1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Cao hoc mon CHUYEN DE QUAN TRI RUNG Cơ sở pháp lý của trách nhiệm giải trình và sự tham gia trong tiến trình thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng

6 280 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 29,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦUKhái quát chung về chi trả dịch vụ môi trường Khái niệm chi trả dịch vụ môi trường Chi trả dịch vụ hệ sinh thái Payment for Ecosystem Services - PES hay còn được gọi là chi trả cho

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ



TIỂU LUẬN CAO HỌC

CHUYÊN ĐỀ: QUẢN TRỊ RỪNG

“Cơ sở pháp lý của trách nhiệm giải trình và sự tham gia trong tiến trình

thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng”

Học viên thực hiện: Phan Đình

Huế, 1/2018.

Trang 2

MỞ ĐẦU

Khái quát chung về chi trả dịch vụ môi trường

Khái niệm chi trả dịch vụ môi trường

Chi trả dịch vụ hệ sinh thái (Payment for Ecosystem Services - PES) hay còn được gọi là chi trả cho dịch vụ môi trường (Payment for Environmental Services) được xem là cơ chế nhằm thúc đẩy việc tạo ra và sử dụng các dịch vụ sinh thái bằng cách kết nối người cung cấp dịch vụ và người sử dụng dịch vụ hệ sinh thái

Một khái niệm hẹp hơn về chi trả môi trường được đưa ra năm 2005 là: “ Chi trả dịch vụ môi trường là một giao dịch trên cơ sở tự nguyện mà ở đó dịch vụ môi trường được xác định cụ thể (hoặc hoạt động sử dụng đất để đảm bảo có được dịch vụ này) đang được người mua (tối thiểu một người mua) mua của người bán (tối thiểu một người bán) khi và chỉ khi người cung cấp dịch vụ môi trường đảm bảo được việc

cung cấp dịch vụ môi trường này” (Wunder 2005, p9)

Trong quyết định 380/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ có quy định chi tiết hơn về khái niệm chi trả dịch vụ môi trường được áp dụng cho hoạt động trồng rừng Theo đó, chi trả dịch vụ môi trường rừng là quan hệ kinh tế giữa người sử dụng các dịch vụ môi trường rừng trả tiền cho người cung ứng dịch vụ môi trường rừng

Thiết lập kế hoạch chi trả dịch vụ môi trường

Chi trả dịch vụ môi trường (PES) thực chất là một cơ chế chi trả dựa trên việc người sử dụng hay người cung cấp có được lợi ích từ các dịch vụ sinh thái, từ đó dẫn đến việc bảo vệ và quản lý chúng Cơ chế này cần có sự thiết lập rõ ràng để đảm bảo

nó hoạt động thực sự hiệu quả trong một thời gian dài và có khả năng nhân rộng trên toàn thế giới Theo Wunder (2005) các tiêu chí của PES là:

 Tự nguyện trong giao dịch

 Các dịch vụ môi trường cần được xác định rõ

 Có ít nhất một người cung cấp dịch vụ môi trường

 Có ít nhất một người mua dịch vụ môi trường

 Nếu và chỉ với điều kiện là người cung cấp dịch vụ môi trường phải bảo đảm việc cung cấp dịch vụ môi trường (mang tính điều kiện)

Dựa trên tiêu chí này, dự án chi trả dịch vụ môi trường được xây dựng thông qua ba bước, bao gồm:

Nhận dạng và xác định các dịch vụ môi trường

Xem xét giá trị kinh tế của các dịch vụ môi trường Trong bước này ta sẽ xác

Trang 3

định giá cho các dịch vụ Việc tính toán các giá trị kinh tế có thể dựa trên việc gán số lượng và giá trị bằng tiền cho hàng hoá và dịch vụ được cung cấp bởi môi trường tự nhiên, dù có hay không giá thị trường vẫn rất hữu ích trong việc giúp ta tính toán

Thiết lập kế hoạch chi trả

Nguyên tắc chi trả dịch vụ môi trường

Hai nguyên tắc cơ bản của PES là:

 Tạo ra động lực tài chính hiệu quả thúc đẩy cá nhân và cộng đồng cung cấp các dịch vụ môi trường;

 Chi trả các chi phí cho việc cung cấp các dịch vụ của họ Việc chi trả này có thể dưới hình thức là tiền hoặc hiện vật

Cụ thể hơn, với việc chi trả cho dịch vụ môi trường rừng, Điều 7 chương I, Quyết định 380/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định như sau:

 Việc chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng trực tiếp do người được chi trả và người phải chi trả thực hiện trên cơ sở hợp đồng thoả thuận theo nguyên tắc thị trường

 Mức tiền chi trả sử dụng dịch vụ môi trường rừng gián tiếp do Nhà nước quy định được công bố công khai và điều chỉnh khi cần thiết

 Các tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ môi trường rừng phải chi trả tiền sử dụng dịch vụ môi trường rừng cho người được chi trả dịch vụ môi trường rừng và không thay thế cho thuế tài nguyên nước hoặc các khoản phải nộp khác theo quy định của pháp luật

 Đối với tổ chức kinh doanh, tiền chi trả cho việc sử dụng dịch vụ môi trường rừng được tính vào giá thành sản phẩm của bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng

Trang 4

KẾT QUẢ THẢO LUẬN

Căn cứ xây dựng chính sách

Cơ sở pháp lý

Căn cứ theo hệ thống pháp luật hiện hành, Pháp lệnh số 38/2001/PL- UBTVQH

10 ngày 28/08/2001 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về phí và lệ phí có quy định về việc thu phí đối với 12 lĩnh vực Trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản đã

có các quy định về phí thuỷ lợi, phí kiểm dịch động, thực vật; phí kiểm tra vệ sinh thú ý, bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản…Riêng trong lĩnh vực môi trường có phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, khí thải, chất thải rắn, tiếng ồn, khai thác tài nguyên Như vậy, Pháp luật Việt Nam đã có sự quan tâm đúng đắn đến vấn đề bảo vệ môi trường, tạo cơ sở tiền đề cho việc bổ sung, xây dựng các chính sách mới, đáp ứng được xu hướng phát triển chung của đất nước và thế giới

Hướng tới việc phát triển bền vững, Quyết định 380/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ra đời ngày 10/04/2008 đã quy định rõ về việc cần thiết phải xây dựng thí điểm cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng tại một số tỉnh, sau đó rút kinh nghiệm và nhân rộng mô hình này trên cả nước Hiện nay, chính sách này được áp dụng cho các

cơ sở sản xuất được hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng thuộc lưu vực sông Đồng Nai, sông Đà và các chủ rừng ở vùng đầu nguồn lưu vực hai con sông nói trên thuộc hai tỉnh Lâm Đồng và Sơn La

Ngoài những căn cứ pháp lý kể trên, còn phải kể đến một số Nghị định cũng như các báo cáo dự án trồng và phát triển rừng như:

 Kế hoạch số 1660/KH-BNN-PC ngày 12/06/1008 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về kế hoạch tổ chức triển khai Quyết định 380/QĐ-TTg ngày 10/04/2008 của Thủ tướng Chính phủ

 Nghị định số 05/2008/NĐ-CP ngày 14/01/2008 của Chính phủ về Quỹ

bảo vệ và phát triển rừng

Cơ sở khoa học và thực tiễn

Nhiều nghiên cứu hiện nay đã đánh giá giá trị của rừng theo quan điểm kinh tế, nghĩa là lượng hoá các lợi ích mà rừng mang lại cho cuộc sống con người qua các con

số chứ không còn đơn thuần là kể ra những lợi ích đó Dựa trên chính các kết quả này, giá trị dịch vụ môi trường rừng ngày càng được thừa nhận rộng rãi hơn Các nghiên cứu thực hiện trên phạm vi thế giới đã chỉ ra cơ cấu cho các loại dịch vụ môi trường rừng là: hấp thụ các-bon chiếm 27%; bảo tồn đa dạng sinh học chiếm 25%; phòng hộ đầu nguồn chiếm 21% ; bảo vệ cảnh quan chiếm 17% và các giá trị khác chiếm 10%

Thực tiễn tại Việt Nam cũng cho thấy những tín hiệu đáng mừng của việc thay

Trang 5

đổi trong nhận thức của con người về các giá trị của dịch vụ môi trường rừng Rừng không chỉ là nguồn tài nguyên quý giá mà còn có chức năng bảo vệ cho các khu vực

hạ lưu, vì thế Việt Nam đã xác định cần thiết phải xây dựng một cơ chế quản lý rừng hiệu quả hơn thay thế cho các phương pháp trước đây theo quan điểm coi dịch vụ môi trường rừng là một loại hàng hoá Đây là cơ sở tiền đề quan trọng để hiểu và tiếp thu

“Cơ chế chi trả cho dịch vụ môi trường”

Sau hơn 5 năm thực hiện, chính sách chi trả DVMTR của Việt Nam đã khẳng định là một trong những thành tựu quan trọng của ngành lâm nghiệp Việt Nam, xác lập được một công cụ tài chính ủy thác đổi mới, hữu hiệu cho công tác QLBVR ở Việt Nam, nhất là bảo vệ các hệ thống rừng tự nhiên phòng hộ, đặc dụng, mang lại nhiều lợi ích về môi trường, kinh tế và xã hội Có thể nhận thấy rằng, chi trả DVMTR đang từng bước tác động vào hệ thống quản trị rừng ở các địa phương theo hướng xã hội hóa – tăng cường sự tham gia của nhiều bên liên quan theo cơ chế đảm bảo chi trả dựa vào kết quả bảo vệ rừng

Vai trò, quy mô, cách thức thực hiện và tiềm năng của chi trả DVMTR ở Việt Nam đã thu hút sự quan tâm của các tổ chức ngoài nhà nước (NGOs) vì khả năng của chính sách này trong thúc đẩy quyền tiếp cận tài nguyên rừng, đất rừng, hưởng lợi từ chi trả của hộ gia đình và cộng đồng, nhất là DTTS, và cải thiện phối hợp quản lý bảo

vệ rừng tại địa phương Từ năm 2014-2017, thông qua Liên minh Đất rừng (LMĐR/Forland) các tổ chức thành viên bao gồm PanNature, CORENARM, CRD và SEEDS đã thực hiện các nghiên cứu xem xét ảnh hưởng của chi trả DVMTR Việt Nam đối với hệ thống quản trị rừng địa phương, đồng thời phối hợp với Quỹ BVPTR Việt Nam và các tỉnh nghiên cứu, thử nghiệm và xây dựng khung chỉ số hướng dẫn giám sát, đánh giá chi trả DVMTR tại các tỉnh

Thông qua các hoạt động khảo sát, tham vấn, phân tích thực tế thực hiện chi trả DVMTR tại các địa phương, vấn đề đặt ra là có những rào cản và cơ hội nào, xét từ góc độ quản trị rừng, cần được xem xét để việc thực hiện chi trả DVMTR sẽ đạt được mục đích cuối cùng và quan trọng nhất: bảo vệ được tính nguyên vẹn của hệ thống rừng tự nhiên của địa phương, và trên toàn quốc, trong các lưu vực đang áp dụng chi trả DVMTR một cách bền vững Các thảo luận nổi bật gồm có các vấn đề sau:

Sự tham gia và phối hợp của của các bên liên quan

Triển khai thực hiện Nghị định 99/2010/NĐ-CP dẫn đến sự thành lập và vận hành của gần 40 Quỹ BVPTR cấp tỉnh – một thiết chế tài chính lâm nghiệp mới tại các địa phương, được điều hành bởi Hội đồng quản lý quỹ có đại diện của nhiều sở ngành tham gia Phần lớn các Quỹ BVPTR do UBND tỉnh trực tiếp quản lý, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác chỉ đạo, hướng dẫn, phê duyệt kế hoạch và tổ chức thực hiện theo các quy định hiện hành Tuy nhiên, thành phần, động lực và vai trò tham gia của

Trang 6

các bên liên quan có một số vấn đề đáng quan tâm như sau:

 Hội đồng quản lý Quỹ không có sự tham gia của đại diện (nhóm) sử dụng dịch

vụ (công ty thủy điện, cấp nước, du lịch) và tổ chức xã hội (nhất là Hội phụ nữ, và sau này có thể là Hội chủ rừng);

 Cơ quan kiểm lâm (CCKL, Hạt Kiểm lâm, Kiểm lâm địa bàn) cần thực hiện đúng chức năng theo dõi, giám sát hoạt động, nghiệm thu kết quả BVR của các chủ rừng tham gia, nhất là các hộ gia đình và cộng đồng nhận giao khoán

QLBVR trên địa bàn chi trả Việc Hạt Kiểm lâm thực hiện vai trò đầu mối chi trả cho hộ gia đình và cộng đồng khó đảm bảo được tính khách quan và đúng đắn về trách nhiệm báo cáo kết quả BVR;

 Mức độ tham gia của chính quyền địa phương (UBND xã) trong cả hoạt động chi trả DVMTR và giám sát QLBVR rất thấp; thiếu thông tin và chưa thực sự lồng ghép được thực hiện chi trả DVMTR vào kế hoạch hoạt động lâm nghiệp của địa phương; thiếu cơ chế tài chính hiệu quả để gắn kết chính quyền địa phương trong hoạt động QLBVR nói chung;

 Thiếu các cơ chế yêu cầu chủ rừng tổ chức (trực thuộc Sở NN-PTNT hoặc UBND tỉnh) – là đầu mối chi trả, tuân thủ chế độ báo cáo đầy đủ, kịp thời về kết quả QLBVR theo định kỳ về cho Quỹ BVPTR tỉnh cũng như Hạt Kiểm lâm (với chức năng là đơn vị quản lý chủ rừng trên địa bàn);

 Hạn chế của công tác truyền thông nên tỷ lệ hộ gia đình, cộng đồng tham gia có hiểu biết đúng, đủ về chính sách chi trả DVMTR là khá thấp; từ đó quyền tham gia và hưởng lợi của họ có thể không được đảm bảo;

Ngày đăng: 06/02/2018, 09:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w