Mục tiêu cao thượng của phát triển bền vững dựa vào ba yếu tố căn bản: phát triển xã hội, phát triển môi trường, và phát triển kinh tế. Do đó muốn đạt được mục tiêu, mỗi quốc gia cần phải thỏa mãn ba yêu cầu trên. Về mặt phát triển môi trường, mặc dù có thể có được những điểm đồng thuận trong việc thiết lập các bộ luật môi trường của cho mỗi quốc gia, tuy nhiên việc áp dụng vẫn còn tùy thuộc nhiều vào dân trí, điều kiện xã hội và kinh tế của từng quốc gia. Từ đó việc nhận định rõ ràng về vai trò của các tổ chức RD đối với việc kiến tạo thiết chế quản lý môi trường vì sự phát triển bền vững là quá trình đi xem xét một trong những tác nhân góp phần đưa đến sự đồng thuận chung của xã hội về bảo vệ môi trường. Sự phát triển của mỗi người, mỗi cộng đồng và mỗi quốc gia đều phụ thuộc vào những điều kiện môi trường của mình và không một thế hệ nào được phép tự cho mình cái quyền được lạm dụng hay phá huỷ những yếu tố cần thiết cho sự tồn tại của các thế hệ sau. Những luận lý này cần phải được phổ cập trong xã hội bằng một chương trình giáo dục môi trường nhằm thay đổi nhận thức của con người, sao cho công dân và các quan chức có thể thay đổi hành vi, ra quyết định về mọi vấn đề theo hướng bền vững. Nghiên cứu góp phần khẳng định thực tiễn phát triển bền vững là chiến lược duy nhất có thể cung ứng một cuộc sống tươm tất và có chất lượng cho nhân loại trong khi tránh được những thảm họa sinh thái trong 30 40 năm tới, là lối sống cần phải thay thế cho lối sống tiêu thụ thiếu hợp lý hiện nay
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
-ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
VAI TRÒ CỦA TỔ CHỨC R&D TRONG KIẾN TẠO THIẾT CHẾ QUẢN
LÝ MÔI TRƯỜNG VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP VIỆN CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG VÀ TRUNG TÂM
TƯ VẤN VÀ CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG)
Hà Nội - 2015 MỤC LỤC
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU 5
1 Tên đề tài 5
3 Lịch sử nghiên cứu 7
4 Mục tiêu nghiên cứu 9
5 Phạm vi nghiên cứu 10
6 Mẫu khảo sát 10
7 Câu hỏi nghiên cứu 10
8 Giả thuyết nghiên cứu 10
9 Phương pháp nghiên cứu 10
10 Cấu trúc của đề tài 11
NỘI DUNG 12
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC R&D VỚI THIẾT CHẾ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 12
1.1 Hoạt động R&D và các khái niệm có liên quan 12
1.1.1 Nghiên cứu khoa học (Scientific research - R) 12
1.1.2 Triển khai (Development - D) 14
1.1.3 Giáo dục và đào tạo KH&CN tương đương bậc 3 15
1.1.4 Dịch vụ KH&CN 15
1.2 Phân biệt khái niệm “Triển khai” và “Phát triển” trong quản lý KH&CN18 1.3 Tổ chức nghiên cứu và triển khai 19
1.4 Môi trường và ô nhiễm môi trường 23
1.4.1 Khái niệm môi trường 23
1.4.2 Ô nhiễm môi trường và an ninh môi trường 23
1.5 Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững 24
1.5.1 Khái niệm bảo vệ môi trường 24
1.5.2 Phát triển bền vững 26
1.6 Thiết chế quản lý môi trường và các khái niệm có liên quan 28
1.6.1 Thiết chế xã hội và các khái niệm liên quan 28
1.6.2 Đặc điểm thiết chế xã hội 30
1.6.3 Thiết chế quản lý môi trường 30
1.6.3 Thiết chế đạo đức sinh thái và đạo đức bền vững 31
Trang 31.7 Mối quan hệ giữa vai trò của tổ chức R&D với thiết chế quản lý môi trường
34
CHƯƠNG 2: NHẬN DIỆN VAI TRÒ CỦA TỔ CHỨC R&D TRONG KIẾN TẠO THIẾT CHẾ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 37
2.1 Giới thiệu tổng quan về tổ chức R&D 37
2.1.1 Viện Công nghệ môi trường 37
2.1.2 Trung tâm tư vấn và công nghệ môi trường 38
2.2 Vai trò kiến tạo khung mẫu chính sách bảo vệ môi trường và phát triển bền vững 41
2.3 Kiến tạo chuẩn mực phát triển và ứng dụng công nghệ thân thiện môi trường, công nghệ sạch 63
2.4 Kiến tạo mạng lưới các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực môi trường hướng đến mục tiêu phát triển bền vững 79
2.5 Kiến tạo hệ giá trị, chuẩn mực, đạo đức môi trường bền vững trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của cộng đồng 85
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 94
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Nghiên cứu và triển khai
Trung tâm Tư vấn và Công nghệ môi
trường
Trung tâm TVCNMT
Quỹ phát triển KH và CN Quốc gia NAFOSTED
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tên đề tài
Vai trò của tổ chức R&D trong kiến tạo thiết chế quản lý môi trường vì sự phát triển bền vững (Nghiên cứu trường hợp: Viện Công nghệ môi trường và Trung tâm Tư vấn và Công nghệ môi trường)
2 Lý do nghiên cứu
Trong những năm qua, Việt Nam đã có nhiều đổi mới về chính sách phát triểnkinh tế Những thành tựu cơ bản đạt được bao gồm mức tăng trưởng GDP bình quânhàng năm khoảng 7.5% giai đoạn 1991-2008 (Ohno, 2008), tăng thu hút đầu tư trựctiếp nước ngoài, nâng cao chất lượng đời sống cho nhân dân Ngay trong năm 2009,mặc dù tình hình suy thoái kinh tế toàn cầu càng trở nên ảm đạm, Việt Nam vẫn chứng
tỏ khả năng vượt qua khó khăn và thách thức với mức tăng trưởng GDP đạt 5,2% Tuy nhiên cùng với nhịp độ tăng trường kinh tế cao và quá trình công nghiệp hoá đangdiễn ra sâu rộng, Việt Nam đã và đang phải đối đầu với với các vấn đề môi trườngnghiêm trọng như ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí từ các nhà máy, các hộ gia đình,lạm dụng thuốc trừ sâu và phân hoá học, suy giảm tài nguyên thiên nhiên
Trong giai đoạn 2011-2015, môi trường Việt Nam chịu nhiều sức ép từ các hoạtđộng phát triển kinh tế - xã hội, đặt ra nhiều thách thức cho công tác quản lý và bảo vệmôi trường Mặc dù Việt Nam đã nỗ lực quản lý, ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễmnhưng chất lượng môi trường vẫn đang tiếp tục bị suy giảm Ô nhiễm bụi vẫn tiếp tụcduy trì ở ngưỡng cao tại nhiều đô thị, ô nhiễm nước không chỉ còn tập trung ở các khuvực hạ lưu, các đô thị, khu vực sản xuất mà đã xuất hiện ở một số vùng nông thôn Ônhiễm và suy thoái môi trường đất hay vấn đề chuyển đổi mục đích sử dụng đất cũng
đã và đang gây ra những hệ lụy không nhỏ đến đời sống người dân cũng như hoạtđộng phát triển kinh tế - xã hội…Bên cạnh đó, diễn biến của tình trạng biến đổi khíhậu và các vấn đề môi trường xuyên biên giới ngày càng phức tạp và khó lường Do
đó, bài toán đặt ra hiện nay là phải phân tích rõ được hiện trạng, nguyên nhân củanhững vấn đề nêu trên, từ đó, đưa ra được những định hướng ưu tiên trong giai đoạnmới, kiến nghị với Chính phủ, Quốc hội và các cấp, các ngành có những đáp ứng phùhợp để giảm thiểu các tác động, kiểm soát ô nhiễm, bảo vệ môi trường và từng bướcđảm bảo phát triển bền vững
Để đảm bảo phát triển bền vững, Việt Nam cần nhanh chóng giải quyết các vấn
đề môi trường thông qua nhiều giải pháp như pháp luật, công nghệ, chính sách kinh tế
và môi trường… Chiến lược phát triển bền vững cần được xây dựng trên cơ sở hiểubiết toàn diện về mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và chất lượng môi trường Cácchính sách về môi trường và kinh tế nếu được áp dụng kịp thời sẽ giảm nhẹ các tácđộng môi trường của tăng trưởng kinh tế, ngược lại hậu quả sẽ khôn lường
Trang 6Bên cạnh đó thực tế về sự hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường cho chúng ta nhậnthức khó có thể thấy được những đóng góp hữu hiệu cho việc phát triển bền vững đểbảo vệ môi trường toàn cầu trong tương lai, vì:
- Các nhà sản xuất ở từng quốc gia sẽ cũng chỉ chạy theo lợi nhuận và giảm thiểumức chi thấp nhất trong phát triển;
- Tinh thần quốc gia cực đoan, và sự e dè trong việc can thiệp vào nội bộ cácquốc gia khác;
- Hệ thống tham nhũng từ cao xuống thấp ở những quốc gia đang phát triển hầunhư vô phương cứu chữa Dù luật lệ môi trường có khắt khe đến đâu, thì việc
xử lý phế thải độc hại trong đất, không khí và nguồn nước do sản xuất và pháttriển cũng sẽ bị ém nhẹm hay lãng quên;
- Các chính phủ của những quốc gia đang phát triển vì nhu cầu cấp bách của cáncân mậu dịch mà phải gia tăng phát triển kinh tế và lãng quên yếu tố bảo vệ môitrường, dù họ biết rất rõ hệ luỵ này sẽ đưa đến những xáo trộn trong việc pháttriển xã hội sau đó;
- Các cường quốc vẫn còn giữ quan niệm về chủ nghĩa "nước lớn", không cầntuân thủ các luật lệ quốc tế về toàn cầu hóa mà Trung quốc là thí dụ điển hìnhnhất trong việc quản lý sông Mekong qua việc xây dựng các đập ở thượngnguồn
Thập niên 1980 trở lại đây đã chứng kiến sự bùng phát các thảm hoạ môi trường : hạnhán, bão lụt, ô nhiễm không khí và mưa axit, các sự cố hạt nhân và rò rỉ hoá chất độchại, sự suy thoái thảm hại quỹ đất trồng trọt, lan tràn hoá chất bảo vệ thực vật và ônhiễm các nguồn nước, thủng tầng ôzôn, hiện tượng ấm lên toàn cầu do hiệu ứng nhàkính, các cuộc chiến tranh sắc tộc và tranh giành không gian sử dụng môi trường giatăng Nếu các quốc gia không liên kết để chấm dứt sự suy thoái môi trường thì đếnnăm 2030, với dân số thế giới khoảng 9 - 10 lý, với nhiệt độ toàn cầu tăng 30c, sự suythoái tài nguyên và môi trường sẽ dẫn nhân loại đến cuộc Đại khủng hoảng của thế kỷXXI, tạo ra một vòng xoáy làm tan rã xã hội loài người (UNDP, 1990) Cuộc Đạikhủng hoảng thế kỷ này sẽ là sự chồng chất những vấn đề nan giải như nạn đói, ônhiễm và suy thoái hệ nuôi dưỡng sự sống, dịch bệnh, xung đột môi trường và tỵ nạnmôi trường hàng loạt, biến động khí hậu khó lường đi kèm thiên tai với tốc độ dữdội, vượt quá khả năng thích ứng của xã hội cũng như khả năng của mọi trình độ côngnghệ trên Trái Đất
Các nguyên nhân sâu xa của khủng hoảng môi trường bắt nguồn từ mô hìnhphát triển lấy tăng trưởng kinh tế làm trọng tâm, khuyến khích một xã hội tiêu thụ, dựatrên nền tảng những phát minh công nghệ tiêu tốn năng lượng, tài nguyên và gây ônhiễm, sự trốn tránh trách nhiệm đối với thế hệ tương lai thông qua việc không nội bộhoá các chi phí môi trường và lạm dụng quá mức tài nguyên cũng như không gian môitrường
Do đó việc góp phần hoàn thiện thiết chế quản lý môi trường vì sự phát triểnbền vững là điều hệ trọng đối với các quốc gia hiện này, trong đó việc nhận diện vaitrò của các tổ chức nghiên cứu trong công cuộc này được xem là một trong những nỗ
Trang 7lực đó.
Mục tiêu cao thượng của phát triển bền vững dựa vào ba yếu tố căn bản: pháttriển xã hội, phát triển môi trường, và phát triển kinh tế Do đó muốn đạt được mụctiêu, mỗi quốc gia cần phải thỏa mãn ba yêu cầu trên Về mặt phát triển môi trường,mặc dù có thể có được những điểm đồng thuận trong việc thiết lập các bộ luật môitrường của cho mỗi quốc gia, tuy nhiên việc áp dụng vẫn còn tùy thuộc nhiều vào dântrí, điều kiện xã hội và kinh tế của từng quốc gia Từ đó việc nhận định rõ ràng về vaitrò của các tổ chức R&D đối với việc kiến tạo thiết chế quản lý môi trường vì sự pháttriển bền vững là quá trình đi xem xét một trong những tác nhân góp phần đưa đến sựđồng thuận chung của xã hội về bảo vệ môi trường
Sự phát triển của mỗi người, mỗi cộng đồng và mỗi quốc gia đều phụ thuộc vàonhững điều kiện môi trường của mình và không một thế hệ nào được phép tự cho mìnhcái quyền được lạm dụng hay phá huỷ những yếu tố cần thiết cho sự tồn tại của các thế
hệ sau Những luận lý này cần phải được phổ cập trong xã hội bằng một chương trìnhgiáo dục môi trường nhằm thay đổi nhận thức của con người, sao cho công dân và cácquan chức có thể thay đổi hành vi, ra quyết định về mọi vấn đề theo hướng bền vững.Nghiên cứu góp phần khẳng định thực tiễn phát triển bền vững là chiến lược duy nhất
có thể cung ứng một cuộc sống tươm tất và có chất lượng cho nhân loại trong khi tránhđược những thảm họa sinh thái trong 30 - 40 năm tới, là lối sống cần phải thay thế cholối sống tiêu thụ thiếu hợp lý hiện nay
3 Lịch sử nghiên cứu
- Đề tài “Nghiên cứu chính sách phát triển các loại hình tổ chức và hoạt động KH&CN
ở các tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp lớn tại Việt Nam”, Viện Chiến lược và Chínhsách KH&CN, 2010: đã phân tích, xem xét tất cả các chính sách KH&CN khả dĩ cóảnh hưởng tới hoạt động KH&CN của các tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp lớn ViệtNam; đề xuất, khuyến nghị nhằm khuyến khích hoạt động KH&CN của các doanhnghiệp lớn Việt Nam
- Đề tài “Điều tra và phân tích hiện trạng hoạt động của các tổ chức KH&CN ở ViệtNam giai đoạn 2006-2010”, Viện Đánh giá Khoa học và Định giá Công nghệ, 2012: đãphân tích hiện trạng về môi trường hoạt động, năng lực và động lực của các tổ chứcKH&CN; đề xuất, kiến nghị nâng cao hoạt động của tổ chức KH&CN
- Đề tài “Nghiên cứu hiện trạng tổ chức và hoạt động của các tổ chức KH&CN cônglập thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP vàNghị định số 96/2010/NĐ-CP”, Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN, 2012: đãphân tích, xem xét các biện pháp phục vụ cho việc chuyển đổi các tổ chức NC&PTcông lập (trước và sau khi có Nghị định 115); phân tích thực trạng mô hình tổ chức vàhoạt động của các viện nghiên cứu theo tinh thần tự chủ, tự chịu trách nhiệm; khuyếnnghị chính sách hỗ trợ trong và sau “chuyển đổi” các tổ chức NC&PT công lập
- Trịnh Ngọc Diệu (2000), Phát triển các tổ chức KH&CN ở nước ta trong thời kỳchuyển đổi kinh tế Luận văn Thạc sỹ Chính sách KH&CN, Viện Chiến lược và Chính
Trang 8sách KH&CN: đã nghiên cứu thực tiễn phát triển các tổ chức KH&CN Việt Nam thờiđiểm trước khi Luật 2000 được thông qua; khuyến nghị về sự phát triển các tổ chứcKH&CN, nâng cao nhận thức xã hội về vai trò của tổ chức KH&CN với sự phát triểnKT-XH trong thời kỳ đến năm 2005.
Báo cáo tổng hợp đề tài cấp Bộ của Trần Ngọc Ca (2000): “Nghiên cứu cơ sở khoahọc cho việc xây dựng một số chính sách và biện pháp thúc đẩy hoạt động đổi mớicông nghệ và nghiên cứu- triển khai trong các cơ sở sản xuất ở Việt Nam” đã đưa ra 2mảng nghiên cứu về chính sách tài chính và chính sách nhân lực để đưa ra các giảipháp thúc đẩy đổi mới công nghệ và nghiên cứu- triển khai ở các cơ sở sản xuất.Nghiên cứu đã chỉ ra được những mặt ưu điểm của đổi mới CN gắn với nhu cầu thựctiễn của các cơ sở sản xuất ở Việt Nam, tuy nhiên đến thời điểm Việt Nam đang hộinhập quốc tế như hiện nay, một số chính sách đã bộc lộ những điểm không phù hợpvới điều kiện mới
Giáo trình Kinh tế môi trường, Hoàng Xuân Cơ, NXB Giáo dục 2005 gồm 7 chương
đã đưa ra được những nguyên lý chung về kinh tế, cung cấp cái nhìn cơ bản nhất vềkinh tế học phù hợp cho mọi đối tượng sử dụng; nghiên cứu ô nhiễm môi trường dướigóc độ kinh tế, các hướng tiếp cận, sử dụng công cụ kinh tế để giảm phát thải ô nhiễmmôi trường Chương III trình bày hướng sử dụng tài nguyên tối ưu theo quan điểmkinh tế môi trường, đó là đạt cực đại hóa lợi nhuận mà không làm cạn kiệt tài nguyêntái tạo và khai thác triệt để tài nguyên không tái tạo, song song với tìm kiếm tài nguyênthat thế và định giá tài nguyên hợp lí Phần kinh tế môi trường ứng dụng trình bày rõhơn khả năng ứng dụng các công cụ kinh tế để giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trườngnhư phí môi trường, giấy phép mua bán (côta- hạn ngạch sử dụng môi trường hoặcgiới hạn trần cho mức ô nhiễm), các hệ thống ký thác- hoàn trả, thuế ô nhiễm, trong đótập trung vào giải pháp thu thuế/phí môi trường Đồng thời giáo trình cũng đặt ra cácvấn đề phát sinh khi tiến hành thu thuế ô nhiễm trong việc xác định đối tượng nộpthuế và hiệu quả của thuế ô nhiễm qua kinh nghiệm quốc tế Từ đó, giáo trình đặt rakhả năng áp dụng và thu thuế ô nhiễm trong điều kiện Việt Nam; cách ước tính, địnhgiá tài nguyên môi trường và kinh nghiệm áp dụng kinh tế môi trường trong ngànhthủy sản thế giới Giáo trình đã cung cấp cho người học những luận điểm cơ bản vềkinh tế môi trường và sử dụng công cụ kinh tế để giảm thiểu ô nhiễm môi trường Tuynhiên, do thời điểm biên soạn giáo trình là lúc Việt Nam bước vào xây dựng kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa lâu, nên các kết luận còn mang nặng tính líluận, thiếu tính thực tiễn, nội dung kiến thức chủ yếu lấy từ kinh nghiệm nước ngoài Trong lĩnh vực BVMT và phát triển bền vững, chính phủ Nhật Bản đã hỗ trợ chínhphủ VN thông qua Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) cho Chương trình hỗ trợứng phó với biến đổi khí hậu (SP-RCC) SP-RCC được xây dựng để đưa ra các biệnpháp ứng phó với biến đổi khí hậu ở VN sau khi đánh giá tình hình thực hiện các hànhđộng chính sách đặc thù của chính phủ VN trong 15 ngành dễ bị ảnh hưởng của biếnđổi khí hậu Trong khuôn khổ Dự án “Nghiên cứu quản lý môi trường đô thị tại VN”của chuỗi hành động nhằm ứng phó với biến đổi khía hậu tài trợ bởi JICA, “Báo cáo
Trang 9nghiên cứu về giải pháp tháo gỡ cho các dự án theo cơ chế phát triển sạch” được công
bố vào 3/2011đề cập tới rào cản như các nút thắt cổ chai của việc triển khai dự án theo
cơ chế phát triển sạch (CDM) Nghiên cứu cho hay, việc triển khai CDM ở VN khôngchỉ thực hiện các hành động thân thiện môi trường, mà còn ảnh hưởng đến cả các hoạtđộng phát triển bền vững thông qua việc phát trển và sử dụng các năng lượng tái tạo,tạo điều kiện bảo tồn năng lượng, kiểm soát thiệt hại về diện tích rừng …CDM hiệnvẫn là một cơ chế mới được xây dựng và còn tồn tại nhiều rào cản khiến cho việc tiếnhành CDM trên thực tế không thuận lợi Các rào cản được đề cập và phân tích trongnghiên cứu bao gồm: Rào cản về hành chính và pháp lý; Rào cản về kinh doanh; Ràocản về nguồn nhân lực; Rào cản công nghệ; Rào cản thực tế về các thông lệ
Khảo sát các nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy hiện nay các nhà nghiên cứu tronglĩnh vực KH&CN hiện đề cao vai trò của mô hình R&D trong hoạt động của các tổchức, những yếu tố thúc đẩy việc hình thành các tổ chức R&D, cũng như đặc biệt quantâm đến hiện trạng phát triển của các tổ chức này tại Việt Nam Các nhà nghiên cứutrong lĩnh vực môi trường tìm hiểu về các biểu hiện của ô nhiễm môi trường, xung độtmôi trường trong các lĩnh vực cụ thể như môi trường nước, không khí, chất thải , hay
về các biện pháp bảo vệ môi trường và phát triển bền vững Tuy nhiên cho nay chưa
có nghiên cứu nào chỉ ra mối quan hệ giữa hoạt động của các tổ chức R&D với thiếtchế quản lý môi trường vì sự phát triển bền vững tại Việt Nam
4 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng thể:
Nhận diện vai trò của các tổ chức nghiên cứu và triển khai trong việc kiến tạo thiết chếquản lý môi trường vì sự phát triển bền vững tại Việt Nam
Mục tiêu chi tiết:
- Khảo sát các văn bản chính sách và chiến lược quản lý môi trường tại ViệtNam, đồng thời tìm hiểu quá trình xây dựng và hoạch định các chính sách đó
- Xem xét vai trò của tổ chức nghiên cứu trong việc thúc đẩy, hoặc kiềm chế việcban hành chính sách môi trường; Chỉ ra tác động của tổ chức nghiên cứu đếnviệc hoàn thiện các chính sách và chiến lược bảo vệ môi trường vì sự phát triểnbền vững
- Làm rõ vai trò hình thành hệ chuẩn mực, hệ giá trị về quản lý môi trường trongđời sống kinh tế, văn hóa, xã hội
- Xác định vai trò gắn kết giữa chính sách quản lý môi trường và cộng đồng củacác tổ chức R&D
Trang 106 Mẫu khảo sát
Viện công nghệ môi trường thuộc Viện hàn lâm Khoa học và Công nghệ
Trung tâm tư vấn và công nghệ môi trường thuộc Tổng cục Môi trường, Bộ Tàinguyên và Môi Trường
Nghiên cứu khảo sát các kết quả hoạt động, các đề tài dự án của Viện Côngnghệ môi trường, Trung tâm Tư vấn và công nghệ môi trường nhằm làm rõ vaitrò của các tổ chức này trong việc kiến tạo thiết chế quản lý môi trường hướngđến phát triển bền vững
7 Câu hỏi nghiên cứu
Vai trò của tổ chức R&D trong kiến tạo thiết chế quản lý môi trường vì sự phát triển bền vững là gì?
8 Giả thuyết nghiên cứu
Vai trò của tổ chức R&D trong kiến tạo thiết chế quản lý môi trường vì sự pháttriển bền vững được nhận diện như sau:
- Vai trò kiến tạo khung chính sách quản lý môi trường vì mục tiêu PTBV
- Vai trò kiến tạo chuẩn mực trong ứng dụng và phát triển công nghệ thân thiệnmôi trường, công nghệ sạch
- Vai trò thiết lập mạng lưới các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ môitrường và phát triển bền vững
- Vai trò kiến tạo hệ giá trị, chuẩn mực, đạo đức bền vững trong mọi hoạt độngcủa cộng đồng
9 Phương pháp nghiên cứu
Cách tiếp cận: Nghiên cứu này sử dụng cách tiếp cận xã hội học để xem xét tương tác
giữa các nhóm xã hội thuộc lĩnh vực nghiên cứu trong hoạt động bảo vệ môi trường vì
sự phát triển bền vững thông qua việc xác định các kiến tạo xã hội thể hiện trong thiết chế quản lý môi trường
Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng:
Nghiên cứu tài liệu: Khảo sát các tài liệu có liên quan thuộc các mảng nội dung: Tổchức khoa học, Chính sách và chiến lược bảo vệ môi trường, Phát triển bền vững, Kiếntạo xã hội
Phỏng vấn chuyên gia: Phỏng vấn 3 chuyên gia trong lĩnh vực Quản lý Khoa học,Công nghệ và Môi trường nhằm khai thác các đánh giá chuyên sâu về tác động của tổchức nghiên cứu đến kiến tạo thiết chế quản lý môi trường
Phỏng vấn sâu: Phỏng vấn 3 người hoạt động trong lĩnh vực quản lý môi trường củanhà nước và 3 người trong các tổ chức dân sự hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ môitrường, 1 người thuộc tổ chức quốc tế về bảo vệ môi trường tại Việt Nam
Trang 1110 Cấu trúc của đề tài
Mở đầu: Lý do nghiên cứu, Lịch sử nghiên cứu, Mục tiêu nghiên cứu, Phạm vi và
mẫu khảo sát, Câu hỏi nghiên cứu, Giả thuyết nghiên cứu, Phương pháp chứng minhluận điểm, Tóm tắt nội dung nghiên cứu
Kết luận: Tóm tắt về vai trò của các tổ chức nghiên cứu đối với việc kiến tạo thiết chế
quản lý môi trường vì sự phát triển bền vững
Trang 12NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA HOẠT ĐỘNG CỦA
TỔ CHỨC R&D VỚI THIẾT CHẾ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
1.1 Hoạt động R&D và các khái niệm có liên quan
Hoạt động KH&CN theo UNESCO là một chuỗi các hoạt động bao gồm
nghiên cứu (nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng, trong đó nghiên cứu cơ bản
chia thành nghiên cứu cơ bản thuần tuý và nghiên cứu cơ bản định hướng; nghiên cứu
cơ bản định hướng lại chia thành nghiên cứu nền tảng và nghiên cứu chuyên đề) &
triển khai (bao gồm 3 giai đoạn: tạo vật mẫu - prototype, tạo quy trình - làm pilot để
tạo công nghệ và làm thí điểm loạt nhỏ - sản xuất thử loạt 0 hay làm “Sêri 0”), giáo
dục KH&CN tương đương trình độ bậc ba và dịch vụ KH&CN
Có nhiều cách phân loại nghiên cứu khoa học, trong đó có 3 cách phân loại nghiên cứukhoa học thường dùng là: phân loại theo chức năng nghiên cứu (mô tả, giải thích, giảipháp, dự báo), phân loại theo phương pháp thu thập thông tin phục vụ nghiên cứu (thưviện, điền dã, labô) và phân loại theo các giai đoạn của nghiên cứu: Nghiên cứu cơbản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai
Trong nghiên cứu này, cách phân loại nghiên cứu khoa học, hoạt động KH&CN theo
các giai đoạn và tính chất đặc trưng sản phẩm của mỗi giai đoạn được sử dụng Việc
thống nhất cách hiểu những khái niệm này là rất quan trọng và cần thiết trong công tácquản lý KH&CN nói chung cũng như xác định rõ hoạt động của các tổ chức R&D nóiriêng
1.1.1 Nghiên cứu khoa học (Scientific research - R)
Theo quan điểm của UNESCO nghiên cứu khoa học được xác định là mọi hoạt động
có tính hệ thống và sáng tạo nhằm làm tăng khối lượng tri thức khoa học và khả năng ứng dụng các tri thức ngày vào thực tế 1 Để cụ thể hóa các loại hình nghiên cứu,UNESCO tiếp tục làm rõ nội hàm khái niệm qua việc phân chia hoạt động này theo
lĩnh vực thành nghiên cứu trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên, kĩ thuật và công
nghệ, y dược, nông nghiệp với các khoa học xã hội Nghiên cứu này đi theo cách
phân loại theo các giai đoạn của nghiên cứu theo Hướng dẫn Fracasti 2002 gồmnghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng:
a) Nghiên cứu cơ bản
Nghiên cứu cơ bản (fundamental research hoặc basic research) là những nghiên cứu nhằm phát hiện thuộc tính, cấu trúc, động thái các sự vật, tương tác trong nội bộ sự vật và mối liên hệ giữa sự vật với các sự vật khác Sản phẩm nghiên cứu cơ bản có thể
là các khám phá, phát hiện, phát minh, dẫn đến việc hình thành một hệ thống lý thuyết
Trang 13có giá trị tổng quát 2 Ví dụ, Marie và Pierre Curie phát hiện ra nguyên tố phóng xạradium; các nghiên cứu về lý thuyết hạt nhân, lý thuyết tương đối của Einstein Nghiên cứu cơ bản bao gồm các hoạt động thực nghiệm hoặc nghiên cứu lý thuyếtnhằm đạt được tri thức về nền tảng cơ bản của các hiện tượng hoặc các sự kiện đượcquan sát mà không hề tính tới khả năng ứng dụng đặc biệt hay cụ thể nào, hoặc quanđiểm sử dụng nào Với ý nghĩa này, nghiên cứu cơ bản được hiểu với nghĩa rộng nhất,
nó không bị giới hạn bởi lĩnh vực nào, thời điểm nào, điều kiện thực tế nào mà baophủ mọi hoạt động khám phá tìm kiếm bản chất của sự vật, hiện tượng nhằm nâng cao
sự hiểu biết của con người Bản chất của nghiên cứu cơ bản thường được bắt nguồnbởi sự ham thích khám phá những điều chưa được giải đáp và thường không cần phảiràng buộc bởi bất kỳ ứng dụng cụ thể nào Yêu cầu chính của nghiên cứu cơ bản là cáctri thức tìm được phải mới và có ý nghĩa phổ quát, các kết quả nghiên cứu cơ bản chỉ
có giá trị nếu đóng góp được vào kho tàng tri thức loài người và do vậy tiêu chí quantrọng nhất của nghiên cứu cơ bản là tri thức mới Nghiên cứu cơ bản được chia thànhhai loại: nghiên cứu cơ bản thuần tuý và nghiên cứu cơ bản định hướng
về tổ chức và quản lý Một số giải pháp công nghệ có thể trở thành sáng chế
Nghiên cứu ứng dụng nhằm tìm ra các tri thức khoa học để giải quyết các vấn
đề đặt ra từ nhu cầu thực tế, như việc tìm cách làm các tấm vật liệu lợp nhà chốngnóng với giá rẻ, việc tìm cách tạo ra nước ngọt ở những vùng nước mặn, hay việc tìmcách làm ra các chương trình máy tính dịch tự động tiếng Anh sang tiếng Việt Do trithức để giải quyết các vấn đề thực tế không luôn được công bố như các tri thức khoahọc cơ bản, và rất nhiều bài toán thực tế liên quan đến các đặc tính tự nhiên, địa lý, xãhội của những xứ sở khác nhau (như xử lý tiếng Việt bằng máy tính), tính mới mẻ củanghiên cứu ứng dụng nhiều khi có thể là tương đối, tức chừng mực nào đó có thểkhông hoàn toàn mới trong kho tàng tri thức của nhân loại nhưng là mới với một cộngđồng, một đất nước (như nhiều nội dung của nghiên cứu dịch tự động AnhViệt) Dovậy, tính cần thiết hay cấp thiết của các nghiên cứu ứng dụng có thể được nhấn mạnh.Nghiên cứu ứng dụng cũng có thể là nghiên cứu để áp dụng các kết quả nghiên cứu đãthành công ở một môi trường nhất định, vào trong một môi trường mới của sự vật vàhiện tượng
Ngoài ra, rất cần phân biệt sự khác nhau giữa nghiên cứu ứng dụng và ứngdụng (application) Ứng dụng không nhằm vào việc tìm ra tri thức mới, mà vào việcdùng các tri thức đã biết để làm những việc cụ thể, thí dụ như việc dùng một mô hình
2 Y De Hemptinne: Questions-clé des politiques scientifiques et technologiques nationales, UNESCO, Paris,
1981.
Trang 14và phương pháp đã biết để xử lý một tình huống thực tiễn, ứng dụng phần mềm toánhọc để giải toán, ứng dụng đèn không cần nguồn điện cho các dự án xóa đói giảmnghèo Có thể vì ranh giới không rõ ràng, nên nghiên cứu ứng dụng và việc ứng dụngrất thường bị lẫn lộn trong thực tế Nếu như nghiên cứu ứng dụng là để tìm ra một quy
trình, vật thể, Kết quả của nghiên cứu ứng dụng thì chưa ứng dụng được Để có thể
đưa KQNC ứng dụng vào sử dụng thì còn phải tiến hành một loại hình nghiên cứu
khác, có tên gọi là triển khai.
Một điều cần lưu ý là, mặc dù mang tên gọi như vậy, nhưng kết quả của nghiêncứu ứng dụng vẫn chưa thể ứng dụng được ngay, mà để có thể đưa chúng vào sử dụng
trong thực tế, còn phải trải qua một giai đoạn nghiên cứu nữa, gọi là triển khai Ví dụ,
đề tài ứng dụng máy lọc nước di động trong bể nuôi tôm chạy bằng năng lượng mặttrời với định hướng ứng dụng tạo môi trường thuận lợi cho tôm sinh trưởng, song dochưa có điều kiện để sản xuất “Sêri 0”, nên sản phẩm vẫn chưa thể đi vào đời sống củangười nông dân
1.1.2 Triển khai (Development - D)
Theo quan điểm của Vũ Cao Đàm, triển khai được xem là giai đoạn nối tiếp giữanghiên cứu và sản xuất nhằm góp phần giảm thiểu rủi ro cho doanh nghiệp trong sản
hoạt động kinh doanh Triển khai (technological experimental development, gọi tắt là
development), là sự vận dụng các quy luật (thu được từ nghiên cứu cơ bản) và các nguyên lý (thu được từ nghiên cứu ứng dụng) để đưa ra các hình mẫu và quy trình sản xuất với những tham số khả thi về kỹ thuật Điều cần lưu ý là, kết quả triển khai thì chưa triển khai được (!) Sản phẩm của triển khai chỉ mới là những hình mẫu khả thi
kỹ thuật, nghĩa là không còn rủi ro về mặt kỹ thuật Để áp dụng được, còn phải tiến
hành nghiên cứu những tính khả thi khác, như khả thi tài chính, khả thi kinh tế, khả thimôi trường, khả thi xã hội Triển khai bao gồm ba giai đoạn:
a) Tạo ra vật mẫu (làm prototype) là giai đoạn thực nghiệm nhằm tạo ra được sản
phẩm mẫu hay còn gọi là vật mẫu chức năng (functional prototype), mà chưaquan tâm đến quy trình sản xuất ra vật mẫu và quy mô áp dụng vật mẫu đó
Ví dụ: Mô hình làng du lịch sinh thái kết hợp nghề truyền thống của vùng đồng bằngBắc Bộ
b) Tạo quy trình, công nghệ (làm pilot) là giai đoạn tìm kiếm, thử nghiệm và tạo
ra công nghệ để sản xuất sản phẩm theo mẫu mới (prototype) vừa thành công ởgiai đoạn trước, đôi khi còn gọi đây là giai đoạn tạo vật mẫu kỹ thuật(engineering prototype)
Ví dụ: Chính sách xây dựng và phát triển mô hình làng du lịch sinh thái kết hợp nghềtruyền thống của vùng đồng bằng Bắc Bộ
c) Sản xuất thử loạt đầu/sản xuất thử loạt nhỏ (sản xuất “Sêri 0”) là giai đoạn
kiểm chứng độ tin cậy của công nghệ trên quy mô nhỏ hay làm thí điểm, trongthực tế còn được gọi là sản xuất bán đại trà hay bán công nghiệp
Trang 15Ví dụ: Thí điểm mô hình làng du lịch sinh thái kết hợp nghề truyền thống tại một sốtỉnh của vùng đồng bằng Bắc Bộ (Nghiên cứu trường hợp Nam Định, Ninh Bình, HảiDương)
Theo quan điểm của UNESCO về hoạt động KH&CN, cả ba dạng hoạt độngnghiên cứu FR, AR, D có thể gắn kết lại với nhau trong khái niệm nghiên cứu và triểnkhai (R&D)
1.1.3 Giáo dục và đào tạo KH&CN tương đương bậc 3.
Theo UNESCO giáo dục và đào tạo KH&CN tương đương bậc 3 được xác định
là mọi hoạt động bao gồm giáo dục và đào tạo đặc biệt không thuộc hệ thống đại học,giáo dục và đào tạo để cấp bằng đại học, sau đại học, và đào tạo chuyên sâu, đào tạolâu dài có tổ chức đối với các nhà khoa học và các kĩ sư Đây là những hoạt độngkhông chỉ là giới hạn trong các tổ chức học thuật chuyên biệt như các trường đại học,cao đẳng mà còn bao gồm tất cả các khóa đào tạo tiên tiến đặc biệt cho nguồn nhân lựcKH&CN thuộc các tổ chức công hoặc ngoài công lập, những nơi vốn không được coi
là một phần của hệ thống giáo dục truyền thống Trong hoạt động này các kết quảnghiên cứu có từ hoạt động R&D có thể được chuyển giao cho người học thông hoạtđộng đào tạo bởi các giảng viên, các chuyên gia Hoạt động này sở dĩ tách biệt với quátrình R&D bởi sự hình thành một thiết chế xã hội độc lập nhằm chuyển giao tri thứccho người có nhu cầu tiếp nhận, nhằm nâng cao mức độ nhận thức của con người cũngnhư khả năng dùng tri thức đó để cải biến xã hội Hoạt động này không trực tiếp tạo ranhững sản phẩm sáng tạo, đột phá mà là quá trình tạo dựng, duy trì dự di chuyển củacác dòng tri thức (bao gồm các sản phẩm của R&D), các kinh nghiệm qua việc chứngnhận các trình độ khác nhau
1.1.4 Dịch vụ KH&CN
Theo định nghĩa của UNESCO dịch vụ khoa học và công nghệ là mọi hoạt động
phục vụ/hỗ trợ nghiên cứu khoa học và triển khai thực nghiệm nhằm góp phần tạo dựng, phổ biến và ứng dụng các tri thức khoa học và kĩ thuật Đặc điểm phân biệt
chính của dịch vụ KH&CN khi chỉ được coi là các yếu tố có liên quan đến R&D chính
ở việc không thể tạo ra các sản phẩm sáng tạo, sản phẩm có tính đổi mới Các dịch vụKH&CN được phân chia thành các dạng sau:
(i) Các dịch vụ KH&CN của thư viện, lưu trữ, trung tâm thông tin và tư liệu, các đơn vị tra cứu, trung tâm hội nghị khoa học, ngân hàng dữ liệu và các cơ quan
xử lý thông tin
(ii) Các dịch vụ KH&CN của các viện bảo tàng khoa học và/hoặc công nghệ, vườn thực vật và vườn thú và các bộ sưu tập khoa học khác (nhân chủng học, khảo cổ học, địa chất….)
(iii) Công việc có tính hệ thống về dịch thuật, hiệu đính các loại sách và tạp chí KH&CN (trừ sách giáo khoa phổ thông và giáo trình đại học)
(iv) Các cuộc điều tra về địa hình, địa chất và thủy văn; các quan trắc thường xuyên
về thiên văn, khí tượng, địa chấn; điều tra về thổ nhưỡng và thực vật, các nguồn
Trang 16tài nguyên hoang dã; kiểm tra đất, nước, không khí; kiểm tra thường nhật và quan trắc mức phóng xạ.
(v) Điều tra thăm dò và các công việc liên quan nhằm định vị và xác định tài nguyên khoáng sản, dầu mỏ
(vi) Thu thập thông tin về nhân loại, các hiện tượng xã hội, kinh tế và văn hóa, tập hợp những thông tin thống kê thường ngày như điều tra dân số, thống kê sản lượng, phân phối và tiêu thụ, nghiên cứu thị trường, thống kê xã hội và văn hóa, v.v
(vii) Kiểm định, tiêu chuẩn hóa, đo lường và kiểm soát chất lượng: công việc thường xuyên về phân tích, kiểm tra, kiểm nghiệm bằng những biện pháp được công nhận các vật liệu, sản phẩm, thiết bị và quy trình, cùng với việc thiết lập và duy trì các tiêu chuẩn và chuẩn đo lường
(viii) Công việc thường xuyên hàng ngày để tư vấn cho khách hàng, các bộ phận khác của tổ chức hoặc người dùng độc lập, được thiết kế để giúp họ tận dụng thông tin khoa học, công nghệ và quản lý
(ix) Các hoạt động liên quan đến bằng sáng chế và li xăng là hệ thống công việc có
có tính khoa học, tính pháp quy và tính hành chính về bằng sáng chế và li xăng được thực hiện bởi tổ chức công.
Dịch vụ KH&CN là một loại hình hoạt động KH&CN, có chức năng cung ứngdịch vụ cho mọi loại hình hoạt động KH&CN khác, đồng thời cung ứng dịch vụ chomọi hoạt động KT-XH Dịch vụ KH&CN bao gồm: các loại hoạt động phục vụ chonghiên cứu, triển khai, giáo dục và đào tạo KH&CN, chuyển giao và phát triển côngnghệ, như các dịch vụ tính toán, cung cấp thông tin tư liệu, môi giới, trợ giúp kỹ thuật(lắp đặt, cân chỉnh máy móc thiết bị; duy tu, bảo dưỡng kỹ thuật phần cứng và phầnmềm; kiểm định đo lường, thử nghiệm, hiệu chuẩn; phân tích, kiểm định mẫu nguyênliệu, sản phẩm, v.v…) và thực hiện các dịch vụ tư vấn kỹ thuật, chứng nhận quyền sởhữu công nghiệp
Theo quan điểm của Vũ Cao Đàm, hoạt động KH&CN còn cần bao phủ 2 dạng hoạtđộng sau:
Chuyển giao công nghệ
Trong xã hội luôn luôn tồn tại các luồng di động công nghệ từ nơi có trình độ, nănglực công nghệ cao đến nơi có trình độ, năng lực công nghệ thấp hơn - luồng di động đótạo ra quá trình chuyển giao công nghệ, xét về mặt bản chất đó chính là quá trình traotri thức công nghệ Chuyển giao công nghệ (transfer of technology) là sự chuyểnnhượng quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một công nghệ giữa hai đối tác LuậtCGCN quy định: “CGCN là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phầnhoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền CGCN sang bên nhận công nghệ” (Điều 3 8,Luật CGCN) Công nghệ được chuyển giao bao gồm: các bí quyết, quy trình, côngthức, quyền sở hữu và quyền sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp Chuyển giaocông nghệ có thể đi kèm hoặc không đi kèm hợp đồng licence hoặc hợp đồng patent-
Trang 17licence, có thể đi kèm hoặc không đi kèm đầu tư thiết bị, tiền vốn Tuy nhiên hiện naychuyển giao công nghệ không chỉ được hiểu theo nghĩa là quá trình chuyển giao đơnthuần giữa người có quyền sở hữu hoặc sử dụng công nghệ đến người có nhu cầu màcòn phải là quá trình đảm bảo việc sử dụng, ứng dụng công nghệ của bên nhận nhằmtạo ra các sản phẩm mới trong phạm vi hợp đồng chuyển giao quy định
Theo TS Nguyễn Vân Anh3, khái niệm chuyển giao công nghệ cho đến nay có thể tómtắt lại ở các quan điểm như sau:
– CGCN là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền CGCN sang bên nhận công nghệ;
– CGCN là sự dịch chuyển công nghệ qua biên giới quốc gia;
– CGCN là chuyển giao giữa các khâu của vận động công nghệ: Nghiên cứu cơ bản
-> nghiên cứu ứng dụng > sản xuất thử, thử nghiệm > thương mại hóa.
Mỗi cách tiếp cận phục vụ cho những mục đích sử dụng khác nhau trong thực tế,nhưng tựu chung lại có thể xem đây là dạng hoạt động bộ phận của chuyển giao trithức với những quy định chặt chẽ thành văn thông qua các hợp đồng chuyển giao côngnghệ, nhờ đó tạo luồng dịch chuyển công nghệ từ bên giao sang bên nhận nhằm đảmbảo bên nhận có được năng lực sử dụng công nghệ nhất định trong việc tạo ra sảnphẩm để sản xuất, kinh doanh
Phát triển công nghệ
Phát triển công nghệ (development of technology hay technology development) là sự
mở rộng và/hoặc nâng cấp công nghệ, bao gồm hoạt động phát triển công nghệ theo chiều rộng - nhân rộng, mở rộng công nghệ (extensive development of technology hay diffusion of technology) và hoạt động phát triển công nghệ theo chiều sâu - nâng cấp
công nghệ (intensive development of technology hay upgrading of technology)
- Phát triển công nghệ theo chiều ngang là sự lan tỏa, phổ biến công nghệ giữa các tổ
chức, đơn vị trong xã hội có nhu cầu sử dụng công nghệ hiện có mà không có bất kỳ
sự liên quan nào tới hoạt động R&D để tạo ra công nghệ này Thực chất đây là quátrình nhân rộng công nghệ về mặt số lượng, không có biến đổi về mặt trình độ, nănglực công nghệ và chất lượng sản phẩm Ưu điểm của hình thức phát triển theo chiềungang là ít rủi ro, nhưng năng lực cạnh tranh thấp
- Phát triển công nghệ theo chiều dọc là sự dịch chuyển tri thức công nghệ từ khu vực
R&D vào doanh nghiệp, thực chất đây là quá trình áp dụng kết quả nghiên cứu vào sản
xuất Về mặt lý thuyết, sau giai đoạn triển khai, kết quả nghiên cứu sẽ được đưa vào
khu vực sản xuất từ đó tạo ra những hiệu quả nhất định về năng suất, hay chất lượng
3 Nguyễn Vân Anh (2015), Bàn về khái niệm công nghệ và chuyển giao công nghệ trong Luật Chuyển giao công nghệ, Tạp chí Chính sách và Quản lý KH&CN, tập 4 (1), tr 104
Trang 18sản phẩm Tuy nhiên, trên thực tế vì nhiều lý do khác nhau, có thể do doanh nghiệpchưa sẵn sàng tiếp nhận, cũng có thể do đơn vị R&D còn muốn giữ lại bí quyết côngnghệ, hoặc muốn tiếp tục hoàn thiện công nghệ, v.v…tình huống đó thúc đẩy tổ chứcR&D lập ra các doanh nghiệp vệ tinh (doanh nghiệp spin-off) để tự mình đưa ra thịtrường các công nghệ, sản phẩm mới và độc đáo Mặc dù xác suất rủi ro của hình thứcchuyển giao theo chiều dọc có thể cao, song đổi lại, năng lực cạnh tranh cũng lại cóthể rất cao, do tạo ra được các sản phẩm mới dựa trên công nghệ mới Đây cũng chính
là nơi thể hiện rõ nhất sự giao nhau của hoạt động KH&CN với hoạt động thương mại
và trong nhiều trường hợp, nó gần với hoạt động thương mại hơn Ở khía cạnh này,phát triển công nghệ gắn bó chặt chẽ với quá trình đổi mới công nghệ, quá trình tạodựng năng lực đổi mới nói chung của doanh nghiệp
1.2 Phân biệt khái niệm “Triển khai” và “Phát triển” trong quản lý
KH&CN
Phân tích trên cho thấy R&D là một chuỗi bộ phận trong tổng thể các hoạt động
KH&CN, theo UNESCO, R&D là “các hoạt động sáng tạo được thực hiện một cách
có hệ thống để tăng cường vốn tri thức, bao gồm tri thức về con người, văn hoá, xã hội và sử dụng vốn tri thức này để tìm ra các ứng dụng mới” Hoạt động R&D bao
gồm các loại hình: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai Hoạt độngR&D có nhiều điểm khác biệt với các loại hình hoạt động KT-XH khác Trong đó, cónhững đặc điểm dẫn đến sự khác biệt cơ bản trong quản lý loại hình hoạt động đặc thùnày
Đặc điểm phải kể đến trước tiên đó là tính mới - quá trình nghiên cứu khoa học là
quá trình hướng tới những phát hiện mới, sáng tạo mới, những tri thức mới về các hiện
tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; đặc điểm thứ hai là tính rủi ro, quá trình rủi ro - quá trình khám phá bản chất sự vật, hiện tượng, quy luật và sáng tạo
sự vật mới hoàn toàn có thể gặp thất bại, có nhiều nguyên nhân có thể dẫn đến thất bại,như: giả thuyết khoa học, phương pháp nghiên cứu sai, phương tiện thực nghiệm kémchính xác, thiếu các thông tin cần thiết hoặc thông tin không đủ tin cậy, năng lực xử lýthông tin bị hạn chế, v.v…có những trường hợp kết quả nghiên cứu đã thành công,nhưng vẫn gặp rủi ro khi mở rộng quy mô áp dụng do chưa thực sự làm chủ được công
nghệ, hoặc không áp dụng được vì một lý do xã hội nào đó; đặc điểm thứ ba là sản phẩm bất định - đặc trưng của sản phẩm không thể xác định được chính xác trong quá
trình lập kế hoạch nghiên cứu, không biết trước được một cách chính xác phương phápxác định bản chất sự vật, không xác định được chắc chắn đặc tính của sản phẩm làm
ra; và đặc điểm thứ tư là tính phi kinh tế - sản phẩm của R&D về cơ bản là tri thức và
sản phẩm của chuỗi hoạt động R&D, ở tận khâu cuối cùng là sản xuất “Sêri 0”, vẫn làvật mang tri thức mà chưa có giá trị kinh tế Tất nhiên ở đây cần tránh nhầm lẫn giữasản xuất thử loạt đầu với sản xuất thật ở quy mô nhỏ Tính phi kinh tế của hoạt động
R&D còn thể hiện rõ rệt ở việc đầu tư thiết bị cho R&D; đặc điểm thứ năm là tính trễ
Trang 19-một kết quả sau khi nghiên cứu thành công, không bao giờ có thể được áp dụng ngayvào sản xuất và đời sống, mà thường có một khoảng thời gian chờ nào đó.
Triển khai - gọi một cách đầy đủ là triển khai thực nghiệm công nghệ
(Technological experimental development - viết tắt là Development) bao gồm 3 giai
đoạn: làm ra vật mẫu, làm công nghệ để sản xuất sản phẩm theo mẫu mới và sản xuấtthử để kiểm chứng độ tin cậy của công nghệ - là khâu cuối cùng của hoạt động R&D.Quản lý hoạt động này thuộc phạm trù quản lý R&D và đòi hỏi sự chú ý đầy đủ tới các
đặc điểm về tính mới, tính rủi ro, tính bất định, tính khách quan, tính thông tin, tính cá nhân, tính kế thừa, tính phi kinh tế và tính trễ Toàn bộ hoạt động này sẽ không phải
chịu thuế và sử dụng nguồn kinh phí nghiên cứu khoa học
Kết thúc khâu Triển khai, công nghệ được chuyển giao và vận hành trong sản
xuất, lúc đó hoạt động Phát triển công nghệ (Development of technology) bao gồm
mở rộng công nghệ và nâng cấp công nghệ bắt đầu, kèm theo đó là sự khởi động củaquá trình quản lý công nghệ với nhiều đặc điểm khá trái ngược với quản lý hoạt động
R&D, đó là tính lặp lại theo chu kỳ (chu kỳ chế tạo sản phẩm, chu kỳ sống của sản phẩm và công nghệ), tính tin cậy, sản phẩm xác định, tính kinh tế cao, v.v Theo Vũ Cao Đàm, toàn bộ hoạt động này không được sử dụng kinh phí nghiên cứu mà phải sử dụng vốn sản xuất, vốn vay hoặc vốn đầu tư mạo hiểm, và phải nộp thuế cho nhà nước như một phần hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Như vậy hoạt động “Triển khai” và “Phát triển” hoàn toàn khác biệt nhau với tưcách là các đối tượng quản lý và đối tượng phân biệt đối xử trong chính sách Khoa học
và Công nghệ của mỗi quốc gia
1.3 Tổ chức nghiên cứu và triển khai
Nghiên cứu này đi theo quan điểm của UNESCO về tổ chức R&D như sau: tổchức R&D là một hệ thống tổ chức bao gồm các viện, các trung tâm có chức năng thựchiện những nhiệm vụ về nghiên cứu khoa học; triển khai thực nghiệm, nhằm mục đíchđưa ra những kết luận khoa học trên các mức độ khác nhau: có thể là những kết luậnthuần túy lý thuyết, song cũng có thể là những kết luận thực nghiệm, hoặc nhữngkhuôn mẫu của một giải pháp tổ chức, quản lý, hoặc những giải pháp kỹ thuật, côngnghệ
Tổ chức R&D là một bộ phận của tổ chức KH&CN, bộ phận này thực hiện các quátrình nào trong hoạt động KH&CN là điều cần làm rõ Trước hết cần làm rõ một sốnội dung thuộc nội hàm của tổ chức KH&CN, từ đó tìm ra quan hệ giữa tố chức R&Dvới tổ chức KH&CN, và vai trò của tổ chức này đối với sự phát triển KT-XH Tổ chứcKH&CN là các cách gọi tắt của thuật ngữ “Tổ chức nghiên cứu khoa học và triển khaicông nghệ” Luật Khoa học và Công nghệ giải thích thuật ngữ này tại Khoản 11, Điều
3 như sau:“Tổ chức khoa học và công nghệ là tổ chức có chức năng chủ yếu là nghiên cứu khoa học, nghiên cứu triển khai và phát triển công nghệ, hoạt động dịch vụ khoa học và công nghệ, được thành lập và đăng ký hoạt động theo quy định của pháp luật.”
Trang 20Từ những phân tích về khái niệm R&D và phát triển công nghệ ở trên có thể thấy cáchđịnh nghĩa tổ chức KH&CN kéo theo những lỗi sai về nội hàm khái niệm, từ đó dẫnđến những khó khăn cho hoạt động thống kê, đánh giá cũng như hoạch định chính sáchcho mỗi loại hình tổ chức cụ thể trong lĩnh vực KH&CN Trên thế có nhiều quan điểmkhác nhau về vấn đề này, tác giả Vũ Cao Đàm tóm tắt 4 mô hình tổ chức KH&CN nhưsau:
- Mô hình I: là mô hình cổ điển nhất, trong đó các tổ chức R&D thực hiện trọnvẹn các giai đoạn của quá trình R&D, còn các doanh nghiệp chỉ làm nhiệm vụ sản xuất
và tiếp tục phát triển công nghệ trong sản xuất Giữa tổ chức R&D và doanh nghiệptồn tại các công ty tư vấn đóng vai trò cầu nối từ R&D tới sản xuất
- Mô hình II: là một nỗ lực của doanh nghiệp hướng tới làm chủ công nghệ mớibằng cách tự mình làm triển khai, từ khâu chế tạo vật mẫu sản phẩm mới (prototype),làm pilot để xây dựng công nghệ và sản xuất loạt “0”, đưa vào sản xuất công nghiệp vàtiếp tục phát triển công nghệ trong sản xuất
- Mô hình III: tổ chức R&D tạo ra các doanh nghiệp KH&CN (xí nghiệp off), chuyển toàn bộ khâu “triển khai” vào doanh nghiệp này, đồng thời để doanh nghiệpnày kiêm luôn cả chức năng của một công ty tư vấn
spin Mô hình IV: doanh nghiệp KH&CN kéo dài chức năng về phía trước, bắt đầu từnghiên cứu ứng dụng qua triển khai tới tư vấn
Triểnkhai
Chuyển giaotri thức
Phát triểncông nghệ
tư vấn
Doanhnghiệp
Mô hình III Tổ chức R&D Doanh nghiệp KH&CN Doanh
nghiệp
R&D Doanh nghiệp KH&CN
Doanhnghiệp
Bảng 1 Các mô hình tổ chức trong hoạt động KH&CN4
Như vậy, tổ chức KH&CN hình thành ở 2 dạng là tổ chức R&D và doanhnghiệp KH&CN mà ở mỗi mô hình phạm vi hoạt động của các dạng tổ chức này baophủ lên các khâu R&D, chuyển giao tri thức và phát triển công nghệ ở những mức độkhác nhau Trong đó, tổ chức R&D được tổ chức dưới các hình thức Viện/Trung tâmR&D, phòng thí nghiệm, trạm quan trắc/nghiên cứu/thử nghiệm, với nhiệm vụ theoquy mô tổ chức và phạm vi hoạt động Tùy theo phân cấp quản lý hành chính các tổchức R&D được chia thành:
4 Vũ Cao Đàm (2009), Tuyển tập các công trình đã công bố, Tập II: Nghiên cứu chính sách và chiến lược, Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội.
Trang 21Các tổ chức R&D cấp quốc gia được thành lập chủ yếu thực hiện các nhiệm vụKH&CN ưu tiên, trọng điểm của nhà nước nhằm cung cấp các luận cứ khoa học choviệc định ra đường lối, chính sách, pháp luật, tạo ra các kết quả KH&CN mới có ýnghĩa quan trọng đối với phát triển KT-XH, đảm bảo quốc phòng - an ninh, đào tạonhân lực, bồi dưỡng nhân tài về KH&CN Các tổ chức R&D cấp quốc gia có thể làViện Hàn lâm khoa học, Khu công nghệ cao và các tổ chức R&D cấp quốc gia khác
+ Viện Hàn lâm khoa học là tổ chức nghiên cứu khoa học, trong đó bao gồmcác viện nghiên cứu khoa học với nhiều hướng chuyên môn khác nhau Ở Việt Nam cóhai cơ quan thuộc loại hình này là “Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam”
và “Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam”
+ Khu công nghệ cao: là nơi tổ chức các hoạt động phục vụ cho phát triển côngnghệ cao và công nghiệp công nghệ cao gồm: Các tổ chức R&D, các cơ sở đào tạo –huấn luyện, các doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ trong lĩnh vực công nghệ caonhằm tiếp thu, đồng hóa cải tiến các công nghệ được chuyển giao, sáng tạo công nghệcao mới và sản xuất các sản phẩm công nghệ cao Ở Việt Nam hiện có một số khucông nghệ cao như Hoà Lạc, Thủ Đức, Đà Nẵng, nhưng đang trong giai đoạn hìnhthành
- Các tổ chức R&D của Bộ, cơ quan ngang Bộ, tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương được lập ra chủ yếu thực hiện các nhiệm vụ KH&CN phục vụ mục tiêu phát triểnKT-XH của ngành và địa phương, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài về KH&CN
Đó là các Viện nghiên cứu cơ bản; Viện nghiên cứu chính sách; Viện nghiên cứu côngnghệ
Tổ chức R&D nói trên là do Nhà nước thành lập và được Nhà nước bảo đảmtoàn bộ hoặc một phần kinh phí để thực hiện chức năng của tổ chức R&D Tổ chứcR&D của Nhà nước được Nhà nước đầu tư xây dựng cơ bản, đầu tư mua sắm trangthiết bị phục vụ hoạt động KH&CN và các tài sản khác, cấp kinh phí thực hiện cácnhiệm vụ do Nhà nước giao, cấp kinh phí để chi lương và chi hoạt động bộ máy
- Tổ chức R&D cấp cơ sở thực hiện nhiệm vụ KH&CN theo mục tiêu và nhiệm
vụ do tổ chức, cá nhân thành lập xác định Đây có thể là những tổ chức R&D của cácdoanh nghiệp lập ra để nghiên cứu những vấn đề kỹ thuật - công nghệ làm cơ sở chođổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm của doanh nghiệp trong quá trình cạnh tranh đểtồn tại và phát triển Những tổ chức NC&TK loại này gồm tổ chức được thành lập bởitập thể (trực thuộc các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghềnghiệp, doanh nghiệp ) hoặc tư nhân (do các cá nhân thành lập và đăng ký hoạt động)Các tổ chức R&D thuộc mọi hình thức sở hữu đều được quyền tự chủ về tàichính nói chung và tự chủ trong tìm kiếm các nguồn tài trợ nói riêng Tất nhiên, các tổchức cung cấp tài chính quyết định tài trợ cho các đề tài, chương trình R&D nào làhoàn toàn tuỳ thuộc vào mục đích sử dụng các sản phẩm R&D tương ứng của Nhà tàitrợ đó Đối với các tổ chức R&D công lập, được Nhà nước lập ra vì những lý do khácnhau (để phục vụ những mục tiêu chiến lược phát triển đất nước, hoạt động trongnhững lĩnh vực quan trọng cần tập trung ưu tiên phát triển, những lĩnh vực mà lựclượng R&D tư nhân còn non yếu, không đáp ứng ý đồ sử dụng KH&CN của Nhà
Trang 22nước, những lĩnh vực mà khu vực tư nhân không muốn hoặc chưa muốn tham gia dothiếu cơ chế thị trường, không hoặc chưa mang lại lợi nhuận hấp dẫn, những lĩnh vực
mà Nhà nước cần quản lý chặt chẽ kết quả nghiên cứu, v.v…) được Nhà nước cungcấp đủ tài chính để thực hiện các nhiệm vụ KH&CN có tính chất sứ mệnh
Chức năng tổng quát của các tổ chức R&D là thực hiện các hoạt động nghiêncứu và triển khai để tạo ra các sản phẩm bao gồm phát minh, phát hiện, sáng chế đến
từ các nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, triển khai thực nghiệm; đồng thờithực hiện hoạt động chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển KT-XH Ngoài ra, các
tổ chức NC&TK còn thực hiện các hoạt động tư vấn về các lĩnh vực liên quan đếnchức năng chủ yếu của tổ chức Có thể khái quát một số chức năng chính của tổ chứcR&D như sau5:
- Nghiên cứu khoa học, bao gồm nghiên cứu ứng dụng, triển khai thực nghiệm quy mô bán công nghiệp để khẳng định chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật công nghệ, tạo công nghệ mới, chuyển giao công nghệ vào SX-KD.
- Tư vấn chuyên ngành, từ khâu lập dự án tiền khả thi, thiết kế kỹ thuật, thiết kế thi công, giám sát thi công, thẩm định các dự án, tư vấn đầu tư, tư vấn về đánh giá tác động môi trường…
- Sản xuất nhỏ những sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao Những công nghệ mới chưa chuyển giao cho sản xuất được thì có thể tổ chức sản xuất nhỏ tại các tổ chức NC&TK để khẳng định dây chuyền công nghệ và đưa sản phẩm chất lượng cao vào thị trường.
- Đào tạo công nhân, đào tạo sau đại học, đào tạo nâng cao trình độ quá trình hoạt động tư vấn, NC&TK.
Tóm lại, tổ chức R&D là một loại hình tổ chức có chức năng cung cấp các kết luận khoa học ở các mức độ khác nhau, thực hiện chuyển giao công nghệ, tư vấn
và đào tạo về KH&CN nhằm phục vụ cho đời sống - xã hội mà không phụ thuộc vào thành phần kinh tế, vào cấp quản lý hành chính, vào lĩnh vực KH&CN cụ thể
có chức năng thực hiện một khâu hoặc nhiều khâu trong quy trình R&D.
1.4 Môi trường và ô nhiễm môi trường
1.4.1 Khái niệm môi trường
Theo nghĩa rộng nhất thì môi trường là một tổ hợp các yếu tố bên ngoài của một hệ thống nhất định, chúng tác động lên hệ thống này và xác định xu hướng và
tình trạng tồn tại của nó Môi trường của một hệ thống đang xem xét cần phải có tínhtương tác với hệ thống đó, môi trường chỉ được xác định khi nó có một hệ thống chỉthị sự tồn tại Nếu hệ thống đó là một sinh vật thì môi trường sẽ bao gồm tất cả những
gì bao quanh sinh vật, tất cả các yếu tố vô sinh, hữu sinh có tác động trực tiếp hoặcgián tiếp lên sự sinh sống, phát triển và sinh sản của sinh vật Theo đó, đối với con
5 Đinh Việt Bách, luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý KH&CN, Điều kiện và năng lực tự chủ của các tổ
Trang 23người thì môi trường là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống,sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng,cảnh quan, quan hệ xã hội
Nghiên cứu ở đây nhìn nhận khái niệm môi trường theo Điều 3 Luật Bảo vệ
môi trường của Việt Nam năm 2014 thì “môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật."
1.4.2 Ô nhiễm môi trường và an ninh môi trường
Trên thế giới, ÔNMT được hiểu là việc chuyển các chất thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khoẻ con người, đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường Các tác nhân ô nhiễm bao
gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng (nước thải), rắn (chất thải rắn) chứa hoáchất hoặc tác nhân vật lý, sinh học và các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức xạ, trong
đó hàm lượng, nồng độ hoặc cường độ các tác nhân đạt đến mức có khả năng tác độngxấu đến con người, sinh vật và vật liệu
Tổ chức y tế thế giới (WHO): “ÔNMT là sự đưa vào môi trường các chất thải hoặc năng lượng ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống sinh vật, sức khỏe con người hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường”
Theo Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam sửa đổi năm 2014: “ÔNMT là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật.”
ÔNMT tác động lớn và chính yếu là do con người và cách quản lý của conngười ÔNMT làm thay đổi một cách không mong muốn tính chất vật lí, hoá học, sinhhọc của không khí, đất, nước trong môi trường sống, gây tác động nguy hại tức thờihoặc tương lai đến sức khoẻ, đời sống con người, làm ảnh hưởng đến quá trình sảnxuất và tái sản xuất, đến các tài sản, văn hoá và làm tổn thất nguồn tài nguyên dự trữcủa con người… ÔNMT là một trong những vấn đề trung tâm, có tính chất toàn cầu,một trong những mối quan tâm hàng đầu và cấp thiết của các quốc gia, các khu vựctrong thế kỉ XXI này
ÔNMT là một trong những cơ sở làm nảy sinh tình trạng mất an ninh môi
trường "An ninh môi trường là việc đảm bảo không có tác động lớn của môi trường đến sự ổn định chính trị, xã hội và phát triển kinh tế của quốc gia" (Luật BVMT năm
2014) Một hệ thống môi trường bị mất an ninh có thể do các nguyên nhân tự nhiên(thiên tai) hoặc do các hoạt động của con người (khai thác cạn kiệt tài nguyên thiênnhiên, thải chất độc vào môi trường gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, suy giảm đadạng sinh học, ) hoặc phối hợp tác động của cả hai nguyên nhân trên Như vậyÔNMT sẽ đe dọa đến các điều kiện sống tối thiểu của con người, đe dọa sự tồn tại tại
và phát triển của con người, dẫn đến nguy cơ mất an ninh môi trường
1.5 Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững
Trang 241.5.1 Khái niệm bảo vệ môi trường
Trước đây, chiến tranh, bệnh dịch vốn được cho là nguyên nhân then chốt dẫnđến sự tồn vong của con người, các thiết chế chính trị hay tôn giáo đã từng có khảnăng tác động lớn đến số phận của mỗi con người trong xã hội Từ đó chúng trởthành các chủ đề thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu, của các chính trị gia hayphần lớn cộng đồng dân cư Song ngày nay khi thế giới đứng trước một loạt nhữngthách thức của biến đổi khí hậu toàn cầu, tình trạng khan hiếm các nguyên nhiên vậtliệu trầm trọng, khi con số các sinh vật bị đưa vào “sách đỏ” ngày một dài hơn, và khicon người nhận thức được rằng quá trình chinh phục tự nhiên của mình đang gặp phải
sự phản kháng, thậm chí có thể nhìn nhận điều đó dưới góc độ của sự trừng phạt thìnhân loại bắt đầu quan tâm một cách nghiêm túc hơn, các chính phủ bắt đầu có nhữnghoạt động thiết thực hơn trong các hoạt động bảo vệ môi trường Không phải chỉ đếnkhi những biến đổi trong tự nhiên trở nên rõ rệt, những hậu quả to lớn về mặt KT-XH,những tổn thất cụ thể về con người xảy ra như hiện nay các học giả mới bắt đầu quantâm đến việc nghiên cứu các vấn đề liên quan đến việc bảo vệ môi trường Thuật ngữngày nay chúng ta hay nhắc tới “Tăng trưởng hay là chết” đã từng được biến thành
“tăng trưởng và chết” qua một lời cảnh báo hơn 30 năm trước6 Câu trả lời do nghiêncứu của các thành viên câu lạc bộ Rome đưa ra đã trở thành tiếng chuông cảnh tỉnhcho toàn bộ thế giới về hoạt động của con người trong ứng xử với môi trường Xã hộiphải có những thay đổi căn bản trong hoạt động sống của mình, thậm chí họ còn cóphần tiêu cực khi đưa ra giải pháp là ngừng tăng trưởng để được tồn tại Tuy nghiêncứu của họ đưa ra những chỉ báo không hoàn toàn chính xác tính cho tới thời điểmhiện tại, song những ý tưởng về giới hạn của sự tăng trưởng là một động lực mạnh mẽcho sự thay đổi hành vi của con người, làm hài hòa giữa sự phát triển và các điều kiệnmôi trường Đó có thể là một trong những nguyên nhân thúc đẩy hành động của một
xã hội văn mình như nguyên tắc lợi nhuận của giới doanh nghiệp phải tính toán đếncác chi phí môi trường
Nhận thức được vấn đề này, các quốc gia đã tiến tới hoàn thiện hơn các điềuluật về bảo vệ môi trường, tích cực tham gia vào các công ước quốc tế chống biến đổikhí hậu và bảo vệ môi trường vì sự sinh tồn Những nỗ lực trước hết được thể hiện quaviệc đi đến một khái niệm thống nhất về bảo vệ môi trường Hoạt động bảo vệ môi
trường được qui định trong Luật BVMT năm 2014 của Việt Nam là “những hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ cho môi trường trong lành”.
6 Năm1972, tại Tổ chức CLB Rome - nơi thảo luận và sáng tạo của các chuyên gia hàng đầu thế giới trong nhiều lĩnh vực kinh tế, chính sách, khoa học, môi trường , ba câu hỏi đã được đặt ra về vấn đề môi trường và sự phát triển của xã hội loài người :
1 Điều gì sẽ xảy ra nếu quá trình tăng dân số thế giới cứ tiếp tục không được kiểm soát?
2 Sẽ có những hậu quả gì về môi trường nếu tốc độ tăng trưởng kinh tế vẫn giữ nguyên như thế?
3 Cần phải tiến hành nghiên cứu những gì để bảo đảm cho nền kinh tế toàn cầu đủ nuôi sống toàn bộ dân số, và cũng đủ để phù hợp với những giới hạn tự nhiên khách quan của Trái đất?
Trang 25Bảo vệ môi trường là nỗ lực hành động chung của toàn bộ cộng đồng, của mọi cư dân sống trên trái đất nhằm gìn giữ sự cân bằng của các chức năng môi trường và hạn chế các tác động bất lợi đến sự phát triển của hệ sinh thái môi trường Bảo vệ môi trường không chỉ là một khẩu hiệu mà là một tâm thức của hành
động sẽ chi phối hành vi của mỗi cá nhân, tổ chức trong xã hội làm gì và làm như thếnào để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội mà không gây nguy hại đến các yếu tố môitrường Nếu trước đây bảo vệ môi trường chỉ được xem xét ở từng quốc gia, từng khuvực thì ngày nay vấn đề này trở thành một chủ đề thảo luận ở hội nghị toàn cầu, màHội nghị thượng đỉnh toàn cầu về Biến đổi khí hậu, Cop 21 được tổ chức vừa qua tạiParis là một minh chứng
Khẳng định BVMT là một yêu cầu bức thiết và khẩn cấp trong thế giới ngàynay Báo cáo thứ tư trong lịch sử 20 năm của IPCC, tổ chức vừa nhận giải Nobel hòabình 2007 cùng với cựu phó tổng thống Mỹ Al Gore cảnh báo:
- Hành động của con người là nguyên nhân chính gây nên tình trạng thay đổi khíhậu; Đến năm 2100, nhiệt độ trung bình trên Trái đất có thể tăng từ 1,1-6,4 0 C sovới mức của giai đoạn 1980-1990; Mực nước biển sẽ tăng 18-59cm; 12 năm qua lànhững năm nóng nhất kể từ năm 1850; Khí thải gây hiệu ứng nhà kính tăng 70% từnăm 1970-2004; Bắc Mỹ sẽ chịu những đợt nóng dài hơn với nhiệt độ cao hơn,cạnh tranh về nguồn nước sẽ căng thẳng hơn; Thời tiết khắc nghiệt sẽ thườngxuyên hơn Bão nhiệt đới mạnh hơn, hỏa hoạn, hạn hán và dịch bệnh nhiều hơn;
- Thay đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng tới những nước nghèo trước, nhưng có thể cảmnhận ở khắp mọi nơi; Đến năm 2020, khoảng 75-250 triệu người ở châu Phi sẽthiếu nước ngọt; Các đô thị ở châu Á sẽ chịu cảnh ngập lụt; Cư dân ở các đô thị lớncủa châu Á sẽ có nguy cơ chịu cảnh lụt lội do nước sông hồ dâng cao; Khoảng 20-30% các loài được biết đến nay có nguy cơ tuyệt chủng nếu nhiệt độ trung bìnhtoàn cầu tăng 1,5-2,5 0 C; Sản lượng mùa màng từ loài cây trồng phụ thuộc vàonước mưa sẽ chỉ còn một nửa; Mất an ninh lương thực nghiêm trọng hơn ở châuPhi;
- Ngay cả khi lượng khí CO2 trong khí quyển được duy trì ở mức hiện nay, mựcnước biển sẽ tiếp tục tăng khoảng 0,4-1,4m, vì nước biển vẫn ấm lên và lan rộng BVMT là điều cấp bách, song để thực hiện được nó không phải là điều dễ dàngkhông chỉ đối với mỗi cá nhân mà còn đối với cả mỗi quốc gia cũng như toàn nhânloại Việt Nam đã và đang phải đối diện trước một loạt các vấn đề về môi trường như
những thách thức được nêu trong Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm
2010 và định hướng đến năm 2020 Môi trường 7
7Các thách thức về môi trường tại Việt Nam:
- Nhiều vấn đề môi trường bức xúc chưa được giải quyết trong khi dự báo mức độ ô nhiễm tiếp tục gia tăng
- Thách thức trong việc lựa chọn các lợi ích trước mắt về kinh tế và lâu dài về môi trường
Trang 26Bản chất của BVMT không phải là các hành động ứng phó hay xử lý trướcnhững nguy cơ ô nhiễm hay các đe dọa đến sự sinh tồn và phát triển của con người.
BVMT phải được hiểu là việc điều hòa quyền lợi giữa các nhóm xã hội, mà một trong những hoạt động đó là xử lý các xung đột môi trường trong việc khai thác, sử dụng và phân phối các nguồn tài nguyên thiên nhiên Phải hiểu đúng nghĩa BVMT
mới có thể đưa ra các biện pháp quản lý môi trường hiệu quả và thiết thực, ví dụ biệnpháp quản lý xung đột môi trường cần quan tâm đến quan hệ cộng tác giữa các nhóm,
sự đồng thuận xã hội trong việc phân chia quyền lợi, tìm tiếng nói chung để ngăn chặnnguy cơ hủy hoại môi trường
1.5.2 Phát triển bền vững
Cuối thế kỉ XIX trong tác phẩm “Phép biện chứng của tự nhiên” 8(Mảc đã giúp
chúng ta nhìn nhận lại vị thế của con người trước tự nhiên: “không nên quá khoái chí
về những thắng lợi của chúng ta đối với giới tự nhiên Giới tự nhiên sẽ trả thù lại chúng ta về mỗi thắng lợi đó’, hay “chúng ta hoàn toàn không thống trị giới tự nhiên như một kẻ xâm lược thống trị một dân tộc khác, như một người sống bên ngoài giới
tự nhiên, mà trái lại, chúng ta thuộc về giới tự nhiên và chúng ta nằm trong giới tự nhiên và tất cả sự thống trị của chúng ta đối với giới tự nhiên bao hàm ở chỗ là chúng
ta khác với tất cả các sinh vật khác, biết nhận thức được những quy luật của giới tự nhiên và sử dụng những quy luật đó một cách đúng đắn” Đây phải được xem là một
tư tưởng tiêu biểu trong hoạt động của con người hướng tới những nỗ lực phát triểnbền vững Quan điểm đi đến ý tưởng về hệ sinh thái nhân văn, trong đó sự phát triểncủa con người không tách biệt với sự tồn tại và phát triển của hệ sinh thái tự nhiên, haynói cách khác có sự hòa quyện giữa hệ sinh thái xã hội và hệ sinh thái tự nhiên trong
sự vận động của thế giới Và như vậy con người là một trong những nhân tố quyếtđịnh đến sự bền vững của môi trường sống
Năm 1987, trong báo cáo “Tương lai chung của chúng ta”, Ủy ban Quốc tế vềMôi trường và Phát triển lần đầu tiên đã đưa ra một định nghĩa tương đối đầy đủ về
PTBV là: “Sự phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn thương khả năng của các thế hệ tương lai trong việc thỏa mãn các nhu cầu của chính họ”
Cương lĩnh của Ủy ban quốc tế về môi trường sống và phát triển (được trìnhbày tại Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về môi trường sinh thái và phát triển ở Rio de
Janeiro, Brazin,1992) định nghĩa: “sự phát triển bền vững của một xã hội – quốc gia được hiểu là quá trình thay đổi một cách tiến bộ chất lượng cuộc sống, mà sự thay đổi
đó của con người là đích tự thân của sự phát triển và làm cho con người trở thành chủ thể quyết định trên cơ sở tăng trưởng kinh tế trong điều kiện công bằng xã hội; biến đổi các hình thức sản xuất và các mô hình kinh tế trong điều kiện công bằng xã hội;
- Ý thức bảo vệ môi trường trong xã hội còn thấp
- Tổ chức và năng lực quản lý môi trường chưa đáp ứng yêu cầu
- Hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra các yêu cầu ngày càng cao về môi trường
- Tác động của các vấn đề môi trường toàn cầu, khu vực ngày càng lớn và phức tạp hơn Mác, Angen Tuyển tập nhà xuất bản sự thật Hà Nội, 1983, Tập V, 505, 506
Trang 27biến đổi các hình thức sản xuất và các mô hình tiêu dùng và sự thay đổi một cách tiến
bộ dựa trên thế cân bằng sinh thái và sinh lực của khu vực Quá trình này đòi hỏi phải tôn trọng tính đa dạng về lãnh thổ, về dân tộc, về văn hóa và tộc người cũng như phải
có sự tham gia đầy đủ của các công dân trong điều kiện hòa hợp và chung sống một cách hợp lý tự nhiên không làm tổn hại và bảo đảm chất lượng sống của các thế hệ trong tương lai.” Tháng 6/1992, Hội nghị thượng đỉnh của Liên Hợp quốc họp tại Rio
de Janeiro với sự tham gia của 179 quốc gia đã thông qua Chiến lược phát triển bền
vững và khẳng định “Phát triển bền vững là phát triển kinh tế-xã hội lành mạnh, dựa trên việc sử dụng hợp lý tài nguyên và bền vững môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu của con người hiện nay và không ảnh hưởng bất lợi đối với các thế hệ tương lai trong việc thỏa mãn nhu cầu của họ” Những mục tiêu chủ yếu của chiến lược phát triển bền
vững được quy thành những biện pháp để bảo vệ môi trường và tiết kiệm tài nguyên
Nội hàm của PTBV tiếp tục được bổ sung và phát triển tại Hội
nghịJohannesburg – 2002: “Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển Đó là: phát triển kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” (Hình 1)
Hình 1 Mô hình các yếu tố trong phát triển bền vững của UNESCO
Như vậy, nói về phát triển bền vững sẽ bao gồm những nội dung sau:
Trang 28- Sự phát triển đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng của các thế hệ tương lai trong việc đáp ứng những nhu cầu của họ
- Sự phát triển không làm tổn hại đến môi trường, không gây ra những thảm họa
về sinh thái, thế hệ hôm nay phải khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách hợp
lý nhằm cân đối giữa ba trục chính/nền tảng của sự thịnh vượng là xã hội công bằng, dân chủ, kinh tế tăng trưởng và bảo vệ môi trường.
1.6 Thiết chế quản lý môi trường và các khái niệm có liên quan
1.6.1 Thiết chế xã hội và các khái niệm liên quan
Ttrên thực tế, cách hiểu về khái niệm này hay xảy ra sự nhầm lẫn khi cho rằngthiết chế xã hội là một tổ chức xã hội, bởi vì, mặc dù khái niệm thiết chế xã hội rấttrừu tượng, nhưng bản thân thiết chế lại hữu hình tương tự như một tổ chức xã hội haymột nhóm xã hội Lý do của sự nhầm lẫn này là mặc dù khái niệm thiết chế xã hội rấttrừu tượng, nhưng bản thân thiết chế lại hữu hình (tương tự như nhóm xã hội, tổ chức
xã hội) Thực chất nhóm xã hội, tổ chức xã hội là một tập hợp người được liên kết vớinhau bởi các dạng quan hệ xã hội Các quan hệ xã hội này được hình thành từ nhữngtương tác thường xuyên, ổn định, lâu dài, có định hướng Trong quá trình tương tácnày các khuôn mẫu hành vi, vai trò được thiết kế hóa, tức là biến thành các thiết chế.Như vậy các nhóm, các tổ chức hay bản thân từng cá nhân chỉ là như những tập hợpngười thực hiện các thiết chế mà thôi, chứ không phải là chính thiết chế Do đó, cầnphải phân biệt thiết chế xã hội với tổ chức xã hội là một tập hợp các vị thế và vai trò cóchủ định nhằm thỏa mãn nhu cầu xã hội quan trọng
Thiết chế xã hội là một tập hợp bền vững của các giá trị, chuẩn mực, vị thế, vai trò
và nhóm, vận động xung quanh những nhu cầu cơ bản của xã hội Thiết chế xã hội baogồm một hệ thống các cách thức, các quy tắc chính thức và phi chính thức, được conngười tạo ra để điều chỉnh hành vi, hoạt động của các cá nhân, các nhóm, các tổ chứcnhằm đáp ứng những nhu cầu nhất định của xã hội Những người theo thuyết chứcnăng cho rằng, thiết chế xã hội rất cần thiết cho việc đảm bảo sự ổn định của xã hội và
là khuôn mẫu để hướng dẫn hành động của con người sao cho phù hợp với nhữngchuẩn mực, quy phạm Do chức năng và tác dụng của thiết chế đối với xã hội nên phảiduy trì và bảo vệ thiết chế, sự thất bại của các cuộc cải cách thiết chế là một hành viphản chức năng đối với thiết chế Ngược lại, những người theo thuyết xung đột chorằng, nếu thiết chế tồn tại nhằm duy trì trật tự thì nó ủng hộ vị thế của những ngườigiàu có, chống lại những người nghè, nếu chúng hướng dẫn hành vi con người thì lạihạn chế sự tự do của các cá nhân Do đó, những thất bại của các thiết chế như là kếtquả của sự tranh giành quyền lực giữa những người có quyền lợi khác nhau và nhữngcuộc đấu tranh ấy có thể dẫn đến những thay đổi xã hội cần thiết Trên thực tế, cácthiết chế thường có xu hướng trở thành bảo thủ, kém nhạy cảm và phản ứng không kịptrước những biến đổi xã hội Do vậy, chúng cần luôn được xem xét, chỉnh lý, cải cáchhoặc đổi mới sao cho không bị lạc hậu để làm tốt chức năng quản lý và kiểm soát xãhội
Trang 29Theo các nhà xã hội học, thiết chế xã hội nảy sinh, tồn tại và phát triển là do nóđáp ứng nhu cầu xã hội Nhu cầu xã hội là lý do hình thành và là mục đích tồn tại củathiết chế xã hội Lenski và Lenski (1970) cho rằng, trong mọi xã hội bao giờ cũng cónhững nhu cầu cơ bản mà việc thoả mãn chúng có ý nghĩa sống còn đối với bản thân
xã hội, cụ thể như: nhu cầu giao tiếp giữa các thành viên, nhu cầu sản xuất và sảnphẩm dịch vụ, nhu cầu phân phối các sản phẩm và dịch vụ hàng, nhu cầu bảo vệ cácthành viên khỏi tác động của thiên nhiên (như thiên tai), bệnh tật và các nguy hiểmkhác; nhu cầu thay thế các thành viên (cả tái sinh sản sinh học và thay thế văn hoáthông qua quá trình xã hội hoá); nhu cầu kiểm soát hành vi của các thành viên Việcthoả mãn các nhu cầu trên tạo thành các thiết chế xã hội cơ bản
Có thể kể đến các loại thiết chế xã hội cơ bản như sau:
- Thiết chế gia đình: điều hoà hành vi, tình cảm, tình dục và nuôi dạy con cái
- Thiết chế giáo dục: truyền thụ những tri thức khoa học nói chung
- Thiết chế kinh tế: đảm bảo quá trình sản xuất, phân phối lợi ích và các dịch vụ
- Thiết chế chính trị: bảo đảm việc thiết lập và giữ vững quyền lực chính trị
- Thiết chế pháp luật: đảm bảo trật tự, công bằng xã hội và kiểm soát xã hội
- Thiết chế tôn giáo: thoả mãn nhu cầu tâm linh
Các khái niệm trên cho thấy thiết chế xã hội trước hệ là các khuôn mẫu hành vi, là
hệ thống vai trò trong xã hội nhằm thỏa mãn các nhu cầu của xã hội, song chưa nhấnmạnh đến tính liên kết, sự thống nhất và sự thừa nhận chung trong toàn bộ xã hội
Nghiên cứu này theo quan điểm của Vũ Cao Đàm về thiết chế xã hội như sau: thiết chế xã hội là hệ thống các quy tắc, các giá trị và cấu trúc, là hệ thống các quan hệ
ổn định tạo nên các khuôn mẫu xã hội biểu hiện sự thống nhất, được xã hội công khai thừa nhận nhằm đáp ứng các nhu cầu cơ bản của xã hội
1.6.2 Đặc điểm thiết chế xã hội
Theo nghiên cứu của các nhà xã hội học, thiết chế có các đặc điểm cơ bản sau:
- Thiết chế có tính bền vững tương đối và thường biến đổi chậm Bởi vì thiết chế
hình thành trên cơ sở của một hệ thống các giá trị, chuẩn mực lâu đời và khábền vững Bởi vậy, khi đã tạo thành khuôn mẫu hành vi trong thiết chế thì nókhó thay đổi (trở thành truyền thống văn hoá) Ví dụ như những quy định trongthiết chế làng xã, thiết chế gia đình, thiết chế văn hoá
- Thiết chế có tính độc lập tương đối, tự nó được cấu trúc ở mức cao và được tổ
chức xung quanh một hệ thống giá trị, quy tắc, khuôn mẫu đã được xã hội thừanhận Mỗi một thiết chế có đối tượng riêng để hướng tới phục vụ nhằm đápứng các nhu cầu xã hội chuyên biệt liên quan tới đối tượng đó
- Các thiết chế có xu hướng phụ thuộc vào nhau Khi có sự thay đổi về cơ cấu tổ
chức hay khuôn mẫu hành vi của một thiết chế xã hội nào đó thì nó thường kéotheo sự thay đổi của các thiết chế khác Ví dụ, khi thiết chế chính trị có sự thayđổi về giai cấp cầm quyền thì nó sẽ ảnh hưởng đến các thiết chế khác phụ thuộcvào nó như thiết chế kinh tế, thiết chế pháp luật, thiết chế giáo dục
- Các thiết chế có xu hướng trở thành tiêu điểm của những vấn đề xã hội, trong
đó bất cứ một sự đổ vỡ nào đó của một thiết chế xã hội cũng đều trở thành
Trang 30những vấn đề xã hội nghiêm trọng Ví dụ: Nạn thất nghiệp (thiết chế kinh tế),tình hình tội phạm gia tăng (thiết chế pháp luật), tỷ lệ ly hôn cao (thiết chế giađình)
1.6.3 Thiết chế quản lý môi trường
Trên cơ sở khái niệm về thiết chế xã hội nói chung, nghiên cứu này hướng đến
cách tiếp cận sau: Thiết chế quản lý môi trường là hệ thống các quy tắc, các giá trị
và cấu trúc, hệ thống các quan hệ ổn định vận động xung quanh những nhu cầu cơ bản về bảo vệ môi trường của xã hội tạo nên các khuôn mẫu quản lý môi trường có tính thống nhất được xã hội công khai thừa nhận Thiết chế này bao gồm một hệ thống các cách thức, các quy tắc chính thức và phi chính thức về quản lý, được con người tạo ra để điều chỉnh hành vi, hoạt động của các cá nhân, các nhóm, các tổ chức nhằm đáp ứng những nhu cầu bảo vệ môi trường của xã hội
Thiết chế quản lý môi trường vốn là những mô hình quản lý được đa số thừa nhận
là chuẩn tắc và thực hiện theo Do đó các cá nhân sẽ không mất thời gian để suy tính,đắn đo xem cách thức hành động đó là đúng hay sai để thực hiện hay không thực hiện.Nói cách khác, thiết chế đã đơn giản hóa tác phong hành động, lề lối tư duy của cánhân, mọi thành viên hành động theo thiết chế một cách tự động hóa Ví dụ trong quyđịnh về việc khai thác rừng luôn có yêu cầu về các hình thức trồng rừng thay thế đểđảm bảo diện tích rừng bền vững trong tương lai Thiết chế quản lý môi trường là yếu
tố phối hợp và ổn định cho toàn thể nền văn hóa Nhìn chung, cá nhân ít khi hành độngngược lại các thiết chế; bởi lẽ, cung cách tư duy và phong cách hành động đã đượcthiết chế hóa có ý nghĩa quan trọng đối với con người Thiết chế mang lại cảm giácyên tâm và an toàn cho các thành viên tuân thủ nó, vì nó chính là cái mà xã hội cho làđúng, thực hiện theo nó tức là thực hiện theo đám đông, chỉ những thành viên khôngthực hiện mới cảm thấy bất an vì bị xã hội lên án Thiết chế quản lý môi trường cũng
là tập hợp các vai trò đã được chuẩn hóa Đó chính là các vai trò mà mọi cá nhân cầnphải học để thực hiện thông qua quá trình xã hội hóa Nghĩa là, thiết chế cung cấp cho
cá nhân những vai trò có sẵn như nhà hoạch định chính sách môi trường, chuyên gia
về quản lý môi trường, chuyên viên về môi trường, nhân viên môi trường, đối tượnggây ô nhiễm môi trường Thiết chế quản lý môi trường luôn bao gồm những mongđợi của xã hội về bảo vệ môi trường Nhờ có những mong đợi này của thiết chế mà cánhân biết được mình sẽ phải hành động và suy nghĩ thế nào trước những người kháctrong các hoạt động liên quan đến môi trường
Nằm trong quy luật vận động chung của thiết chế xã hội, thiết chế quản lý môitrường thực hiện các chức năng điều hòa và kiểm soát xã hội nếu không đúng cáchthức có thể dẫn đến các tác động tiêu cực đối với xã hội Ví như sự kiểm soát của thiếtchế quá mạnh có nguy cơ dẫn đến sự mất cân bằng sinh thái (như nạn diệt chim sẻ) ,hoặc có thể hình thành các thiết chế mang tính bảo thủ Tính bảo thủ này thể hiện ởchỗ nó cố gắng duy trì những khuôn mẫu tác phong đã lạc hậu, lỗi thời (như duy trìcác công nghệ thâm dụng lao động và gây ô nhiễm môi trường) Các thiết chế này sẽ
Trang 31cản trở sự tiến bộ của xã hội Nhưng, khi sự kiểm soát và điều chỉnh các quan hệ xãhội quá yếu của thiết chế có thể dẫn tới tình trạng các cá nhân, nhóm xã hội khôngthực hiện tốt vai trò, thậm chí trốn tránh trách nhiệm của mình (như sự thiếu tráchnhiệm của doanh nghiệp trong việc xây dựng hệ thống xử lý chất thải).
Thiết chế quản lý môi trường thực hiện 2 chức năng cơ bản:
-Chức năng quản lý các vấn đề môi tường: nhằm khuyến khích, điều chỉnh, điều hoàhành vi của con người cho phù hợp với quy phạm và chuẩn mực của thiết chế Ví dụ:nhà sản xuất phải chế tạo sản phẩm thân thiện môi trường, người hoạch định chínhsách phát triển kinh tế phải tính đến các tiêu chuẩn về môi trường
- Chức năng kiểm soát các vấn đề môi trường: nhằm ngăn chặn, giám sát, thậmchí trừng phạt những hành vi sai lệch so với các chuẩn mực, đòi hỏi của thiết chếhoặc không chịu tuân thủ thiết chế Ví dụ: người dân xả thải không theo quy định,người sản xuất không xây dựng hệ thống giảm thiểu chất độc hại ra môi trường, nhànghiên cứu tạo ra các sáng chế thâm dụng môi trường
Như vậy, thiết chế quản lý môi trường là công cụ để định hướng, điều chỉnh,điều hoà, quản lý và kiểm soát hành vi xã hội của con người trong hoạt động bảo vệmôi trường và phát triển bền vững Nhờ có thiết chế này, con người có thể có nhữnghành động phù hợp với đạo đức môi trường căn cứ vào chuẩn mực, quy phạm Đồngthời, nó cũng là công cụ trừng phạt đối với những sai lệch, vi phạm chuẩn mực
1.6.3 Thiết chế đạo đức sinh thái và đạo đức bền vững
Xem xét thiết chế quản lý môi trường trong nhu cầu phát triển bền vững của mỗiquốc gia hiện nay, trong mối liên kết giữa con người với hệ sinh thái bao quanh cầnphải nhắc đến đạo đức sinh thái, đạo đức bền vững như một thiết chế mục tiêu củaquản lý môi trường
Những lý thuyết đầu tiên về đạo đức sinh thái được đề cập vào cuối thế kỉ XX, mởđầu với tiếp cận trọng nhân của Immanuel Kant Đạo đức sinh thái theo quan điểm nàycho rằng bảo vệ thiên nhiên chỉ được thực hiện nhằm giảm bớt những rủi ro sinh tháiđối với con người và nhằm bảo đảm cho hạnh phúc của họ Quyền được bảo vệ riêngcủa thiên nhiên thì theo đó không hề có và con người không có nghĩa vụ nào khác vớithiên nhiên (Schnarrer, 2001) Lý thuyết về đạo đức sinh thái sử dụng tiếp cận trọngvật, mở đầu bởi Arthur Schopenhauer và được tăng cường phát triển vào khoảng giữathập niên 1970 tại Hoa Kỳ nhấn mạnh vào quyền được bảo vệ của động vật Lý thuyết
sử dụng cách tiếp cận trọng sinh xuất phát từ Albert Schweitzer với triết lý “sự tôn
kính đối với cuộc sống” cho rằng: thiên nhiên có một giá trị riêng và quyền được bảo
vệ nguyên bản, sự can thiệp của con người chỉ được dừng ở mức phục vụ cho sự tồn tại với mức giới hạn của những thứ cần thiết Với cách tiếp cận toàn diện trong lý
thuyết đạo đức sinh thái Klaus Mayer – Abich trong cuốn “Đạo đức của sự tồn tại” cho
rằng: tất cả những vật tồn tại (gồm sinh vật sống và yếu tố phi sự sống trong tự nhiên”
có giá trị cao hơn là những thứ không tồn tại, giá trị này sẽ thức tỉnh loài người phải giữ gìn tất cả những sinh vật, những thứ hiện có và đảm bảo cơ sở sự sống cho các thế
hệ trong tương lai Các cách tiếp cận về đạo đức sinh thái cho thấy các quan điểm về
Trang 32hành vi ứng xử của con người đối với thiên nhiên, các giới hạn của hành vi, chuẩnmực của hành vi để đạt được sự phát triển hài hòa giữa con người và tự nhiên Khônghoàn toàn bao hàm nhau, mỗi cách tiếp cận lại đưa đến quan điểm vào bảo vệ thiênnhiên theo những cách riêng biệt
Nhận thức đầy đủ về đạo đức bền vững cần được đặt trên nền tảng của phát triểnbền vững nói chung Nếu phát triển bền vững là mục tiêu cần hướng đến của toàn xãhội thì đạo đức bền vững là giá trị, chuẩn mực định hướng tư duy, thái độ và hànhđộng của các cá nhân, các nhóm người trong xã hội đó Làm rõ khái niệm đạo đức bềnvững sẽ dựa trên nội hàm của khái niệm phát triển bền vững là cách thức tốt nhất để
phân biệt đạo đức bền vững và đạo đức xã hội nói chung Từ quan điểm phát triển bền vững, có thể thấy những chuẩn mực hành vi ứng xử nhằm thỏa mãn nhu cầu của hiện tại về phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội mà không gây tổn hại, tạo gánh nặng cho thế hệ tương lai, đảm bảo cơ chế công bằng, bình đẳng về khả năng thỏa mãn nhu cầu giữa các thế hệ là nội dung trọng tâm trong đạo đức bền vững
Theo Holger Rogan đạo đức bền vững được phản ảnh bởi một hệ giá trị xuất phát
từ tính thiên bẩm của con người như: mong muốn sự hòa hợp (Tannert 2001), mongmuốn được yêu thương của mỗi con người (Raimon 2006), tự do cơ bản cho tất cả mọingười (Ekardt 2005), mong muốn sự công bằng và các giá trị cơ bản của trách nhiệm.Trong đó, ông nhấn mạnh:
- Giá trị cơ bản về công bằng: Công bằng là giá trị cơ bản của sự cùng chung sống của con người (Aristoteles) Xã hội được coi là công bằng khi tất cả mọi người có cùng cơ hội cũng như nhân quyền và nhu cầu cơ bản đối với cuộc sống, sự tham gia vào đời sống xã hội được đảm bảo Đây là giá trị trung tâm của đạo đức bền vững bởi nó có khả năng quyết định về tương lai phát triển của nhân loại là theo một trật tự công bằng, hay theo một trật tự thống trị Theo nghiên cứu của Viện Wuppertal giá trị công bằng trong đạo đức bền vững bao hàm: công bằng sinh quyển (những quan hệ giữa con người với môi trường), công bằng ngoại thế hệ (những quan hệ giữa các thế hệ hiện tại và tương lai), công bằng nội thế hệ (quan
hệ giữa những người sống trong cùng một thế hệ)
- Giá trị cơ bản về trách nhiệm: Trong đạo đức bền vững trách nhiệm của cá nhân đảm bảo cho sự an toàn của bản thân là chưa đủ, mà trách nhiệm đó cần được nhìn nhận là sự gánh vác những lo lắng cho thế hệ tương lai Vấn đề khó khăn ở chỗ giữ gìn giá trị về trách nhiệm này yêu cầu con người cá nhân thực hiện trách nhiệm với người khác cũng như thế giới xung quanh để cùng tồn tại và phát triển Hành động nào có thể khơi dạy hay duy trì trách nhiệm này là một câu hỏi không
dể trả lời khi con người bị hạn chế bời chính năng lực sinh học và xã hội của mình.
Các hành động hướng đến xây dựng và phát triển đạo đức bền vững được HolgerRogall đề xuất gồm:
Trang 33- Thực hiện nguyên tắc công bằng nội thế hệ: Kiến lập và phân phối các tiêu
chuẩn cao về sinh thái, kinh tế, văn hóa - xã hội một cách công bằng giữa các nhómngười, các cá nhân trong xã hội hiện tại
- Đảm bảo nguyên tắc công bằng ngoại thế hệ: Thế hệ hiện tại phải đạt được các
tiêu chuẩn cao về sinh thái, kinh tế, văn hóa – xã hội, và sử dụng tài nguyên thiênnhiên trong giới hạn mà những quy tắc quản lý sinh thái, để đảm bảo không tạo ragánh nặng cho thế hệ kế tiếp
- Phòng ngừa và quyền bảo vệ riêng mình đối với thiên nhiên: Do tính hữu hạn
của hiểu biết con người đối với thiên nhiên, do hạn chế trong hành động của conngười để tránh gây tổn hại cho người khác, vì vậy cần xác định chiến lược giảmthiểu rủi ro và thực hiện nguyên tắc phòng ngừa cho mọi hành động dù hệ quả làtích cực hay tiêu cực Đây được coi là khoảng cách an toàn giữa mục tiêu hànhđộng (mục tiêu kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội) và khả năng môi trường bị biếnđổi không bền vững
- Hài hòa với thế giới xung quanh: Đạo đức bền vững đòi hỏi những giá trị như
lòng khoan dung, sự tế nhị, tinh thần đoàn kết trong mối quan hệ giữa con ngườivới con người, con người với thiên nhiên
- Tìm kiếm các thước đo (giá trị, chuẩn mực) thích hợp: Để hạn chế những hành
vi dối trá, lừa gạt tham lam trong xã hội, con người cần đưa ra những giá trị, chuẩnmực cụ thể để đảm bảo yếu tố công bằng, yếu tố hài hòa Cách dùng thuật ngữ hợplý/thích hợp sẽ không góp phần vào việc xây dựng đạo đức bền vững một cách tíchcực nếu không thiết lập được một hệ tiêu chí đo lường
- Công nhận những nguyên tắc của một nền dân chủ bền vững: Nền dân chủ là
một đòi hỏi tất yếu cho sự phát triển bền vững trong tương lai của mỗi quốc gia, nóđòi hỏi trách nhiệm của nhà nước được thực hiện khi thị trường thất bại đối với cácvấn đề kinh tế, xã hội, an ninh môi trường, hệ sinh thái đồng thời đảm bảo quyền
tự do tham gia và ra quyết định của mọi cá nhân trong các lĩnh vực của xã hội
Từ đó Holger Rogall đi đến khái niệm: Đạo đức bền vững9 là sự tự nguyện đảm nhận trách nhiệm thực hiện các nguyên tắc nội-ngoại thế hệ cũng như có được các hành động phù hợp khác Nói cách khác, con người có đạo đức bền vững là luôn sẵn sàng để nhận trách nhiệm cho thế giới cùng chung sống 10 , cho thế hệ tương lai và cho bản thân, cũng như thực hiện các hành động để bảo vệ thiên nhiên và con người Theo Phạm Khắc Chương, Hà Nhật Thăng “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp những qui tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội nhờ đó mà con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và với tiến bộ xã hội trong quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân
với xã hội” Trên nền đạo đức xã hội này, đạo đức bền vững trong nghiên cứu này
9Định nghĩa của Holger Rogall trong cuốn Kinh tế học bền vững, giáo trình giảng dạy tại Đại học Kinh tế và Luật, Cộng hòa Liên bang Đức.
10Thế giới cùng chung sống là khái niệm do Klaus M Meyer-Abich đề xuất năm 1990 để minh họa về thực tế con người là một phần của thế giới gồm cả môi trường tự nhiên và những người cùng chung sống.
Trang 34được đề cập là hệ thống các quy ước, nguyên tắc, chuẩn mực mà nhờ đó con người
tự nhận trách nhiệm thực hiện nguyên tắc công bằng giữa các thế hệ, giữa con người với tự nhiên, trong bản thân nội tại mỗi con người để định hướng các hành động cần thiết đối với sự phát triển bền vững nhằm thúc đẩy các giá trị lợi ích và hạnh phúc của con người
1.7 Mối quan hệ giữa vai trò của tổ chức R&D với thiết chế quản lý môi
trường
Thiết chế quản lý môi trường có vai trò tạo lập khuôn mẫu hành vi ứng xử vớimôi trường của các cá nhân trong xã hội phục vụ cho nhu cầu bảo vệ môi trường, nhucầu cùng chung sống bền vững Trong khuôn khổ đó các tổ chức R&D phát triển theokhuynh hướng bảo tồn và phát triển các giá trị của đạo đức sinh thái, đạo đức bềnvững Mọi hoạt động của tổ chức chịu sự kiểm soát của thiết chế thể hiện ở các vai tròđược xác lập và các quy định đảm bảo an ninh môi trường, ngăn ngừa ô nhiễm môitrường Mọi toan tính đi ngược lại với phát triển bền vững, đi ngược lại thiết chế quản
lý môi trường có thể dẫn đến những hình phạt ở nhiều cấp độ, hoặc công khai hoặcngầm định để duy trì khung khổ hành vi đã được xã hội cho là chuẩn mực Ngược lại,thiết chế quản lý môi trường cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ từ hoạt động của các tổchức R&D, như vậy chúng tương tác với nhau song không quyết định đến sự tồn tạicủa nhau Với vai trò là tổ chức cung cấp các luận cứ khoa học, các kết luận đã được
kiểm định qua thực tiễn nhằm tạo ra động lực cho quá trình đổi mới, tổ chức R&D có tác động lớn đến sự hình thành, phát triển, biến đổi và thậm chí là tiêu vong của các thiết chế quản lý môi trường Quá trình nghiên cứu khoa học của tổ chức đem lại
những căn cứ lý thuyết và thực tế cho các nhà hoạch định chính sách môi trường, quátrình chuyển giao tri thức bao gồm cả chuyển giao công nghệ góp phần tạo dựng sự lantỏa của các công nghệ thân thiện môi trường, công nghệ sạch Việc cung cấp các dịch
vụ KH&CN của các tổ chức R&D không chỉ nhằm đáp ứng cho các nhu cầu xã hội về
đo lường, kiểm tra, đánh giá tác động môi trường mà còn thiết lập các giá trị, chuẩnmực trong bảo vệ môi trường một cách phổ biến và rộng rãi Từ đó góp phần gây dựng
sự đồng thuận của xã hội, sự thống nhất trong nhận thức và hành động của cộng đồng
về các yếu tố mới trong thiết chế quản lý môi trường, đảm bảo thiết chế được thực thitrong đời sống xã hội Quan hệ giữa vai trò của tổ chức R&D với thiết chế quản lý môitrường có thể được nhìn nhận qua các nội dung sau:
- Góp phần xây dựng và hoàn thiện khung mẫu chính sách quản lý môi trường vàphát triển bền vững
Trang 35- Tạo lập xu hướng phát triển và ứng dụng công nghệ thân thiện môi trường, côngnghệ sạch trong hoạt động kinh tế- xã hội của mọi cá nhân, tổ chức
- Thiết lập mạng lưới nghiên cứu và phân tích các vấn đề môi trường và đề xuấtgiải pháp quản lý môi trường vì sự phát triển bền vững
- Hiện thực hóa các quan điểm, chính sách bảo vệ môi trường trong mức độ camkết của cộng đồng với mục tiêu phát triển bền vững
- Định khung hệ giá trị, chuẩn mực, đạo đức môi trường bền vững trong đời sốngkinh tế, văn hóa, xã hội của cộng đồng
1.8 Kiến tạo xã hội
Lý thuyết kiến tạo về cơ bản là một lý thuyết dựa trên quan sát và nghiên cứukhoa học nhằm trả lời cho câu hỏi: con người học như thế nào? Lý thuyết này nóirằng con người kiến tạo những sự hiểu biết và tri thức về thế giới thông qua trảinghiệm và phản ánh Khi chúng ta đối mặt với một điều gì mới mẻ, chúng ta phảiđiều ứng nó với những ý tưởng và kinh nghiệm có từ trước Cũng có thể nó sẽ thayđổi điều mà ta đã tin tưởng hoặc loại bỏ chúng vì không thích đáng Trong bất cứtrường hợp nào, chúng ta thật sự là những nhà kiến tạo cho tri thức cho chính bảnthân Để làm điều này, chúng ta phải đưa ra những nghi vấn, khám phá và đánh giácái mà chúng ta biết
Thuyết Kiến tạo cơ bản
Tiếng Anh là Radical Constructivism, nhiều văn bản còn gọi là Personal
Constructivism, (thuyết Kiến tạo cá nhân) hoặc đôi khi chỉ gọi là Constructivism Cha
đẻ của thuyết này là nhà Tâm lý học người Thụy Sỹ Jean Piaget Ông mô tả rằng tri thức là sản phẩm của hoạt động tạo ra bởi chủ thể thông qua trải nghiệm cá nhân Tri thức mới bao giờ cũng được hình thành từ tri thức cũ Chính vì thế, thuyết này còn được gọi với một cái tên theo đúng bản chất là Kiến tạo nội sinh
Thuyết Kiến tạo Xã hội
Tiếng Anh là Social Constructivism Cha đẻ của thuyết Kiến tạo xã hội là nhà tâm lý học người Nga Lev Vygosky, với giả thuyết rằng tri thức phải được hiểu như là một thứ được kích hoạt trong các tương tác xã hội (và nhất thiết phải phụ thuộc bối cảnh), qua sự tương tác, tranh luận, trao đổi trong cộng đồng
Trang 36CHƯƠNG 2: NHẬN DIỆN VAI TRÒ CỦA TỔ CHỨC R&D TRONG KIẾN TẠO THIẾT CHẾ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN
VỮNG
2.1 Giới thiệu chung về tổ chức R&D
2.1.1 Viện Công nghệ môi trường
Viện Công nghệ môi trường được thành lập ngày 30/10/2002 theo Quyết định số148/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa ViệtNam, trên cơ sở sự hợp nhất một số đơn vị nghiên cứu về môi trường của các việnnghiên cứu thuộc Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia (nay là ViệnHàn lâm KH&CN Việt Nam): Viện Cơ học, Viện Hóa học, Viện Khoa học vật liệu vàViện Công nghệ sinh học
Khi mới thành lập Viện Công nghệ môi trường có 01 phòng Quản lý tổng hợp, 05phòng nghiên cứu, với tổng số 70 cán bộ, viên chức Phạm vi hoạt động của Viện chủyếu ở Hà Nội và một số tỉnh phía Bắc Trụ sở chính của Viện lúc này chỉ là khu nhàcấp 4 trong khuôn viên của Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, dành cho hoạt động củaBan lãnh đạo Viện và Phòng Quản lý tổng hợp Các đơn vị nghiên cứu nằm rải rác tạicác viện cơ sở cũ của mình
Viện có chức năng thực hiện nghiên cứu cơ bản, phát triển công nghệ, dịch
vụ khoa học và công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao trong lĩnh vực công nghệ môi trường và các lĩnh vực khác có liên quan theo quy định của pháp luật Để thực hiện các chức năng trên Viện triển khai các nhiệm vụ cụ thể như:Nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực khoa học và công nghệ môitrường; Triển khai, ứng dụng và chuyển giao các kết quả nghiên cứu, các quy trìnhcông nghệ vào thực tiễn, phục vụ công tác bảo vệ môi trường và phát triển bềnvững;Triển khai dịch vụ khoa học, công nghệ trong lĩnh vực phân tích, đánh giá, dựbáo, xử lý, cải thiện, quy hoạch môi trường và các lĩnh vực khoa học khác có liênquan; Đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao trong lĩnh vực khoa học và công nghệmôi trường và các lĩnh vực khoa học khác có liên quan;Hợp tác quốc tế trong lĩnh vựccông nghệ môi trường và các lĩnh vực khoa học khác có liên quan; Quản lý về tổ chức,
bộ máy; quản lý và sử dụng công chức, viên chức của đơn vị theo quy định của Nhànước và của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; Quản lý về tài chính,tài sản của đơn vị theo quy định của Nhà nước;Thực hiện các nhiệm vụ khác do Chủtịch Viện giao
Trong những năm qua, Viện thường xuyên thực hiện đầy đủ kế hoạch công tác nghiêncứu và triển khai khoa học công nghệ Một số kết quả nghiên cứu có giá trị khoa họccao đã được công bố trên các tạp chí khoa học có uy tín, tại các hội nghị hội thảo trongnước và quốc tế Một số kết quả mới đã được ứng dụng có hiệu quả trong công tác bảo
vệ môi trường tại nhiều địa phương Danh mục các sản phẩm công nghệ của Việnkhông ngừng tăng lên theo các năm về số lượng và quy mô sản phẩm.Trong lĩnh vực
Trang 37hợp tác quốc tế, Viện đã và đang thực hiện nhiều đề tài hợp tác song phương và đaphương với các đối tác như Nhật Bản, Hàn Quốc, Nga, Belarus, Canada, Pháp,Mỹ….Công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực được chú trọng Số lượng nghiêncứu sinh được Viện nhận đào tạo và số lượng học viên cao học được cán bộ của Việnhướng dẫn hoàn thành luận văn tốt nghiệp tăng hơn các năm trước.
Viện Công nghệ môi trường hiện có 10 phòng nghiên cứu và 4 Trung tâm:
- Phòng Phân tích độc chất môi trường
- Phòng Phân tích chất lượng môi trường
- Phòng Công nghệ xử lý nước
- Phòng Công nghệ xử lý chất thải rắn và khí thải
- Phòng Thủy sinh học môi trường
- Phòng Vi sinh vật môi trường
- Phòng Công nghệ thân môi trường
- Phòng Công nghệ Hóa lý môi trường
- Phòng Quy hoạch môi trường
- Phòng Giải pháp công nghệ cải thiện môi trường
- Trung tâm Công nghệ môi trường tại TP Đà Nẵng
- Trung tâm Công nghệ môi trường tại TP Hồ Chí Minh
- Trung tâm Nghiên cứu và ứng dụng công nghệ môi trường
- Trung tâm Hợp tác Khoa học và Công nghệ Việt Nga
Nhìn chung, cơ cấu tổ chức của Viện là khá ổn định, hoàn chỉnh và đồng bộ;lực lượng cán bộ có trình độ cao khá đông và đều trên hầu hết các lĩnh vực môi trường.Lực lượng cán bộ trình độ cao luôn là thế mạnh của Viện trong thời gian qua Trongnhững năm gần đây, Viện luôn luôn quan tâm đến việc đào tạo cán bộ có trình độ cao(Tiến sỹ, Thạc sỹ) Các đơn vị trong Viện còn cử nhiều cán bộ trẻ của mình đi đào tạotại nước ngoài nhằm bổ sung lực lượng cán bộ trình độ cao
2.1.2 Trung tâm tư vấn và công nghệ môi trường
Trung tâm Tư vấn, Đào tạo và Chuyển giao công nghệ môi trường bắt đầu hoạtđộng từ năm 2004 theo Quyết định số 735/QĐ-BVMT ngày 31/8/2004 của Cục trưởngCục Bảo vệ môi trường, ban đầu là đơn vị sự nghiệp thuộc Cục Bảo vệ môi trường cóchức năng giúp Cục trưởng thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu và triển khai, tư vấn, đàotạo và chuyển giao công nghệ môi trường Đến năm 2006, theo Quyết định số276/QĐ-BVMT ngày 14 tháng 3 năm 2006 của Cục trưởng Cục Bảo vệ môi trường,Trung tâm Tư vấn, Đào tạo và Chuyển giao công nghệ môi trường chuyển sang là đơn
vị sự nghiệp có thu tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên trực thuộcCục Bảo vệ môi trường
Nhiệm vụ của Trung tâm được quy định như sau:
1 Tham gia điều tra, khảo sát, nghiên cứu cơ sở khoa học, pháp lý và thực tiễn phục
vụ xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, chiến lược, chương trìnhmục tiêu quốc gia, quy hoạch, kế hoạch quốc gia về môi trường và sức khỏe môitrường theo sự phân công của Tổng cục trưởng
Trang 382 Tham gia các hoạt động điều tra, khảo sát, đánh giá hiện trạng môi trường, đánh giátác động môi trường tổng hợp, dự báo diễn biến môi trường liên vùng toàn quốc; điềutra, đánh giá sức chịu tải của sông, các lưu vực sông; điều tra, thống kê, đánh giá chấtthải, tình hình ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường, hiện trạng công nghệ, thiết bị
xử lý ô nhiễm môi trường, bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, sức khỏe môi trường
và biến đổi khí hậu; đánh giá và giám sát an toàn sinh học
3 Tổ chức thực hiện công tác thẩm định, thẩm tra, giám định, đánh giá công trình,thiết bị, công nghệ môi trường
4 Xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện các chương trình, mô hình thử nghiệm vềsản xuất và tiêu thụ bền vững, thân thiện môi trường; sản xuất sạch hơn, sử dụng nănglượng sạch, năng lượng tái tạo
5 Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trong lĩnh vực môitrường; phát triển và chuyển giao công nghệ môi trường; xây dựng và tổ chức triểnkhai các dự, đề án, công trình thử nghiệm ứng dụng khoa học, công nghệ về bảo vệmôi trường; nghiên cứu xây dựng các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu
6 Xây dựng báo cáo quốc gia về sức khỏe môi trường; xây dựng và cập nhật hồ sơsức khỏe môi trường quốc gia; nghiên cứu, điều tra, khảo sát, đánh giá hiện trạng, diễnbiến tác động của ô nhiễm môi trường tới sức khỏe cộng đồng; nghiên cứu xây dựng,thử nghiệm và phát triển các công cụ đánh giá, dự báo rủi ro ô nhiễm môi trường; hợptác với các tổ chức quốc tế hoặc công ước quốc tế trong lĩnh vực sức khỏe môi trường;tham gia mạng lưới sức khỏe môi trường toàn cầu
7 Xây dựng và thực hiện các đề án, dự án: phân loại, thu gom, vận chuyển, giảmthiểu, tái chế và xử lý chất thải quy mô liên tỉnh hoặc các mô hình thí điểm cấp quốcgia; xử lý chất thải rắn, lỏng và khí cho các cơ sở; các đề án, dự án, nhiệm vụ về bảo
vệ, khắc phục, cải tạo cảnh quan môi trường lưu vực sông liên tỉnh, vùng ven biển bị ônhiễm, suy thoái môi trường theo sự phân công của Tổng Cục trưởng
8 Nghiên cứu, xây dựng, chuyển giao kỹ năng, nghiệp vụ, kỹ thuật trong lĩnh vựcbảo vệ môi trường; các phương pháp, công cụ phân tích và lượng giá kinh tế môitrường
9 Tham gia nghiên cứu tác động tới môi trường xung quanh của các hoạt động khaithác tài nguyên, đề xuất các biện pháp quản lý phòng ngừa, nhằm giảm thiểu ô nhiễmmôi trường
10 Tổ chức thực hiện các chương trình, dự án hợp tác quốc tế về môi trường theophân công của Tổng Cục trưởng
11 Tổ chức các sự kiện, hội chợ, triển lãm môi trường
12 Tổ chức thực hiện các dịch vụ công về môi trường theo quy định của pháp luật
13 Thực hiện các dịch vụ trong lĩnh vực môi trường:
a) Lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, bảncam kết bảo vệ môi trường, đề án bảo vệ môi trường, xác nhận hoàn thành các côngtrình bảo vệ môi trường; giấy phép môi trường, lập hồ sơ đăng ký hành nghề quản lýchất thải nguy hại; lập hồ sơ khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào
Trang 39nguồn nước; lập hồ sơ đăng ký, chứng nhận cơ sở và sản phẩm thân thiện môi trường;
tư vấn xây dựng ISO 14000, sản xuất sách hơn;
b) Lập quy hoạch bảo vệ môi trường, báo cáo hiện trạng môi trường, kế hoạch bảo vệmôi trường, báo cáo công tác bảo vệ môi trường, kế hoạch phòng ngừa và ứng phó sự
cố môi trường, cải tạo phục hồi môi trường; quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học; kiểmtoán môi trường, kiểm kê khí nhà kính
c) Lập báo cáo đầu tư, dự án đầu tư; lập hồ sơ mời thầu, đánh giá hồ sơ dự thầu; thiết
kế kỹ thuật và dự toán các công trình cấp thoạt nước, các công trình xử lý môi trường;lập dự án đầu tư và thiết kế phòng thí nghiệm phân tích môi trường, trạm quan trắcmôi trường;
d) Tổ chức thi công, giám sát thi công, lắp đặt thiết bị các công trình: cấp thoát nước,
xử lý chất thải (rắn, lỏng, khí), thiết bị giám sát môi trường và xử lý ô nhiễm môitrường
đ) Thẩm định, thẩm tra nội dung và dự toán đề cương, đề án, hồ sơ thiết kế, đề tài khoahọc trong lĩnh vực môi trường;
e) Tổ chức dịch vụ đào tạo, chuyển giao công nghệ và các dịch vụ khác trong lĩnh vựcmôi trường theo quy định của pháp luật
14 Thực hiện dịch vụ quan trắc, giám sát môi trường và phân tích các thông số môitrường trong phòng thí nghiệm theo quy định của pháp luật
15 Tổ chức nhập khẩu, xuất khẩu và mua bán các vật tư, thiết bị và công nghệ xử lý ônhiễm và cải thiện môi trường
16 Hỗ trợ về kỹ thuật và chuyên môn cho các đơn vị quản lý trực thuộc Tổng cục quahình thức cử chuyên gia tư vấn và cán bộ tham gia các nhiệm vụ công tác của Tổngcục
17 Tổ chức thực hiện cải cách hành chính theo chương trình, kế hoạch cải cách hànhchính của Tổng Cục trưởng
18 Quản lý tài chính, tài sản thuộc Trung tâm; thực hiện nhiệm vụ của đơn vị dự toáncấp III trực thuộc Tổng cục theo quy định của pháp luật
19 Quản lý tổ chức, biên chế, viên chức, người lao động theo định
20 Thống kê, báo cáo định kỳ và đột xuất tình hình thực hiện nhiệm vụ được giao
21 Thực hiện các nhiệm vụ khác do Tổng Cục trưởng giao
Trong những năm qua Trung tâm đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận trongcông tác nghiên cứu, tư vấn, quản lý và kiểm tra, đánh giá trong lĩnh vực bảo vệ môitrường Thông qua các đề tài, dự án và nhiệm vụ từ nguồn ngân sách nhà nước vànguồn sự nghiệp, trung tâm từng bước đóng góp cho quá trình xây dựng thiết chế quản
lý môi trường tại Việt Nam Thông qua các hoạt động của mình, Trung tâm không chỉngày một phát triển về tổ chức, mà còn có nhiều đóng góp tích cực vào công tác cungcấp các luận cứ thực tế cho quá trình hoạch định và thực thi chính sách bảo vệ môitrường ở nhiều cấp Bao gồm các luận cứ về thực trạng môi trường, sức khỏe môitrường, quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá tác động môi trường, chương trình sảnxuất và tiêu thụ bền vững Bên cạnh đó các hoạt động chuyển giao tri thức về bảo vệmôi trường, và đào tạo nguồn nhân lực phục vụ công tác bảo vệ môi trường góp phần
Trang 40tạo dựng thái độ và hành vi trong cộng đồng hướng đến đạo đức sinh thái, đạo đức bềnvững Những thành tựu đạt được của Trung tâm cho thấy tính độc lập, tự chủ trongtriển khai, thực hiện nhiệm vụ cũng như khả năng đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong lĩnhvực bảo vệ môi trường.
2.2 Vai trò kiến tạo khung mẫu chính sách bảo vệ môi trường và phát triển bền vững
Thông qua việc thực hiện chức năng của tổ chức R&D trong lĩnh vực môi trường,các hoạt động nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, triển khai, chuyển giao trithức, phát triển công nghệ và dịch vụ KH&CN đã đóng góp những sản phẩm có giá trịthiết thực trong công tác bảo vệ môi trường và phát triển bền vững Vai trò trước tiêncần nhắc đến của các tổ chức R&D này là việc kiến tạo khung mẫu chính sách bảo vệmôi trường và phát triển bền vững thông qua việc xác định các chuẩn mực bảo vệ môitrường, các công cụ bảo vệ môi trường qua các đề tài, dự án được thực hiện Nhìn vào
hệ thống chính sách bảo vệ môi trường được hình thành hiện nay có nhận thấy những
nỗ lực không nhỏ của các tổ chức R&D
Chính sách môi trường cụ thể hoá qua Luật và các văn bản dưới luật về bảo vệ môitrường và các Công ước quốc tế về môi trường Mỗi khu vực đều có chiến lược quyhoạch phát triển môi trường gắn với các vấn đề kinh tế, xã hội nhằm vừa hiện thực hoáluật và những văn bản chính sách môi trường ở cơ quan quản lý cấp cao, vừa tính tớiđặc thù địa phương Tính đúng đắn và khả thi của chính sách cấp địa phương có vai tròquan trọng trong đảm bảo sự thành công của chính sách cấp trung ương
Không tồn tại độc lập với hệ thống kinh tế - xã hội, vấn đề môi trường hiện nayđược đặt trong tương quan với các yếu tố của PTBV, chính sách môi trường là một bộphận trong tổng thể chính sách PTBV Các quan điểm về bảo vệ môi trường của ViệtNam hiện nay trước hết được gắn bó mật thiết với PTBV, và được xem xét qua chiếnlược PTBV Quan điểm PTBV đã được tái khẳng định nhiều lần trong các văn kiện củaĐại hội đại biểu toàn quốc, cũng như trong các văn kiện đường lối, chính sách kháccủa Đảng Trong đại hội lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam và trong Chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 quan điểm PTBV trình bày nội dung: “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” và “Phát triển kinh tế - xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hòa giữa vôi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học” Tư tưởng xuyên suốt này tiếp tục được
trình bày trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 cũng đã nhấn mạnh
“Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầuxuyên suốt trong Chiến lược” Phát triển bền vững đã trở thành đường lối, quan điểmcủa Đảng và chính sách nhất quán của Nhà nước
Để thực hiện Mục tiêu PTBV như Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc đã đề ra và thựchiện cam kết quốc tế về PTBV, Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở ViệtNam (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam) được Thủ tướng Chính phủ ban hành tạiQuyết định số153/2004/QĐ-TTg ngày 17/8/2004 Đây là chiến lược khung, bao gồm