1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xác định hàm lượng của canxi, sắt, kẽm trong đài hoa bụp giấm bằng phương pháp quang phổ hấp thụ và phát xạ nguyên tử

55 139 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 2,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN THỊ HẠNH XÁC ĐỊNH HÀM LƯỢNG CỦA CANXI, SẮT, KẼM TRONG ĐÀI HOA BỤP GIẤM BẰNG PHƯƠNG PHÁP QUANG PHỔ HẤP THỤ VÀ PHÁT XẠ NGUYÊN TỬ Chuyên ngành: Hóa phân tích Mã số: 60.44.01.18 LU

Trang 1

NGUYỄN THỊ HẠNH

XÁC ĐỊNH HÀM LƯỢNG CỦA CANXI, SẮT, KẼM TRONG ĐÀI HOA BỤP GIẤM BẰNG PHƯƠNG PHÁP QUANG PHỔ HẤP THỤ VÀ PHÁT XẠ NGUYÊN TỬ

Chuyên ngành: Hóa phân tích

Mã số: 60.44.01.18

LUẬN VĂN THẠC SĨ HÓA HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS VƯƠNG TRƯỜNG XUÂN

Thái Nguyên - 2017

Trang 2

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới ban Giám đốc, lãnh đạo khoa xét nghiệm trung tâm y tế dự phòng tỉnh Thái Nguyên đã đã tạo điều kiện cho tôi về mặt thời gian cũng như cơ sở vật chất để tôi hoàn thiện đề tài này

Tôi xin chân thành cảm ơn tới bạn bè, đồng nghiệp, gia đình đã quan tâm, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 6 năm 2017

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC HÌNH vi

MỞ ĐẦU 1

Chương 1TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2

1.1 Giới thiệu chung về cây bụp giấm 2

1.1.1 Tên gọi và mô tả 2

1.1.2 Phân bố 2

1.1.3 Thành phần hoá học của đài hoa bụp giấm 3

1.1.4 Công dụng đài hoa bụp giấm 3

1.2 Sơ lược về các kim loại Ca, Fe, Zn 4

1.2.1 Canxi 4

1.2.2 Sắt 6

1.2.3 Kẽm 7

1.3 Một số phương pháp xác định canxi, sắt, kẽm 8

1.3.1 Phương pháp phân tích khối lượng 9

1.3.2 Phương pháp phân tích thể tích 9

1.3.3 Phương pháp phổ hấp thụ phân tử UV - VIS 9

1.3.4 Phương pháp cực phổ 10

1.3.5 Phương pháp Von-Ampe hoà tan 11

1.3.6 Phương pháp phổ phát xạ nguyên tử (ICP - OES) 11

1.3.7 Phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử 12

1.4 Tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới về cây bụp giấm 16

1.4.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 16

1.4.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 16

Chương 2THỰC NGHIỆM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

2.1 Thiết bị, hóa chất, dụng cụ 18

2.1.1 Thiết bị 18

2.1.2 Dụng cụ 18

DI ỄN ĐÀN TOÁN - LÍ - HÓA 1000B TR ẦN H ƯNG ĐẠ O TP.QUY NH ƠN http://daykemquynhon.ucoz.com N ơi b ồi d ưỡ ng ki ến th ứ c Toán - Lý - Hóa cho h ọc sinh c ấp 2+3 /

Trang 4

2.1.3 Hoá chất 18

2.2 Phương pháp nghiên cứu 19

2.3 Phương pháp lấy mẫu, bảo quản và xử lý mẫu 21

2.4 Phương pháp xử lý số liệu, tính toán 24

2.5 Nội dung nghiên cứu: 24

Chương 3KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 25

3.1 Phương pháp đường chuẩn đối với phép đo AAS 25

3.1.1 Khảo sát khoảng tuyến tính của nồng độ các kim loại 25

3.1.2 Xây dựng đường chuẩn của Fe, Zn, Ca 28

3.1.3 Đánh giá sai số và độ lặp và giới hạn phát hiện (LOD), giới hạn định lượng (LOQ) của phương pháp AAS 31

3.2 Phân tích mẫu thực tế bằng phương pháp đường chuẩn 36

3.2.1 Kết quả xác định hàm lượng kim loại nặng theo phương pháp đường chuẩn 36

3.2.2 Xác định hàm lượng kim loại bằng phương pháp thêm chuẩn 41

KẾT LUẬN 46

TÀI LIỆU THAM KHẢO 47

DI ỄN ĐÀN TOÁN - LÍ - HÓA 1000B TR ẦN H ƯNG ĐẠ O TP.QUY NH ƠN http://daykemquynhon.ucoz.com N ơi b ồi d ưỡ ng ki ến th ứ c Toán - Lý - Hóa cho h ọc sinh c ấp 2+3 /

Trang 5

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT

1 AAS Atomic Absorption Spectrometry

5 GF-AAS Graphite Furnace- Atomic Absorption Spectrometry

(Phổ hấp thụ nguyên tử không ngọn lửa)

6 HCL Hollow Cathode Lamp

(Đèn catot rỗng)

7 HPLC High Performance Liquid Chromatography

(Sắc kí lỏng hiệu năng cao)

8 ICP-OES Optical Emission Spectroscopy

(Quang phổ phát xạ)

9 UV - Vis Ultra Violet - Visible

10 LOD Limit of detection

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Các mẫu thu thập được 21

Bảng 3.1 Các điều kiện đo phổ của Ca, Fe, Zn 25

Bảng 3.2 Kết quả khảo sát khoảng nồng độ tuyến tính của Ca 26

Bảng 3.3 Kết quả khảo sát khoảng nồng độ tuyến tính của Fe 27

Bảng 3.4 Kết quả khảo sát khoảng nồng độ tuyến tính của Zn 28

Bảng 3.5 Kết quả xác định sai số của phương pháp với phép đo Ca 33

Bảng 3.6 Kết quả xác định sai số của phương pháp với phép đo Fe 33

Bảng 3.7 Kết quả xác định sai số của phương pháp với phép đo Zn 34

Bảng 3.8 Kết quả xác định nồng độ Ca trong mẫu theo đường chuẩn 37

Bảng 3.9 Kết quả xác định nồng độ Fe trong mẫu theo đường chuẩn 38

Bảng 3.10 Kết quả xác định nồng độ Zn trong mẫu theo đường chuẩn 39

Bảng 3.11 Kết quả tính toán nồng độ kim loại trong 100g mẫu khô 40

Bảng 3.12 Kết quả phân tích Ca bằng phương pháp thêm chuẩn 41

Bảng 3.13 Kết quả phân tích Fe bằng phương pháp thêm chuẩn 41

Bảng 3.14 Kết quả phân tích Zn bằng phương pháp thêm chuẩn 42

Bảng 3.15 Kết quả phân tích phương sai hàm lượng Ca 43

Bảng 3.16 Kết quả phân tích phương sai hàm lượng Fe 43

Bảng 3.17 Kết quả phân tích phương sai hàm lượng Zn 44

DI ỄN ĐÀN TOÁN - LÍ - HÓA 1000B TR ẦN H ƯNG ĐẠ O TP.QUY NH ƠN http://daykemquynhon.ucoz.com N ơi b ồi d ưỡ ng ki ến th ứ c Toán - Lý - Hóa cho h ọc sinh c ấp 2+3 /

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Hình ảnh cây và đài hoa bụp giấm 2

Hình 1.2 Một số sản phẩm làm từ đài hoa bụp giấm 3

Hình 1.3 Hình ảnh đài hoa bụp giấm sấy khô 3

Hình 1.4 Đồ thị của phương pháp đường chuẩn 14

Hình 1.5 Đồ thị của phương pháp thêm chuẩn 15

Hình 2.1 Thiết bị phá mẫu của Italia Velp - DK6 18

Hình 2.2 Máy quang phổ hấp thụ nguyên tử Shimadzu AA -6300 19

Hình 2.3 Nguyên tắc cấu tạo của máy đo AAS 20

Hình 2.4 Sơ đồ quy trình xử lý mẫu 23

Hình 3.1 Đồ thị khảo sát khoảng nồng độ tuyến tính của Ca 26

Hình 3.2 Đồ thị khảo sát khoảng nồng độ tuyến tính của Fe 27

Hình 3.3 Đồ thị khảo sát khoảng nồng độ tuyến tính của Zn 28

Hình 3.4 Đường chuẩn của Ca 29

Hình 3.5 Đường chuẩn của Fe 30

Hình 3.6 Đường chuẩn của Zn 31

Hình 3.7 Đồ thị biểu diễn nồng độ các chất trong đài hoa theo tháng 42

DI ỄN ĐÀN TOÁN - LÍ - HÓA 1000B TR ẦN H ƯNG ĐẠ O TP.QUY NH ƠN http://daykemquynhon.ucoz.com N ơi b ồi d ưỡ ng ki ến th ứ c Toán - Lý - Hóa cho h ọc sinh c ấp 2+3 /

Trang 8

MỞ ĐẦU

Từ năm 1992, cây bụp giấm đã du nhập vào Việt Nam và được đỡ đầu bởi nhà khoa học Mai Thị Tấn Bà đã nhân giống loại cây này trên toàn quốc và đã điều chế từ bụp giấm như trà, mứt, rượu, nước cốt quả…Những sản phẩm này vừa là thực phẩm vừa có nhiều tác dụng dược lí được công nhận bởi chính người sử dụng

nó nên bụp giấm ngày càng được ưa chuộng và trở nên gần gũi hơn trong đời sống

Đài hoa bụp giấm là một loại dược liệu rất có lợi cho sức khỏe Tính theo hàm lượng chất khô đài hoa bụp giấm chứa khoảng 15% anthocyanin, axit hữu cơ khoảng 15-30%, các vitamin A, B1, B2, C, E, F và nhiều loại khoáng chất như sắt, đồng, canxi, magie, kẽm [1] Ngoài ra Bụp giấm còn có tác du ̣ng phòng trị nhiều bệnh: tim mạch, cao huyết áp, tiểu đường, suy thận, suy tim, hạn chế cholesterol trong máu, ngăn ngừa một số bệnh ung thư, hạn chế béo phì, chống lão hóa, [2]

Để đa dạng hơn về nghiên cứu thành phần hóa học của loại cây này nên

chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu “Xác định hàm lượng của Canxi, Sắt, Kẽm

trong đài hoa bụp giấm bằng phương pháp phổ hấp thụ và phát xạ nguyên tử”

Đề tài thực hiện nhằm phân tích xác định hàm lượng canxi, sắt, kẽm trong

đài hoa bụp giấm với những mẫu thu thập được tại tỉnh Thái Nguyên

Trang 9

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu chung về cây bụp giấm

1.1.1 Tên gọi và mô tả

Tên khoa học là Hibiscus sabdariffa Linn.Tên thường gọi là atiso đỏ, bụp

giấm, hoa vô thường, hoa lạc thần, cây đay Nhật…

Cây bụp giấm có tên khoa học là Hibiscus sabdariffa Linn, thuộc họ bông

Cây cao từ 1,5-2m, thân màu lục hoặc đỏ tía, phân nhánh gần gốc, cành nhẵn hoặc hơi có lông Lá mọc so le, lá ở gốc nguyên, lá phía trên chia 3-5 thùy hình chân vịt, mép có răng cưa Hoa đơn độc, mọc ở nách, gần như không có cuống, đường kính

từ 8-10cm Tràng hoa màu vàng hồng hay tía, có khi trắng Quả nang hình trứng, có lông thô mang đài màu đỏ sáng tồn tại bao quanh quả Cây ra hoa đúng vụ và tháng

9 đến tháng 11, đài hoa bụp giấm chín rất nhanh và chỉ được thu hái trong vòng

15-20 ngày sau khi hoa nở, khi chúng còn mềm, không nhăn héo và có mầu đỏ sẫm [1]

Hình 1.1 Hình ảnh cây và đài hoa bụp giấm 1.1.2 Phân bố

Cây bụp giấm có nguồn gốc ở Trung Mỹ và Bắc Phi, sau lan sang Ấn Độ, Malaysia, Philippin, Indonexia, Thái Lan

Ở nước ta, cây được trồng thử nghiệm để phủ đất trống, đồi trọc cho kết quả

ở Hà Tây, Hoà Bình, Bắc Giang, Thái Nguyên, Ba Vì và một số tỉnh khác Tuy nhiên, cây được trồng thành công ở Việt Nam chủ yếu thuộc các tỉnh miền trung, thích hơp với đất đồi núi và trung du.[1]

Trang 10

1.1.3 Thành phần hoá học của đài hoa bụp giấm

Đài hoa bụp giấm giầu về acid và protein Các acid chính tan trong nước

là acid citric, acid malic, acid tartric, acid hibiscus Chúng cũng chứa gossypetin

và clorid hibiscin là những chất có tính kháng sinh Đài hoa này có chất màu đỏ tím chiết ra chứa nhiều sinh tố A, vitamin B1, C, E và nhiều chất a-xít hữu cơ khác Ngoài ra trong đài quả còn chứa nhiều khoáng chất như Canxi, sắt, kẽm, đồng, kali, natri [2]

1.1.4 Công dụng đài hoa bụp giấm

Theo Đông y, bụp giấm có vị chua, tính mát; có tác dụng thanh nhiệt, giải khát, lợi tiểu, lợi mật Còn theo tài liệu nước ngoài, những nghiên cứu trong phòng thí nghiệm đã chứng minh hoạt chất từ bụp giấm có tính kháng khuẩn, kháng nấm, chống viêm, chống ôxy hóa (sự lão hóa của cơ thể), giúp ngăn ngừa bệnh tim mạch, tăng cường chức năng tiêu hóa, nhuận tràng, hạ huyết áp, làm giảm cholesterol trong máu, chống xơ vữa động mạch, giảm sự đọng lipid ở gan và bảo vệ tế bào gan [1]

Hình 1.2 Một số sản phẩm làm từ đài hoa bụp giấm

Hình 1.3 Hình ảnh đài hoa bụp giấm sấy khô

Trang 11

1.2 Sơ lược về các kim loại Ca, Fe, Zn 1.2.1 Canxi

1.2.1.1 Trạng thái tự nhiên và trạng thái vật lý

Canxi (tiếng la tinh là Calcium) là nguyên tố hoá học có số thứ tự là 20 trong bảng tuần hoàn

Kim loại canxi có màu trắng bạc Mặc dù rất cứng nhưng canxi vẫn có thể dãn dài được Nóng chảy ở nhiệt độ 8500C và sôi ở nhiệt độ 14820C Canxi có tỉ trọng 1.55g/cm3 Khi ở trong dung dịch ion canxi cho nhiều vị giác như mặn, chua [6]

Khi đốt nóng trong không khí, Ca cháy tạo nên oxit :

2Ca + O2 → 2CaO Khi đun nóng, Ca tương tác mãnh liệt với halogen, nitơ, S, P, C, Si, ngoài tạo oxit còn có nitrua được tạo nên:

Ca3N2 + 6H2O→ 3Ca(OH)2 + 2NH3

Canxi tương tác dễ dàng với nước giải phóng khí hidro và càng dễ dàng hơn khi tương tác với axit Canxi có thể tan trong amoniac lỏng cho dung dịch màu xanh thẫm [6][13]

1.2.1.3 Vai trò của canxi đối với cơ thể người

Canxi đối với hệ thần kinh: Canxi cũng có vai trò vô cùng quan trọng đối với hệ thần kinh Các Ion Canxi có vai trò quan trọng trong việc truyền dẫn thần kinh, khi bị thiếu hụt canxi, các hoạt động truyền dẫn của hệ thần kinh bị ức chế,

Trang 12

công năng hưng phấn và công năng ức chế của hệ thần kinh bị suy giảm

Trẻ em thiếu canxi sẽ có biểu hiện quấy khóc về đêm, ngủ dễ giật mình, không tập trung tinh thần, dễ nổi cáu và rối loạn chức năng vận động

Người già thiếu canxi dễ bị suy nhược thần kinh, khả năng điều tiết thần kinh

bị suy giảm, trí nhớ kém, tinh thần không ổn định, đau đầu, tính khí thất thường…

Canxi đối với hệ miễn dịch: Hệ miễn dịch đóng vai trò như một tấm lá chắn bảo vệ chúng ta khỏi các tác nhân gây bệnh đồng thời phát sinh phản ứng miễn dịch với một số bệnh đã mắc

Canxi đối với hệ cơ bắp: Các ion canxi đóng vai trò vô cùng quan trọng trong các hoạt động co giãn của cơ bắp, thiếu hụt canxi sẽ làm khả năng đàn hồi của

cơ bắp kém đi

Vai trò của canxi với cơ tim: Thiếu hụt canxi khiến cho khả năng co bóp ở tim kém hơn, chức năng truyền máu kém khiến máu không được bơm đầy đủ đến các cơ quan, gây cảm giác hồi hộp, vãi mồ hôi, thở dốc…

Vai trò của canxi với “cơ trơn”: Thiếu hụt canxi sẽ ảnh hưởng đến chức năng tiêu hóa, gây cảm giác chán ăn, đầy bụng, táo bón, sản phụ sau khi sinh nở tử cung

co chậm và yếu, khó đẻ, đẻ non…người già đái dầm

Biểu hiện thiếu canxi ở cơ bắp: Khi thiếu hụt canxi ở cơ bắp sẽ khiến cơ thể mệt mỏi, yếu sức, chân tay rã rời, thể lực kém… nếu bạn gặp phải những biểu hiện trên, hãy bổ sung canxi cho cơ thể ngay lập tức

Những công dụng khác của canxi:

- Canxi có vai trò quan trọng trong việc làm đông máu, giảm thiểu tình trạng máu thấm ra ngoài mao mạch

- Canxi có tác dụng kích hoạt các enzyme, làm giảm mỡ máu và giảm béo phì hiệu quả

- Canxi giúp điều trị một số chứng bệnh xuất huyết và bệnh dị ứng

- Ion canxi còn có tác dụng kết dính các tế bào lại với nhau Nếu trong dịch thể thiếu ion canxi thì tế bào kém khả năng kết dính, tổ chức khí quan sẽ kém hoàn chỉnh, từ đó công năng của các khí quan sẽ bị suy giảm

- Ion canxi giúp bảo vệ đường hô hấp: Thường xuyên sử dụng canxi sẽ giúp

Trang 13

người mắc bệnh phế quản mãn tính hoặc bệnh phổi sớm đẩy lùi bệnh tật [3]

1.2.2 Sắt

1.2.2.1 Trạng thái tự nhiên và tính chất vật lý

Sắt (tiếng la tinh là iron) nằm ở vị trí thứ 26 trong bảng tuần hoàn, phân nhóm VIIIB chu kỳ 4 Sắt là một trong những nguyên tố phổ biến nhất, đứng hàng

thứ tư sau O, Si, và Al Trữ lượng sắt trong vỏ Trái đất là 1.5%

Sắt là kim loại có màu trắng hơi xám, dẻo, dễ rèn, dễ dát mỏng, dễ kéo sợi, dẫn nhiệt và dẫn điện kém hơn đồng và nhôm Nhiệt độ nóng chảy của sắt là

15360C [7]

1.2.2.2 Về tính chất hoá học

Sắt có hoạt tính hóa học trung bình Ở điều kiện thường nếu không có hơi

ẩm, sắt không tác dụng rõ rệt ngay với những nguyên tố không kim loại điển hình như O2 , S, Cl2, Br2 vì có màng ôxit bảo vệ, nhưng khiđun nóng, phản ứng xảy ra mãnh liệt, nhất là khi kim loại ở trạng thái chia nhỏ Ở trạng thái rất nhỏ Fe còn là chất tự cháy,có nghĩa là nó có thể cháy trong không khí ở ngay nhiệt độ thường

Khi đun nóng trong không khí khô, sắt tạo nên Fe2O3 và ở nhiệt độ cao hơn, tạo nên Fe3O4

Fe đều tan trong dung dịch axit giải phóng khí H2 và tạo muối Với axit sunfuric đặc và axit nitric đặc không tác dụng với sắt mà còn thụ động hoá nó khi nguội [7, 14]

Đối với không khí và nước, Fe tinh khiết bền Ngược lại sắt có chứa tạp chất

bị ăn mòn dần dưới tác dụng đồng thời của hơi ẩm, khí CO2 và khí O2 trong không khí tạo nên gỉ sắt

2Fe + 3/2O2 + nH2O → Fe2O3.nH2O

1.2.2.3 Tác dụng sinh hóa và vai trò của sắt đối với cơ thể người

Sắt là một nguyên tố vi lượng dinh dưỡng rất quan trọng cho cơ thể con người và động vật Hầu hết lượng sắt có trong cơ thể đều tồn tại trong các tế bào máu, chúng kết hợp với protein để tạo thành hemoglobin Sắt tham gia vào cấu tạo hemoglobin (là một muối phức của prophirin với ion sắt) Hemoglobin làm nhiệm

Trang 14

vụ tải oxi từ phổi đến các mao quản của các cơ quan trong cơ thể, ở đây năng lượng được giải phóng ra Khi con người bị thiếu sắt, hàm lượng hemoglobin bị giảm xuống và làm cho lượng oxi tới các tế bào cũng giảm theo Từ đó khi cơ thể bị thiếu máu do thiếu hụt sắt, con người thường bị mệt mỏi, đau đầu, mất ngủ hoặc làm giảm độ phát triểnvà thông minh của trẻ em

Mặc dù các nhà khoa học đã nghiên cứu và cũng chưa đưa ra được ngưỡng gây hại do sự thiếu sắt hoặc thừa sắt Để phòng tránh sự thay đổi lượng sắt trong cơ thể, người ta thiết lập một giá trị tạm thời cho lượng tiếp nhận tối đa hằng ngày có thể chịu được là 0,8 mg/kg thể trọng [3]

1.2.3 Kẽm

1.2.3.1 Trạng thái tự nhiên và trạng thái vật lý

Kẽm (tiếng la tinh là zinc) nằm ở vị trí thứ 30 trong bảng tuần hoàn thuộc phân nhóm IIB

Trạng thái tự nhiên: kẽm là nguyên tố tương đối phổ biến Trong vỏ Trái Đất kẽm chiếm khoảng 75ppm Đất chứa 5 ÷ 77ppm kẽm với giá trị trung bình là 64ppm Nước biển chứa 30ppb và trong khí quyển chứa 0,1 ÷ 4µg/m Ngoài ra kẽm

có trong tất cả các loài vật sống, cơ thể con người chứa đến 0,001% kẽm ở răng và

hệ thần kinh và tuyến sinh dục

Kẽm là kim loại có màu trắng bạc nhưng ở trong không khí ẩm nó dần bị bao phủ bởi màng oxit nên mất ánh kim Là kim loại mềm dễ nóng chảy, dễ bay hơi tương đối cứng và giòn Nhiệt độ nóng chảy của kẽm là 419,50C nhiệt độ sôi là

9060C [7]

1.2.3.2 Tính chất hóa học

Zn là kim loại tương đối hoạt động Trong không khí ẩm, kẽm bền ở nhiệt độ thường do có màng oxit bảo vệ Nhưng ở nhiệt độ cao, kẽm cháy mãnh liệt tạo thành ngọn lửa màu lam và sáng chói

Kẽm tác dụng với halogen, lưu huỳnh và các nguyên tố không kim loại khác như photpho, selen…

Ở nhiệt độ thường, Zn bền với nước vì có màng oxit bảo vệ, ở nhiệt độ cao khử hơi nước thành oxit:

Trang 15

1.2.3.3 Vai trò của kẽm đối với cơ thể người

Kẽm tham gia hoạt hoá khoảng 70 enzym của nhiều hoạt đông sinh lý, sinh hoá của cây Nó là một nguyên tố có ảnh hưởng to lớn đối với năng suất cây trồng

Thực vật hấp thụ kẽm ở dạng ion Zn2+ Tác dụng sinh lý của kẽm:

Zn cần cho sự hoạt động của nhiều enzym đường phân (hexokinase, andolase…)

Zn hoạt hoá enzym hô hấp cacboanhydrase, xúc tác phản ứng loại nước của hydrat oxit cacbon Phản ứng này cung cấp CO2 cho quá trình quang hợp

Zn xúc tác quá trình tổng hợp triptophan, protein, axit indolilaxetic và cần cho quá trình sử dụng P vô cơ thành P hữu cơ trong thành phần của axit nucleic, các nucleotit

Mặc dù kẽm là vi chất cần thiết cho sức khỏe, tuy nhiên nếu hàm lượng kẽm vượt quá mức cần thiết sẽ có hại cho sức khỏe Hấp thụ quá nhiều kẽm làm ngăn chặn sự hấp thu đồng và sắt Ion kẽm tự do trong dung dịch là chất có độc tính cao đối với thực vật, động vật và đặc biệt là đối với người [3]

1.3 Một số phương pháp xác định canxi, sắt, kẽm

Hiện nay có rất nhiều phương pháp khác nhau để xác định canxi, sắt, kẽm như phương pháp phân tích khối lượng, phân tích thể tích, điện hoá, phổ phân tử

UV - VIS, phổ phát xạ nguyên tử (AES), phổ hấp thụ nguyên tử ngọn lửa (F-AAS)

và không ngọn lửa (GF-AAS), phương pháp ICP - OES,.…

Một số công trình nghiên cứu về phân tích hàm lượng kim loại bằng phương pháp F - AAS là một trong những phương pháp tối ưu nhất Lê Quốc Khánh,

(2011) “Xác định hàm lượng một số kim loại nặng (đồng, chì, cađimi, kẽm) trong

các loại rau xanh ở thành phố Sơn La bằng phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử

Trang 16

ngọn lửa F – AAS” Luận văn thạc sĩ Khoa học Hóa Học, Đại Học Sư Phạm Hà Nội

Vũ Thị Thu Lê, (2010) "Phân tích và đánh giá hàm lượng các kim loại

đồng, chì, kẽm, cađimi trong nước mặt sông Cầu thuộc thành phố Thái Nguyên bằng phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử ngọn lửa (F-AAS)” Luận văn thạc sĩ

Khoa học Hóa Học, Đại Học Sư Phạm Thái Nguyên Tường Thị Cẩm Nhung,

(2011) “Phân tích và đánh giá hàm lượng Sắt, Mangan trong nước giếng khoan

bằng phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử ngọn lửa (F – AAS)” Luận văn

thạc sĩ Khoa học Hóa Học, Đại Học Sư Phạm Thái Nguyên

Dưới đây là một số phương pháp xác định canxi, sắt, kẽm

1.3.1 Phương pháp phân tích khối lượng

Phương pháp phân tích khối lượng là phương pháp cổ điển, độ chính xác có thể đạt tới 0,1% Cơ sở của phương pháp là sự kết tủa định lượng của chất phân tích với một thuốc thử thích hợp

1.3.2 Phương pháp phân tích thể tích

Phương pháp phân tích thể tích dựa trên sự đo thể tích dung dịch thuốc thử

để biết nồng độ chính xác (dung dịch chuẩn) được thêm vào dung dịch chất định phân để tác dụng đủ toàn bộ lượng chất định phân đó Thời điểm thêm lượng thuốc thử tác dụng với toàn bộ chất định phân gọi là điểm tương đương Để nhận biết điểm tương đương, người ta dùng các chất gây ra hiện tượng có thể quan sát bằng mắt gọi là các chất chỉ thị

1.3.3 Phương pháp phổ hấp thụ phân tử UV - VIS

Phương pháp này chính là phương pháp phổ hấp thụ phân tử trong vùng UV

- VIS Ở điều kiện thường, các phân tử, nhóm phân tử của chất bền vững và nghèo năng lượng Đây là trạng thái cơ bản Nhưng khi có một chùm sáng với năng lượng thích hợp chiếu vào thì các điện tử hoá trị trong các liên kết (л, ∂ , n) sẽ hấp thụ năng lượng chùm sáng, chuyển lên trạng thái kích thích với năng lượng cao hơn

Hiệu số giữa hai mức năng lượng (cơ bản Eo và kích thích Em) chính là năng lượng

mà phân tử hấp thụ từ nguồn sáng để tạo ra phổ hấp thụ phân tử của chất

Nguyên tắc: Phương pháp xác định dựa trên việc đo độ hấp thụ ánh sáng của

Trang 17

một dung dịch phức tạo thành giữa ion cần xác định với một thuốc thử vô cơ hay hữu cơ trong môi trường thích hợp khi được chiếu bởi chùm sáng Phương pháp định lượng phép đo:

A = K.C Trong đó:

A: độ hấp thụ quang K: hằng số thực nghiệm C: nồng độ nguyên tố phân tích Phương pháp này cho phép xác định nồng độ chất ở khoảng 10-5 - 10-7M và

là một trong các phương pháp được sử dụng khá phổ biến

Phương pháp trắc quang có độ nhạy, độ ổn định và độ chính xác khá cao, được sử dụng nhiều trong phân tích vi lượng Tuy nhiên với việc xác định Fe, Zn,

Pb thì lại gặp rất nhiều khó khăn do ảnh hưởng của một số ion kim loại tương tự

Khi đó phải thực hiện các công đoạn che, tách phức tạp [11]

1.3.4 Phương pháp cực phổ

Nguyên tắc: Người ta thay đổi liên tục và tuyến tính điện áp đặt vào 2 cực để

khử các ion kim loại, do mỗi kim loại có thế khử khác nhau Thông qua chiều cao của đường cong Von-Ampe có thể định lượng được ion kim loại trong dung dịch ghi cực phổ Vì dòng giới hạn Igh ở các điều kiện xác định tỉ lệ thuận với nồng độ ion trong dung dịch ghi cực phổ theo phương trình:

I = k.C Trong đó: I: là cường độ giòng điện giới hạn

k: Hằng số thực nghiệm C: là nồng độ ion trong dung dịch

Phương pháp này sử dụng điện cực giọt thuỷ ngân rơi làm cực làm việc, trong đó thế được quét tuyến tính rất chậm theo thời gian (thường 1 - 5 mV/s) đồng thời ghi dòng là hàm của thế trên cực giọt thuỷ ngân rơi Sóng cực phổ thu được có dạng bậc thang, dựa vào chiều cao có thể định lượng được chất phân tích

Phương pháp này có khá nhiều ưu điểm: Nó cho phép xác định cả chất vô cơ

Trang 18

và hữu cơ với nồng độ 10-5 ÷ 10-6M tuỳ thuộc vào cường độ và độ lặp lại của dòng

dư Sai số của phương pháp thường là 2 ÷ 3% với nồng độ 10-3 ÷ 10-4M, là 5% với nồng độ 10-5 M (ở điều kiện nhiệt độ không đổi) Tuy nhiên phương pháp cực phổ

bị ảnh hưởng rất lớn của dòng tụ điện, dòng cực đại, lượng oxi hoà tan hay bề mặt điện cực nên giới hạn phát hiện kém khoảng 10-5 - 10-6M

Nhằm loại trừ ảnh hưởng trên đồng thời tăng độ nhạy, hiện nay đã có các phương pháp cực phổ hiện đại: cực phổ xung vi phân (DPP), cực phổ sóng vuông (SQWP)… chúng cho phép xác định lượng vết của nhiều nguyên tố [10]

1.3.5 Phương pháp Von-Ampe hoà tan

Về bản chất, phương pháp Von-Ampe hoà tan cũng giống như phương pháp cực phổ là dựa trên việc đo cường độ dòng để xác định nồng độ các chất trong dung dịch Nguyên tắc gồm hai bước:

Bước 1: Điện hoá làm giàu chất cần phân tích trên bề mặt điện cực làm việc trong khoảng thời gian xác định, tại thế điện cực xác định

Bước 2: Hoà tan kết tủa đã được làm giàu bằng cách phân cực ngược cực làm việc, đo và ghi dòng hoà tan Trên đường Von-Ampe hoà tan xuất hiện pic của nguyên tố cần phân tích Chiều cao pic tỉ lệ thuận với nồng độ [9]

1.3.6 Phương pháp phổ phát xạ nguyên tử (ICP - OES)

Khi ở điều kiện thường, nguyên tử không thu hay phát ra năng lượng nhưng nếu bị kích thích thì các điện tử hoá trị sẽ nhận năng lượng chuyển lên trạng thái có năng lượng cao hơn (trạng thái kích thích) Trạng thái này không bền, chúng có xu hướng giải phóng năng lượng để trở về trạng thái ban đầu bền vững dưới dạng các bức xạ Các bức xạ này được gọi là phổ phát xạ của nguyên tử

Phương pháp ICP - OES dựa trên sự xuất hiện phổ phát xạ của nguyên tử tự

do của nguyên tố phân tích ở trạng thái khí khi có sự tương tác với nguồn năng lượng phù hợp Hiện nay, người ta dùng một số nguồn năng lượng để kích thích phổ AES như ngọn lửa đèn khí, hồ quang điện, tia lửa điện, plasma cao tần cảm ứng (ICP)…

Nhìn chung, phương pháp AES đạt độ nhạy rất cao (thường từ n.10-3 đến

Trang 19

n.10-4%), lại tốn ít mẫu, có thể phân tích đồng thời nhiều nguyên tố trong cùng một mẫu Vì vậy, đây là phương pháp dùng để kiểm tra đánh giá hoá chất, nguyên liệu tinh khiết, phân tích lượng vết ion kim loại độc trong nước, lương thực, thực phẩm

Tuy nhiên, phương pháp này lại chỉ cho biết thành phần nguyên tố trong mẫu mà không chỉ ra được trạng thái liên kết của nó trong mẫu [5]

1.3.7 Phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử

Nguyên tắc: Khi nguyên tử tồn tại tự do ở thể khí và ở trạng thái năng

lượng cơ bản, thì nguyên tử không thu hay không phát ra năng lượng Tức là nguyên tử ở trạng thái cơ bản Song, nếu chiếu vào đám hơi nguyên tử tự do một chùm tia sáng đơn sắc có bước sóng phù hợp, trùng với bước sóng vạch phổ phát

xạ đặc trưng của nguyên tố phân tích, chúng sẽ hấp thụ tia sáng đó sinh ra một loại phổ của nguyên tử Phổ này được gọi là phổ hấp thụ của nguyên tử Với hai kỹ thuật nguyên tử hóa, nên chúng ta cũng có hai phép đo tương ứng Đó là phép đo phổ hấp thụ nguyên tử trong ngọn lửa (F- AAS có độ nhạy cỡ 0,1 ppm) và phép đo phổ hấp thụ nguyên tử không ngọ n lửa (GF - AAS có độ nhạy cao hơn kỹ thuật ngọn lửa 50- 1000 lần, cỡ 0,1- 1 ppb)

Cơ sở của phân tích định lượng theo AAS là dựa vào mối quan hệ giữa cường độ vạch phổ và nồng độ nguyên tố cần phân tích theo biểu thức:

Aλ = a.Cx

Trong đó: Aλ: là cường độ của vạch phổ hấp thụ

Cx: là nồng độ của nguyên tố cần phân tích Thực tế cho thấy phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử có nhiều ưu việt như:

Độ nhạy, độ chính xác cao, lượng mẫu tiêu thụ ít, tốc độ phân tích nhanh

Với ưu điểm này, AAS được thế giới dùng làm phương pháp tiêu chuẩn để xác định lượng nhỏ và lượng vết các kim loại trong nhiều đối tượng khác nhau

Phép đo phổ AAS có thể phân tích được hàm lượng vết của hầu hết các kim loại và cả những hợp chất hữu cơ hay anion không có phổ hấp thụ nguyên tử Nó được sử dụng rộng rãi trong các ngành: địa chất, công nghiệp hóa học, hóa dầu, y học, sinh học, dược phẩm [5]

Có hai kỹ thuật nguyên tử hoá mẫu là kĩ thuật ngọn lửa (F-AAS) và không

Trang 20

MenXm(1) → MenXm(K) → nMe(k) + Mx nMe(k) + n(hv) → phổ F-AAS

Nếu năng lượng hoá hơi Eh> năng lượng nguyên tử hoá En thì các phân tử mẫu sẽ phân ly thành nguyêntử sau đó hoá hơi và hấp thụ tia bức xạ để tạo ra phổ AAS

MenXm(1) → nMen + mX → nMe(k)

nMe(k) + n(hv) → phổ F-AAS Quá trình này có ưu điểm là kích thích êm dịu, an toàn, xác định phần lớn kim loại Tuy nhiên, trong ngọn lửa có nhiều cơ chế phụ đó là sự tạo thành các hợp chất bền nhiệt ở vỏ ngọn lửa, làm giảm cường độ vạch phổ Ngoài ra, đối với các nguyên tử có năng lượng kích thích hấp thụ như kim loại kiềm, kiềm thổ tạo ra nhiều ion, thay vì thu phổ nguyên tử ta thu phổ ion Như vậy ta phải điều chỉnh ngọn lửa ở nhiệt độ thấp hoặc thêm vào chất phân tích một số chất có năng lượng ion hoá thấp hơn để thay vì ion hoá nguyên tố phan tích thì ion hoá chất thêm [5]

1.3.7.2 Kỹ thuật nguyên tử hoá không ngọn lửa

Về nguyên tắc, kĩ thuật nguyên tử hoá không ngọn lửa là quá trình nguyên tử hoá tức khắc trong thời gian rất ngắn nhờ năng lượng của dòng điện công suất lớn

và trong môi trường khí trơ Qúa trình nguyên tử hoá xảy ra theo ba giai đoạn kế tiếp nhau: sấy khô, tro hoá luyện mẫu, nguyên tử hoá để đo phổ hấp thụ và cuối cùng là làm sạch cuvet Trong đó hai giai đoạn đầu là chuẩn bị cho giai đoạn nguyên tử hoá để đạt kết quả tốt Nhiệt độ trong cuvet graphit là yếu tố quyết định mọi sự diễn biến của quá trình nguyên tử hoá mẫu [5]

1.3.7.3 Các phương pháp định lượng theo phép đo AAS

Trang 21

Có 2 phương pháp định lượng theo phép đo AAS là : phương pháp đường chuẩn và phương pháp thêm chuẩn

a Phương pháp đường chuẩn

Nguyên tắc của phương pháp này là dựa vào phương trình cơ bản của phép

đo A = K.C và một dãy mẫu đầu để dựng một đường chuẩn, sau đó nhờ đường chuẩn này và giá trị A để xác định nồng độ CX của nguyên tố cần phân tích trong mẫu đo phổ, rồi từ đó tính được nồng độ của nó trong mẫu phân tích

Trước hết phải chuẩn bị một dãy mẫu đầu, dãy mẫu chuẩn (thông thường là 5 mẫu) và các mẫu phân tích trong cùng điều kiện Ví dụ các mẫu đầu có nồng độ của nguyên tố X cần xác định C1, C2, C3, C4, C5 và các mẫu phân tích là CX1, CX2… Rồi sau đó chọn một quá trình phân tích phù hợp để rồi đo phổ Đo các mẫu chuẩn và các mẫu phân tích theo một vạch  đã chọn Ví dụ thu được các giá trị cường độ tương ứng với các nồng độ là A1, A2, A3, A4, A5, và AX1, AX2… Sau đó dựng đường chuẩn theo hệ toạ độ A - Cx

Nhờ đường chuẩn và các giá trị AX ta sẽ dễ dàng xác định được nồng độ CX Công việc cụ thể là đem các giá trị AX đặt lên trục tung A của hệ toạ độ, từ đó kẻ đường song song với trục hoành CX Đường này sẽ cắt đường chuẩn tại điểm M Từ điểm M hạ đường vuông góc với trục hoành cắt trục hoành tại CX CX là nồng độ cần tìm [5]

C7 C6 C5 C4 C3

C(mg/mL)Ax

Cx

0

Hình 1.4 Đồ thị của phương pháp đường chuẩn

b Phương pháp thêm chuẩn

Nguyên tắc của phương pháp này là người ta dùng ngay một mẫu phân tích

làm nền để chuẩn bị một dãy mẫu đầu bằng cách lấy một lượng mẫu phân tích nhất định và thêm vào đó những lượng nhất định của nguyên tố cần xác định theo từng

Trang 22

bậc nồng độ (theo cấp số cộng) Ví dụ lượng thêm vào là C1, C2, C3, C4, như thế chúng ta sẽ có một dãy mẫu chuẩn là:

Tiếp đó chọn các điều kiện thí nghiệm phù hợp và một vạch phổ của nguyên

tố phân tích, tiến hành ghi cường độ hấp thụ của vạch phổ đó theo tất cả dãy mẫu đầu và các mẫu phân tích Kết quả thu được như bảng sau:

Hình 1.5 Đồ thị của phương pháp thêm chuẩn

Từ các giá trị cường độ này ứng với các nồng độ thêm vào của các nguyên tố phân tích chúng ta dựng được một đường chuẩn theo hệ toạ độ A - Cx Đường này cắt trục tung tại điểm có toạ độ (A0, 0) Sau đó để xác định được nồng độ Cx

chưa biết chúng ta làm như sau:

.

Trang 23

Cách 1: Kéo dài đường chuẩn về phía trái, nó cắt trục hoành tại điểm C0 Chính đoạn OC0 bằng giá trị nồng độ Cx cần tìm

Cách 2: Cũng có thể xác định Cx bằng cách từ gốc toạ độ kẻ một đường song song với đường chuẩn và từ điểm A0 kẻ đường song song với trục hoành hai điểm này cắt nhau tại điểm M Từ điểm M hạ đường vuông góc với trục hoành

Đường này cắt trục hoành tại điểm C0 Chính đoạn C0 là giá trị Cx cần tìm [5]

1.4 Tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới về cây bụp giấm

1.4.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Năm 1993, Sở Khoa Học Công Nghệ và Môi Trường tỉnh Hà Tây đã triển khai đề tài “Chiết xuất chất màu tự nhiên từ đài hoa Hibiscus sabdariffa để dùng trong y học, thực phẩm và mỹ phẩm” và đề tài “Chiết xuất chất kháng sinh dược học trong Hibiscus sabdariffa để làm thuốc chữa bệnh” Sau một vài năm thực hiện, đề tài kết thúc nhưng kết quả đạt được chưa đủ để đưa cây Bụp giấm trồng ở những vùng đồi núi lên vị trí quan trọng Một số nhà khoa học của trung tâm công nghệ thực vật - viện di truyền nông nghiệp của khoa sinh học trường Đại học Tự nhiên cũng đã nghiên cứu và khẳng định được tác dụng dược học cao của đài hoa Bụp giấm

Năm 1998-1999, Trần Thúy, viện trưởng viện y học dân tộc cổ truyền đã nghiên cứu các chế phẩm từ đài hoa Bụp giấm để điều trị cho các bệnh nhân

Nhưng với điều kiện khó khăn và thiếu thốn về trang thiết bị, việc tách các hoạt chất trong Bụp giấm để sử dụng trong công nghiệp sản xuất mỹ phẩm hoặc dược phẩm khác khó có thể thành công Một số nhà nghiên cứu đã tìm tòi một hướng

đi khác, chế biến đài hoa Bụp giấm thành những sản phẩm thực phẩm thông thường, dễ được người tiêu dùng chấp nhận

Năm 2003, Đỗ Thị Thu Thủy có báo cáo nghiên cứu “Chất màu đỏ anthocyanin trích từ đài hoa Bụp giấm”

Năm 2012, Nguyễn Thị Huệ, Nguyễn Thị Kim Pha, Nguyễn Bình Kha, Trịnh Thanh Tâm, khoa Công Nghệ - Thực Phẩm, Trường Đại học Lạc Hồng đã nghiên cứu “Nghiên cứu sản xuất nước giải khát từ đài hoa Bụp giấm”

1.4.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Trên thế giới hiện nay, người ta có xu hướng đi tìm và chiết xuất chất mầu từ cây cỏ để nhuộm mầu thức ăn và đồ uống thay thế cho các loại hoá chất Ngoài ra

Trang 24

người ta còn có xu hướng nghiên cứu thành phần hóa học của các loại rau quả tự nhiên để tìm ra các thành phần dược liệu quý hiếm Vì vậy đã có nhiều công trình nghiên cứu về thành phần hóa học, cũng như những ứng dụng về mặt dược lý của đài hoa bụp như: Từ năm 2000, nhóm nghiên cứu Aliyu MS, Salih WM, Mohammed AH, Homeida AM đã nghiên cứu về khả năng chống co thắt từ các chất

calyces trong đài hoa bụp giấm [15] Năm 2002, Peng‐Kong Wong, YHM Salman

và YB Cheman nghiên cứu về: Các đặc điểm hóa lý của đài hoa Bụp giấm,

“Physico-chemical characteristics of roselle (Hibiscus sabdariffa)” [24]

Năm 2005, Badreldin H Ali, Naser Al Wab and Gerald Blunden nghiên cứu, báo cáo về các đặc tính hóa học, dược lý và độc tính của đài hoa bụp giấm

“Phytochemical, pharmacological aspects of Hibiscus sabdariffa” [16]

Năm 2010, Wahid A Luvonga, M S Njoroge, A Makokha and P W

Ngunjiri tại Kenya, nghiên cứu đề tài “Chemical characterization of Hibiscus sabdariffa L (Roselle) calyces and evaluation of its functional potential in the food industry”, đã khảo sát và định lượng một số thành phần dinh dưỡng và khoáng chất của đài hoa Bụp giấm Đồng thời đánh giá cảm quan về mùi cho thức uống Bụp giấm trong công nghiệp [18]

Kết quả nghiên cứu của nhóm Diane L McKay (2008) kết luận “Sử dụng hàng ngày trà bụp giấm có thể giảm huyết áp ở người tăng huyết áp độ 1” Bụp giấm có khả năng ức chế alpha-glucosidase và alpha-amylase, hai emzym liên quan mật thiết đến chuyển hóa nhóm bột đường (cacbohydrat) của cơ thể, giúp

Trang 25

Chương 2 THỰC NGHIỆM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Thiết bị, hóa chất, dụng cụ

2.1.1 Thiết bị

- Máy quang phổ hấp thụ nguyên tử Shimadzu AA - 6300 của Nhật Bản

- Thiết bị phá mẫu của Italia Velp - DK6

- Cân phân tích CPA2245 của Đức ( 0,1 mg)

Hình 2.1 Thiết bị phá mẫu của Italia Velp - DK6 2.1.2 Dụng cụ

- Các dung dịch chuẩn của Ca, Fe, Zn được pha từ dung dịch chuẩn có nồng

độ 1000mg/l của hãng Meck (Đức) sản xuất

- Dung dịch HNO3 (Merk), La(Cl)2 (Merk)

Các dung dịch hóa chất đều được pha chế bằng nước cất 2 lần

Trang 26

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử là một phương pháp hiện đại, có

độ chính xác cao Ngoài ra phương pháp này còn có độ nhạy và độ chọn lọc cao, phù hợp với xác định vi lượng các nguyên tố Khi sử dụng phương pháp này trong nhiều trường hợp không phải làm giàu mẫu trước khi phân tích nên tốn ít mẫu và thời gian, phù hợp cho việc xác định hàm lượng các kim loại trong các trường hợp khác nhau Chính vì thế mà chúng tôi đã sử dụng phương pháp phổ hấp thụ nguyên

tử ngọn lửa F-AAS để xác định hàm lượng Ca, Fe, Zn trong đài hoa bụp giấm

Với phương pháp này đối với mỗi loại máy của các hãng sản xuất khác nhau khi sử dụng để phân tích đều cho kết quả tốt Quá trình thực nghiệm chúng tôi dùng máy Shimadzu AA - 6300 - Nhật Bản, tại Trung tâm y tế Dự phòng Thái Nguyên

Từ những khảo sát đi trước và điều kiện thực tế của máy chúng tôi chọn các điều kiện tối ưu, tiến hành đo trên mẫu chuẩn rồi phân tích mẫu thực tế theo phương pháp đường chuẩn và kiểm tra lại bằng phương pháp thêm chuẩn

Hình 2.2 Máy quang phổ hấp thụ nguyên tử Shimadzu AA -6300

Muốn thực hiện phép đo phổ hấp thụ nguyên tử hệ thống máy đo phổ hấp thụ nguyên tử phải bao gồm các phần cơ bản sau:

Phần 1 Nguồn phát tia phát xạ cộng hưởng (vạch phổ phát xạ đặc trưng của

nguyên tố cần phân tích), để chiếu vào môi trường hấp thụ nguyên tử tự do của

Trang 27

+ Đèn catot rỗng (HCL)

+ Đèn phóng điện không điện cực (EDL)

+ Đèn phát xạ liên tục đã được biến điệu (D2)

Phần 2 Hệ thống nguyên tử hóa mẫu phân tích Hệ thống này được chế tạo

theo 3 kỹ thuật nguyên tử hóa mẫu Đó là kỹ thuật nguyên tử hóa bằng ngọn lửa (lúc này ta có phép đo F- AAS) và kỹ thuật không ngọn lửa (lúc này ta có phép đo GF- AAS) và kỹ thuật hoá hơi lạnh (MVU-AAS)

Phần 3 Máy quang phổ, nó thường là bộ đơn sắc, có nhiệm vụ thu, phân ly

và chọn tia sáng (vạch phổ) cần đo hướng vào nhân quang điện để phát tín hiệu hấp thụ AAS của vạch phổ

Phần 4 Hệ thống tín hiệu hấp thụ của vạch phổ (tức là cường độ của

vạch phổ hấp thụ hay nồng độ nguyên tố cần phân tích) Hệ thống này có thể là các trang bị:

+ Điện kế chỉ tín hiệu AAS + Bộ tự ghi để chỉ các pic hấp thụ + Bộ chỉ hiện số

+ Bộ máy in

+ Máy tính với màn hình để hiển thị dữ liệu, phần mền xử lí số liệu và điều

khiển toàn bộ hệ thống máy đo [5]

Ngày đăng: 05/02/2018, 12:24

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w