Bên cạnh các cam kết mở cửa thị trường trong khuôn khổ WTO về nông nghiệp, EU duy trì hạn ngạch áp dụng thuế quan đối với một số sản phẩm, giảm dần trị giá và sốlượng các sản phẩm được t
Trang 1VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨUVẬN DỤNG VÀ XU HƯỚNG ĐIỀU CHỈNH CÁC CÔNG CỤ CHỦ YẾU CỦA CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ THỜI GIAN QUA, NHỮNG CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA VIỆT NAM KHI THAM GIA VÀO WTO (AEC, AJCEP, VJEPA, TPP, EVFTA…)? CHO VÍ DỤ MINH HỌA?
I Lý thuyết về chính sách thương mại quốc tế:
Chính sách thương mại quốc tế là các quan điểm, nguyên tắc, biện pháp thích hợp củamột nước dùng để điều chỉnh hoạt động thương mại quốc tế của nước đó trong một thờigian nhất định, nhằm đạt được mục tiêu kinh tế - chính trị - xã hội của nước đó
1.2.2 Hạn ngạch thương mại
Hạn ngạch hay hạn chế số lượng là quy định của một nước về số lượng cao nhất củamột mặt hàng hay một nhóm hàng được phép xuất hoặc nhập từ một thị trường trong mộtthời gian nhất định thông qua hình thức cấp giấy phép
Trang 2- Ngoài ra còn một số loại giấy phép như : giấy phép có điều kiện, giấy phép đổihàng, giấy phép ưu tiên
1.2.4 Hạn chế xuất khẩu tự nguyện
Áp dụng cho các quốc gia có khối lượng xuất khẩu quá lớn ở một mặt hàng nào đó
1.2.7 Tín dụng xuất khẩu
- Tín dụng xuất khẩu thường được áp dụng cho các nước phát triển
- Áp dụng chủ yếu cho các nhóm hàng thiết bị, máy móc, dây truyền,
1.2.8 Bán phá giá
Theo hiệp định về chống bán phá giá của WTO: Một sản phẩm bị coi là bán phá giánếu giá xuất khẩu thấp hơn giá trị thông thường được bán trên thị trường nội địa của nướcxuất khẩu
Phương thức tính giá trị thông thường của sản phẩm:
+ Dựa trên giá bán của sản phẩm đó trên thị trường nội địa của nước xuất khẩu
+ Căn cứ vào giá bán của nước xuất khẩu tại một nước khác
+ Tính theo tổng hợp giá thành sản phẩm, các chi phí có liên quan cùng với lợi nhuậntối thiểu của nhà sản xuất và xuất khẩu
1.2.9 Phá giá tiền tệ
Phá giá tiền tệ (hay phá giá ngoại tệ) là hình thức biến tướng của phá giá
Trang 3- Thông qua tác động vào tỷ giá hối đoái làm cho đồng nội tệ mất giá so với đồng ngoại
tệ khác, để hàng xuất khẩu rẻ hơn làm tăng khả năng cạnh tranh ở thị trường nước ngoài
- Tác động đến tất cả các mặt hàng và tất cả các thị trường liên quan
- Được sử dụng khi nhà nước muốn cân đối lại tỷ giá hối đoái trong mối quan hệ giữa cáncân thương mại và cán cân thanh toán
***Một số biện pháp khác
- Hệ thống thuế nội địa
- Cơ quan quản lý ngoại tệ và tỷ giá hối đoái
- Độc quyền mua bán
- Quy định về chứng thư khi làm thủ tục xuất - nhập khẩu
- Thưởng xuất khẩu
- Đặt cọc nhập khẩu
Phần 1: Tổng quan về thị trường Liên minh châu Âu
1 Giới thiệu Liên minh châu Âu
Liên Minh Châu Âu là một tổ chức liên kết khu vực nhằm thúc đẩy sự phát triểnkinh tế, chính trị và xã hội, bắt đầu với việc tự do hoá mậu dịch giữa các nước thành viên
và các chính sách kinh tế có liên quan
Liên minh châu Âu (EU) là hình thức hội nhập khu vực ở trình độ cao với nhiềutriển vọng tốt đẹp cho các nước thành viên và cho toàn châu Âu, đang phát triển sâu rộngtrên tất cả các lĩnh vực phấn đấu trở thành khu vực phát triển nhất hành tinh, đủ sức đốiphó với các thách thức trong thế kỷ 21 cũng như là đối trọng đáng kể của Trung Quốc,Nga, Hàn Quốc, Nhật Bản, Úc và góp phần cho hoà bình và ổn định trên thế giới Hiệnnay, thị trường EU 27 gồm hầu hết các nước châu Âu với gần 4 triệu km2 và 456 triệudân có thu nhập cao GDP gần 11.000 tỷ USD chiếm 27% GDP thế giới Tổng ngạchngoại thương gần 1.400 tỷ USD chiếm gần 20% thương mại toàn cầu Nếu tính cả mậudịch nội khối thì tổng ngạch mậu dịch là 3.092 tỷ chiếm 41.4% thị phần thế giới EUđứng đầu thế giới về xuất khẩu dịch vụ chiếm 43,8% thị phần thế giới gấp 2,5 lần Mỹ vàchiếm 42,7 nhập khẩu dịch vụ thế giới Đầu tư ra nước ngoài chiếm 47% FDI toàn cầu vànhận 20% đầu tư từ bên ngoài
Vị thế chính trị, tiềm lực kinh tế, thương mại, tài chính, khả năng phòng thủ của
EU không ngừng tăng sau mỗi lần mở rộng
Trang 4Kim ngạch xuất nhập khẩu của EU tăng lên hàng năm (1994: 1.303,41 tỷ USD; 1995:1.463,13 tỷ USD; 1996: 1.532,37 tỷ USD; 1997: 1.572,51 tỷ USD), chiếm 20,42% kimngạch thương mại toàn cầu giai đoạn 1994-1997, trong khi đó của Mỹ và Nhật Bản là19,37% và 9,8%.
Kim ngạch xuất khẩu của EU ngày càng tăng lên, chiếm khoảng 21,13% kimngạch xuất khẩu toàn cầu (1994-1997), con số này của Mỹ và Nhật Bản là 16,67% và10,7% Bên cạnh đó, kim ngạch nhập khẩu của EU cũng không ngừng gia tăng, chiếm19,72% kim ngạch nhập khẩu toàn cầu, còn của Mỹ và Nhật Bản là 20,09% và 8,88%(1994-1997)
Chiếm tỷ trọng lớn trong thương mại toàn cầu và với vai trò nổi bật trong Tổchức Thương mại Thế giới (WTO), EU là một nhân tố quan trọng trong việc pháttriển thương mại thế giới
EU không những là một trong những trung tâm thương mại hàng đầu thế giới màcòn là nơi đầu tư trực tiếp ra nước ngoài lớn nhất thế giới Nguồn vốn FDI của EU chiếm45,7% tổng vốn FDI toàn cầu, trong khi đó của Mỹ và Nhật Bản là 27,1% và 6,7%
Ngày nay, các nước thành viên EU đều là các nước công nghiệp có nền kinh tếphát triển mạnh đang tập trung phát triển các ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệcao, như điện tử tin học, viễn thông, công nghệ sinh học,v.v Do vậy, FDI của EU tậptrung chủ yếu ở các nước phát triển, cụ thể: Mỹ chiếm 39,7%, Nhật Bản chiếm 32,1%,ASEAN chiếm 12,6% FDI của EU và 15,6% FDI còn lại của EU đầu tư vào các nước
Phần 2: Chính sách thương mại quốc tế của Liên minh châu Âu
1 Nội dung và một số đặc điểm của chính sách thương mại quốc tế của Liên minh châu Âu
Tất cả các nước thành viên EU cùng áp dụng một chính sách ngoại thương chungđối với các nước ngoài khối Uỷ ban Châu Âu (EC) là người đại diện duy nhất cho Liên Minhtrong việc đàm phán, ký kết các Hiệp định thương mại và dàn xếp tranh chấp trong lĩnh vựcnày Liên minh châu Âu đang cải cách sâu rộng và toàn diện thể chế và luật pháp cho phùhợp với tình hình mới Nét đặc trưng trong chính sách thương mại của EU là bảo hộnông nghiệp, bảo vệ môi trường và bảo vệ sức khoẻ người tiêu dùng EU trợ cấp sản xuấtnông nghiệp trong khối đồng thời đánh thuế cao và áp dụng hạn ngạch đối với một số
Trang 5nông sản nhập khẩu như gạo, đường, chuối, sắn lát Các yêu cầu về xuất xứ, tiêu chuẩn
vệ sinh an toàn thực phẩm v.v luôn được thực hiện nghiêm ngặt
Chính sách ngoại thương của EU gồm: chính sách thương mại tự trị và chínhsách thương mại dựa trên cơ sở Hiệp định, được xây dựng dựa trên các nguyên tắcsau: không phân biệt đối xử, minh bạch, có đi có lại và cạnh tranh công bằng Cácbiện pháp được áp dụng phổ biến trong chính sách này là thuế quan, hạn chế về sốlượng, hàng rào kỹ thuật, chống bán phá giá và trợ cấp xuất khẩu
EU đang thực hiện chương trình mở rộng hàng hóa dưới hình thức đẩy mạnh tự dohóa thương mại (giảm dần thuế quan đánh vào hàng hoá XNK và tiến tới xoá bỏ hạnngạch, GSP) Hiện nay, 27 nước thành viên EU áp dụng một biểu thuế quan chung đốivới hàng hoá XNK Đối với hàng nhập khẩu, mức thuế trung bình đánh vào hàng nôngsản là 18%, hàng công nghiệp là 2%
Các chính sách phát triển ngoại thương của EU từ 1951 đến nay là những nhómchính sách chủ yếu sau: Chính sách khuyến khích xuất khẩu, chính sách thay thế nhậpkhẩu, chính sách tự do hoá thương mại và chính sách hạn chế xuất khẩu tự nguyện Việcban hành và thực hiện các chính sách này có liên quan chặt chẽ đến tình hình phát triểnkinh tế, tiến trình nhất thể hóa Châu Âu và khả năng cạnh tranh trong từng thời kỳ củacác sản phẩm của Liên Minh trên thị trường thế giới Ngoài các chính sách, EU có Quychế nhập khẩu chung
Bên cạnh cam kết với các nước thành viên WTO, EU ký nhiều hiệp định thươngmại và các hiệp định ưu đãi khu vực và song phương và dành chế độ MFN toàn phầndành cho sản phẩm nhập khẩu từ Úc, Canada, Đài Loan, Hồng-kong, Trung-quốc, Nhật-bản, Hàn-quốc, Tân-tây-lan, Singapo và Hoa-kỳ và các hiệp định ngành hàng song ph-ương khác
Bên cạnh các cam kết mở cửa thị trường trong khuôn khổ WTO về nông nghiệp,
EU duy trì hạn ngạch áp dụng thuế quan đối với một số sản phẩm, giảm dần trị giá và sốlượng các sản phẩm được trợ cấp xuất khẩu Trong một số lĩnh vực dịch vụ, EU đã cócam kết cụ thể thực hiện theo lịch trình chung của GATS, kể cả lĩnh vực viễn thông cơbản, tài chính và dịch vụ nghe nhìn
Hệ thống thuế: Các nước thuộc Liên minh châu Âu áp dụng Hệ thống thuế quan
chung của EU Thuế nhập khẩu được tính bằng cách lấy giá trị hàng hóa nhập khẩu tínhtheo giá CIF nhân với thuế suất của loại hàng hóa đó Trong đó, giá trị hàng hóa nhập
Trang 6khẩu tính theo giá CIF bao gồm: tiền hàng, các phí (đóng gói, làm thủ tục xuất khẩu,nộp thuế xuất khẩu (nếu có), lập bộ chứng từ xuất khẩu, cước vận tải, phí bảo hiểm );Thuế suất phụ thuộc vào loại hàng và xuất xứ của hàng nhập khẩu, được xây dựng trênnguyên tắc: Những mặt hàng trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất không đủ,hoặc cần thiết để phát triển những ngành sản xuất trong nước thì sẽ được miễn thuế hoặchưởng thuế suất thấp Ngược lại, những mặt hàng trong nước đã sản xuất đủ hay đểkhuyến khích trong nước tự sản xuất thì sẽ phải chịu thuế suất cao Theo nguyên tắc này,hầu hết nguyên liệu nhập khẩu vào EU được miễn thuế nhập khẩu hoặc chịu thuế suấtthấp, còn các mặt hàng nông sản thực phẩm phải chịu mức thuế cao hoặc thuế đặc biệt.
Cụ thể, các mặt hàng thịt, các sản phẩm sữa, ngũ cốc, rau hoa quả chế biến và không chếbiến chịu mức thuế cao nhất từ 0 – 470,8% Đối với các mặt hàng khác có mức thuế từ 0– 36,6% Để tăng sức cạnh tranh của hàng hóa và đẩy mạnh xuất khẩu, bên cạnh việcmiễn thuế hoặc đánh thuế thấp, đối với các nguyên, phụ liệu, bán thành phẩm nhập khẩu
để sản xuất hàng xuất khẩu , EU còn cho phép được “treo” thuế (tức là khi nhập khẩunguyên liệu chỉ tính thuế chứ chưa phải đóng thuế, khi xuất hàng, sẽ tính toán bù trừ vàdoanh nghiệp chỉ phải đóng thuế phần nguyên liệu không dùng để làm hàng xuất khẩu.Ngoài ra, EU còn có chính sách thuế ưu đãi để phát triển một số ngành, trong đó ngànhCông nghệ thông tin và ngành Dược là những ngành được quan tâm
Về xuất xứ hàng hóa:
EU áp dụng Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) dành cho 143 quốc gia và 36vùng lãnh thổ, trong đó các nước chậm phát triển nhất được ưu đãi nhiều hơn theo sángkiến "Mọi sản phẩm trừ vũ khí"
Biểu thuế quan của EU được gọi là thuế quan đặc biệt, được thực hiện đối với hàng nhậpkhẩu từ một số nước đang phát triển và được hưởng đơn thuần ưu đãi GSP của EU GSP
là chế độ tối huệ quốc đặc biệt của các nước công nghiệp phát triển dành cho các nướcđang và chậm phát triển Bản chất của chế độ GSP là các nước công nghiệp phát triển sẽ
áp dụng chế độ miễn thuế hoặc thuế rất thấp cho hàng hóa của các nước đang và kémphát triển, nhằm giúp hàng hóa của các nước này có điều kiện thâm nhập được vào thịtrường các nước phát triển Để được hưởng GSP thì phải đạt các điều kiện: phải là nướcchậm và đang phát triển; hàng hóa phải đạt 3 điều kiện cơ bản: Xuất xứ từ nước đượchưởng, điều kiện vận tải, giấy chứng nhận xuất xứ Về điều kiện xuất xứ từ nước đượchưởng, EU quy định có 2 loại: Đối với sản phẩm hoàn toàn được sản xuất tại lãnh thổ
Trang 7nước được hưởng ưu đãi như: Khoáng sản, động thực vật, thủy sản đánh bắt trong lãnhhải và hàng hóa sản xuất từ sản phẩm đó được xem là có xuất xứ và được hưởng ưu dãiGSP; Đối với các sản phẩm có thành phần nhập khẩu, EU quy định hàm lượng trị giá sảnphẩm sáng tạo tại nước hưởng GSP (tính theo giá xuất xưởng) phải đạt 60% tổng trị giáhàng liên quan Tuy nhiên, đối với một số nhóm hàng thì hàm lượng này thấp hơn, EUquy định cụ thể tỷ lệ trị giá và công đoạn gia công đối với một số nhóm hàng mà yêu cầuphần trị giá sáng tạo thấp hơn 60% (máy điều hòa nhiệt độ, tủ lạnh không dưới 40%, đồtrang trí làm từ kim loại không dưới 30%, giầy dép chỉ được hưởng GSP nếu các bộ phậnnhư: mũi giầy, đế dầy ở dạng rời và có xuất xứ từ nước thứ 3 cũng được hưởng GSPhoặc nhập khẩu ); Về điều kiện vận tải (hay điều kiện gửi hàng), EU yêu cầu hàng hóaphải được gửi thẳng từ nước được hưởng đến nước cho hưởng Quy định này nhằm đảmbảo hàng hóa không bị gia công tái chế thêm trong quá trình vận chuyển
- Đối với các sản phẩm hoàn toàn được sản xuất tại lãnh thổ nước hưởng GSP,như: khoáng sản, động thực vật, thủy sản đánh bắt trong lãnh hải và các hàng hóa sảnxuất từ các sản phẩm đó được xem là có xuất xứ và được hưởng GSP
- Đối với các sản phẩm có thành phần nhập khẩu: EU quy định hàm lượng trịgiá sản phẩm sáng tạo tại nước hưởng GSP (tính theo giá xuất xưởng) phải đạt 60%tổng trị giá hàng liên quan Tuy nhiên, đối với một số nhóm hàng thì hàm lượng nàythấp hơn EU quy định cụ thể tỷ lệ trị giá và công đoạn gia công đối với một số nhómhàng mà yêu cầu phần trị giá sáng tạo thấp hơn 60% (điều hòa nhiệt độ, tủ lạnh khôngdưới 40; tượng, đồ trang trí làm từ kim loại không dưới 30%; giày dép chỉ đượchưởng GSP nếu các bộ phận như: mũi, đế,v.v ở dạng rời sản xuất ở trong nướchưởng GSP hoặc nhập khẩu; v.v )
EU cũng quy định xuất xứ cộng gộp, theo đó hàng của một nước có thành phầnxuất xứ từ một nước khác trong cùng một tổ chức khu vực cũng được hưởng GSP thì cácthành phần đó cũng được xem là có xuất xứ từ nước liên quan Thí dụ, Việt Nam xuấtkhẩu sang EU một mặt hàng trong đó thành phần xuất xứ của Việt Nam chiếm 20% trịgiá, còn lại 15% nhập khẩu của Indonesia, 10% của Thái Lan, 15% của Singapore Xuất
xứ cộng gộp của hàng Việt nam sẽ là: 20% + 15% + 10% + 15% = 60% Mặt hàng này lẽ
ra không được hưởng GSP (vì hàm lượng trị giá Việt Nam chưa được 50%), nhưng nhờcộng gộp (60%) đã đủ điều kiện hưởng GSP
Trang 8Hàng xuất khẩu của việt Nam vào thị trường EU được hưởng ưu đãi thuế quan phổcập (GSP) từ 1/7/1996 cho đến nay.
Trong việc quản lý nhập khẩu, EU phân biệt 2 nhóm nước: nhóm áp dụng cơ chếkinh tế thị trường (nhóm I) và nhóm có nền thương nghiệp quốc doanh (nhóm II) - Statetrading Hàng hóa nhập khẩu vào EU từ các nước thuộc nhóm II (trong đó có Việt Nam)chịu sự quản lý chặt thường phải xin phép trước khi nhập khẩu Sau khi Việt Nam và EU
ký Hiệp định Hợp tác (1995) với điều khoản đối xử tối huệ quốc và mở rộng thị trườngcho hàng hóa của nhau thì quy định xin phép trước đối với nhập khẩu hàng Việt Namđược hủy bỏ (trên thực tế) Tuy nhiên, cho đến trước ngày 14/5/2000 (ngày EU đưa raquyết định “Công nhận Việt Nam áp dụng cơ chế kinh tế thị trường”), EU vẫn xem ViệtNam là nước có nền thương nghiệp quốc doanh và phân biệt đối xử hàng của Việt Namvới hàng của các nước kinh tế thị trường khi tiến hành điều tra và thi hành các biện phápchống bán phá giá
Các biện pháp khuyến khích trong GSP của EU: So với ưu đãi mà các nước và khuvực khác dành cho các nước đang phát triển, mức ưu đãi của EU vào loại thấp nhất.Trong hệ thống GSP của EU qui định khuyến khích tăng thêm mức ưu đãi 10%, 20%,35% đối với hàng nông sản và 15%, 25% và 35% đối với hàng công nghệ phẩm TheoGSP của EU bắt đầu có hiệu lực từ 1/7/1999 thì những trường hợp sau được hưởng ưuđãi thêm:
- Bảo vệ quyền của người lao động
- Bảo vệ môi trường
Hàng của các nước đang và chậm phát triển khi nhập khẩu vào thị trường EUmuốn được hưởng GSP thì phải tuân thủ các quy định của EU về xuất xứ hàng hóa vàphải xuất trình giấy chứng nhận xuất xứ mẫu A (C/O form A) do cơ quan có thẩm quyềncủa các nước được hưởng GSP cấp
Các biện pháp quản lý xuất nhập khẩu
EU áp dụng nhiều biện pháp, quy định khác để quản lý hoạt động xuất nhập khẩu:
Cấm nhập khẩu: EU áp dụng biện pháp cấm hoàn toàn hoặc chỉ cho phép nhập khẩu khi
đáp ứng những điều kiện nhất định đối với những mặt hàng nguy hiểm như: Các sảnphẩm hóa chất độc hại, các chất phế thải Một số mặt hàng bị cấm nhập khẩu vào EU doảnh hưởng đến an toàn an ninh và sức khỏe của cộng đồng như một số tân dược, thuốctrừ sâu, thực phẩm, sản phẩm điện, giống cây trồng, vật nuôi ngoại lai, các nông sản, thủy
Trang 9sản có dư lượng kháng sinh, lượng chất độc cho phép Một só nước thành viên EU như
áo, Đan Mạch, Hy Lạp, Thụy Điển còn cấm nhập khẩu các mặt hàng: Đồ chơi và các vậtdụng dành cho trẻ em dưới 3 tuổi được làm từ nhựa Polyvinylchloride
Cấp giấy phép nhập khẩu: Đối với một số loại hàng hóa, EU áp dụng biện pháp cấp giấyphép nhập khẩu đối với các mặt hàng như: Sản phẩm văn hóa (bao gồm khảo cổ học, sảnphẩm điêu khắc ), các mặt hàng nông sản (rượu, sữa, lúa mỳ, thịt, gạo), kim loại đềuphải trình giấy phép nhập khẩu và các tài liệu liên quan
Hạn chế nhập khẩu bằng hạn ngạch (quota): Mặc dù được coi là khu vực tương đối tự
do và tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho thương mại quốc tế phát triển, EU vẫn áp dụngmột số hạn ngạch nhất định cho một số mặt hàng, đặc biệt là hàng dệt may Hạn ngạchhàng dệt may của EU được quy định trên cơ sở Hiệp định Dệt may Việt Nam là mộttrong những nước được cấp hạn ngạch hàng dệt may vào EU, mỗi năm từ 500-600 triệuUSD, năm 2004 lên đến 800-900 triệu USD Nay, EU xoá bỏ hoàn toàn hạn ngạch chocác nước thành viên WTO, Việt Nam sẽ gặp khó khăn Để vượt qua khó khăn, một mặtViệt Nam phải nỗ lực nâng cao sức cạnh tranh của hàng dệt may, mặt khác phải tích cựcthương lượng để trở thành thành viên của WTO trong năm 2005
Luật chống bán phá giá: EU áp dụng Luật này đối với hàng nhập khẩu từ nước thứ 3,
được áp dụng đối với các sản phẩm công nghiệp và nông nghiệp Luật này sẽ được ápdụng cho tất cả các nước thứ 3, kể cả các đối tác thương mại được hưởng ưu đãi, trừ cácthành viên của Khu vực kinh tế châu Âu trong một số lĩnh vực chịu sự chi phối trongtrong khuôn khổ chính sách cạnh tranh của EU Quy định này có một số điều khoản đặcbiệt, áp dụng cho các nền kinh tế chuyển đổi để trao quy chế đối xử như với nền kinh tếthị trường cho các nhà xuất khẩu từ Anbani, Mông Cổ, Ucraina, Kadăcxtan, Trung Quốc,Nga, Việt Nam theo quy chế tạm thời để áp dụng trong việc điều tra chống bán phá giá
2 Các hàng rào kỹ thuật trong thương mại của Liên minh châu Âu
Tiến trình tự do hoá thương mại đang được tăng tốc bởi các hàng rào phi quanthuế như quota sẽ được bãi bỏ và những hàng rào thuế quan cũng sẽ bị cắt giảm Tuynhiên điều này không có nghĩa là các nhà xuất khẩu có thể dễ dàng tiếp cận vào thịtrường EU Việc tiếp cận thị trường EU trở nên khó khăn hơn nhiều do việc tăng nhữngquy định và các yêu cầu thị trường trong các khía cạnh về an toàn, sức khỏe, chất lượng,các vấn đề môi trường và xã hội Trước đây, các hàng rào thuế quan và phi thuế quannhìn chung nhằm bảo vệ các nhà sản xuất của Châu Âu Nhưng ngày nay, việc bảo vệ
Trang 10môi trường và bảo vệ cho người tiêu dùng ngày càng tăng đã dần thay thế cho việc bảo
vệ nhà sản xuất và lao động
Việc sử dụng các hàng rào kỹ thuật được điều chỉnh thông qua các hàng rào kỹthuật trong hiệp định thương mại của WTO Những quy định, luật lệ này không chỉ docác chính phủ áp dụng nhằm xác định các tiêu chuẩn trong an toàn, sức khỏe và môitrường, mà còn bởi chính người tiêu dùng đang ngày càng có những yêu cầu khắt khehơn về chất lượng sản phẩm Điều này dẫn tới các quy định khó khăn hơn xuất phát từphía thị trường
Hiện tại EU đang tạo ra các tiêu chuẩn thống nhất cho toàn EU đối với các lĩnhvực sản phẩm chính nhằm thay thế hàng ngàn các tiêu chuẩn quốc gia khác nhau Nhìnchung, các mức độ yêu cầu đang được đặt ra hoặc sẽ được đặt ra trong những năm tớiđây Các quốc gia thành viên được phép đưa ra thêm các yêu cầu cho ngành công nghiệpcủa mình Tuy nhiên, nếu sản phẩm nào đáp ứng được những yêu cầu tối thiểu sẽ đượccho phép lưu hành tự do tại EU
2.1.Tiêu chuẩn sức khỏe và an toàn:
2.1.1 Nhãn CE
Tháng 5/1985, Hội đồng châu Âu đã thông qua quy định “cách tiếp cận mới vềviệc hoà hợp và bình thường hóa về kỹ thuật Cách tiếp cận mới được áp dụng cho việcchuẩn hóa và quản lý chất lượng nhằm đảm bảo chỉ những sản phẩm an toàn và đáp ứngđược yêu cầu bảo vệ người tiêu dùng, môi trường sức khỏe mới được lưu thông trongKhu vực Kinh tế chấu Âu Theo cách tiếp cận mới này, thì hàng loạt các sản phẩm côngnghiệp chế tạo buộc phải mang nhãn hiệu CE Mục đích của nhãn CE là đặt ra yêu cầuchung đối với các nhà sản xuất nhằm đảm bảo đưa ra những sản phẩm an toàn tại thịtrường EU Nhãn CE được coi là 1 giấy thông hành của nhà sản xuất lưu thông nhiều sản
phẩm công nghiệp như máy móc thiết bị, các thiết bị điện có hiệu điện thế thấp, đồ chơi, các thiết bị an toàn cá nhân, các thiết bị y tế… trên thị trường EU Tuy nhiên nhãn CE
không áp dụng cho tất cả các hàng hoá công nghiệp, nó không áp dụng cho các sản phẩmtrang trí nội thất, quần áo và các sản phẩm da Nhãn CE chỉ ra rằng sản phẩm tuân thủcác yêu cầu về luật định và có thể được áp dụng về an toàn, sức khỏe, môi trường và bảo
vệ người tiêu dùng, nhưng nhãn CE không bảo đảm về chất lượng sản phẩm
Chỉ thị về sản phẩm chung 92/59/EC (thường được gọi là Chỉ thị an toàn sảnphẩm) được thông qua Hội đồng châu Âu ngày 29/6/1992 Tháng 6/1994, Chỉ thị bắt đầu
Trang 11có hiệu lực và áp dụng cho an toàn của sản phẩm kể từ lần đầu tiên sản phẩm đó xuấthiện trên thị trường EU và kéo dài đến khi sản phẩm đó hết tác dụng Với Chỉ thị này, cácnhà sản xuất và phân phối chỉ được phép kinh doanh các sản phẩm an toàn Vì vậy, khisản xuất hàng xuất khẩu đi EU phải chú ý ngay từ khâu thiết kế, nguyên liệu đầu vào ,phải chứng minh được hàng hóa đảm bảo an toàn và sức khỏe cho người sử dụng.
2.1.2 HACCP: Hệ thống phân tích nguy cơ và kiểm soát các điểm tới hạn
Tiêu chuẩn HACCP được áp dụng cho ngành công nghiệp thực phẩm và chế biến vớicác nguyên tắc cơ bản:
* Xác định tất cả các nguy cơ có thể xẩy ra cho sản phẩm trong chu kỳ sống của sảnphẩm;
* Xác định các Điểm kiểm soát tới hạn (Critical Control Points), các giai đoạn có thểkiểm soát được trong chu kỳ sống của sản phẩm;
* Xác định những biên độ tiêu chuẩn cao nhất có thể cho phép cho mỗi điểm kiểm soáttới hạn;
* Thiết kế và thực hiện một hệ thống kiểm soát kiểm nghiệm hoặc quan sát cho mỗiĐiểm kiểm soát tới hạn, bao gồm 01 lịch trình theo thời gian;
* Thiết kế và thực hiện các kế hoạch hành động chính xác cho mỗi Điểm kiểm soát tớihạn;
* Đưa ra một tiến trình xác nhận, bào gồm các kiểm nghiệm và tiến trình khác nhằmkiểm tra tính hiện quả và hiệu quả của hệ thống HACCP;
* Chứng từ hoá tất cả các tiến trình và kết quả kiểm nghiệm
2.1.3 Phụ gia thực phẩm và gia vị
Phụ gia thực phẩm chịu sự điều chỉnh của luật pháp EU ban hành đối với chất làmngọt, chất mầu và các phụ gia thực phẩm khác được sử dụng trong đồ ăn Chỉ những phụgia nào được phép sử dụng một cách rõ ràng theo Quy định này mới có thể được dùngtrong EU Các chất phụ gia thực phẩm được phép sử dụng sẽ có số xác minh Số này sẽ
có một chữ E đứng trước (E number) Các phụ gia thực phẩm phải được ghi rõ trongdanh mục thành phần in trên bao bì tên của chất có trong phụ gia hay số E của nó
Hầu hết các chất phụ gia thực phẩm chỉ có thể sử dụng với các khối lượng hạn chếtrong một số thực phẩm nhất định Đối với các chất phụ gia thực phẩm, EU sẽ sớm công
bố một danh mục các chất phụ gia được phép sử dụng Sau đó, chỉ các chất phụ gia nêutrong danh mục này được phép đưa vào thực phẩm
Trang 122.2.Tiêu chuẩn môi trường:
Chương trình hành động về môi trường của EU nhấn mạnh: Phải xử lý tận gốcnhững vấn đề gây tác động xấu đến môi trường chứ không phải chỉ đối phó với nhữngrắc rối khi chúng đã xẩy ra EU đưa ra danh mục các sản phẩm có ảnh hưởng đến môitrường như: thực phẩm tươi sống, thực phẩm chế biến, dược phẩm, hoá chất, đồ da, đồ
gỗ, dệt may, đồ điện, cơ khí, khoáng sản , cùng các vấn đề nhạy cảm có liên quan nhưlượng thuốc trừ sâu không phân hủy, phụ gia thực phẩm, kim loại nặng, hoá chất độc hạigây nhiễm nguồn nước và không khí Với chính sách bảo vệ môi trường của EU như đãnêu trên, thì các doanh nghiệp xuất khẩu hàng sang EU đều phải có chứng chỉ ISO 14000
và phải chứng minh được nguồn gốc hàng hóa và chính sách bảo vệ môi trường
Phần 3 Các công cụ của chính sách thương mại quốc tế của Việt Nam hiện nay:
Thuế Quan:
Hệ thống thuế quan là một trong những thực thể bị chi phối nhiều nhất khi Việt Namgia nhập WTO Biểu thuế của Việt Nam có một số thay đổi để thực hiện những cam kết
về hàng hóa với WTO
Thuế suất đánh trên hầu hết hàng hóa, kể cả nông sản, sẽ không quá giới hạn 35%.Thuế suất cao hơn 35% đánh trên một số sản phẩm (thí dụ như rượu, thuốc lá, cà phêuống liền (instant coffee), xe hơi cũ và mới, phụ tùng xe hơi, và ngói) sẽ được giãm dần,
kể từ nay cho đến 2014
Một số sản phẩm về kỹ thuật thông tin(information technology) nhập cảng từ cácquốc gia thành viên đã ký kết Thỏa ước Kỹ thuật Thông tin (Information TechnologyAgreement) sẽ được miễn thuế Một số sản phẩm có hiệu lực ngay lập tức, một số khác sẽđược miễn dần từ nay cho đến 2010 hoặc 2014
Thuế suất trên một vài sản phẩm (như trứng, thuốc lá, đường, và muối) sẽ được đánhtheo thuế suất hạn ngạch (thuế suất thấp cho số lượng ít hơn hạn ngạch, thuế suất cao hơncho số lượng vượt hạn ngạch) Tuy nhiên, Việt Nam sẽ nới rộng và bãi bỏ hạn ngạch theothời biểu được thỏa thuận
Việt Nam có quyền ấn định thuế quan dựa trên trọng lượng ($/tấn) thay vì trên giá cả(phần trăm) của hàng hóa, miễn là thuế suất thực sự không vượt quá giới hạn đã đượcthỏa thuận
Việt Nam cam kết không trợ giá cho nông sản xuất cảng Là một quốc gia đang pháttriển, Việt Nam được quyền hỗ trợ cho nông dân trong nước nhưng không quá 246 triệu
Trang 13$US cộng với 10% tổng sản lượng nông nghiệp nội địa Cũng như các thành viên WTOkhác, Việt Nam có quyền hỗ trợ không hạn chế cho các hoạt động không có ảnh hưởngđến mậu dịch
Có tất cả 18 loại hàng hóa bị cấm lưu hành ở Việt Nam Trong số này có “Sản phẩm
văn hóa phản động và khiêu dâm; sản phẩm phục vụ mê tín hoặc sản phẩm có hại choviệc phát triển con người
Hạn ngạch
Là thành viên của WTO, Việt Nam đã cam kết loại bỏ tất cả các biện pháp hạn chếđịnh lượng với hàng nhập khẩu ngay khi gia nhập trong đó có hạn ngạch thuế quan Điềunày gây ra nhiều bất lợi trong cạnh tranh trên thị trường quốc tế cho Việt Nam Bởi lẽ, bỏquota, cạnh tranh sẽ gay gắt hơn, các nước nhập khẩu sẽ được tự do lựa chọn nơi nào cólợi thế cạnh tranh hơn để nhập khẩu hàng hoá Khi đó, tình hình chắc chắn sẽ có lợi hơncho các nước có đầy đủ năng lực cạnh tranh chiếm thêm thị phần mà trước đó đã là củanước khác Các nước có tiềm năng sản xuất, xuất khẩu với công nghệ tiên tiến, chủ độngđược nguyên phụ liệu, có các ngành công nghiệp hỗ trợ phát triển, được chính phủ quantâm đầy đủ thì sẽ tận dụng được cơ hội này để phát triển Còn đối với Việt Nam – 1 nướcđang phát triển với nguồn lực còn nhiều hạn chế thì đây là một khó khăn rất lớn
Ví dụ về việc dỡ bỏ hạn ngạch đối với hàng nông sản của Việt Nam
Để gia nhập WTO, Việt Nam đã cam kết mở cửa thị trường nông nghiệp bằng việc cắtgiảm thuế nông sản là 20% so với mức hiện hành Đồng thời, cam kết loại bỏ hết cáchàng rào phi thuế, trừ các biện pháp hạn ngạch thuế quan đối với 4 mặt hàng là đường,trứng gia cầm, lá thuốc lá, muối
Đối với 4 mặt hàng này, mức thuế trong hạn ngạch là tương đương mức thuế Tối huệquốc (MFN) hiện hành (trứng 40%, đường thô 25%, đường tinh 50-60%, thuốc lá: 30%,muối ăn 30%), thấp hơn nhiều so với mức thuế ngoài hạn ngạch
Mức cắt giảm thuế không đều giữa các lĩnh vực: thuế thấp đối với vật tư nông nghiệp(giống nguyên liệu chế biến, thức ăn) là 0-10%; thuế trung bình 15-30% với các sảnphẩm nông sản tươi (rau quả, sữa, thịt); và thuế cao (40-50%) đến rất cao (60-100%) đốivới sản phẩm chế biến (thịt, cà phê tan, rượu-bia, thuốc lá, nước giải khát Với mức cắtgiảm như vậy, đối tượng được bảo vệ là ngành công nghiệp chế biến hơn là nông dân Việc xoá bỏ hạn ngạch thuế quan cho một số lượng các mặt hàng nông sản mà ViệtNam vốn có khả năng cạnh tranh thấp sẽ gây ra những tác động tiêu cực đối với những
Trang 14người nông dân sản xuất trực tiếp, nhất là trong bối cảnh nền sản xuất nông nghiệp củaViệt Nam vẫn là nền sản xuất nhỏ, phân tán, năng suất và chất lượng thấp, trong khi bìnhquân đất nông nghiệp theo đầu người quá ít, giá trị sản xuất nông nghiệp trên 1 ha canhtác trung bình ở mức 30 triệu đồng/ha.
Đặc biệt, trong ngành đường và muối của Việt Nam, chất lượng sản phẩm thấp trongkhi giá thành sản xuất lại cao đã kéo theo lượng hàng nhập lậu lớn từ các nước láng giềngvới chi phí thành phẩm thấp hơn một cách đáng kể Trong năm 2006, Việt Nam phảinhập khẩu khoảng 185.000 tấn đường và 118.515 tấn muối, trong khi lượng hạn ngạch
mà Việt Nam cam kết khi gia nhậpWTO là 55.000 tấn đường và 150.000 tấn muối Điều này cho thấy việc áp dụng hạn ngạch thuế quan đối với những mặt hàng này rõràng có tác động đáng kể đối với khả năng tiếp cận thị trường củ các nhà nhập khẩu cũngnhư đời sống người nông dân
Một số ngành như dệt may, da giầy…cũng đang gặp khó khăn trong cạnh tranh trênthị trường thế giới do việc cắt bỏ hạn ngạch để thực hiện cam kết khi gia nhập WTO
Những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật:
Ðể bảo đảm cho việc tuân thủ Thỏa ước TBT của tổ chức thương mại thế giới WTO,vào tháng 6 năm 2006, Việt Nam đã ban hành Luật về Tiêu chuẩn và Quy định Kỹ thuậtbao gồm tất cả các tiêu chuẩn ghi trong các văn bản pháp luật hiện hành như Quy định về
Ðo lường, Phẩm chất Thực phẩm, Vệ sinh và An toàn Thực phẩm, Bảo vệ Thực vật, Thú
y, và Bảo vệ Giới Tiêu thụ Việt Nam cũng thực thi nhiều chương trình để dung hòa(harmonize) tiêu chuẩn quốc gia với tiêu chuẩn quốc tế Tính đến cuối năm 2004, ViệtNam có trên 5.800 tiêu chuẩn, khoảng 1.450 tiêu chuẩn dịch thẳng và khoảng 4.350 nháytheo tiêu chuẩn quốc tế hoặc của các quốc gia trong vùng Ngoại trừ 231 tiêu chuẩn bắtbuộc, việc áp dụng tiêu chuẩn có tính cách tự nguyện (voluntary) Các tiêu chuẩn bắtbuộc và những quy định kỹ thuật được áp dụng tại Việt Nam có thể đặt mua ở Trung tâmThông tin Tiêu chuẩn Ðo lường Chất lượng trực thuộc Tổng cục Tiêu chuẩn Ðo lườngChất lượng (STAMEQ)
Hạn chế xuất khẩu:
Việt Nam vẫn duy trì việc kiểm soát xuất khẩu trên một số mặt hàng như gạo,một sốsản phẩm gỗ và khoáng chất ( nhằm ngăn chặn việc khai thác bất hợp pháp) nhưng phảiphù hợp với các hiệp định của WTO
Trợ cấp xuất khẩu
Trang 15Việt Nam đang từng bước thực hiện những cam kết về trợ cấp xuất khẩu khi gia nhậpWTO:
- Bãi bỏ trợ cấp thay thế nhập khẩu (như thuế ưu đãi theo tỷ lệ nội địa hóa) và các loại trợcấp xuất khẩu dưới hình thức cấp phát trực tiếp từ ngân sách nhà nước (như bù lỗ chohoạt động xuất khẩu, thưởng theo kim ngạch xuất khẩu, hỗ trợ lãi suất cho hợp đồng xuấtkhẩu…) kể từ khi gia nhập WTO
- Với trợ cấp xuất khẩu “gián tiếp” (chủ yếu dưới dạng ưu đãi đầu tư dành cho sản xuấthàng xuất khẩu), sẽ không cấp thêm kể từ khi gia nhập WTO Tuy nhiên, với các dự ánđầu tư trong và ngoài nước đã được hưởng ưu đãi loại này từ trước ngày gia nhập WTO,
ta được một thời gian quá độ là năm năm để bãi bỏ hoàn toàn
- Riêng với ngành dệt - may, tất cả các loại trợ cấp bị cấm theo Hiệp định SCM, dù làtrực tiếp hay gián tiếp, đều được bãi bỏ ngay từ khi Việt Nam gia nhập WTO
Tóm lại, Việt Nam đã cam kết xóa bỏ hoàn toàn trợ cấp bị Hiệp định SCM cấm kể từkhi gia nhập, chỉ bảo lưu năm năm cho các ưu đãi đầu tư sản xuất hàng xuất khẩu (ưu đãithuế thu nhập doanh nghiệp, tiền thuê đất, tiền sử dụng đất ) đã cấp cho các dự án từtrước ngày gia nhập WTO (nhưng không bao gồm các dự án dệt-may) Các hình thức hỗtrợ khác cho sản xuất nông nghiệp và công nghiệp, nếu không gắn với xuất khẩu hoặckhuyến khích thay thế hàng nhập khẩu, vẫn tiếp tục được duy trì
Các quy định về chống bán phá giá của Việt Nam
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (Điều 2 vàĐiều 9) được Quốc hội thông qua ngày 20/5/1998 cho phép áp dụng mức thuế bổ sungđối với hàng nhập khẩu có giá thấp hơn “giá thông thường do được bán phá giá, gây khókhăn cho các nhà sản xuất hàng hoá tương tự trong nước” hoặc thấp hơn “giá thôngthường phát sinh do có sự trợ cấp của nước xuất khẩu, gây ra khó khăn cho các nhà sảnxuất hàng hoá tương tự trong nước”
Hiện Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh về các biện pháp tự vệngày 25/5/2002, Pháp lệnh số 20/2004/PL-UBTVQH11 về “chống bán phá giá hàng hoánhập khẩu vào Việt Nam” ngày 29/4/2004 và Pháp lệnh số 22/2004/PL-UBTVQH11 “vềcác biện pháp chống trợ cấp hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam” ngày 20/8/2004
Trong quá trình đàm phán gia nhập WTO, đại diện của Việt Nam công nhận rằngViệt Nam cần phải xây dựng khuôn khổ pháp luật, thể chế phù hợp để thực thi các quyđịnh về các biện pháp chống bán phá giá và các biện pháp đối kháng Các quy định mới