1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tư tưởng hồ chí minh về chính sách xã hội và việc vận dụng ở bến tre trong thời kỳ đổi mới - luận văn thạc sĩ

118 242 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 507,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong suốt quá trình hoạt động của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành sự quan tâm đặc biệt đến hợp tác xã. Cho đến giờ phút cuối cùng của cuộc đời mình, Người vẫn trăn trở về cuộc sống của nông dân, về hợp tác xã như con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta. Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, Đảng ta chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần với nhiều hình thức sở hữu khác nhau, nhưng vẫn tiếp tục khẳng định vai trò, vị trí quan trọng của kinh tế tập thể mà nòng cốt là hợp tác xã. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận thức và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác trong nông nghiệp là vấn đề cấp thiết, có ý nghĩa phương pháp luận sâu sắc, soi sáng quá trình phát triển kinh tế hợp tác trong nông nghiệp ở nước ta. An Giang là một tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long, có tiềm lực kinh tế nông nghiệp là chủ yếu. Vì vậy, việc nghiên cứu kinh tế hợp tác trong nông nghiệp ở An Giang là cấp thiết trong giai đoạn hiện nay. Từ yêu cầu lý luận và thực tiễn đó tôi, quyết định chọn đề tài: "Tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác xã và vận dụng vào phát triển kinh tế hợp tác trong nông nghiệp ở An Giang hiện nay" làm luận văn của mình, hy vọng góp một phần nhỏ nhằm hệ thống hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác xã và sự vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người về hợp tác trong nông nghiệp ở An Giang hiện nay.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (1991), Đảng ta

đã trân trọng ghi vào Cương lĩnh và Điều lệ của Đảng: "Chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hànhđộng" [18, tr 187] Sự khẳng định thể hiện rõ Đảng đã nhận thức khoa học,sâu sắc về vai trò quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự nghiệpcách mạng nước ta trong giai đoạn cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhấtđất nước trước đây, cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốcViệt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay

-Để cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân nhận thức rõ hơn, vậndụng tốt hơn trong thực tiễn đời sống xã hội, Đại hội đại biểu toàn quốc lần

thứ IX của Đảng đã chỉ rõ:

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện

và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kếtquả sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vàođiều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyềnthống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại [21, tr.83]

Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng về chính sách xã hội

là một bộ phận quan trọng và được thể hiện xuyên suốt trong chủ trương,đường lối chính sách, tổ chức thực hiện của Đảng và Nhà nước Việt Nam phùhợp với thực tiễn, nhiệm vụ trong từng thời kỳ cách mạng Cho đến những

năm tháng cuối đời, chuẩn bị cho việc "đi xa", Người viết trong Di chúc:

Đầu tiên là công việc đối với con người

Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương

Trang 2

máu của mình (cán bộ, binh sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xungphong ), Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho

họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghềthích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần "tự lực cánh sinh"

Đối với các liệt sĩ, mỗi địa phương (thành phố, làng xã) cầnxây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy sinh anh dũng của cácliệt sĩ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta

Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sĩ) mà thiếusức lao động và túng thiếu, thì chính quyền địa phương (nếu ở nôngthôn thì chính quyền xã cùng hợp tác xã nông nghiệp) phải giúp đỡ

họ có công việc làm ăn thích hợp, quyết không để họ bị đói rét

Những chiến sĩ trẻ tuổi trong các lực lượng vũ trang nhândân và thanh niên xung phong đều đã được rèn luyện trong chiếnđấu và đều tỏ ra dũng cảm Đảng và Chính phủ cần chọn một số ưu

tú nhất, cho các cháu ấy đi học thêm các ngành, các nghề, để đàotạo thành những cán bộ và công nhân có kỹ thuật giỏi, tư tưởng tốt,lập trường cách mạng vững chắc Đó là đội quân chủ lực trong côngcuộc xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở nước ta

Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, phụ nữ đảm đang ta

đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất Đảng vàChính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc

và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể

cả công việc lãnh đạo Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên

Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự chophụ nữ

Đối với những nạn nhân của chế độ xã hội cũ, như trộm cắp,gái điếm, cờ bạc, buôn lậu, v.v , thì Nhà nước phải dùng vừa giáo

Trang 3

dục, vừa phải dùng pháp luật để cải tạo họ, giúp họ trở nên nhữngngười lao động lương thiện.

Trong bao năm kháng chiến chống thực dân Pháp, tiếp đếnchống đế quốc Mỹ, đồng bào ta, nhất là đồng bào nông dân đã luônluôn hết sức trung thành với Đảng và Chính phủ ta, ra sức góp củagóp người, vui lòng chịu đựng mọi khó khăn gian khổ Nay ta đãhoàn toàn thắng lợi, tôi có ý đề nghị miễn thuế nông nghiệp 1 nămcho các hợp tác xã nông nghiệp để cho đồng bào hỉ hả, mát dạ, mátlòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất [49, tr.503-504].Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến chínhsách xã hội và đã ban hành nhiều luật mới, có sửa đổi và bổ sung các luật nhưLuật Thanh niên, Luật Hôn nhân gia đình, Pháp lệnh Người có công, Pháplệnh Người cao tuổi, các nghị định 134, 135 về xoá đói giảm nghèo; phát độngxây dựng nhà tình nghĩa, nhà đại đoàn kết v.v Hiện nay, trong sự nghiệp đổimới, Đảng và Nhà nước ta càng coi trọng hơn nữa đến chính sách xã hội Đâycũng là đòi hỏi của thực tiễn

Đất nước trải qua nhiều thập kỷ chiến tranh nên hậu quả của nó để lạikhông nhỏ Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội,nước ta có trên 4,5 triệu thương binh và người tàn tật; trên 1 triệu người già,

có con em bị mất trong chiến tranh không có khả năng tự nuôi sống bảnthân; trên 300.000 trẻ mồ côi và hàng vạn bộ đội xuất ngũ có nhu cầu cấpbách về việc làm Hậu quả chiến tranh còn để lại nhiều di chứng cho các thế

hệ sau như nhiễm chất độc da cam, hủy hoại và gây ô nhiễm môi trường ảnhhưởng trực tiếp đến đời sống và hoạt động sản xuất của nhân dân Để giảiquyết hậu quả của chiến tranh đòi hỏi Đảng, Nhà nước phải thực hiện chínhsách xã hội như chính sách đối với nạn nhân chiến tranh, chính sách đối vớingười có công với cách mạng, chính sách đối với thương binh, với thân nhâncác liệt sĩ v.v…

Trang 4

Chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đãtạo những điều kiện thuận lợi cho nước ta phát triển về kinh tế - xã hội với nhịp

độ nhanh hơn, chất lượng cao hơn; không ngừng nâng cao đời sống nhân dân;thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước đi và từng chính sách pháttriển Bên cạnh những mặt tích cực, vẫn còn tồn tại mặt yếu kém như: thất nghiệp,chênh lệch về thu nhập, phân hóa giàu nghèo, tệ nạn xã hội… Những tác độngtiêu cực này nếu không được chú trọng giải quyết sẽ trở thành lực cản đối vớiquá trình đổi mới và phát triển Để phát triển bền vững, Đảng, Nhà nước cần thựchiện tốt chính sách xã hội và coi đó là biểu hiện rõ nhất tính ưu việt của chế độta

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (2006), đã đánh giánhững mặt đạt được trong thực hiện chính sách xã hội: "Công tác xóa đói giảmnghèo được đẩy mạnh bằng nhiều hình thức, biện pháp; đến cuối năm 2005, tỉ lệ

hộ nghèo (theo chuẩn Việt Nam cho giai đoạn 2001-2005) còn 7% (năm 2001

là 17,5%, kế hoạch là 10%)" [23, tr 58]

Đại hội X tiếp tục khẳng định:

Trong 5 năm, tạo việc làm cho 7,5 triệu lao động Thu nhậpbình quân đầu người tăng từ 5,7 triệu đồng năm 2000 lên 10 triệuđồng năm 2005

Công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân đạt đượcnhiều kết quả: mở rộng mạng lưới y tế, đặc biệt là y tế cơ sở; khốngchế và đẩy lùi một số dịch bệnh nguy hiểm; tuổi thọ trung bình củadân số nước ta tăng từ 67,8 (năm 2000) lên 71,5 (năm 2005)… Cácphong trào đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc người có công, Bà mẹ ViệtNam Anh hùng, thương binh, gia đình liệt sĩ … thu hút sự tham giarộng rãi của các tầng lớp nhân dân [23, tr 58-59]

Xác định mục tiêu nhiệm vụ những năm tiếp theo, Đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ X xác định:

Trang 5

Kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội trongphạm vi cả nước, ở từng lĩnh vực, địa phương; thực hiện tiến bộ vàcông bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách pháttriển, thực hiện tốt các chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh

tế, gắn quyền lợi và nghĩa vụ, cống hiến và hưởng thụ, tạo động lựcmạnh mẽ và bền vững hơn cho phát triển kinh tế xã hội Tập trunggiải quyết những vấn đề xã hội bức xúc [23, tr 102]

Đồng thời, Đại hội X của Đảng còn chỉ rõ: cần phải khuyến khích mọingười làm giàu theo pháp luật, thực hiện có hiệu quả các chính sách xóa đóigiảm nghèo; xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa dạng; phát triển mạnh hệthống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân; đa dạnghóa các loại hình cứu trợ xã hội, tạo việc làm, đẩy mạnh xuất khẩu lao động,hướng tới xuất khẩu lao động trình độ cao; tiếp tục đổi mới chính sách tiềnlương, chính sách phân phối thu nhập; chú trọng các chính sách ưu đãi xã hội;chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần cho người già, nhất là những ngườigià cô đơn, không nơi nương tựa; giúp đỡ nạn nhân chất độc da cam, ngườitàn tật, trẻ mồ côi, trẻ lang thang

Bến Tre là một tỉnh giàu truyền thống cách mạng, là "chiếc nôi Đồngkhởi" và là một trong những địa phương đi đầu trong sự nghiệp chống Mỹ,cứu nước Hòa bình lập lại, cả nước nói chung, Bến Tre nói riêng phải gánhchịu hậu quả chiến tranh hết sức nặng nề và những mất mát vô cùng to lớn vớihàng ngàn liệt sĩ, thương bệnh binh, nạn nhân chất độc da cam, tàn dư chế độ

Mỹ - Ngụy về văn hóa, xã hội Để giải quyết hậu quả của chiến tranh, đòi hỏiĐảng bộ, chính quyền địa phương phải thực hiện chính sách xã hội như chínhsách đối với nạn nhân chiến tranh, chính sách đối với người có công với cáchmạng, chính sách đối với thương binh, xóa bỏ tàn dư chế độ cũ và những vấn

đề mới nảy sinh

Trang 6

Trong giai đoạn hiện nay, Bến Tre đang cùng với cả nước bước vàothời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, việc giải quyết tốt chính sách xã hội làmột trong những động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Trong nhữngnăm qua, Đảng bộ và chính quyền địa phương đã thực hiện tốt chính sách xóađói giảm nghèo theo Chương trình 134, 135; chính sách đền ơn đáp nghĩa, chămsóc người có công, Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, thương binh, gia đình liệt sĩ; giảiquyết công ăn việc làm cho người lao động và phòng chống các tệ nạn xã hội.

Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng đặt ra nhữngvấn đề: thất nghiệp, chênh lệch về thu nhập, phân hóa giàu nghèo, tệ nạn xãhội Vì vậy, đòi hỏi phải nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách xãhội, nhằm vận dụng tốt hơn nữa chính sách xã hội theo tư tưởng của Người ở

Bến Tre Đó là lý do tác giả chọn đề tài "Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính

sách xã hội và việc vận dụng ở Bến Tre trong thời kỳ đổi mới" làm đề tài

luận văn tốt nghiệp

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Bước đầu tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy tư tưởng Hồ Chí Minh về chínhsách xã hội là một bộ phận tư tưởng của Người về con người và chính sáchđối với con người, về vấn đề bồi dưỡng nhân tố con người trong sự nghiệpcách mạng Đã có một số đề tài nghiên cứu hội thảo khoa học và đã được xuấtbản liên quan đến vấn đề, chẳng hạn như:

+ PGS.TS Lê Sỹ Thắng chủ biên (1996) Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn

đề con người và chính sách xã hội, đề tài mã số KX02 (1991 - 1995) thuộc

chương trình khoa học cấp nhà nước KX02.05, Nxb Chính trị quốc gia, HàNội Đã nghiên cứu những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn

đề con người, về chính sách xã hội và quan điểm của Đảng, Nhà nước đối vớicon người

+ Năm (2001- 2002), Viện Nghiên cứu con người thuộc Trung tâm khoa

học xã hội và nhân văn Quốc gia đã tổ chức hội thảo khoa học: Tư tưởng Hồ

Trang 7

Chí Minh - phương pháp luận nghiên cứu con người Các tham luận đã được tập

hợp in thành ba tập Niên giám (kỷ yếu), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Trong

đó có một số tham luận đề cập tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách xã hội

+ TS Phạm Ngọc Anh chủ biên (2003), Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người và vận dụng tư tưởng đó trong điều kiện nước ta hiện nay,

đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

+ GS.VS.TSKH Phạm Minh Hạc (1996), Phát triển giáo dục, phát triển con người phục vụ phát triển xã hội - kinh tế, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,

1996, trong đó có phần đề cập đến tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục: chỉ rõnhững quan điểm tư tưởng cơ bản về giáo dục, diệt dốt và nâng cao dân trícủa Hồ Chí Minh

+ PGS.TS Thành Duy (2001): Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội Trong đó tác giả đã phân tích mối quan hệ giữa văn hóa và việc xâydựng con người mới ở Việt Nam, đồng thời khái quát quan điểm của Hồ ChíMinh về bản chất con người Việt Nam, về xây dựng con người Việt Nam pháttriển toàn diện trong bối cảnh hiện nay

+ TS Lê Quang Hoan (2002), Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người,

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

+ Nguyễn Văn Thanh (2006), Chính sách tài năng trẻ - nghiên cứu lý luận và thực tiễn, Nxb Thanh niên, Hà Nội.

+ GS Đỗ Nguyên Phương chủ biên (1999), Bác Hồ với y tế, Nxb Chính

trị quốc gia, Hà Nội

Đã có một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, đề cập nội dụng có liênquan đề tài luận văn như:

+ Nguyễn Hữu Công (2001), Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện, Luận án tiến sĩ Triết học Tác giả tập trung nêu lên quan

Trang 8

điểm về giáo dục, đào tạo phát triển con người toàn diện theo tư tưởng Hồ ChíMinh Chỉ ra vai trò của nhân tố kinh tế, chính trị, văn hóa trong quá trìnhhình thành và phát triển con người toàn diện, về con đường hình thành và pháttriển con người toàn diện theo quan niệm của Hồ Chí Minh Từ đó tác giả đưa

ra hướng vận dụng và phát huy tư tưởng phát triển con người toàn diện theoquan niệm Hồ Chí Minh vào sự nghiệp xây dựng con người mới ở Việt Namhiện nay

+ Phùng Thu Hiền (2002), Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân tố con người với việc phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, Luận văn thạc sĩ Triết học Tác giả đã nêu lên tư tưởng Hồ Chí Minh về

khái niệm con người, nhân tố con người, chỉ ra cơ sở hình thành và nội dung

tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân tố con người Từ đó tác giả nêu lên nhữngquan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong việc vận dụng tư tưởng này của HồChí Minh và chỉ ra một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy nhân tố conngười trong sự nghiệp đổi mới hiện nay

- Một số bài viết đã được đăng tải trên các tạp chí có nội dung liên quan và có giá trị tham khảo Đó là:

+ PGS.TS Nguyễn Văn Tài có bài Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và phát huy nhân tố con người, Tạp chí Triết học, số 2(153), 2004 Nội

dung bài viết đề cập đến quan niệm về con người của Hồ Chí Minh, mối quan

hệ thống nhất giữa con người cá nhân và con người xã hội, con người giaicấp, dân tộc và nhân loại

+ PGS.TS Thành Duy với bài Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và chính sách đối với con người, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 12, 2005 Bài viết đã khái

quát lại tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề con người: Bản chất con người, nhữngphẩm chất cơ bản của con người và một số chính sách đối với vấn đề con người

Trang 9

+ GS TS Hoàng Chí Bảo với bài Phát triển xã hội và quản lý sự phát triển trong tiến trình đổi mới, Tạp chí Lý luận chính trị, số 10, 2008

+ TS Cao Tấn Khổng với bài Bến Tre gắn nhiệm vụ phát triển kinh tế với công tác giảm nghèo, Báo xuân Đồng Khởi Bến Tre, 2008

+ Ngô Hoàng Anh: Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề xóa đói giảm nghèo, Tạp chí Báo chí và Tuyên truyền, số 8, 2006

+ Lê Quang Hoan: Đảng và Nhà nước ta thực hiện chính sách xã hội theo di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 10, 1999

+ Bùi Công Nhơn: Công bằng xã hội - mục tiêu cốt lõi trong chính sách xã hội của Đảng ta, Tạp chí Cộng sản, số 5, 2007

+ Nguyễn Thị Nga: Xóa đói, giảm nghèo: nhìn từ góc độ kết hợp tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội ở nước ta hiện nay, Tạp chí Cộng sản, số

Những kết quả nghiên cứu của các công trình là nguồn tư liệu rất quý

và quan trọng giúp chúng tôi tham khảo, góp phần định hướng cho nghiên

cứu đề tài của mình Tuy nhiên cho đến nay, vấn đề Tư tưởng Hồ Chí Minh

về chính sách xã hội và việc vận dụng ở tỉnh Bến Tre trong thời kỳ đổi mới

vẫn cần tiếp tục nghiên cứu nhằm đáp ứng tình hình và yêu cầu nhiệm vụ thựctiễn của địa phương

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

Trang 10

3.1 Mục đích

Nghiên cứu những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh vềchính sách xã hội và việc thực hiện chính sách xã hội ở tỉnh Bến Tre trongnhững năm gần đây Trên cơ sở đó, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về chínhsách xã hội đề xuất một số giải pháp chủ yếu để góp phần nâng cao chấtlượng thực hiện chính sách xã hội ở Bến Tre hiện nay

3.2 Nhiệm vụ

- Trình bày một cách có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách

xã hội

- Đánh giá tình hình thực hiện chính sách xã hội hiện nay ở Bến Tre

- Đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn chính sách xã hội ởtỉnh nhà

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Luận văn tập trung nghiên cứu quan điểm cơ bản của Chủ tịch HồChí Minh về chính sách xã hội

- Tình hình thực hiện chính sách xã hội của tỉnh Bến Tre trong 5 nămgần đây

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được triển khai trên nền tảng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và phápluật của Nhà nước về các vấn đề chính sách xã hội và những chính sách xãhội của tỉnh Đảng bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, các đoàn thể có liên quan đếnxây dựng chính sách xã hội trong giai đoạn hiện nay

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trang 11

Luận văn chủ yếu dựa trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủnghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp lôgíc lịch sử, phươngpháp phân tích - tổng hợp, so sánh để làm rõ nội dung cơ bản của đề tài.

6 Những đóng góp về khoa học của luận văn

- Luận văn nghiên cứu và trình bày một cách có hệ thống những quanđiểm của Hồ Chí Minh về chính sách xã hội

- Luận văn cung cấp thêm luận cứ khoa học cho Đảng bộ tỉnh, chínhquyền, các đoàn thể tỉnh Bến Tre trong việc vận dụng để thực hiện có hiệuquả các chính sách xã hội ở địa phương

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Với những kết quả đạt được, luận văn có thể làm tài liệu tham khảotrong việc hoạch định chính sách xã hội trong thời gian tới của tỉnh Bến Tre,làm tài liệu nghiên cứu và giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trườngChính trị, Cao Đẳng, Đại học

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nộidung của luận văn gồm 2 chương, 5 tiết

Trang 12

Chương 1

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHÍNH SÁCH XÃ HỘI

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

VỀ CHÍNH SÁCH XÃ HỘI

1.1.1 Một số điểm có tính khái quát chung

Xã hội loài người, là con người làm chủ thể, từ cá nhân đến tập thểnhỏ (gia đình, họ hàng, làng xóm) đến cộng đồng (địa phương, khu vực và cảnước), trong đó các mặt hoạt động có tác động, chi phối lẫn nhau Theo nghĩarộng, xã hội được hiểu là một cấu trúc hệ thống - chỉnh thể, trong đó nghĩarộng nhất, có tầm khái quát lớn nhất là xã hội loài người

Theo nghĩa hẹp, xã hội là phương diện xã hội của đời sống xã hội, củahoạt động sống của con người trong một nước, một chế độ xã hội nhất định

Nó là mặt xã hội của đời sống, có tầm quan trọng và vị trí ngang bằng với cácmặt, các lĩnh vực khác như kinh tế, chính trị, văn hóa

Xã hội là một tập hợp lớn, một hệ thống các vấn đề xã hội trong pháttriển, liên quan trực tiếp tới đời sống con người như lao động và việc làm;mức sống; trình trạng nghèo đói; dân số; sức khỏe và y tế cộng đồng; nhà ở;giáo dục; vệ sinh môi trường; an ninh giao thông; văn hóa tinh thần Nói tómlại là tất cả những vấn đề của đời sống cá nhân và cộng đồng, có tính chất và

hệ quả xã hội mà xã hội và nhà nước phải giải quyết bằng luật pháp và cácchính sách cụ thể Đó là hệ thống chính sách xã hội và hệ thống chính sách ansinh xã hội, bao gồm quan điểm chỉ đạo, chủ trương, chính sách, biện pháp tổchức thực hiện nhằm xây dựng, phát triển những gì có ích cho con người, cho sựphát triển của đất nước, kiềm chế và từng bước xóa bỏ những mặt tiêu cực cóhại

Trang 13

Dưới lát cắt triết học, xã hội loài người tồn tại với bốn lĩnh vực đời sống

xã hội cơ bản có quan hệ gắn bó chặt chẽ thống nhất tác động lẫn nhau: Lĩnhvực hoạt động kinh tế; hoạt động xã hội; hoạt động văn hóa tinh thần và hoạtđộng chính trị Như vậy, hoạt động xã hội được coi là một phạm vi hoạt độngtương ứng với những hoạt động khác nhau của một xã hội tổng thể Phần lớncác nhà nghiên cứu hiểu về chính sách xã hội ở phạm vi này, tức là trong sự đốidiện với những chính sách khác, với các hoạt động khác của xã hội nói chung

Các vấn đề xã hội tồn tại và phát triển trong các cộng đồng là nhữngvấn đề nảy sinh trong sự phát triển của xã hội, từ tác động của kinh tế, chínhtrị và văn hóa Nó nảy sinh do nhu cầu phát triển tăng lên, do các quan hệ xãhội biến đổi cùng với sự biến đổi các quan niệm sống, giá trị và sự lựa chọngiá trị sống của các tầng lớp, nhóm xã hội - dân cư, thế hệ, lứa tuổi, giới vànghề nghiệp Các vấn đề xã hội thuộc lĩnh vực xã hội cũng biến đổi do tìnhhình và hoàn cảnh xã hội biến đổi, nhất là kinh tế, do tác động của quản lýqua chính sách, cơ chế, pháp luật Các vấn đề xã hội thuộc lĩnh vực xã hộivừa mang tính cấp thiết, bức xúc lại vừa mang tính cơ bản, lâu dài do sự tồntại và phát triển của con người và xã hội quy định

1.1.2 Khái niệm chính sách xã hội và cơ sở hình thành tư tưởng

Hồ Chí Minh về chính sách xã hội

Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin, chính sách xã hội là bộphận cấu thành của chính sách chung của một chính đảng hay một chínhquyền nhà nước nhất định, nó bao gồm việc giải quyết các vấn đề xã hội phùhợp với lợi ích giai cấp và những mục tiêu phù hợp với đảng đó, của chínhquyền nhà nước đó

Chẳng hạn, dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, chính sách xã hội trước hết

là tổng hòa những biện pháp do nhà nước tư sản thi hành đối với quần chúngnhân dân Mặc dù, chính sách xã hội được mô tả dưới hình thức "sự quan tâmđến nhu cầu trong đời sống của những người lao động, nhưng trên thực tế nó

Trang 14

bổ sung cho bạo lực công khai Chính sách xã hội bao gồm các biện pháp

điều tiết bằng luật pháp những điều kiện lao động của công nhân và giải quyết

"những xung đột lao động", sự bảo đảm xã hội (nghĩa là sự bảo đảm "bằngtiền của xã hội" do nhà nước thực hiện) đối với những người thất nghiệp,người già và những người mất khả năng lao động, những người nghèo; trongmột số trường hợp, đó là việc bảo đảm, bằng một hình thức nào đó, nơi ănchốn ở, sự giúp đỡ y tế cho các tầng lớp nghèo v.v Chính sách xã hội củanhà nước còn bao gồm cả hoạt động mà các nhà chính trị tư tưởng và các nhà

tư tưởng tư sản mô tả như là một hoạt động nhằm thỏa mãn những nhu cầuchung của tất cả các thành viên trong xã hội: tổ chức nền giáo dục nhân dân,đấu tranh chống các hiện tượng: phạm tội, nghiện ma túy, mại dâm , gần đâynhất còn bao gồm cả công tác bảo vệ môi trường thiên nhiên mà con ngườisống trong đó Trái với những luận điệu mị dân đi kèm theo, loại hoạt động ấythực ra không hề biểu thị "tính chất siêu giai cấp" của nhà nước tư sản, cũngnhư không hề nói lên mục đích của nhà nước tư sản dường như là "phục vụlợi ích của tất cả các công dân", nhất là lợi ích của người lao động Chínhsách xã hội này xuất hiện chủ yếu như một sự phản ứng thích nghi của giaicấp bóc lột cầm quyền nhằm duy trì các đặc quyền của mình, đối phó vớicuộc đấu tranh ngày càng mạnh mẽ của nhân dân lao động, coi chính sách ấy

là công cụ nhằm để giảm bớt sức ép của cuộc đấu tranh giai cấp Kết quả lớnnhất có thể đạt được nhờ thi hành một chính sách như vậy, chỉ là một sự giảmnhẹ nào đó những tai họa không thể khắc phục được của nhân dân lao độngdưới chế độ tư bản chủ nghĩa, chỉ là một sự cải thiện từng mặt đời sống củanhân dân Đương nhiên, chính sách xã hội tư sản không thể loại trừ được đấutranh giai cấp của giai cấp vô sản và của những tầng lớp lao động khác chống lạichế độ bóc lột tư bản chủ nghĩa, cuộc đấu tranh này không ngừng tăng lên

Trái ngược hẳn với chính sách xã hội của giai cấp tư sản là chính sách

xã hội của các Đảng Cộng sản hoạt động trong xã hội tư bản chủ nghĩa Đây

là bộ phận cấu thành của chính sách chung của các đảng ấy, một chính sách

Trang 15

cách mạng xét về thực chất và về những mục đích cuối cùng Trong khi đề ramục tiêu là thay đổi một cách căn bản những điều kiện xã hội, thì đồng thờicác Đảng Cộng sản hoạt động trong xã hội tư bản chủ nghĩa tổ chức lãnh đạocuộc đấu tranh đòi giai cấp thống trị và chính quyền nhà nước của nó phảinhượng bộ càng nhiều càng tốt nhằm thỏa mãn những nhu cầu xã hội bứcthiết của nhân dân lao động Bất chấp những luận điệu của đủ các loại phần tử

"tả" khuynh, điều đó không hề mâu thuẫn với các lý tưởng đổi mới xã hộibằng con đường cách mạng, dĩ nhiên với điều kiện là người ta phải hiểu rõ sựhạn chế tất yếu của mọi biện pháp cải thiện xã hội trong khuôn khổ chủ nghĩa tưbản

Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa thì chính sách xã hội là để giải quyếtmột cách triệt để nhiều vấn đề xã hội có liên quan đến việc thực hiện các

quyền lợi của nhân dân lao động; từng bước thủ tiêu tình trạng người bóc lột

người, cải thiện các điều kiện sống cho quần chúng nhân dân, tạo các tiền đềcho sự phát triển toàn diện của quần chúng nhân dân, để họ tham gia các hìnhthức hoạt động xã hội sáng tạo, để xây dựng một lối sống mới thực sự nhân

đạo của con người, thiết lập sự bình đẳng xã hội Chính việc phấn đấu vì

những mục tiêu ấy quy định nội dung chính sách xã hội của đảng mácxít lêninnít, người hướng dẫn quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và do đó cũnghướng dẫn cả chính sách xã hội của nhà nước xã hội chủ nghĩa do đảng ấylãnh đạo Nội dung cụ thể những nhiệm vụ của chính sách xã hội, tính chấttriệt để và sâu sắc trong việc giải quyết những nhiệm vụ ấy đều có biến đổitheo đà tiến lên từ những giai đoạn đầu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xãhội đến những giai đoạn phát triển cao hơn

-Nếu xem xét những nhiệm vụ này dưới một hình thức tổng quát, cóthể quy chúng lại thành ba nhóm nhiệm vụ cơ bản Nhóm nhiệm vụ thứ nhất

là tạo ra cho quần chúng nhân dân những điều kiện sống ngày càng thuận lợihơn trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống: nâng cao phúc lợi vật chất, pháttriển văn hóa và dân chủ chủ nghĩa xã hội Nhóm nhiệm vụ thứ hai là hình thành

Trang 16

chính các nhu cầu của con người theo đúng các tiêu chuẩn hợp lý Nhóm nhiệm

vụ này còn bao gồm cả nhiệm vụ tạo ra, xét về toàn cục, những định hướng củacon người khiến cho họ đem sức lực và khả năng của mình ra phục vụ lợi ích xãhội, nhiệm vụ phát triển tính tích cực của xã hội, xây dựng và củng cố lốisống xã hội chủ nghĩa của quần chúng Việc giải quyết hai nhóm nhiệm vụnày là hai mặt của việc điều tiết cùng một tổng hòa quan hệ xã hội - quan hệgiữa toàn thể xã hội xã hội chủ nghĩa nói chung với các thành viên của nó,hay nói cách khác, giữa xã hội với cá nhân Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa,những quan hệ này được xây dựng trên cơ sở các nguyên tắc: "Xã hội vì conngười, con người vì xã hội", (tất cả chăm lo hạnh phúc của từng người vàtừng người chăm lo hạnh phúc của tất cả) Chính sách xã hội có tính đến tínhchất đặc thù của các nhóm xã hội và xã hội - nhân khẩu khác nhau (thanhniên, phụ nữ, người già v.v )

Dưới chủ nghĩa xã hội, chính sách xã hội còn bao gồm một nhómnhiệm vụ độc lập là điều tiết tổng hòa các quan hệ xã hội giữa các giai cấp lao

động và các tầng lớp lao động, nghĩa là hoàn thiện cơ cấu xã hội của xã hội xã

hội chủ nghĩa Chính sách xã hội góp phần vào sự tiến triển của những quátrình như củng cố khối liên minh và tình hữu nghị giữa giai cấp công nhân,nông dân, trí thức, dần dần khắc phục những sự khác biệt giữa các giai cấp,các tầng lớp và qua đó mà triệt để củng cố sự thống nhất xã hội của xã hội.Những hướng kể trên trong chính sách xã hội của Đảng Cộng sản và chínhquyền nhà nước trong xã hội xã hội chủ nghĩa gắn chặt với nhau một cáchhữu cơ Những hướng ấy là những khía cạnh khác nhau trong khi hoàn thànhmột nhiệm vụ thống nhất, có nhiều mặt, được thực hiện trong quá trình xâydựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản: cải tạo hệ thống các quan hệ xãhội trên cơ sở những nguyên tắc tập thể chủ nghĩa Điều này thể hiện qua việccủng cố sự thống nhất giữa các giai cấp và tầng lớp lao động đang xích lại gầnnhau, cũng như qua việc xã hội tăng cường quan tâm đến những thành viên vàtừng thành viên hưởng ứng tăng cường quan tâm đến phúc lợi chung

Trang 17

Việc thực hiện các nhiệm vụ trong chính sách xã hội có liên quan trựctiếp đến con người, đến địa vị của con người trong xã hội, đến điều kiện vànội dung hoạt động của con người, đến việc hình thành và thực hiện các nhu

cầu trong đời sống và những khả năng của con người, nhằm đạt tới sự phát triển toàn diện của cá nhân Khi thực hiện chính sách xã hội, Nhà nước do

Đảng cộng sản lãnh đạo phải sử dụng một cách đồng bộ những phương sách

và biện pháp, bao gồm cả hệ thống các cơ quan hành chính, pháp luật, các tổchức thuộc hệ thống chính trị; cả bằng tài chính, kinh tế - kỹ thuật; cả bằng tổchức, giáo dục v.v ; sử dụng các nguồn vật chất, những sự cải cách về cơ sở

kỹ thuật và về tổ chức sản xuất, trong hoạt động của các thiết chế chính trị vàcác cơ quan văn hóa - giáo dục v.v Vì những phương sách và biện pháp ấytrực tiếp phục vụ cho việc đạt tới các mục tiêu có tính chất xã hội, cho nênchúng là các đòn bẩy của chính sách xã hội

Trong truyền thống dân tộc, các triều đại phong kiến từ Lý, Trần đến

Lê, Nguyễn đều đã có các điều luật quy định cụ thể về các chính sách xã hộiđối với dân, quân đội, những người có công với nước, những bậc hiền tài,những cô nhi quả phụ, những người cô đơn không nơi nương tựa Cũng đã cónhững điều luật chống các tệ nạn xã hội như trộm cướp, cờ bạc, nghiện hút,tham quan, ô lại, v.v Nhiều điều luật như vậy cũng được ghi lại trong cáchương ước, làm cơ sở cho việc quản lý xã hội và cách ứng xử của nhân dân ởđơn vị hành chính cơ sở của đất nước

Vào thời hưng thịnh, các triều đại đã chế định và thực hiện chính sánh

xã hội theo tư tưởng chỉ đạo: "Khoan thư sức dân để làm kế gốc sâu rễ vững".Hoặc "thương yêu dân chúng, nghĩ làm những việc khoan nhân", "thuận lòngdân không lấy điều muốn của một người mà cưỡng ép nghìn muôn ngườikhông muốn phải làm theo", "lấy điều lo của sinh dân làm điều lo thiết kỷ",

"sao cho thôn cùng xóm vắng không có tiếng oán sầu" như vua Lê ThánhTông và bậc hiền tài Nguyễn Trãi chủ trương Hay như Vua Minh Mệnh từngnói: "Phàm người làm vua, giầu có bốn biển, nếu chỉ cần cái thích của mình

Trang 18

thì lo gì chả được, nhưng nghĩ đến nhân dân cùng túng và người góa bụa sốngkhông được thỏa thuê mà chỉ cốt tỏ thích ý muốn của mình, chẳng qua chỉ làmlụy cho mình và làm đau đớn cho thiên hạ, nào có ích gì? " [14, tr 85]; rằng,

"Quốc gia chỉ quý người hiền tài; dù có hạt châu Minh Nguyệt, hòn ngọcChiêu Thăng cũng không đáng quý"; Vua Tự Đức cũng nói, đại ý: Muốn choquốc phú binh cường mà không chăm lo đến đời sống nhân dân thì có khác gìmuốn tiến lên mà đi giật lùi hay không?

Đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã đặt cách mạng ViệtNam vào quỹ đạo cách mạng vô sản Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin vềmục đích của cách mạng vô sản, về bản chất đích thực của chủ nghĩa xã hội

và truyền thống dân tộc với những việc làm hợp lòng dân, được lòng dân củanhững bậc vua sáng tôi hiền làm cơ sở lý luận, thực tiễn của quan điểm tưtưởng Hồ Chí Minh, của Đảng về chính sách xã hội Sinh thời, Hồ Chí Minhtừng khẳng định: chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới thực hiệntriệt để giải phóng dân tộc, giải phóng con người, mang lại độc lập, tự do,hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam đang bị nô lệ Ham muốn tột bậc của HồChí Minh là nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do,đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành Người cònnói: ngày nào mà đồng bào còn chịu khổ thì ngày đó Người ăn không ngonngủ không yên và chỉ rõ: đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước phảilàm sao nhà nào nghèo thì làm ăn cho khá lên, nhà nào khá thì làm cho giàulên, nhà nào giàu thì giàu lên nữa, phải làm cho đất nước trở nên giàu mạnh

Đất nước đã thống nhất, nhưng cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hộicuối những năm 70 và đầu những năm 80 của thế kỷ trước đã làm đời sốngmọi mặt của nhân dân ta gặp muôn vàn khó khăn, lòng tin vào chế độ ít nhiều

bị tác động xấu Trong điều kiện hoàn cảnh ấy, Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ VI của Đảng ta (12/1986) đã xác định:

Trang 19

Chính sách xã hội bao trùm mọi mặt cuộc sống của con người:điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo dục và văn hóa, quan hệ giađình, quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc cần thể hiện đầy đủtrong thực tế của Đảng và Nhà nước về sự thống nhất giữa chínhsách kinh tế và chính sách xã hội, khắc phục thái độ coi nhẹ chínhsách xã hội, tức là coi nhẹ yếu tố con người trong sự nghiệp xâydựng chủ nghĩa xã hội [17, tr 86]

Tiếp tục phát triển tư tưởng trên, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIIcủa Đảng khẳng định: "Chính sách xã hội đúng đắn vì hạnh phúc của conngười là động lực to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong

sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội" [19, tr 13]

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm đường lối của Đảng ta, cóthể nêu một nhận thức khái quát: Chính sách xã hội là một bộ cấu thành chínhsách chung của một chính đảng hay chính quyền nhà nước trong việc giảiquyết các vấn đề xã hội Chính sách xã hội bao trùm mọi mặt của cuộc sốngcon người, tạo điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo dục và văn hóa, quan hệgia đình, quan hệ giai cấp và quan hệ xã hội Một trong những đặc điểm cơbản của chính sách xã hội là sự thống nhất biện chứng của nó với chính sáchkinh tế Trình độ phát triển kinh tế là điều kiện vật chất để thực hiện chínhsách xã hội và sự hợp lý, công bằng và tiến bộ được thực hiện qua chính sách

xã hội sẽ tạo ra những động lực mạnh mẽ để thực hiện các mục tiêu kinh tếnhằm làm cho dân giàu nước mạnh Chính sách xã hội phải đạt được mụcđích đem lại đời sống tốt đẹp cho con người, mang lại sự công bằng dân chủcho mỗi con người, không theo chủ nghĩa bình quân Trong những điều kiệnkinh tế hàng hóa có cơ cấu nhiều thành phần, chính sách xã hội phải hướngtới sự công bằng xã hội, đảm bảo sự bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ giữacác thành phần kinh tế trước pháp luật Chính sách xã hội phải vừa củng cố vàphát triển những giai cấp cơ bản như công nhân, nông dân, vừa quan tâm

Trang 20

thích đáng đến lợi ích và phát huy tiềm năng của các tầng lớp, các nhóm dân

cư khác, trong đó Nhà nước, pháp luật giữ vai trò quản lý, điều hòa các mốiquan hệ xã hội và cá nhân Nó bao gồm việc giải quyết các vấn đề xã hội phùhợp với bản chất của Đảng và Nhà nước đó Nói một cách khác: chính sách xãhội phải cụ thể hóa bằng pháp luật, những chủ trương, biện pháp để giải quyếtcác vấn đề xã hội dựa trên những tư tưởng, quan điểm của chủ thể lãnh đạo, phùhợp với bản chất chế độ xã hội - chính trị, phản ánh lợi ích và trách nhiệm củacộng đồng xã hội nói chung và của từng nhóm xã hội nói riêng, nhằm đáp ứngnhững nhu cầu ngày càng tăng về đời sống vật chất và tinh thần văn hoá củanhân dân

Nhà xã hội học V.Z Rô-gô-vin, tác giả cuốn "Chính sách xã hội trong

xã hội xã hội chủ nghĩa phát triển" đã nhấn mạnh và lý giải: với tư cách là một

khoa học, chính sách xã hội là một lĩnh vực tri thức xã hội học, đòi hỏi phải có

sự nghiên cứu một cách hệ thống các quá trình xã hội quyết định hoạt động sốngcủa con người trong xã hội, xét theo khả năng tác động quản lý đến các quá trình

đó Có đầy đủ cơ sở để xem chính sách xã hội như là sự hòa quyện của khoahọc và thực tiễn, như là sự phân tích phức hợp, dự báo về các quan hệ, cácquá trình xã hội và sự vận dụng thực tiễn những tri thức thu nhận được nhằmmục đích quản lý, điều hành các quá trình và các quan hệ ấy

Những ý kiến trên tuy có cách diễn đạt khác nhau, nhưng nhìn chungđều nêu bật được các yếu tố hợp thành cơ bản của bất cứ một chính sách xãhội nào Đó là:

Ai đặt ra chính sách xã hội?

Đặt ra chính sách xã hội cho ai?

Nội dung của các chính sách xã hội là gì?

Chính sách xã hội nhằm mục đích gì?

Trang 21

Nói tóm lại, chính sách xã hội là sự cụ thể hóa các chủ trương, đườnglối, quan điểm giai cấp của chính đảng cầm quyền và nhà nước của giai cấpthống trị đó Sự cụ thể hóa này được biểu đạt thành một hệ thống những biệnpháp cơ bản được xây dựng trên cơ sở nhận thức khoa học về thực trạng xãhội, mối quan hệ giữa các giai cấp và tầng lớp trong xã hội, tất cả những gìliên quan trực tiếp đến con người, từ địa vị, điều kiện và nội dung hoạt độngsống đến việc hình thành các nhu cầu, tâm tư, nguyện vọng của mỗi cá nhâncũng như toàn xã hội Hệ thống những biện pháp cơ bản này được thể chế hóabằng pháp luật và nhằm giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh, các vấn đề quyềnlợi giữa các giai cấp và tầng lớp xã hội, thỏa mãn những nhu cầu ngày càngtăng về đời sống vật chất cũng như đời sống văn hóa tinh thần của mỗi thànhviên trong xã hội, góp phần đảm bảo sự ổn định, phát triển và tiến bộ xã hội.

1.2 MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHÍNH SÁCH XÃ HỘI

1.2.1 Chính sách xã hội là vấn đề cực kỳ quan trọng mà Hồ Chí Minh quan tâm trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng

Chính sách xã hội của bất kỳ quốc gia nào có thể chỉ đóng vai trò và ýnghĩa xã hội thiết thực trong một thời kỳ, một giai đoạn phát triển nào đó Khichuyển sang giai cấp khác, trong bối cảnh và điều kiện khác thì có chính sách

xã hội khác phù hợp Tuy nhiên, sự thay thế đó không có nghĩa là xóa bỏ, làphủ nhận sạch trơn cái cũ, mà trên cơ sở kế thừa và phát huy những thành quảcủa chính sách xã hội cũ, xây dựng những chính sách xã hội mới phù hợp vớiđiều kiện và hoàn cảnh mới

Khi dân tộc ta còn trong cảnh nô lệ dưới ách thống trị của đế quốcthực dân và phong kiến tay sai; trong quá trình tìm đường cứu nước, giảiphóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã nghiên cứu một cách khoa học các chính sách

xã hội của chủ nghĩa thực dân đối với các dân tộc thuộc địa, nhất là các chính

Trang 22

sách của thực dân Pháp đối với thuộc địa Đông Dương, trong đó có ViệtNam Quan điểm của C Mác: "Cần phải làm cho ách áp bức hiện thực càngnặng nề hơn, bằng cách gắn vào nó cái ý thức về ách áp bức; cần phải làm cho

sự ô nhục, càng ô nhục hơn nữa bằng cách công bố nó lên" được Hồ ChíMinh thấm nhuần rất sâu sắc và vận dụng một cách khoa học Người viết

nhiều bài đăng trên báo Le Paria của Hội liên hiệp Thuộc địa, báo L' Humanitte của Đảng Cộng sản Pháp và đặc biệt là viết tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp để phát họa bức tranh toàn cảnh về sự tàn bạo trong chính sách xã hội của chủ nghĩa thực dân Bóc lột người dân thuộc địa bằng thuế máu; đầu độc người bản xứ bằng rượu cồn và thuốc phiện; làm cho ngu dân để dễ trị bằng xây nhà tù nhiều hơn trường học; v.v… Sự lên án đanh thép của Người đã

góp phần thức tỉnh các tầng lớp nhân dân lao động đứng lên đấu tranh chốngquân xâm lược

Đầu năm 1930, khi tổ chức Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sảntrong nước, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh soạn thảo

Chánh cương vắn tắt của Đảng, xác định rõ mục tiêu phấn đấu của Đảng:

A Về phương diện xã hội thì:

c) Dựng ra chính phủ công nông binh

d) Tổ chức ra quân đội công nông

C Về phương diện kinh tế:

Trang 23

a) Thủ tiêu hết các thứ quốc trái.

b) Thâu hết sản nghiệp lớn (như công nghiệp, vận tải, ngânhàng, v.v.) của tư bản đế quốc chủ nghĩa Pháp để giao cho chínhphủ công nông binh quản lý

c) Thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của côngchia cho dân cày nghèo

d) Bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo

e) Mở mang công nghiệp và nông nghiệp

f) Thi hành luật ngày làm 8 giờ [40, tr 1-2]

Năm 1941, khi Người vừa về nước, trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranhgiành độc lập dân tộc Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng thành lập Mặt trậnViệt Minh, đề cập những chính sách xã hội của Mặt trận khá toàn diện với tất

cả các tầng lớp nhân dân: Nông dân, công nhân, thương nhân, công chức,binh lính, thanh niên, trẻ em, phụ nữ, người tàn tật, người già Bài diễn ca

Mười chính sách của Việt Minh của Người nói rõ:

Một là ích nước, hai là lợi dân

Bao nhiêu thuế ruộng, thuế thân,Đều đem bỏ hết cho dân khỏi phiền

Hội hè, tín ngưỡng, báo chương,Họp hành, đi lại, có quyền tự do

Nông dân có ruộng, có bò,

Đủ ăn, đủ mặc, khỏi lo cơ hàn

Công nhân làm lụng gian nan,Tiền lương phải đủ, mỗi ban tám giờ

Gặp khi tai nạn bất ngờ,

Trang 24

Thuốc thang Chính phủ bấy giờ giúp cho.

Thương nhân buôn nhỏ, bán to,Môn bài thuế ấy bỏ cho phỉ nguyền

Nào là những kẻ chức viên,Cải lương đãi ngộ cho yên tấm lòng

Binh lính giữ nước có công,Được dân trọng đãi, hết lòng kính yêu

Thanh niên có trường học nhiều,Chính phủ trợ cấp trò nghèo, bần nho

Đàn bà cũng được tự do,Bất phân nam nữ, đều cho bình quyền

Người tàn tật, kẻ lão niên,Đều do Chính phủ cấp tiền ăn cho

Trẻ em, bố mẹ khỏi lo,Dạy nuôi, Chính phủ giúp cho đủ đầy [40, tr 205-206]

Có thể nói Hồ Chí Minh đã phác thảo bức tranh về chính sách xã hội

mà chính quyền nhân dân tương lai sẽ thực hiện

Ngay sau khi nhân dân ta giành lại nền độc lập, Người đã chỉ đạo việc tổchức Tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội đầu tiên ở nước ta; đề nghị Quốc hội vàNgười được giao trọng trách chỉ đạo việc soạn thảo Hiến pháp của chế độ mới;

đề nghị Quốc hội và Chính phủ ban hành các sắc lệnh quy định các quyền tự do,dân chủ bình quyền; chống giặc ngoại xâm đồng thời với chống giặc đói; giặc

dốt, xây dựng đời sống mới.

Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cả nước ra trận,nhưng nhờ chính sách xã hội đúng đắn, khoa học, các lĩnh vực đời sống xã hội

Trang 25

trên miền Bắc vẫn giữ vững và phát triển Người ở hậu phương vừa sản xuất,vừa chiến đấu; tính ưu việt và sức sống của chủ nghĩa xã hội thể hiện rõ nét hơn

bao giờ hết; với tiền tuyến lớn thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người

Chuẩn bị cho việc đi vào cõi vĩnh hằng, Hồ Chí Minh đã viết bản Di chúc lịch sử, căn dặn những điều hệ trọng sau khi hoà bình lập lại, trog đó có

vấn đề thực hiện các chính sách xã hội mà "Đầu tiên là công việc đối với conngười", với những cán bộ, binh sĩ, dân quân du kích, thanh niên xung phong; cácliệt sĩ, cha mẹ, vợ con (của thương binh, liệt sĩ); phụ nữ; nông dân; nạn nhân củachế độ xã hội cũ Người viết rõ: Đảng và Chính phủ phải quan tâm giúp đỡ họ cả

về vật chất lẫn tinh thần Hiếm có một lãnh tụ mà cuộc đời lại toàn tâm toàn ýchăm lo cho con người, lo lắng đến chính sách xã hội như Hồ Chí Minh - lãnh tụ

vĩ đại của Đảng và dân tộc Việt Nam

1.2.2 Những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về chính sách

xã hội

1.2.2.1 Chính sách xã hội phải toàn diện về kinh tế, văn hóa, trong

đó đặc biệt quan trọng là kinh tế

Mục đích cơ bản của xây dựng phát triển kinh tế là đảm bảo nhữngnhu cầu cơ bản của đời sống, từng bước cải thiện nâng cao đời sống của cáctầng lớp nhân dân lao động Đây là chính sách nhất quán được đề ra và thựchiện ngay khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, bởi trước dochính sách vơ vét, bóc lột của Pháp - Nhật trong mấy mươi năm thống trị đãlàm nền kinh tế nước ta vốn nghèo nàn, lạc hậu lại càng kiệt quệ nặng nề hơn.Công nghiệp lạc hậu, đình đốn, nông nghiệp tiêu điều vì hơn 50% ruộng đất ởBắc Bộ bị bỏ hoang do lụt và hạn gây nên Thương nghiệp ngừng trệ, bế tắc,hàng hóa khan hiếm Tài chính cạn kiệt: kho bạc hầu như trống rỗng Ngânhàng Đông Dương còn nằm trong tay của tư bản Pháp Nạn đói đầu năm 1945vừa mới chấm dứt, đã cướp đi sinh mạng của 2 triệu đồng bào thì nguy cơ

Trang 26

một nạn đói mới đang đe dọa dân ta Ở miền Nam được sự hỗ trợ của quânAnh ngày 23/ 9/1945 quân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, xâm lược ViệtNam một lần nữa Tình hình kinh tế chính trị đất nước ta sau năm 1945 diễnbiến hết sức phức tạp Để giải quyết các vấn đề trên, trong phiên họp đầu tiêncủa Hội đồng Chính phủ (ngày 03 tháng 9 năm 1945), trong 6 nhiệm vụ cấp báchcần làm ngay, thì có hai nhiệm vụ phải thực hiện ngay, nhằm ổn định đời sốngnhân dân:

Một là, phát động ngay một chiến dịch tăng gia sản xuất để chống đói.

Trong khi chờ đợi ngô khoai và các thứ lương thực phụ khác ba, bốn tháng mới

có, đề nghị mở một cuộc lạc quyên Mười ngày một lần, tất cả đồng bào chúng

ta nhịn ăn một bữa Gạo tiết kiệm được sẽ góp lại và phát cho người nghèo

Hai là, bỏ ngay ba thứ thuế: thuế thân, thuế chợ, thuế đò; tuyệt đối cấm

hút thuốc phiện

Mở đầu phong trào tăng gia sản xuất, chống đói Chủ tịch Hồ ChíMinh kêu gọi: "Tăng gia sản xuất! Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuấtnữa! Đó là khẩu hiệu của chúng ta ngày nay Đó là cách thiết thực của chúng

ta để giữ vững quyền tự do, độc lập" [41, tr 115]

Trong bài Sẻ cơm nhường áo đăng trên Báo Cứu quốc, số 53, ngày

28-9-1945, Người đề nghị: "Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa.Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo" [41, tr 31]

Trong bài Hô hào nhân dân chống đói đăng trên Báo Cứu quốc, số 86,

ngày 8-11-1945, Người nêu rõ: "Khi có chiến tranh thì phải huy động và tổchức tất cả lực lượng trong nước để chống giặc Muốn chống nạn đói, cũngphải huy động và tổ chức tất cả lực lượng của toàn quốc đồng bào" [41, tr

93] Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ đã thành lập Ủy ban kiến thiết quốc gia để nghiên cứu việc phát triển kinh tế; tổ chức kháng chiến lâu dài và lấy khẩu hiệu là kháng chiến và cứu đói Trong thư gửi Nông gia Việt Nam, Chủ

Trang 27

tịch Hồ Chí Minh viết: "Hiện nay chúng ta có hai việc quan trọng nhất: cứuđói ở Bắc và kháng chiến ở Nam" [41, tr 114] Cứu đói ở Bắc Bộ, khángchiến ở Nam Bộ, Hồ Chí Minh cũng đã thấy mối quan hệ giữa tăng gia sảnxuất và giữ vững độc lập tự do Giải pháp phát triển kinh tế, ngoài cứu đói,xóa bỏ các thứ thuế bất công mà thực dân Pháp và phát xít Nhật để lại, còntập trung phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp Mục tiêukinh tế thời kỳ này là rất cụ thể như:

1 Làm cho dân có ăn

thiếu thốn Nói chuyện tại Hội nghị sản xuất cứu đói (năm 1955), Hồ Chí Minh

Vì vậy cán bộ Đảng và chính quyền từ trên xuống dưới, đều

phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân Phải lãnh đạo tổ

chức, giáo dục nhân dân tăng gia sản xuất và tiết kiệm Dân đủ ăn

đủ mặc thì những chính sách của Đảng và Chính phủ đưa ra sẽ dễdàng thực hiện Nếu dân đói, rét, dốt, bệnh thì chính sách của ta dù

Trang 28

có hay mấy cũng không thực hiện được [44, tr 572].

Là một người mác-xít, Hồ Chí Minh luôn đặt lý tưởng cộng sản chủnghĩa làm mục tiêu phấn đấu của mình Là nhà cách mạng, Chủ tịch Hồ ChíMinh luôn luôn biết vận dụng sáng tạo nguyên lý cơ bản chủ nghĩa Mác-Lênin vào những điều kiện cụ thể Việt Nam Phân tích đúng bản chất kinh tế - xãhội Việt Nam, xác định đúng thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội và giai đoạn

1955 - 1958 là giai đoạn đầu phát triển kinh tế văn hóa, bước đầu cải tạo nền kinh

tế quốc dân theo chủ nghĩa xã hội Khi kết thúc giai đoạn này, Người dứt khoátvới quan điểm miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, mặc dù đặc điểm lớn nhất củanước ta trong thời kỳ quá độ là xuất phát từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiếnthẳng lên chủ nghĩa xã hội bỏ, qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa Đónggóp lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tư tưởng nâng cao đời sống nhân dân làviệc Người đã phân tích đúng đắn các thành phần kinh tế nước ta cũng như các hìnhthức sở hữu về tư liệu sản xuất Muốn nâng cao đời sống nhân dân thì phải pháttriển kinh tế Kinh tế chỉ phát triển được khi quan hệ sản xuất phải phù hợpvới trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Ngay trong những năm thángkháng chiến còn ác liệt, Người đã xác định sự tồn tại của nhiều thành phần kinh

tế và chỉ ra mối quan hệ giữa kinh tế, chính trị và vấn đề giải quyết chính sách

xã hội Trong tác phẩm Thường thức chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:

… Kinh tế nước ta có những thành phần như sau:

- Kinh tế địa chủ phong kiến bóc lột địa tô.

- Kinh tế quốc doanh, có tính chất chủ nghĩa xã hội Vì tài sản các xí nghiệp ấy là của chung của nhân dân, của Nhà nước, chứ

không phải của riêng Trong các xí nghiệp quốc doanh thì xưởngtrưởng, công trình sư và công nhân đều có quyền tham gia quản lý,đều là chủ nhân Việc sản xuất thì do sự lãnh đạo thống nhất củaChính phủ nhân dân

Trang 29

- Các hợp tác xã tiêu thụ và hợp tác xã cung cấp, có tính chất nửa chủ nghĩa xã hội Nhân dân góp nhau để mua những thứ

mình cần dùng, hoặc để bán những thứ mình sản xuất không phảikinh qua các người con buôn, không bị họ bóc lột

Các hội đổi công ở nông thôn, cũng là một loại hợp tác xã

- Kinh tế cá nhân của nông dân và của thủ công nghệ, họthường tự túc ít có gì bán, và cũng ít khi mua gì Đó là một thứ kinh

tế lạc hậu

- Kinh tế tư bản của tư nhân Họ bóc lột công nhân, nhưngđồng thời họ cũng góp phần vào xây dựng kinh tế

- Kinh tế tư bản quốc gia là Nhà nước hùn vốn với tư nhân

để kinh doanh, và do Nhà nước lãnh đạo Trong loại này, tư bản của

tư nhân là chủ nghĩa tư bản Tư bản của nhà nước là chủ nghĩa xãhội [44, tr 221]

Về hình thức sở hữu tư liệu sản xuất, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng

có bốn hình thức như sau:

Sở hữu của Nhà nước tức là sở hữu toàn dân;

Sở hữu của hợp tác xã tức là sở hữu tập thể của nhân dân lao động;

Sở hữu của người lao động riêng lẻ;

Một ít tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của nhà tư bản

Với sự phân tích các thành phần kinh tế và các hình thức sở hữu trên,

có thể thấy Hồ Chí Minh xác định xây dựng nền kinh tế nhiều thành phầnnhằm phát huy mọi tiềm năng để phát triển kinh tế

Trong phân phối: về mặt lý thuyết, phân phối lại thu nhập là quá trìnhliên quan đến sản xuất và trao đổi hàng tiêu dùng, nó chi phối mạnh mẽ lợiích giữa người với người, giữa các nhóm và các cộng đồng người với nhau

Trang 30

Vì vậy, cần có những chính sách xã hội để điều chỉnh tạo ra sự hài hòa về mặtlợi ích trong xã hội Do đó, nhóm chính sách tác động vào quá trình phân phối

và phân phối lại thu nhập đó là: chính sách tiền lương, phúc lợi xã hội, bảohiểm xã hội, ưu đãi xã hội, cứu trợ xã hội Dân tộc giành lại nền độc lập,nhưng nhân dân ta phải trải qua 30 năm trường tiến hành cuộc chiến tranhcách mạng chống lại sự xâm lược của chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đếquốc để bảo vệ độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc Vì vậy, chính sách phânphối cũng như mọi chính sách khác đều có một mục tiêu chiến lược là đánhđuổi quân xâm lược thực dân và đế quốc, vừa bảo vệ độc lập dân tộc vừa xâydựng chủ nghĩa xã hội Đó cũng là lý do Chủ tịch Hồ Chí Minh chưa có điềukiện đề cập sâu đến các chính sách phân phối cũng như các chính sách khác.Tuy nhiên, tư tưởng Hồ Chí Minh về nâng cao đời sống nhân nhân và thựchiện công bằng xã hội được thể hiện rõ trong tư tưởng quan điểm qua các bàinói, bài viết của Người

Công bằng xã hội là mục tiêu cốt lõi của chính sách xã hội, nhằmhướng tới ổn định xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng mọi mặt của đờisống nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước Với cách nhìn tổngthể, có thể hiểu công bằng xã hội là giá trị định hướng để con người sinh sống

và phát triển trong các quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng về vậtchất cũng như về tinh thần Đó là những giá trị cơ bản trong các quan hệ xãhội như: quan hệ giữa mức độ lao động và mức độ thu nhập; quan hệ giữaquyền sở hữu tư liệu sản xuất và quyền định đoạt sản xuất và phân phối; quan

hệ giữa các thành viên của xã hội với hoàn cảnh kinh tế, mức độ phát triển trílực khác nhau và cơ hội tham gia vào quá trình giáo dục, khám chữa bệnh,hưởng thụ các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật, thể dục - thể thao

Bản chất của chính sách phân phối tiến bộ là vì sự công bằng xã hội.Trong các thời đại khác nhau của lịch sử xã hội loài người, dù ở phương Đông

Trang 31

hay phương Tây, con người đều quan tâm, khao khát công bằng xã hội và đã

có nhiều cách lý giải khác nhau về công bằng xã hội, và đều cho công bằng làcái quan trọng nhất trong xã hội Mục tiêu của công bằng xã hội chỉ có thểthực hiện được thông qua chính sách làm giảm sự tập trung quyền lực vànhững nguồn tài nguyên kinh tế trong tay một tầng lớp nhỏ đặc quyền trong

xã hội Vấn đề bảo đảm công bằng xã hội là vấn đề quan trọng đối với Nhànước và các giai tầng trong xã hội

Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm và giải thích sự công bằng xã hội thậtgiản dị, dễ hiểu Người nói: "Chủ nghĩa xã hội là cái gì? Là mọi người được ăn

no mặc ấm, sung sướng, tự do Nhưng nếu muốn tách riêng một mình mà ngồi

ăn no mặc ấm, người khác mặc kệ, thế là không tốt Mình muốn ăn no mặc

ấm, cũng cần làm sao cho tất cả mọi người được ăn no mặc ấm" [48, tr 396]

Đánh giá cao vai trò của nguyên tắc công bằng, hài hòa lợi ích giữacác giai cấp, tầng lớp xã hội, nhóm xã hội, giữa các nghề nghiệp, các ngành,các giới và giữa các thành viên trong xã hội trên lĩnh vực phân phối Trongphiên họp Chính phủ ngày 29/12/1966 Hồ Chí Minh nói:

Công tác lưu thông phân phối Có khi vật tư, hàng hóa khôngthiếu, mà phân phối không đúng, thì gây ra căng thẳng không cầnthiết Trong công tác lưu thông phân phối, có hai điều quan trọngphải luôn luôn nhớ:

- Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng

- Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên [49, tr 185].Thực hiện công bằng xã hội phù hợp với điều kiện thực tế của đấtnước luôn luôn là vấn đề bức xúc trong đời sống xã hội Người ta luôn luônmong muốn thỏa mãn nhu cầu mọi mặt về của cải vật chất cũng như tinh thần

Và nhất là khi đời sống còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, thì nhân dân ta có thể dễ

Trang 32

dàng chấp nhận và tìm cách khắc phục thiếu thốn, khó khăn Song nhân dânkhông thể chấp nhận bất công xã hội do tình trạng phân phối không công bằnggây ra

Công bằng xã hội là một trong những nguồn gốc tạo nên đại đoàn kếttoàn dân thật sự và sức mạnh của sự đồng thuận xã hội trong phát triển kinh tế -

xã hội Công bằng cần được thực hiện trong mọi lĩnh vực quan hệ xã hội và tổchức xã hội của con người Nó cần được thực hiện cả trong quá trình sản xuất,nhất là trong lĩnh vực phân phối chính là giải quyết quan hệ giữa cống hiến vàhưởng thụ, giữa nghĩa vụ và quyền lợi của mọi thành viên trong xã hội Mọichính sách về phân phối, cũng như về tiền lương cần thực hiện theo nguyêntắc phân phối theo lao động và kết hợp với các nguyên tắc nhân đạo Làmnhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít Cống hiến ngang nhau, thì hưởng thụngang nhau Hồ Chí Minh khẳng định: "Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thìphải cải tạo xã hội cũ thành một xã hội mới, một xã hội không có chế độngười bóc lột người, một xã hội bình đẳng, nghĩa là ai cũng phải lao động và

có quyền lao động, ai làm nhiều thì hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làmkhông hưởng" [45, tr 23] Đó là quyền và nghĩa vụ của mỗi công dân, là cốnghiến lao động và hưởng thụ thành quả lao động của mỗi thành viên trong xã hội

đó Thực hiện theo phân phối lao động là góp phần thực hiện công bằng xã hội

Tuy nhiên, Hồ Chí Minh không bao giờ đồng nhất công bằng với bìnhđẳng Hay nói cách khác Người phân định rõ nhưng không chia cắt giữa haiphạm trù công bằng và bình đẳng xã hội Đây là hai phạm trù có cùng bảnchất nhưng cấp độ biểu hiện lại khác nhau, thống nhất nhưng không đồngnhất Bình đẳng và công bằng là hai khái niệm thể hiện sự ngang bằng nhaugiữa người với tư cách là chủ thể trong xã hội được thể hiện ra bằng quyền vàđược đảm bảo bằng pháp luật Còn công bằng là nói tới sự ngang bằng nhaugiữa người với người trong việc thực hiện quyền và thực thi pháp luật được

cụ thể hóa bằng chính sách phân phối và hưởng thụ xã hội Có thể có công

Trang 33

bằng trong lao động và phân phối thu nhập nhưng chưa thực hiện được bìnhđẳng xã hội hoàn toàn Tức là mọi thành viên trong xã hội có lao động nhưnhau thì được thu nhập như nhau, "làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít" -thế là công bằng Nhưng trên thực tế vẫn có người này giàu hơn người kia,người nọ sung sướng hơn người kia… Đó là chưa bình đẳng Tại sao có điềunày?

Trong Phê phán cương lĩnh Gôta, Mác - Ăngghen đã phân tích: Cùng

một công việc như nhau trong điều kiện lao động như nhau, cường độ laođộng như nhau trên thực tế, người này vẫn lĩnh nhiều hơn người kia, ngườinày vẫn giàu hơn người kia vì bất cứ người lao động nào cũng chỉ lao độngnhư người khác, nhưng nó mặc nhiên thừa nhận không ngang nhau về mặtnăng khiếu cá nhân (người này có trình độ giỏi hơn người kia, người này cókhiếu hơn người kia), về năng lực sản xuất (người này có sức khỏe tốt hơnngười kia, người này làm việc nhiều hơn người kia), về hoàn cảnh gia đình(người này đông con hơn người kia, gia đình này đông người hơn gia đìnhkia) nên về nguyên tắc, quyền ngang nhau ấy vẫn là quyền kiểu tư sản Đấy làthiếu sót không thể thiếu trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản, khi màlực lượng sản xuất còn chưa phát triển, năng suất lao động còn chưa cao.Theo C Mác, điều này chỉ có thể khắc phục trong giai đoạn cao của chủnghĩa cộng sản, khi đó xã hội mới có thể ghi trên lá cờ của mình "làm theonăng lực, hưởng theo nhu cầu"

Việc thực hiện công bằng xã hội không đồng nhất với cào bằng bìnhquân, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm rõ:

Phân phối phải theo mức lao động Lao động nhiều thì đượcphân phối nhiều, lao động ít thì được phân phối ít Lao động khó thìđược phân phối nhiều, lao động dễ thì được phân phối ít Khôngnên có tình trạng người giỏi, người kém, việc khó, việc dễ, cũng

công điểm như nhau Đó là chủ nghĩa bình quân Phải tránh chủ

Trang 34

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng quan tâm đến sự hài hòa lợi ích và conđường cùng tiến lên giữa các giai tầng trong xã hội Đồng thời Người cũngkhuyến khích những người làm giàu chính đáng làm cho dân giàu nước mạnh.Mặt khác Hồ Chí Minh chú ý đến xóa đói, giảm nghèo theo phương châm:

Làm cho người nghèo thì đủ ăn

Người đủ ăn thì khá giàu

Người khá giàu thì giàu thêm [42, tr 65]

Qua sự phân tích trên ta thấy chính sách xã hội do Đảng và Chính phủ

mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh mang tính chiến lược

Tóm lại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, chính sách xã hội làmột bộ phận trong hệ thống chính sách chung của Đảng và Nhà nước; nộidung chính sách xã hội phải toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xãhội, trong đó cốt lõi là chăm lo đời sống vật chất của nhân dân, phát triển kinh

tế làm tiền đề để chăm lo các lĩnh vực khác cho nhân dân, thực hiện côngbằng và bình đẳng xã hội; chính sách xã hội không thể thoát ly khỏi điều kiện

Trang 35

thực tế của đất nước, chính sách xã hội có quan hệ mật thiết với nhiệm vụchính trị và hướng tới phục vụ nhiệm vụ chính trị.

1.2.2.2 Chính sách xã hội phải phù hợp, đúng đối tượng

Đối với những người có công với cách mạng, với kháng chiến, các gia đình liệt sĩ, thương binh

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn toàn Đảng, toàn dân, sau khikháng chiến thắng lợi chúng ta phải chăm sóc, phải thực hiện chính sánh ưuđãi với những người có công với cách mạng Đó là gia đình liệt sĩ, các đồngchí thương bệnh binh, đồng bào vùng căn cứ cách mạng và kháng chiến Đốivới cán bộ, binh sĩ, dân quân du kích, thanh niên xung phong, phải tìm mọicách làm cho họ có nơi ăn, chốn ở, đồng thời phải mở những lớp dạy nghềthích hợp với mỗi người Đối với các liệt sĩ, mỗi địa phương cần xây dựngvườn hoa và bia kỷ niệm Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh, liệt sĩ)

mà thiếu sức lao động và túng thiếu, thì chính quyền địa phương phải giúp đỡ

họ có công việc làm ăn thích hợp, quyết không để họ bị đói rét

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách xã hội với các nhóm xã hội đặcbiệt này thể hiện rất rõ nét trong các bài nói, bài viết của Người

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng cần quan tâm, huy động mọi nguồnlực để giúp đỡ và cần có chính sách xã hội đãi ngộ những gia đình có côngvới cách mạng Người luôn nhắc nhở phải quan tâm chú ý đến nhóm xã hộinày "Đối với những người già yếu, neo đơn, thương binh, gia đình liệt sĩ, hợptác xã phải khéo tìm cách chia công việc cho họ để họ cũng làm được, đồngthời phải chú ý giúp đỡ họ" [47, tr 410] Sau Cách mạng tháng 8-1945, Nhànước Việt Nam non trẻ gặp rất nhiều khó khăn, thử thách, cùng lúc phải đốimặt với giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm Trong bối cảnh đó, Chủ tịch HồChí Minh luôn quan tâm đề ra và lãnh đạo thực hiện đúng đắn chính sách đối

với những người đã hy sinh xương máu vì Tổ quốc Trong Thư khen ngợi các chiến sĩ bị thương và sự tận tâm của các y sĩ, khán hộ, cứu thương, Bác nhấn

Trang 36

mạnh: "Các chiến sĩ đã hy sinh máu mủ để giữ gìn đất nước Các chiến sĩ thậtxứng đáng với Tổ quốc, và Tổ quốc sẽ không bao giờ quên những người conyêu quý như thế" [42, tr 13] Người coi việc chăm sóc thương binh, gia đìnhliệt sĩ không là nhiệm vụ của riêng ai, mà là trách nhiệm và nghĩa vụ của toànĐảng, toàn dân và toàn quân ta

Để toàn dân ta quan tâm thường xuyên hơn nữa đối với thương binh,thân nhân liệt sĩ, tháng 6 năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị chọn mộtngày trong năm làm ngày thương binh, liệt sĩ Thực hiện chỉ thị đó, Hội nghị

về vấn đề này gồm đại biểu các cơ quan, các ngành ở Trung ương, khối vàtỉnh họp ở Phú Minh (Đại Từ, Thái Nguyên) bàn và nhất trí đề nghị lấy ngày27-7-1947 làm ngày thương binh, liệt sĩ Từ đó, ngày 27-7 hằng năm là ngàytoàn dân ta tưởng nhớ đến các liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ

và người có công với cách mạng

Không chỉ dành sự quan tâm đặc biệt tới thương binh, bệnh binh,Người còn luôn biểu dương, nêu gương những người có công cứu chữa

thương binh, bệnh binh Trong Thư gửi bà Bá Huy, Bác viết:

Tôi nhận được báo cáo rằng bà đã hăng hái giúp đất ruộng, trâu

bò, thóc lúa và tiền bạc để lập một an dưỡng đường cho thương binh

Như thế là bà đã làm kiểu mẫu cho đồng bào thực hành cáikhẩu hiệu:

Có tiền giúp tiền, có sức giúp sức Đồng tâm hiệp lực, kháng chiến thành công [42, tr 177]

Với lời lẽ mộc mạc, giản dị, Hồ Chí Minh đã động viên kịp thờinhững người có công giúp đỡ thương binh, bệnh binh, Người đã khéo nêugương bà Bá Huy cho toàn dân học tập Người mong muốn có nhiều bà Bá Huyhơn nữa để bù đắp cho những người đã vì Tổ quốc mà mất đi một phần xươngmáu của mình

Trang 37

Hồ Chí Minh chỉ rõ trách nhiệm của chúng ta đối với thương binh,bệnh binh:

Đang khi Tổ quốc lâm nguy, giang sơn, sự nghiệp, mồ mả,đền chùa, nhà thờ của tổ tiên ta bị uy hiếp, cha mẹ, anh em, vợ con,thân thích, họ hàng ta bị đe dọa Của cải, ruộng nương, nhà cửa, aovườn, làng mạc ta bị nguy ngập Ai là người xung phong trước hết

để chống cự quân thù, để giữ gìn đất nước cho chúng ta Đó lànhững chiến sĩ mà nay một số thành ra thương binh

Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinhxương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào Vì lợi ích của Tổquốc, của đồng bào mà các đồng chí chịu ốm yếu què quặt

Vì vậy Tổ quốc, đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ nhữngngười con anh dũng ấy [42, tr 175]

Trên mỗi chặng đường cách mạng, kháng chiến, Bác luôn quan tâmđến những thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công với cáchmạng, từ đó đề ra chủ trương, chính sách ưu đãi để bù đắp những mất mát đốivới họ và Người luôn làm gương thực hiện cho mọi người noi theo

Ngày 27-7-1953, trong Thư gửi Cụ Bộ trưởng Bộ Thương binh Cựu binh, Người viết: "Tôi xin gửi một tháng lương của tôi và 50 cái khăn tay do

đồng bào phụ nữ Thái biếu tôi, nhờ Cụ chuyển cho anh em thương binh vớilời chào thân ái của tôi" [44, tr 99] Bức thư này của Bác đã đăng liên tục trênbáo Nhân Dân từ ngày 26 đến 30-7-1953 Việc gửi vật chất để biếu thươngbinh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ là việc làm thường xuyên của Bác, chứa đựngtrong đó những tình cảm và ý nghĩa sâu xa

Ngày 7-5-1954, quân và dân ta đại thắng ở Điện Biên Phủ, buộc thựcdân Pháp phải thương lượng nghiêm túc với ta tại Hội nghị Giơ-ne-vơ; ký vàobản Hiệp định công nhận độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước

Trang 38

Việt Nam - Lào - Cămpuchia Nhân thắng lợi to lớn, Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã viết thư nhắn nhủ đồng bào: Thương binh, bệnh binh, gia đình quân nhân

và gia đình liệt sĩ là những người có công với Tổ quốc, với nhân dân Cho nênbổn phận của chúng ta là phải biết ơn, phải thương yêu giúp đỡ họ Đối vớithiếu niên, nhi đồng - những chủ nhân tương lai của đất nước, để giáo dục cáccháu luôn chăm lo cho các thương binh, liệt sĩ, người có công với cách mạng,Người căn dặn các cháu phải:

- Thi đua học tập,

- Thi đua giúp tăng gia sản xuất,

- Thi đua giúp đỡ các gia đình các thương binh, tử sĩ

Thấm nhuần và quán triệt sâu sắc tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh,trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta, bất luận hoàn cảnh nào, cũngluôn xác định chính sách đối với thương binh, liệt sĩ và người có công với Tổquốc là một trong những chính sách lớn, có vị trí quan trọng trong chiến lượccon người Đặt con người ở vị trí trung tâm, coi con người vừa là mục tiêuvừa là động lực của sự phát triển, chính sách của Đảng ta đối với con người,đặc biệt là những người đã chịu nhiều hy sinh mất mát, có nhiều cống hiếncho cách mạng, không những có ý nghĩa to lớn đối với bản thân các đối tượngchính sách, mà còn tác động sâu sắc đến tình cảm, tư tưởng, ý thức chính trịcủa mọi tầng lớp nhân dân Đảng và Nhà nước ta đã tập trung khắc phục hậuquả nặng nề của chiến tranh, từng bước đổi mới và hoàn thiện hệ thống chínhsách thương binh, liệt sĩ cho phù hợp với tiến trình đổi mới của đất nước vàchiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là từng bước luật pháp hóa cácchính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng trong đó tiêu biểu làPháp lệnh Ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ,thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡcách mạng; Pháp lệnh Tuyên dương Bà mẹ Việt Nam Anh hùng; chủ trương

Trang 39

về xây cất mộ - nghĩa trang liệt sĩ v.v… Các chủ trương chính sách đó đã vàđang đi vào cuộc sống, được toàn xã hội đón nhận và đồng tình ủng hộ; vừagóp phần nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho các đối tượng chính sách,vừa góp phần ổn định và phát triển đất nước, củng cố lòng tin của nhân dânđối với Đảng, Nhà nước, với chế độ xã hội chủ nghĩa.

Đối với phụ nữ

Trong cách mạng giải phóng dân tộc Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thấyphụ nữ là lực lượng căn bản, mà cách mạng Việt Nam cần tập hợp, thu hútvào khối đoàn kết toàn dân trong một mặt trận thống nhất chống kẻ thù

chung Người viết: "Trong đời sống kinh tế những "bông hồng" của phương

Đông bắt đầu tỏa cho chủ nghĩa tư bản thấy ở họ có những chiếc gai nhọn.Những cuộc bãi công của nữ công nhân ở các nhà máy và xưởng dệt lụakhông còn là hiện tượng hiếm nữa [38, tr 267]

Hồ Chí Minh rất coi trọng và luôn đề cao tinh thần cách mạng, khôngngại gian khổ, hy sinh của phụ nữ Việt Nam Theo Hồ Chí Minh, tinh thần bấtkhuất, anh dũng đấu tranh đó của người phụ nữ bắt nguồn từ truyền thống đấutranh chống giặc ngoại xâm của bà Trưng, bà Triệu Truyền thống anh dũngđấu tranh đó được nuôi dưỡng, hun đúc, lưu truyền qua các thế hệ nên dân ta

Đến Chương trình Việt Minh càng thể hiện rõ hơn chính sách của

Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với phụ nữ: " phụ nữ Về phương diện

Trang 40

kinh tế, chính trị, văn hóa, đàn bà đều được bình đẳng với đàn ông" [40, tr 585].

Chính những đóng góp quan trọng của phụ nữ trong sự nghiệp cáchmạng giải phóng dân tộc nên Hồ Chí Minh yêu cầu cách mạng phải đem lạicho phụ nữ cuộc sống tốt đẹp có triển vọng Vì vậy, "Đảng và Chính phủ cầnphải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêmnhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo" [49, tr 504]

Người luôn khích lệ sự phấn đấu, vươn lên của phụ nữ Trong bài Căn dặn chị

em phụ nữ Thủ đô, Người viết:

Chị em phụ nữ cố gắng thi đua tăng gia sản xuất, thực hànhtiết kiệm góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấutranh giành thống nhất Tổ quốc Phụ nữ công nhân cần tích cựctham gia quản lý thật tốt nhà máy, công trường Phụ nữ nông dâncần hăng hái tham gia phong trào đổi công, hợp tác, gặt tốt vụ mùa,chuẩn bị tốt vụ chiêm năm tới Các tầng lớp phụ nữ ở thành phố cầnchấp hành tốt các chính sách của Đảng và Chính phủ [46, tr 238]

Là người sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minhdành nhiều công sức phát triển, rèn luyện đội ngũ đảng viên, đặc biệt Người

chú ý phát triển đảng viên là phụ nữ Tại Hội nghị cán bộ toàn Đảng bộ Hà Nội ngày 25 tháng 4 năm 1959, Người nói: "Số phụ nữ là đảng viên cũng còn

rất ít, cần phát triển thêm Tóm lại, cần củng cố và phát triển Đảng - cố nhiên

là thận trọng - thành phần công nhân, nông dân, phụ nữ" [46, tr 420]

Khi dự Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Bắc, Người đã lưu ý công tác phát

triển đảng viên là nữ Người nói: "Trong số 23.000 đảng viên chỉ có 1.780đồng chí gái Như vậy là quá ít Cần phải lựa chọn và kết nạp thêm đảng viênphụ nữ" [48, tr 155]

Sinh thời khi đến làm việc ở đâu, Người đều lưu ý đảng bộ, chính quyền

Ngày đăng: 05/02/2018, 17:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w