tranh ảnh, các câu hỏi Trong quyển SGK

“Lịch sử các lớp cuối cấp trung học” xuất bản 1995 ở Pháp- mục II “Độc lập và xung đột (1946-1947)” gồm bài viết 2 trang với các tiểu mục:

Trong quyển “Lịch sử nước Mỹ”, phần cơ chế sư phạm của bài 4 “những biến cố khởi đầu của cuộc cách mạng Mỹ” gồm các phần:

- “Những từ cần thảo luận để hiểu nghĩa”

Ngày đăng: 06/02/2018, 21:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. “Biểu tượng lịch sử với học sinh tiểu học” của tác giả Trần Văn Lưu trường THSP Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biểu tượng lịch sử với học sinh tiểu học
2. Trong cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử”(2002) tập 1, Giáo sư Phan Ngọc Liên (chủ biên), Phó giáo sư. Tiến sĩ Trịnh Đình Tùng, Giáo sư. Tiến sĩ Nguyễn Thị Côi, Nhà xuất bản Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học lịch sử
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học sư phạm
3. Trong cuốn “Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong SGK lịch sử THCS phần lịch sử Việt Nam” và cuốn “Kênh hình trong dạy học lịch sử ở trường THPT”tập 1 phần lịch sử Việt Nam do Giáo sư Nguyễn Thị Côi chủ biên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong SGK lịch sử THCS phần lịch sử Việt Nam” và cuốn “Kênh hình trong dạy học lịch sử ở trường THPT
4. Nguyễn Thị Côi (2011), “Các con đường biện pháp để nâng cao hiệu quả bài học lịch sử ở nhà trường phổ thông”, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các con đường biện pháp để nâng cao hiệu quả bài học lịch sử ở nhà trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thị Côi
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2011
5. Nguyễn Anh Dũng, Trần Vĩnh Tường (2003), “Những vấn đề chung về bộ môn phương pháp dạy học Lịch sử ở trường Cao đẳng sư phạm”, NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề chung về bộ môn phương pháp dạy học Lịch sử ở trường Cao đẳng sư phạm
Tác giả: Nguyễn Anh Dũng, Trần Vĩnh Tường
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2003
7. Nguyễn Thị Côi (chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Trần Viết Thụ, Nguyễn Mạnh Khởi, Đoàn Văn Hưng, Nguyễn Thị Thúy Bình, (2011), “Rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm môn Lịch sử”, NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm môn Lịch sử
Tác giả: Nguyễn Thị Côi (chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Trần Viết Thụ, Nguyễn Mạnh Khởi, Đoàn Văn Hưng, Nguyễn Thị Thúy Bình
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2011
10. Bài viết “Tạo biểu tượng về nhân vật lịch sử để giáo dục tư tưởng, tình cảm cho học sinh” tác giả Đặng Văn Hồ - Khoa lịch sử - Đại học sư phạm - Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạo biểu tượng về nhân vật lịch sử để giáo dục tư tưởng, tình cảm cho học sinh
1. Đồ dùng dạy hoc - Các hình ảnh minh họa sách giáo khoa - Phiếu thảo luận cho các nhóm- Học sinh sưu tầm các câu chuyện về Bác Hồ trong những ngày toàn dân quyết tâm diệt “giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm” Sách, tạp chí
Tiêu đề: giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm
2. Phương pháp dạy học - Phương pháp đàm thoại gợi mở- Phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức lịch sử thông qua hệ thống kênh hình- Phương pháp thảo luận nhóm III. Các hoạt động dạy - học 1. Ổn định và kiểm tra bài cũ 2. Tiến trình dạy Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w