1. Trang chủ
  2. » Tất cả

TIỂU LUẬN VĂN HỌC TRUNG ĐẠI CUỐI KÌ.HƯƠNG.DOCX.

70 24 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 89,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Họ đã sáng tạo nên những tácphẩm mang âm hưởng, tâm tư, tình cảm của con người Việt Nam, vừa thể hiện bảnngã cá nhân đầy bản lĩnh của mình – đó là đặc trưng của tính chất bất quy phạmtro

Trang 1

A.PHẦN MỞ ĐẦU

1.Lí do chọn đề tài

Khép lại dòng văn học trung đại ắt hẳn mỗi trái tim bạn đọc tiếp nhận văn học đều

có một cảm xúc riêng biệt Bởi văn học trung đại là một giai đoạn quan trọng tronglịch sử văn học dân tộc và nhân loại bên cạnh văn học cổ đại và hiện đại Văn họctrung đại có những đặc trưng tiêu biểu làm nên giá trị trong suốt giai đoạn lịch sử.Tính quy phạm và bất quy phạm trong việc thể hiện tác phẩm văn học là đặc trưngnghệ thuật của văn học trung đại Việt Nam Tính quy phạm và bất quy phạm đượctuân thủ một cách chặt chẽ qua sáng tác của một số nhà thơ như: Nguyễn Trãi,Nguyễn Bỉnh Khiêm, bà huyện Thanh Quan Trong sáng tác của họ thường tuânthủ rất chặt chẽ những quy tắc về vần, nhịp thơ, giọng điệu, đề tài, chủ đề vì đây

là dòng văn chương chịu ảnh hưởng trực tiếp từ văn học Trung Quốc

Mặc dù chịu ảnh hưởng của văn học Trung Quốc nhưng qua thực tế cho thấy cácsáng tác của văn học trung đại đã vượt khỏi khuôn khổ quy phạm đem đến cho vănhọc một nội dung mới cả về nội dung lẫn hình thức Họ đã sáng tạo nên những tácphẩm mang âm hưởng, tâm tư, tình cảm của con người Việt Nam, vừa thể hiện bảnngã cá nhân đầy bản lĩnh của mình – đó là đặc trưng của tính chất bất quy phạmtrong nền văn học trung đại mà Hồ Xuân Hương là một đại diện tiêu biểu Tuy cóbước chân đến cửa Khổng Tử sân Trình nhưng ảnh hưởng của Nho học, về phươngdiện nhân sinh, cũng như về phương diện văn chương đối với nữ sĩ hầu như không

có Chính vì thế mà bà đã có những bức phá đối với bức thành đồng kiên cố củaniêm luật để tạo nên những vần thơ vừa mộc mạc, dân quê, gắn liền với cuộc sốngđời thường của người dân Việt Nam vừa thể hiện sự phóng túng, ngang tàng trong

Trang 2

cách thề hiện những khát vọng hạnh phúc đời thường của mình Và bà đả đượcmệnh danh là nhà thơ bất quy phạm nhất trong các nhà thơ bất quy phạm.

Không phải mỗi Hồ Xuân Hương mới có những vần thơ vượt qua khuôn khổ màcòn có các thi nhân tiêu biểu như: Nguyễn Trãi, Nguyễn Công Trứ, sau này cóNguyễn Khuyến Họ đã ý thức vượt lên trên để khẳng định giá trị của bản thânmình Những điều này người viết cũng đã được tìm hiểu trong quá trình học tậpnhững học phần có liên quan cũng như trong quá trình tự nghiên cứu nhưng sự tìmtòi, học hỏi đó chỉ dừng lại ở mức độ nhất định và hạn hẹp Bên cạnh đó, ở chươngtrình học trong trường phổ thông giáo viên cần phải dạy một số tác giả, tác phẩmliên quan đến đặc trưng về tính quy phạm và bất quy phạm mà thời gian học chomột tiết rất hạn hẹp không thể truyền thụ hết những kiến thức quan trọng Ngay cảgiáo viên và học sinh phải chạy đua với thời gian nên không thể bàn sâu hơn, đây

là một trong những lỗ hổng kiến thức cho các bạn học sinh ở trường phổ thông khitìm hiểu về đặc trưng này trong giai đoạn văn học trung đại Do đó, để có cái nhìntoàn diện hơn về đặc điểm của văn học trung đại cũng như muốn tìm hiểu về hồnthơ không chỉ mang tính uyên bác mà nó còn chứa đựng những vần thơ gần gũivới đời sống con người nên người viết chọn đề tài tính bất quy phạm trong thơ nômcủa Hồ Xuân Hương để khai thác Nhìn nhận để học hỏi, để trân trọng những gìông cha ta đã sáng tạo nên sự phong phú trong văn học cũng như để lấp những lỗhổng kiến thức để đủ tự tin khi đứng lớp sau này, bên cạnh đó cũng mong muốntrong quá trình tự nghiên cứu sẽ kiến giải được một số khúc mắc mà bấy lâu còndang dở

2.Lịch sử vấn đề

Hồ Xuân Hương là một trong những tác gia lớn có sức ảnh hưởng trong dòng vănhọc trung đại Việt Nam Cả cuộc đời và sự nghiệp của bà để lại cho hậu thế nhiều

Trang 3

giá trị hữu ích Vì vậy có rất nhiều nhà lí luận đã khai thác mọi vấn đề liên quanđến bà để có một cái nhìn toàn diện hơn Nhiều công trình tiêu biểu như vấn đềdâm và tục trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương, hình tượng người phụ nữ, tính cáchmạng trong thơ Hồ Xuân Hương Trong vấn đề về tính bất quy phạm trong thơcủa bà cũng đã có nhiều công trình chuyên luận khai thác cụ thể qua nhiều khíacạnh khác nhau như con người cá nhân bản năng, phong cách thơ, ngôn ngữ thơ

Hồ Xuân Hương Các công trình nghiên cứu nói trên đã góp phần hoàn thiện cáchhiểu chuẩn xác hơn về Hồ Xuân Hương và thơ bà Song, các bài viết chưa tậptrung khai thác rõ về tính bất quy phạm trong thơ bà Dựa vào những phát hiện vàtính bất quy phạm qua một số bài thơ tiêu biểu, người viết xin liệt kê một vài ýkiến đã được phát hiện trước đó

Thơ Hồ Xuân Hương, theo tinh thần đánh giá về tính bất quy phạm: “ Tính quyphạm và bất quy phạm là một trong ba đặc trưng lớn của nghệ thuật văn thơ trungđại”

Như vậy, tính bất quy phạm trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương chưa trở thành một đềtài khai thác của các nhà phê bình văn học, mà chỉ dừng lại ở những phát hiệntrong quá trình phân tích những bài thơ của nữ sĩ hoặc chỉ dùng để so sánh với biểuhiện tính bất quy phạm trong quá trình nghiên cứa các tác phẩm, tác gia khác Ví

dụ “ Biểu hiện tính quy phạm và bất quy phạm trong thơ văn Nguyễn Khuyến”

Trên cơ sở lịch sử vấn đề đã được phân tích ở trên, người viết sẽ cố gắng tìm tòi,phát hiện các biểu hiện tính bất quy phạm trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương để từ đó

Trang 4

phần nào khai thác hết sự lớn lao, táo báo trong tư tưởng; cái cụ thể, linh hoạt, tinh

vi trong suy nghĩ một cách rất phụ nữ; và cái độc đáo chỉ riêng mình thơ Hồ XuânHương có được

Đây chỉ là những bước đi ban đầu nên không thể tránh khỏi nhiều sai sót dù ngườiviết đã cố gắng trình bày ý tưởng, suy nghĩ của mình

3.Mục đích nghiên cứu

Góp phần tìm hiểu về tính bất quy phạm trong văn học trung đại Việt Nam nóichung và thơ văn Hồ Xuân Hương nói riêng Qua đề tài này người viết còn mongmuốn được lĩnh hội sâu sắc hơn một đặc trưng văn học trung đại Việt Nam và tìmhiểu về sự vận dụng tính bất quy phạm trong một tác giả cụ thể Góp phần tìm hiểunhững nhân tố ành hường đến đặc trưng này trong văn học trung đại cũng nhưtrong sáng tác của Hồ Xuân Hương Bên cạnh đó chỉ ra được sự kế thừa và sángtạo của Hồ Xuân Hương trong mối tương quan với các tác giả văn học trung đạiViệt Nam

Góp phần giải quyết được yêu cầu về nội dung, hình thức, phương pháp và nhữngvấn đề quan tâm nghiên cứu

Là một giáo viên trong tương lai nên việc tìm hiểu về tính bất quy phạm trong thơvăn Hồ Xuân Hương là một điều rất cần thiết và sẽ là một tài liệu quý báu giúpngười viết rất nhiều trong công tác giảng dạy sau này Ngoài ra, trong quá trìnhthực hiện đề tài người viết mong muốn trang bị kiến thức về phương pháp nghiêncứu khoa học, tập làm quen với việc nghiên để hỗ trợ cho việc nghiên cứu đề tàikhác ở cấp độ cao hơn

4.Phạm vi nghiên cứu

Trang 5

Về phạm vi nghiên cứu: trong giới hạn quy định của đề tài, người viết sẽ nghiêncứu tính bất quy phạm trong thơ nôm Hồ Xuân Hương xét về quan niệm ý thứcnghệ thuật và xét về phương thức sáng tác Để bám sát vào đề tài, người viết khảosát thơ chữ Nôm trong sáng tác của Hồ Xuân Hương.

Về phạm vi tư liệu: Người viết dựa vào những tư liệu đã chọn lọc liên quan đến đềtài nghiên cứu và chủ yếu là các quyển:

Bên cạnh đó, người viết còn tham khảo thêm một số tác giả và tác phẩm trong giaiđoạn văn học trung đại như: Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du,Nguyễn Khuyến, để đối chiếu, nhận định làm nổi rõ vấn đề khi thực hiện đề tài

5.Phương pháp nghiên cứu

Qua quá trình tìm hiểu đề tài, khảo sát và chọn lọc tư liệu tiêu biểu từ các côngtrình nghiên cứu về Hồ Xuân Hương, người viết tiến hành những phương pháp sau

để giải quyết vấn đề:

Phương pháp thống kê: nhằm phân loại, sắp xếp tài liệu có nội dung liên quan đến

đề tài giúp cho việc minh họa, dẫn chứng dễ dàng

Phương pháp phân tích và chứng minh: để người đọc thấy được luận điểm, nhậnđịnh của người viết đưa ra hoàn toàn là hợp lí với đề tài

Phương pháp so sánh: So sánh thơ của Hồ Xuân Hương với những tác phẩm củacác nhà thơ trung đại để thấy thơ bà có sự kế thừa, sáng tạo và phá cách rất riêng.Phương pháp tổng hợp: là phương pháp tập hợp, chọn lọc, tổng hợp tài liệu để giảiquyết vấn đề

6.Bố cục

Trang 6

Ngoài phần dẫn nhập và phần kết luận.Thì phần nội dung gồm có hai chương:Chương 1: Một số vấn đề chung

Chương 2: Những biểu hiện tính bất quy phạm trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương

Trang 7

B.PHẦN NỘI DUNG

Chương 1: Một số vấn đề chug

Trong dòng chảy của văn học dân tộc từ trung đại cho đến hiện đại thì văn họctrung đại chiếm giữ một vị trí rất quan trọng Bản thân văn học trung đại có nhữngđặc trưng tiêu biểu, dễ nhận diện và phân biệt với các văn học trước nó hoặc sau

nó Chính sự khác biệt đó làm nên giá trị cho văn học trung đại Việt Nam suốt mộtgiai đoạn lịch sử Một trong những đặc trưng tiêu biểu làm nên diện mạo cho sựthành công của văn học trung đại cũng như thành công nhất định cho tác giả vănhọc không thể không kể đến tính bất quy phạm trong việc thể hiện tác phẩm vănhọc ở phương diện nội dung và nghệ thuật

1.Cơ sở lí luận

1.1Khái niệm bất quy phạm

Trước hết, muốn hiểu thế nào là bất quy phạm thì phải hiểu khái niệm quy phạmnhư thế nào Về khái niệm quy phạm có nhiều quan điểm khác nhau:

150 thuật ngữ văn học [1] của Lại Nguyên Ân: Quy phạm nghệ thuật là khái niệmchỉ hệ thống những biểu trưng và ngữ nghĩa nghệ thuật được quy chuẩn, cố địnhhóa Ông còn cho rằng quy phạm nghệ thuật có vai trò to lớn đối với những thờiđại văn hóa được tổ chức nghiêm ngặt chủ yếu là văn học cổ đại và trung đại trướcchủ nghĩa lãng mạn [1, tr 277]

Trang 8

Đại từ điển Tiếng Việt thì có cách định nghĩa ngắn gọn hơn: quy phạm là điều quyđịnh chặt chẽ, đòi hỏi phải tuân thủ [28, tr 457]

Thi pháp văn học trung đại Việt Nam [23] cho quy phạm là sáo ngữ, công thứctrong trần thuật, miêu tả, định danh; sử dụng chất liệu ngôn ngữ cao quý, đầy hoán

dụ, ví von, định nghĩa nghệ thuật làm cho lời văn mĩ lệ và tính nghi thức đòi hỏimiêu tả từng loại nhân vật phải tuân theo yêu cầu của nhân vật ấy [18, tr 61] Ôngcòn nêu ra một số tiêu chí trong cách miêu tả nhân vật trong văn chương trung đạinhư miêu tả vua, chúa, Phật phải như thế nào, nông dân, phu sĩ như thế nào nhấtnhất đều có quy tắc nhất định

Đặc trưng văn học trung đại Việt Nam [27] cho rằng quy phạm là những quy địnhbảo đảm một nơi nào đó hoạt động có tổ chức, nề nếp, đạt hiệu quả cao Nó là mộtbiểu hiện của văn minh, văn hóa của mỗi người, ở mỗi cộng đồng , ở cả một xãhội Dùng thuật ngữ thời xưa thì nó là biểu hiện của chữ lễ [27, tr 227]

Tóm lại, tính quy phạm trong văn học trung đại đó là công thức, một khuôn mẫubắt buộc những nhà thơ, những người sáng tác văn học phải tuân theo một cáchnghiêm nghặt Tính quy phạm đó quy định về nội dung, hình thức thể hiện mộtcách cụ thể cho từng thể loại văn học nhất là đối với những thể loại dùng trong thi

cử mà các sĩ tử cần phải học thuộc

Tuy nhiên, trong quá trình sáng tạo văn học, ông cha ta đã không tuân thủ theonhững quy định đó một cách rập khuôn, cứng nhắc mà có sự sáng tạo bằng cách

Trang 9

dần dần phá vỡ tính quy phạm tạo nên một đặc điểm mới đi song song với tính quyphạm là bất quy phạm trong văn học.

Bất quy phạm là cái ngược lại với tính quy phạm Nếu quy phạm là sự bắt buộctuân theo một quan niệm, một cấu trúc truyền thống thì tính bất quy phạm là cáivượt lên trên những yếu tố đó Tức là việc phá vỡ các tính chất quy phạm đã đượcquy ước do tư tưởng phóng túng và năng lực sáng tạo của người nghệ sĩ

Bất quy phạm trong văn học trung đại Việt Nam được hình thành qua quá trình tiếpnhận văn học Trung Quốc mà qua quá trình sáng tác văn học đã để cho hồn thơ,hồn văn của mình được tự do bay bổng

Đặc trưng văn học trung đại Việt Nam [27] viết về tính bất quy phạm trong thơ,ông đã dẫn ra thể loại thơ Đường khi đã được đưa vào thi cử, nó càng trở nên cótính chất quan phương ( )

1.2.Cơ sở tạo nên tính chất bất quy phạm trong thơ nôm Hồ Xuân Hương

1.2.1Thời đại

Có thể nói đây là giai đoạn đen tối nhất của lịch sử dân tộc Giai cấp phong kiến,

bè lũ thống trị đã đi ngược lại đạo lý của dân tộc, bộc lộ tính chất thối nát suy đồi

Xã hội loạn lạc, nhà nhà long đong, dân chúng điêu đứng cùng cực Cuộc nội chiến

Lê – Trịnh rồi Trịnh – Nguyễn phân tranh kéo dài liên miên Con sông Gianh hiền

Trang 10

hòa vô tội bỗng chốc trở thành lưỡi gươm cắt đôi đất Việt không cần lặp lạinhiều, một vài trang “ Hoàng Lê nhất thống chí”cũng đủ miêu tả lại hững cảnhloạn lạc, rối ren ấy.

Các cuộc khởi nghĩa của nông dân nổ ra khắp nơi và liên tục, đỉnh cao là cuộc khởinghĩa giành thắng lợi của người anh hùng ao vải Quang Trung – Nguyễn Huệ Tiếcrằng triều đại Tây Sơn tồn tại không bao lâu Nguyễn Ánh lên ngôi ngay sau khiNguyễn Huệ mất và một triều đại phong kiến khác bội phần phản động lại tròngvào cổ nhân dân Các cuộc đấu tranh của nhân dân vẫn tiếp tục, tuy âm thầm màquyết liệt, mạnh mẽ Con người đấu tranh bằng mọi cách, trong đó có đấu tranh ,phản kháng lại bằng văn học Họ dùng văn học để phản ánh cuộc sống với bối cảnhlịch sử đầy biến động, và điều đò hẳn nhiên cũng có tác động ảnh hưởng đến quátrình sáng tác của Hồ Xuân Hương

Cộng thêm tư tưởng ngoại lai du nhập vào nước ta khiến cho ý thức cá nhân conngười được nảy sinh Con người đã lờ mờ nhận ra được cái bản ngã của mình Họbắt đầu mạnh dạn đấu tranh cho khát vọng sống, quyền được sống, quyền tự dotình cảm, tự do yêu đương Các bài thơ Nôm của Hồ Xuân Hương đều bừng lênmột ngọn lửa đấu tranh, ngọn lửa khao khát ấy

Nghề in trở thành một nghề kiếm tiền Các “tài tử” ra đời thay thế các quân tử,trượng phu – những người độc chiếm văn đoàn trước đây Các tài tử ấy học đạothánh hiền nhưng suy nghĩ theo lối thị dân Con người tài tử là điển hình mới củathời đại Con người quân tử bị chế giễu, đạo đức sống “ khắc kỷ phục lễ” bị dè bỉu

Trang 11

Có thể nói thời đại phong kiến suy tàn đã kéo theo sự sụp đổ của Nho giáo Ý thức

hệ phong kiến và Nho giáo sụp đổ khiến cho những lễ giáo, luân lý không cònđược coi trọng như trước Các bài tam tự kinh, thuyết Khổng Mạnh chằng còn baolâu giá trị Ý thức cá nhân trỗi dậy, vượt lên trên ý thức hệ phong kiến Con ngườibắt đầu đóng vai trò là một cá nhân, tuy chưa phải là cá nhân tư sản nhưng chắcchắn không còn là con người của công xã nông thôn, của trật tự phong kiến.Khikhông lọt mắt điều gì, họ có thể phản kháng mạnh mẽ Hồ Xuân Hương cũng đãtừng quát lên: “ Chém cha cái kiếp lấy chồng chung” hay “ Cha kiếp đường tu saolắt léo” Hồ Xuân Hương cũng đã từng chịu sự ảnh hưởng của thời đại, XuânHương làm như các tài tử đương thời như Phạm Thái “ Dù cả trần gian sống mãichi?” ; Nguyễn Công Trứ: “ Đéo mẹ nhân tình đã biết rồi”

Những điều đó được cho là “ quy phạm” , là “vô ngã” , “cao nhã” đều trờ thành bấtquy phạm, hữu ngã và bất cao nhã Những câu thơ, phú, câu văn gần như khôngcòn tính quy phạm mẫu mực nữa Xuân Hương cũng hồ hởi, táo báo vượt ra cáiquy phạm thời cổ đó ở cách dùng từ, dùng câu, dùng luật; mà có người đã cho rầngthơ Hồ Xuân Hương “ nổi loạn”

Lúc này chủ nghĩa nhân đạo xuất hiện, trở thành một trào lưu Có thể nói hầu nhưtât cả các tác phẩm tiêu biểu của văn học chữ Nôm đều tập trung vào vấn đề conngười, đề cao con người và cuộc sống trần tục phê phán những thế lực phng kiếnchà đạp con người, đấu tranh với mọi thế lực đen tối, phản động của xã hội phongkiến để khẳng định giá trị chân chính của con người Các nhà văn, nhà thơ giaiđoạn này không còn đứng trên lập trường đạo đức phong kiến để phê phá nhữnghiện tượng phi đạo đức, mà chủ yếu đứng trên lập trường nhân sinh để tố cáo

Trang 12

những gì phản nhân sinh, đi ngược lại sự tiến hóa, phát triển của cuộc sống Tronggiai đoạn văn học này, thì hình ảnh người phụ nữ là hình ảnh thành công nhất.

Đúng như người ta thường nói: “ Hoàn cảnh làm nên lịch sử, lịch sử nảy sinhnhân tài” Có thể nói chính cái thời đại rối ren, thối nát, đầy rẫy bất công trớ trêu

đó đã đâp vào mắt Xuân Hương Tư tưởng nhân văn, nhân đạo chủ nghĩa thấmnhuần trong văn học ; tiếng nói bản ngã lớn tiếng đánh thắng dần tiếng nói đại ngã

đã thấm nhuần vào tim nữ sĩ góp phần làm nên một Xuân Hương táo bạo và độcđáo Hồ Xuân Hương đã đón lấy từ luồng gió của thời đại lòng yêu sâu sắc cuộcsống, khát vọng cháy bỏng về tình yêu, nhận thức về người phụ nữ với vai trò , tàitrí, đạo đức vv Dĩ nhiên thơ Hồ Xuân Hương tiếp thu với sự sàng lọc, với cá tínhcủa mình Thơ Nôm của bà có tính chất bất quy phạm bởi mặt chủ quan, bà làngười có tài, có cá tính mạnh mẽ, tự ý thức được về cái tôi cá nhân và đồng cảmsâu sắc với nỗi khổ của người phụ nữ Nhưng về mặt khách quan, bà đã được sinh

ra trong thời đại có nhiều biến động dữ dội, mâu thuẫn gay gắt Tư tưởng XuânHương chịu sự chi phối của thời đại, cũng như thời đại đã ảnh hưởng đến thơ XuânHương

Lịch sử Việt Nam luôn tràn ngập trong cuộc chiến tranh và kiếp sống nô lệ Hơn

1000 năm đô hộ của giặc Tàu, điều đó ảnh hưởng rất sâu sắc đến nền văn minh vănhóa của một đất nước nông nghiệp Các bậc cha ông sinh ra trong thời kì đất nướcphải gánh chịu những luật lệ nghiêm nghặt của lễ giáo.Những quy định của Nhogia ấy đã trở thành nếp nghĩ, và trở thành nguyên tắc trị nước Trên tất cả các lĩnhvực người Việt Nam đều bị đồng hóa theo và những tên hôn quân cũng dựa vào đólàm lí luận cho thuyết cương thường danh giáo, hay như khuynh hướng phục cổthủ cựu.Sống trong xã hội ngột ngạt với đủ mọi điều khuôn phép, thơ văn ít nhiều

Trang 13

có phần bị khô khan đó cộng với khi đất nước có những bước chuyển mình vĩ đại,ngày càng tiến bộ hơn thì đã có những nhà văn, nhà thơ đã bức phá và đứng lên đểkhẳng định lại chính bản thân mình Họ nhận ra rằng nếu cứ theo những quy địnhsẵn thì họ sẽ bị thui chột về tài năng và tự do bị hủy diệt Đó là các nhà thơ, nhàvăn tiêu biểu như Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, đặc biệt là

Hồ Xuân Hương

Các nguyên tắc thi cử của chế độ phong kiến rất hà khắc với những luật lệ rấtnghiêm ngặt đã hình thành trong ý thức của các sĩ tử lối học từ chương, thóichuộng hư văn một ngày một tệ, theo một công thức định sẵn Trước tình hình đó,cùng với sự vận động theo hướng đi lên của lịch sử, dần dần có những cá nhânkhông chịu sống trong khuôn phép với những luật lệ hà khắc, bó buộc như vậycùng với bản lĩnh và tài năng của mình họ đã phá vỡ những khuôn mẫu định sẵn

đó, sáng tạo những vần thơ có ý nghĩa và dạt dào giá trị nhân văn

Mặt khác, đối với các sĩ tử ở thời kì này, công ba năm đèn sách dùi mài kinh sử làphải thao thao bất tiệt tứ thư ngũ kinh từ thuở nhỏ, phải nghiêm chỉnh chấp hànhnhững luật lệ trong thi cử để tránh phạm húy, nếu không sẽ bị tránh trượt hoặc bịxem là thư văn tầm thường không được coi trọng Nhưng trong lịch sử văn học vẫn

có một số nhà thơ đã vượt ra khuôn khổ trong kì thi và bị đánh trượt( Bản thân làngười thông minh, học giỏi, bản lĩnh ngay thuở nhỏ, nhưng Cao Bá Quát vẫn bịtránh trượt trong các kì thi Và chắc rằng không phải vì bất tài không thi đỗ mà vìông vốn là người tự do, phóng túng nên không chịu viết văn theo khuôn phép củatrường thi)

Trang 14

Văn chương nước ta chịu ảnh hưởng của văn chương Trung Quốc lâu đời.Các văn

sĩ Trung Quốc xưa quy định cho văn chương một cái mục đích giáo huấn, nghĩa làmuốn dùng văn chương để răn người đời, bởi vậy trong thơ văn, thường khi nóiđến cương thường, đạo nghĩa hoặc tả thế thái, nhân tình cũng nhiều khi nói đến áitình, nhưng chủ ý để khuyên răn người đời hơn là tả những cuộc tình éo le, trắc trở.Lịch sử của Việt Nam là lịch sử của những biến cố và chìm ngập trong cảnh nô lệ,

áp bức hơn một ngàn năm dưới chế độ đô hộ của Phương Bắc Chịu một khoảngthời gian bị đồng hóa dân tộc, chính vì thế, văn chương của ta đặc biệt là giai đoạnvăn học trung đại chịu ảnh hưởng nhiều của văn chương Trung Quốc về cả hìnhthức lẫn nội dung Đặc biệt là thơ Đường có một ảnh hưởng rất sâu đậm Mặc dùthanh thế thơ Đường ở nước ta xưa nay bao giờ cũng lớn nhưng vì cái học khoa cử,những bài thơ kiệt tác ngâm đi giảng lại hoài gần như vô nghĩa Nó chỉ còn là cáimáy để đúc ra hàng vạn bài thơ dở Đến khi khoa cử bỏ, chữ Nho không còn là conđường tiến thân Song thiếu niên Tây học vẫn có người xem sách nho, họ chỉ cốttìm nguồn sống tinh thần Họ đi tới thơ Đường với một tấm lòng trong sạch và mới

mẻ, điều kiện cần thiết để hiểu thơ Cho nên dầu dốt nát, dầu nghĩa câu nghĩa chứlắm khi họ rất mờ, họ đã hiểu thơ Đường hơn nhiều khoa tay bảng Hồn thơ Đườngvắng đã lâu, nay lại trở về trong thơ Việt Nam (Thi nhân Việt Nam)

Điều đó chỉ có thể giải thích được bởi giá trị tuyệt mĩ của thơ Đường và bởi sựtương đồng trong tâm thức văn hóa giữa hai dân tộc Phương Đông Và quan trọng

là sự tiếp thu văn hóa của ông cha ta xưa nay không theo khuôn mẫu một cáchcứng nhắc Các bậc tao nhân luôn biết mình cần học hỏi, gạn lọc những gì phù hợpvới thuần phong mĩ tục, còn những thứ không phù hợp thì bài trừ nó ra Khôngdừng lại ở việc tiếp thu, ông cha ta luôn mày mò, nghiên cứu sáng tạo và phá cáchlàm cho thơ văn mình thêm phần độc đáo dựa trên những gì học hỏi được từ nước

Trang 15

bạn Điều này đã làm nên tính bất quy phạm trong văn học trung đại Việt Nam giaiđoạn đó.

1.2.2 Bản thân Hồ Xuân Hương

Như trên đã nói, thời đại là nhân tố ảnh hưởng không nhỏ đến cái nhìn, thái độ, tưtưởng trong tính bất quy phạm của thơ Hồ Xuân Hương Thơ Xuân Hương vô cùngđộc đáo, cả về nội dung lẫn nghệ thuật, mang đậm nét cá tính sáng tạo Trong tâmthức của chúng ta Xuân Hương luôn xứng danh là “ Bà chúa thơ Nôm” và bà cònđược mệnh danh là nhà thơ bất quy phạm nhất trong những nhà thơ bất quy phạmtrong văn học trung đại lúc bấy giờ Nhưng cái nhìn, thái độ, tư tưởng, tính bất quyphạm trong thơ bà, ngoài yếu tố thời đại, yếu tố quyết định cuối cùng phải là tínhcách con người Xuân Hương

Về tiểu sử của Hồ Xuân Hương còn có nhiều ý kiến khác nhau Theo tài liệunghiên cứu mới đây nhất và tin cậy nhất của ông Đào Thái Tôn thì Hồ XuânHương thuộc dòng dõi họ Hồ, một trong ba họ đã có công xây dựng làng QuỳnhĐôi Đây là họ có rất nhiều người đỗ đạt cao, làm quan to, góp nhiều công trạnglớn cho đất nước Thân sinh Hồ Xuân Hương là cụ Hồ Phi Diễn Chính nhờ gốcgác, nhờ truyền thống hay chữ của gia đình nên Xuân Hương từ bé đã được họcchữ Nho, chữ Nôm Đây là nền tảng cơ bản đầu tiên cho những đóng góp của bàvào nền văn học Việt Nam

Sinh thời, nữ sĩ chủ yếu sống với mẹ Thời con gái, Xuân Hương đã nổi tiếng lémlỉnh, thông minh và có tài thơ kiệt xuất Thơ Hồ Xuân Hương chứng tỏ nàng là côgái khá năng động và cuộc sống không quá khó khăn nên có điều kiện tiếp đãikhách, du lãm nhiều nơi Cá tính và phong cách sống ấy in đậm dấu ấn trong thơ

Trang 16

Xuân Hương tạo nét riêng rất độc đáo, phóng khoáng trong khu rừng tịnh mịch củavăn chương phong kiến.

Dựa vào những giai thoại và những cứ liệu về Hồ Xuân Hương ở “ Cổ nguyệtđường” chứng tỏ nàng sống chủ yếu ở nơi thị thành( phường Khán Xuân, gần HàNội) Tuy nhiên, nữ sĩ khá am hiểu cảnh trí, công việc, sinh hoạt, con người nơithôn dã Điều đó tác động sâu sắc đến nhân sinh quan, thế giới quan của thơ bà.Thơ mang nội dung chủ yếu là cuộc sống đời thường của những con người bìnhthường với những ngôn ngữ giản dị, mộc mạc mà chân thật, sâu sắc Đó cũngchính là những biểu hiện rõ nét của tính bất quy phạm trong thơ bà

Mặc dù, Xuân Hương rất tài hoa và đa tình nhưng cuộc đời gặp nhiều éo le, trắctrở, lận đận về đường tình duyên ( phải chịu làm lẽ đến hai lần: làm lẽ Tổng Cốc,tri phủ Vĩnh Tường) nên điều ấy thể hiện trong thơ rất rõ ở tính bất quy phạm củathơ bà Nó thể hiện khát vọng được sống, được yêu, được hạnh phúc Cuộc đờichẳng được như ý nên mọi sự vật, hiện tượng đi vào thơ Xuân Hương đều trở nênphá cách, hơn người, cá biệt và rất ấn tượng, tạo nên phong cách bất quy phạm rõnét trong thơ bà

Không khí u tối, bế tắc của gia đình, xã hội trong chế độ phong kiến đã đè nặng lênthân phận đáng thương của người phụ nữ Xuân Hương thấu rõ mọi áp lực chèn ép

ấy nên bà lớn tiếng bênh vực, ngợi ca phụ nữ, thức tỉnh cho họ thấy vị trí, giá trịngang tầm vũ trụ, ngang với đấng sáng tạo của mình Con người Xuân Hương, bãnlĩnh Xuân Hương, tính bất quy phạm trong thơ bà khiến cho thơ bà có tầm vóc vũtrụ là vì thế!

Trang 17

Đời tư Xuân Hương lắm bất hạnh nhưng không vì thế mà bà chịu bó gói, cam phận

“già tom” một cách phí hoài Bà ngao du sơn thủy, tìm đến những không giankhoáng đạt, tươi đẹp của thiên nhiên, của đất trời và tạo vật Những hình ảnh cụ thể

đó đi vào văn học dưới ngòi bút của Hồ Xuân Hương thật sống động, tràn trề nhựasống như chính cuộc sống của bà

Song, ở đâu, cảnh vật cũng gợi lên những cảnh chướng tai gai mắt của xã hộiphong kiến thối nát bóp nghẹt con người Thế là đằng sau những bức tranh thiênnhiên rất đẹp, rất thực,rất sống động ấy còn có nhiếu bức tranh của những hànhđộng, lên án đòi duy trì sự sống tự nhiên của con người một cách thật khéo léo, tàitình mà không thô tục, nhảm nhí

Hơn nữa, vốn thuộc tầng lớp trung lưu lớp dưới, Xuân Hương chịu nhiếu sự thiệtthòi, áp bức mà đối với những con người mang nặng tư tưởng tích cực, mới mẻ thì

áp lực chế độ với Xuân Hương lại trở thành nặng nề một bậc nữa Bà thấy hếtnhững xấu xa của xã hội đầy đọa con người, đặc biệt là người phụ nữ nên thơ bà tựnhiên mà vượt ra khỏi những quy định nghiêm ngặt, thể hiện rất phóng khoáng, tựnhiên mà ngầm chứa những quả bộc phá trong từng câu, từng chữ Như vậy, nghệthuật tính bất quy phạm đã đưa ngòi bút của bà trở thành ngọn giáo sắc bén chốnglại chế độ phong kiến thối nát lúc bấy giờ Mũi nhọn đấu tranh mà bà chĩa vào là lễgiáo, là đạo đức phong kiến giả dối kìm hãm, chèn ép người phụ nữ về mọi mặt

Xuân Hương sống trong thời kì phá sản của chế độ phong kiến nên bà trông thấymọi sự thối nát, bất công do chế độ phong kiến đương thời đẻ ra Vì thế mà thơ văncủa bà không thể không bất quy phạm

Trang 18

Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử hạn chế, Xuân Hương không sao tìm được biệnpháp để chấm dứt tình trạng thối nái nói trên Vì vậy, thơ bà trong cái tích cực vẫncòn bị hạn chế là vì thế Bà lớn tiếng chửi, chửi thẳng, chửi xiên bọn vua quan- đạidiện cho giai cấp thống trị phong kiến, bọn bất tài vô dụng, bọn đàn ông hèn hạ tựchui rúc lánh đời trốn chùa chiền, cung điện nhằm tìm cái an nhàn, thỏa mãn cáidục thú của cá nhân Bà căm ghét chế độ nam tôn nữ ti nên bà ước ao trở thành đànông để tạo sự nghiệp hơn hẳn Sầm Nghi Đống, để cải tạo xã hội, để bênh vựcnhững người phụ nữ tài hoa như bà Nhưng Xuân Hương không ý thức được rằng:

“ Chế độ phong kiến vào thời kỳ cuối của nó là một cái máy nghiền khổng lồ, tànnhẫn nó đã làm nát nhừ biết bao cá tính, không phân biệt cá tính ấy thuộc giới tínhnào”

Tính bất quy phạm mà Hồ Xuân Hương vận dụng, thể hiện trong thơ chính lànhằm tố cáo, lên án hiện thực của chế độ phong kiến rệu rã bóp nghẹt con người

Do đó, dù có khi nói về khát vọng, về quyền sống của con người; hay miêu tả cảnhđẹp quê hương đất nước; cuộc sống tù hãm của người phụ nữ thì bà vẫn lồng vào

đó những giọng điệu chua chát, đả kích, những vần thơ mà bọn đạo đức giả cho làdâm là tục, là trái đạo lý, trái quy định để đại diện cho lời ăn tiếng nói của ngườibình dân đánh thẳng vào giai cấp thống trị đê hèn, thối bát

Thân thế, cuộc đời, tài thơ bẩm sinh và bản lĩnh sống của Hồ Xuân Hương đã thúcđẩy ngọn bút mang đầy tính bất quy phạm một lần nữa lên tiếng, đấu tranh quyếtliệt, góp phần tích cực tạo nên thành công vang dội cho thơ bà

Tóm lại, ta có thể nhấn mạnh rằng thời đại và con người là hai yếu tố góp phầnquan trọng làm cho thơ Xuân Hương mang đậm nét đặc trưng tính bất quy phạm.Song yếu tố quyết định cuối cùng vẫn là tính cách của con người bà Chính cá tính

Trang 19

của Hồ Xuân Hương đã làm cho thơ bà có phong cách riêng, được lưu truyền chotới bây giờ.

Chương 2: Biểu hiện tính bất quy phạm trong thơ Hồ Xuân Hương

Đối với văn học trung đại Việt Nam nói chung và thơ Hồ Xuân Hương nói riêng,tính bất quy phạm được thể hiện trên nhiều phương diện Dưới đây là các phươngdiện cơ bản:

1.Bất quy phạm về đề tài

Thời trung đại tính chất chất cao quý, chính thống từ nguồn gốc, quan niệm sángtác và sinh hoạt thơ văn xưa được đề cao Đề tài phải phù hợp với tính chất caoquý Nó có thể được lựa chọn từ những đề tài công thức Mục đích chính của loại

đề tài này là bàn bạc về nội dung tác phẩm kinh điển Nho gia, phát biểu nhữngquan niệm về chính trị, đạo đức, triết học, thẫm mĩ dựa trên nền tảng học thuyếtNho giáo Phải là chuyện quốc gia đại sự, là thế thái nhân tình, là thành tích lớn laocủa vua này chúa nọ, là quan hệ vua tôi, cha con, quân dân, là đạo lí làm ngườitheo lí tưởng cao cả Tư tưởng Nho gia trong những tác phẩm của Nguyễn ĐìnhChiểu minh họa rất rõ cho những điều này Đó là những mẫu hình Nho gia vớinhững biểu hiện của con người như: đi, đứng, ăn, nói, ứng xử đúng theo chuẩnmực của xã hội phong kiến quy định

Cũng có khi các thi sĩ sử dụng loại đề tài có tính chất tập cổ tức là những đề tàiđược lấy từ các tác phẩm văn chương mang tính mẫu mực của người Trung Quốcnhư: “ Kinh thi” , “ Ly tao” , “thơ Đường” Loại đề tài này thường đề cập tới cảnhnúi sông hùng vĩ, chùa chiền u tịch, đêm trăng chiều gió, tài tử giai nhân Do đó

Trang 20

văn chương trung đại sử dụng không mòn những loại đề tài ít di dịch: cảm, thuật,hoài, hứng, vịnh, ngâm, tặng, đề, tán, tiễn, tống, biệt, điếu, vãn Phú, văn xuôi,truyện kí, tiểu thuyết cũng chọn đề tài trang nghiêm “ Phú sông Bạch Đằng” , “Phú sen trong giếng ngọc”, “Lĩnh Nam chích quái” , “ Hoàng Lê nhất thốngchí” là những tác phẩm mà mới chỉ nghe tên mà ta có thể thấy chất cao quý,trang nghiêm của đề tài.Các loại văn xuôi triều đình, tôn giáo, bia, minh, liễn đốitrong hội tang, chay đều mang tính nghiêm chỉnh, thanh nhã Đề tài của tuồngthường mang chất bi hung Riêng chèo đôi lúc lại có đề tài mang chất dân gian nơithôn xóm Như vậy khi các tác phẩm văn học được viết bằng chữ Hán thì tính quyphạm được đảm bảo.

Nhưng khi đến với chữ Nôm, tiếng Việt thì tính chất bất quy phạm xuất hiện Nếugiai đoạn thượng kì, đề tài sáng tác ngâm vịnh chủ yếu là vua quan mai, lan, cúc,trúc, hay ngư, tiều, canh mục thì đến giai đoạn hạ kì, đề tài được mở rộng thêmnhiều theo hướng tự do, phóng khoáng, dần phá vỡ những gì quy định từ trước TúXương, Hồ Xuân Hương, Phạm Thái là những tác giả có biểu hiện phá cách rõnhất Những con người tầm thường, những sự vật tầm thường được đưa vào vănhọc

1.1.Thơ Hồ Xuân Hương ngời sáng những hình ảnh, những nét chấm phá về cảnh sắc thiên nhiên và tạo vật.

Thiên nhiên trong tác phẩm văn học không đơn thuần chỉ là cảnh của cuộc sốnghiện thực, mà nó đã được tái tạo lại với bàn tay và cảm quan kỳ diệu của ngườinghệ sĩ Nói một cách khác, thiên nhiên đã nhuốm màu sắc chủ quan của sự sángtạo Nó phụ thuộc vào cảm thụ của nhà nghệ sĩ trước cảnh vật và cảm thụ tronghoạt động sáng tạo : “Dẫu sao tỉ trọng vẫn nặng về phía các cảm thụ cụ thể đanglàm xúc động tâm hồn chúng ta một cách mới mẻ và mãnh liệt, nhất là các cảm thụ

có được từ môi trường thị giác và thính giác với vô số sắc thái phong phú và âm

Trang 21

hưởng sâu rộng trong lĩnh vực xúc động tình cảm” Cũng giống như sự tiếp nhậncủa độc giả với tác phẩm văn học, người nghệ sĩ cảm thụ thiên nhiên bằng tiếnglòng tinh tế nhất và do đó thiên nhiên thường mang tình cảm, tâm trạng của ngườinghệ sĩ.

Sự tiếp thu về thể loại của thơ Đường luật đã khiến thiên nhiên trong văn học trungđại chịu ảnh hưởng cách nhìn thiên nhiên theo phong vị thơ Đường Đó là nhữngbức tranh thủy mặc nhẹ nhàng, thanh thoát, trầm buồn với những đường nét, màusắc, hình khối hài hòa Thiên nhiên trong quan niệm của văn học trung đại đượcnhìn ở góc độ gần- cận cảnh, xa- viễn cảnh, từ gần đến xa hoặc ngược lại Mà nóitheo ngôn ngữ điện ảnh, nó được quay từ camera- đôi mắt của người nghệ sĩ

Điều này thể hiện rất rõ qua một số bài thơ:

“ Đầu nhà khói tỏa lồng sương bạc

Sườn núi chim gù ẩn lá xanh

( Vịnh năm canh – Hồng Đức Quốc Âm thi tập- Lê

Thánh Tông)

Một bức tranh hài hòa giữa thiên nhiên và con người “ Khói tỏa lồng sương bạc” –cuộc sống và thiên nhiên, con người và tạo vật hòa quyện vào nhau Đường nét rấtnhẹ, khói trắng và màu xanh của rừng núi cho con người ngắm cảnh một sự êmdịu, yên bình

“ Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn

Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn ”

( Chiều hôm nhớ nhà- Bà Huyện Thanh Quan)

Trang 22

Một buổi chiều lặng lẽ, lắng đọng và dư vang Nắng nhạt dần và tắt hẳn, bónghoàng hôn trải rộng xa gần lấn dần rồi xóa mờ những tia nắng cuối cùng Tiếng tù

và lẫn tiếng trống thu không từ một đồn binh xa nào đó dồn về báo hiệu ban ngày

đã hết Bức tranh được nhìn từ xa, và mang nặng nỗi lòng của người lữ khách

Hay như Tam Nguyên Yên Đỗ, mặc dù thiên nhiên trong thơ mang vẻ đẹp bình dị,hồn hậu của làng quê Việt Nam song nó vẫn không tránh khỏi ảnh hưởng của thơĐường Cảnh vẫn được nhìn từ xa – viễn cảnh, vẫn là những đường nét phác họanhẹ nhàng với nghệ thuật tượng trưng, ước lệ, và thiên nhiên thì ôm ấp mối tìnhcủa người ngắm cảnh

“ Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao, Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu

Nước biếc trông như tầng khói phủ, Song thưa để mặc bóng trăng vào.”

( Thu Vịnh – Nguyễn Khuyến)

Điều này thật khác biệt đối với thiên nhiên trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương : thiênnhiên được nhìn cận cảnh, trực tiếp qua những cảm nhận trực giác của con người.Điều khác biệt này tạo nên sự hứng thú khi người đọc tìm đến với đề tài thế giớithiên nhiên trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương

Trang 23

1.1.1Thiên nhiên trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương chủ yếu được cảm nhận bằng thị giác

Đôi mắt nhà thơ quan sát rất kỹ, rất tinh từ những sự vật nhỏ nhất như : cỏ, rêu đến những thứ lớn hơn như : hang động, kẽm, đèo ; từ những sự vật dễ nắm bắtnhất như : ốc nhồi, quả mít, cái quạt, giếng nước đến những sự vật vô hình nhưgió, trong suốt như nước Trong mảng thơ Nôm của mình, Xuân Hương cókhoảng 28/40 lần phóng đôi mắt tinh nhạy vào thiên nhiên Nữ sĩ nhìn thấu hiệntượng, bản chất của sự vật, cảm thụ tinh tế ngay cả những rung động nhỏ nhất,những trạng thái vận động kì lạ nhất : khua lắc cắc, vỗ phấp phòm, uốn éo, cheoleo Đôi mắt đó không dừng lại ở những đường nét, màu sắc nhẹ của tranh thủymặc mà là màu sắc sống động tươi sáng của tranh hiện đại : xanh rì, trắng phauphau, đỏ lòm lom Cảnh của Xuân Hương là vậy “ Nó không ưa những nét buồncủa một buổi chiều tà bóng xế, nó không thích những chiếc lá vàng rơi trước gió,hay con nai ngơ ngác trong rừng già Cảnh nào cũng cựa quậy, cũng cử động, cũngsống, cũng vui” Đó cũng chính là tính bất quy phạm nổi trội trong đề tài của bà

“Bước tới đèo Ngang bóng xế tà,

Cỏ cây chen đá, lá chen hoa

Lon khom dưới núi tiều vài chú, Lác đác bên sông chợ mấy nhà

Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc, Thương nhà mỏi miệng cái gia gia

Dừng chân đứng lại trời non nước, Một mảnh tình riêng ta với ta.”

Trang 24

( Qua đèo Ngang- Bà Huyện Thanh Quan)

Điểm chính yếu ở đây là cảm xúc, suy nghĩ của tác giả khi đứng trước một vùngđất vốn mang nhiều sự kiện lịch sử, còn “ Đèo Ba Dội” của Hồ Xuân Hương đượcmiêu tả bằng một cái nhìn khác hẳn :

“ Một đèo, một đèo, lại một đèo, Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo

Cửa son đỏ loét tùm hum nóc, Hòn đá xanh rì lún phún rêu

Lắc lẻo cành thông cơn gió thốc, Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo

Hiền nhân quân tử ai là chẳng, Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo.”

( Đèo Ba Dội)

Hai câu đầu nghe như tiếng trầm trồ thán phục của người thưởng ngoạn trước kỳcông của thiên nhiên Tả đèo mà tấu nhạc lên thì thật là độc đáo – một thứ thanhnhạc riêng, kết hợp với nhịp đặc biệt để thể hiện thái độ tinh nghịch của ngườingắm cảnh Cảnh đèo được quan sát rất kỹ, từ “cửa son” , “hòn đá” cho đến giữalưng chừng đèo bằng một cái nhìn cận cảnh

Trang 25

Xuân Hương ưa dùng màu nóng Màu “đỏ loét” như muốn đốt lòng người ta, lạiphết dày như tranh sơn dầu, ám lấy tâm trí người đọc một mảng tối “ tùm hum”đầy hoang dại Màu “xanh rì” thiết tha của sự sống trẻ trung, cường tráng đang nảy

nở những nét non tơ “ lún phún” Cành thông “ lắc lẻo” , vừa cheo leo trên caolưng chừng đèo, vừa đung đưa không ngừng Tưởng như đôi mắt nhà thơ đangquan sát thật sâu sự “ lắc lẻo” ấy và những lá liễu đầm đìa những sương là sương

Nguyễn Du trong “Truyện Kiều” có một câu thơ về sương:

“ Giọt sương gieo nặng cành xuân la đà”

( Truyện Kiều – Nguyễn Du)Chỉ là một giọt Còn Xuân Hương thì “ đầm đìa” Phụ từ miêu tả được đưa lên đầucâu có tác dụng tạo hình cao Nó nhấn mạnh trạng thái ướt sũng, đầy tràn, tưởngnhư vô tận, tác động vào giác quan người đọc Những ấn tượng này không hiếmthấy trong thơ thiên nhiên của Hồ Xuân Hương, nó xuất hiện thành một hệ thốngtạo thành một thế giới riêng độc đáo của sự cảm thụ mang đầy tính bất quy phạm :

“ Kẻ hầm rêu mốc trơ toen hoẻn, Luồng gió thông reo vỗ phập phòm.”

( Hang Cắc Cớ) “ Xanh um cổ thụ tròn xoe tán,

Trắng xóa tràng giang phẳng lặng tờ.”

( Cảnh thu)

Trang 26

“ Một trái trăng thu chín mõm mòm, Nảy vừng quế đỏ, đỏ lòm lom.”

Có 9 lần trong thơ mình, nữ sĩ miêu tả trực tiếp âm thanh Nếu không kể âm thanh

“ cốc” , “om” như là tiếng vọng âm vang của tâm trạng thảm sầu, thì những âmthanh còn lại đều rất đặc biệt : lắc cắc, phập phòm (tiếng gió) , long bong, lõmbõm, thánh thót (tiếng nước), tì ti (tiếng khóc) , hì hỉ hi ha (tiếng tụng kinh) Tất

cả được miêu tả bằng phương thức láy âm

Chúng ta thử lắng nghe âm thanh của thiên nhiên trong bài “ Kẽm Trống” :

Trang 27

“ Gió giật sườn non khua lắc cắc,Sóng dồn mặt nước vỗ long bong.”

( Kẽm Trống)Gió giật vào đá núi (sườn non) , tác động vào chỗ gồ ghề của đá tạo nên tiếng khua

“ lắc cắc” Tiếng gió ở đây rất lạ Gió bình thường khẽ khua động cành cây tạonên tiếng rì rào Gió trên ngọn cây, lá cây tạo nên tiếng vi vu Gió ở chỗ trống thì

ào ào Tiếng gió “lắc cắc” là tiếng của gió va đập mạnh (cường độ) và bị ngắtquãng bởi những hợp âm (nhịp độ) Nó cho thấy sự chênh vênh, cheo leo của KẽmTrống

Sóng dồn vào mặt nước, vỗ “long bong” vào thành hang động Phụ âm đầu “l” –

“b” tạo nên nhịp điệu của từng đợt sóng Vần “ong” được láy lại hai lần gây ra cảmgiác ngân vang của âm thanh Điều này rất phù hợp với không gian hang động :hang sâu, kín nên tiếng nước vang đi rất xa Chính từ tượng thanh này đã khắc sâuthêm ấn tượng về độ sâu của hang do sức ngân của âm thanh

Âm thanh trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương sống động lạ kì Nó chứng tỏ nhà thơkhông những có đôi mắt tinh tế mà còn có thính giác nhạy nén mới có thể lắngnghe được khúc nhạc hòa tấu trong gió, trong nước của thiên nhiên

Trang 28

1.1.3 Thiên nhiên trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương còn được cảm thụ bằng xúc giác

Điều này chưa từng thấy trong mảng thơ thiên nhiên của văn học trung đại Bậcthầy ngôn ngữ dân tộc Nguyễn Du với một “ Truyện Kiều” đồ sộ cũng chưa hề

“sờ”, “mó”, “rờ” để cảm nhận thiên nhiên Nguyễn Khuyến, nhà thơ của làng quêViệt Nam, dù có một cái nhìn rất tinh tế, bình dị với thiên nhiên song cũng chưalàm được điều mà Xuân Hương đã làm Đó là khám phá thiên nhiên bằng chính sựcăng tràn của da thịt Phải chờ đến hai thế kỉ sau ông hoàng thơ tình Xuân Diệumới thổ lộ :

“ Tôi muốn ôm

Cả sự sống đã bắt đầu mơn mởnTôi muốn riết mây đưa và gió lượnTôi muốn say cánh bướm với tình yêuTôi muốn thâu trong một cái hôn nhiều ”

( Vội vàng – Xuân Diệu)

Và mới dám để :

“ da tay ý dịu tràn Gửi vào cây cỏ chút mơn man Chân trần sung sướng nghe da đất Tôi nhận xa xôi của dặm ngàn.”

( Đi dạo – Xuân Diệu)

Trang 29

Nhưng nếu như Xuân Diệu, qua xúc giác của mình nhận thấy “xa xôi của dặmngàn” , và mới chỉ “muốn” ôm, riết thì trước đó, Hồ Xuân Hương đã cảm nhậnbằng xúc giác cảnh vật thiên nhiên một cách rất cụ thể và trực tiếp:

“ Lườn đá cỏ leo sờ rậm rạp Lách khe nước rỉ mó lam nham.”

(Hang Thanh Hóa)Chỉ hai câu thơ thôi, tính bất quy phạm trong thơ bà được hiện lên rõ nét qua đề tàithiên nhiên này Ta có cảm giác bàn tay của nhà thơ đang từ từ khám phá cảnh vật

“Rậm rạp” vốn được nhìn từ thị giác, nhưng thêm động từ “sờ” càng làm nổi bật sựcảm nhận trực tiếp của xúc giác Nước rỉ trên đá “lam nham” , được bàn tay “mó”vào Chỉ có Xuân Hương mới dám “sờ” , “mó” , khám phá một cách tận tường nhưthế Nhờ sự có mặt của những biểu tượng phồn thực “lườn đá” , “lách khe” vàbản lĩnh hơn người của mình mà bà đã có những vần thơ tuy trái quy định, bất quyphạm nhưng cảnh vật hiện lên đầy sức sống, có sự cọ xát qua lại giữa thiên nhiên

Trang 30

“Mùa hè” làm nên cho không gian thơ Trong bầu không khí ấm, nóng và khô ấy,

sự xuất hiện của gió làm xua đi cái oi bức của buổi trưa hè Gió không phải là gió

“hiu hiu” như chúng ta thường thấy “ Hiu hiu” là gió nhẹ “Hây hẩy” vừa nhẹ, lạiđượm thêm chút gì đó êm dịu, vỗ về, mơn man da thịt con người mới khiến chothiếu nữ chỉ nằm chơi mà “ quá giấc nồng” như vậy

1.1.4 Thiên nhiên không chỉ được cảm thụ bằng thị giác, thính giác, xúc giác mà lắm khi nó được cảm thụ bằng những giác quan trên cộng lại.

Nhà thơ không chỉ nhìn được màu sắc, nghe được sự trở mình, trỗi dậy của sứcsống tiềm tàng ẩn chứa trong sự vật, mà còn “sờ” , “mó” được những sự vật cụ thể,hữu tình Chỉ có sự nhập thân vào cảnh và sử dụng tài tình từ ngữ mới khám phá rađược cái thần, cái hồn của sự vật trong từng cử động mong manh:

“ Xiên ngang mặt đất rêu từng đám,

Đâm toạc chân mây đá mấy hòn.”

( Tự tình 2) “ Cửa son đỏ loét tùm hum nóc,

Hòn đá xanh rì lún phún rêu.”

( Đèo Ba Dội) “ Cỏ gà lún phún leo quanh mép”

(Giếng nước)

Trang 31

“ Kẽ hầm rêu mốc trơ toen hoẻn”

( Hang Cắc Cớ)

Cỏ, rêu là những sự vật rất đỗi nhỏ bé, mong manh, thế mà nhà thơ nhìn thấy sựvận động của sự sống, của sức sống lâu bền bên trong những sự vật mong manh,nhỏ bé đó Rêu “ xiên ngang từng đám” , “trơ toen hoẻn” , “xanh rì” , cỏ “lúnphún” – mỗi trạng thái thể hiện một sự vận động khác nhau bên trong sự vật “Trơtoen hoẻn” : rêu mốc không sắc màu, trơ đất đá “Xanh rì” : độ sung mãn của sựsống “Xiên ngang” : sự bùng dậy mạnh mẽ của một sức sống mãnh liệt, căng đầy

Và tất cả là của một thế giới nghệ thuật mang đầy nét đặc trưng của tính bất quyphạm

Độc đáo nhất là sự tổng hợp của những cảm giác:

“ Một trái trăng thu chín mõm mòm,

Nảy vừng quế đỏ, đỏ lòm lom.”

( Hỏi trăng I)

Trái trăng thu đã lạ, mà lại “chín” , chín đến độ “mõm mòm” Màu đỏ của tráitrăng thu chín đạt đến cực điểm “ đỏ lòm lom” Độ chín và màu đỏ không chỉđược cảm thụ bằng thị giác mà người đọc nge như có cả mùi vị của một thứ tráicây đặc biệt : trái trăng thu Sự cảm nhận thiên nhiên không dừng lại ở một giácquan nữa mà là tổng hòa của các giác quan

Trang 32

Được cảm thụ bằng tri giác , cái đẹp của thiên nhiên trong thơ Hồ Xuân Hươngkhông phải dịu mát, nhẹ nhàng, lãng mạn như thiên nhiên trong thơ văn trung đại.Người xưa yêu sự hài hòa, các bậc thi nhân vẫn thường cố gắng tìm ra nhữngđường nét cân đối, hài hòa, nhẹ nhàng của cảnh vật như một sự vỗ về tâm hồntrước những va động của cuộc đời Văn học trung đại có rất nhiều bức tranh thiênnhiên đẹp:

“ Cỏ non xanh tận chân trời

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.”

( Truyện Kiều – Nguyễn Du) “ Hoa giãi nguyệt, nguyệt in một tấm

Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông.”

( Chinh phụ ngâm khúc – Đặng Trần Côn)

Thiên nhiên trong thơ Xuân Hương , trái lại, nó gồ ghề, sắc cạnh, gai góc và rấthiện thực Nó phải đạt được giới hạn cao nhất về chất và trạng thái vận động Cầuthì “trắng phau phau” , nước thì “ trong leo lẻo” , trăng chín phải “chín mõm mòm”, đỏ thì “ đỏ lòm lom” , xanh phải “xanh rì” ; xiên thì không xiên thẳng mà “ xiênngang” , đâm thì không đâm thủng mà “ đâm toạc” , cây thì “ lắc lẻo” , đứng thìtrong tư thế “cheo leo” , sương gieo thì “ đầm đìa” , hình cây lại “ uốn éo” Cảnh

Trang 33

luô cựa quậy, cử động Đó là đặc điểm của thiên nhiên trong sáng tác của Hồ XuânHương “ Trước thiên nhiên bao la rộng lớn, nhà thơ thấy lòng mình hể hả nhưchắp cánh bay lên Cảm hứng trữ tình trong những bài thơ viết về thiên nhiên của

Hồ Xuân Hương là một xúc cảm hết sức tươi sáng”

1.1.5 Thơ Nôm Hồ Xuân Hương đầy ám ảnh bởi những hang động, đèo, kẽm, đồi núi

Những bài thơ về thiên nhiên miêu tả hang động rất lạ, rất đậm nét ( 4/ 9bài) Mỗicái hang, động mang những đặc điểm khác nhau và để lại ấn tượng rõ nét trongmảng thơ viết về thiên nhiên của Hồ Xuân Hương

Hang động vốn là hình ảnh không gian ba chiều, bao gồm chiều rộng, chiều cao,chiều sâu Điều đặc biệt là miêu tả như thế nào để người đọc có thể hình dung cả

ba chiều của không gian hang động:

Trang 34

Miêu tả không gian ba chiều Huy Cận đã có hai câu thơ “để đời” :

“ Nắng xuống, trời lên, sâu chót vót

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.”

(Tràng Giang – Huy Cận)

Không gian ba chiều được Huy Cận xác định cụ thể bằng những tính từ “sâu” ,

“dài” , “rộng” Nó gợi lên cái không gian bao la, bát ngát , mênh mông của mộtbuổi chiều Còn hai câu thơ của Hồ Xuân Hương không có một từ gợi khoảng cáchnào nhưng ta vẫn có một cảm giác rất thật về một cái hang nhỏ, tròn, sâu hun hút

Đi sâu vào trong hang, càng thấy được sự hun hút của không gian hang động:

“ Kẽ hầm rêu mốc trơ toenn hoẻn,

Luồng gió thông reo vỗ phập phòm

Giọt nước hữu tình rơi lõm bõm,

Con đường vô ngạn tối om om.”

( Hang Cắc Cớ)Hang sâu, tối, ẩm, rêu không phát triển được Rêu mốc không sắc màu, trơ đất đá,

mà Xuân Hương nói đến cạn cùng của ngôn ngữ là “trơ toen hoẻn” Rêu ở hangCắc Cớ khác rêu ở đèo Ba Dội, có ánh nắng mặt trời nên “xanh rì” Tiếng gióthoảng, tiếng thông reo dội vào hang động tạo ra hiện tượng, cộng hưởng thành

Trang 35

những âm thanh khuếch đại Thạch nhũ nhỏ từng giọt, từng giọt “lõm bõm” Hangcàng vô sâu càng tối, “tối om om” Nhà thơ rất thành công trong việc sử dụng từvừa miêu tả trực tiếp được đối tượng, vừa tạo được cảm giác khi tiếp cận với đốitượng “Hỏm hòm hom” , “trơ toen hoẻn” , “phập phòm” , “lõm bõm” , “tối omom” đều là do cảm thụ trực tiếp của nhà thơ trước cảnh

Từ cách cảm thụ trực tiếp này, cùng với những câu kết lơ lửng, có dụng ý khiếnngười đọc liên tưởng đến hình ảnh khác Đó là sự đồng sáng tạo liên tưởng củangười đọc Cái hấp dẫn của những bài thơ hang động là ở chỗ tác giả đã để chongười đọc đồng sáng tao liên tưởng trước những điều mà cả nhà thơ và độc giảcùng cảm giác được , cảm thụ được

Những bài thơ hang động làm cho Hồ Xuân Hương khác với các tác giả khác củavăn học trung đại Khi viết về thiên nhiên người ta thường chú ý đến chiều dài,chiều rộng của tạo vật, và luôn cảm thấy choáng ngợp trước cảnh vật Con ngườingắm cảnh bằng cái nhìn từ xa – viễn cảnh Người ta hướng đến núi cao, trời rộng,sông dài , những sự vật có tầm vóc , kích thước trong vũ trụ Thiên nhiên là nơi

mà con người luôn hướng vọng, tìm về mỗi khi gặp trắc trở trên đường đời Ít cótác giả nào đi sâu vào lòng sự vật để khám phá những gì bí ẩn trong lòng nó HồXuân Hương đi ngược lại với những quan niệm về thiên nhiên của văn học trungđại Thiên nhiên không đơn thuần chỉ là thiên nhiên mà nó luôn gắn bó với conngười Thiên nhiên và con người hòa lẫn vào nhau , thiên nhiên là con người vàngược lại

Hồ Xuân Hương miêu tả những hang, động, đèo, kẽm bằng một cái nhìn cận cảnh.Đôi mắt của nhà thơ quan sát thật tinh tường, kĩ lưỡng từ hình dáng bên ngoài

Ngày đăng: 04/02/2018, 23:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w