1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tiểu luận môn kinh tế quốc tế hai xu hướng cơ bản trong chính sách thương mại quốc tế của các quốc gia

31 553 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 746,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NHÓM 1 ĐỀ TÀI 1 : Hai xu hướng cơ bản trong chính sách thương mại quốc tế của các quốc giatự do hóa thương mại và bảo hộ thương mại được thể hiện như thế nào; Chính sáchthương mại quốc t

Trang 1

NHÓM 1

ĐỀ TÀI 1 : Hai xu hướng cơ bản trong chính sách thương mại quốc tế của các quốc gia(tự do hóa thương mại và bảo hộ thương mại) được thể hiện như thế nào; Chính sáchthương mại quốc tế của Việt Nam đang được điều chỉnh theo xu hướng nào và giải thích;Thực tế việc vận dụng các công cụ chủ yếu để điều chỉnh sách TMQT của Việt nam vàcác nước trên thế giới nhằm thực hiện hai xu hướng trên?

Trang 2

NHÓM 1

LỜI MỞ ĐẦU

Chính sách thương mại quốc tế là một hệ thống các quan điểm, mục tiêu, nguyêntắc và các công cụ, biện pháp thích hợp mà Nhà nước sử dụng để điều chỉnh các hoạtđộng thương mại quốc tế của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định phù hợp với địnhhướng chiến lược, mục đích đã định trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của quốcgia đó

Việt Nam đặt mục tiêu về cơ bản trở thành nước công nghiệp hoá vào năm2020.Quá trình công nghiệp hoá của VN trong bối cảnh phải tham gia vào quá trình hộinhập kinh tế quốc tế và tham gia vào mạng lưới sản xuất khu vực và thế giới.Bên cạnh đócác nước trong khu vực như Trung Quốc và các nước trong khối ASEAN đã đạt đượcnhững kết quả rất đáng ngưỡng mộ trong phát triển kinh tế.Trong bối cảnh đó, chính sáchthương mại quốc tế có một vị trí quan trọng trong việc hỗ trợ thực hiện chính sách côngnghiệp và các chính sách khác

Chính phủ Việt Nam đã thực hiện nhiều cải cách về thương mại trong quá trìnhhội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên, nhiều vấn đề còn cần đuợc tiếp tục xem xét như việcliên kết doanh nghiệp và Chính phủ trong việc hoàn thiện chính sách thương mại quốc tế;

cơ sở thực tiễn khi tham gia cộng đồng chung ASEAN, ASEAN mở rộng, ký kết hiệpđịnh song phương; phát huy vai trò của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trongviệc thực hiện chính sách; và cách thức vận dụng các công cụ của chính sách thương mạiquốc tế trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Chính sách thương mại quốc tế với hai

xu hướng tự do hóa thương mại và bảo hộ mậu dịch phải được hoàn thiện để vừa phù hợpvới các chuẩn mực thương mại quốc tế hiện hành thế giới, vừa phát huy được lợi thế sosánh của Việt Nam

Với những lý do nêu trên, việc xem xét nghiên cứu hai xu hướng cơ bản của chínhsách thương mại quốc tế của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế là việclàm vừa có ý nghĩa về mặt lý luận, vừa có ý nghĩa về mặt thực tiễn, góp phần đưa ViệtNam hội nhập thành công và đạt được mục tiêu đã đề ra

Trang 3

NHÓM 1

PHẦN I : HAI XU HƯỚNG CƠ BẢN CỦA CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

1.1 Khái niệm về thương mại quốc tế và chính sách thương mại quốc tế

Thương mại quốc tế được hiểu là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ và các yếu tố sản

xuất qua biên giới giữa các quốc gia.Tổ chức thương mại thế giới WTO xem xét thươngmại quốc tế bao gồm thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ và thương mại quyền sởhữu trí tuệ

Chính sách thương mại quốc tế là “những chính sách mà chính phủ thông qua về

thương mại quốc tế” Theo Trung tâm kinh tế quốc tế của Úc (CEI), hệ thống các chínhsách thương mại quốc tế bao gồm các quy định về thương mại, chính sách về xuất khẩu,

hệ thống thuế và các chính sách hỗ trợ khác

1.2 Hai xu hướng cơ bản của chính sách thương mại quốc tế của các quốc gia.

Chính sách thương mại quốc tế được biểu hiện dưới hai hình thức chủ yếu: xuhướng tự do hóa thương mại và xu hướng bảo hộ thương mại Hai xu hướng này đượcbiểu hiện dưới các hình thức cụ thể khác nhau trong từng thời kỳ phát triển của mỗi quốcgia

1.2.1 Xu hướng tự do hóa thương mại.

- Đây là một hình thức của chính sách thương mại quốc tế, trong đó Chính phủ nướcchủ nhà không phân biệt hàng hóa nước ngoài với hàng hóa nội địa trên thi trường nướcmình, do đó không thực hiện các biện pháp cản trở hàng hóa nước ngoài xâm nhập thịtrường nước mình

- Đặc điểm tự do hóa thương mại.

+ Thúc đẩy việc mở rộng xuất khẩu qua việc bãi bỏ thuê xuất khẩu hoặc thực hiện cácbiện pháp khuyến khích khác

+ Mở rộng thị trường nội địa cho hàng hóa nước ngoài tự do xâm nhập thông qua việcxóa bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan

+ Chính sách tự do hóa thương mại thường được thực hiện sau khi các hàng hóa của

quốc gia đó có đủ sức cạnh tranh bình đẳng với hàng hóa ngoại nhập

- Điều kiện để tự do hoá thương mại :Để phát huy lợi thế so sánh khi thực hiện tư

do hoá thương mại, cần phải đảm bảo các điều kiện tối thiểu sau:

Trang 4

+ Cải cách và nâng cao hiệu quả quản lý hành chính của các cơ quan chính phủ, nhất

là các cơ quan có liên quan đến hoạt động ngoại thương

+ Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội trước hết là những trung tâmgiao lưu kinh tế và cửa ngõ thông thương với thị trường thế giới như hệ thống đường giaothông, thông tin liên lạc, điện nước, và các dịch vụ thiết yếu đạt trình độ quốc tế, tạomôi trường kinh doanh năng động và hiệu quả cho các doanh nghiệp trong nước và cácnhà đầu tư quốc tế

+ Đào tạo và xây dựng một nguồn nhân lực phù hợp với nhu cầu phát triển, nhất làgiới kinh doanh, doanh nghiệp trên lĩnh vực thương mại quốc tế, có đủ chuyên môn vàbản lĩnh để làm việc với các doanh nghiệp nước ngoài

- Cần thiết phải tự do hoá thương mại theo trình tự:

Tự do hoá thương mại là việc cần phải làm đối với tất cả các nước trong điều kiện hộinhập kinh tế Tuy nhiên, tự do hoá thương mại cần phải được thực hiện theo những bước

đi phù hợp, nhất là đối với các nước đang phát triển Nếu không chú trọng đến trình tự tự

do hoá, các nước này có thể phải gánh chịu những bài học đắt giá Việc xác định lộ trình

tự do hoá thương mại cần dựa vào đặc điểm, điều kiện, và nội lực của mỗi nước

1.1.2 Xu hướng bảo hộ thương mại

- Đây là một hình thức của chính sách thương mại quốc tế, trong đó Chính phủ củamột quốc gia áp dụng các biện pháp để cản trở và điều chỉnh dòng vận động của hàng hóanước ngoài xâm nhập vào thị trường trong nước

- Đặc điểm của xu hướng bảo hộ thương mại

+ Hạn chế nhập khẩu hàng hóa nước ngoài thông qua các hàng rào thuế quan và

Trang 5

NHÓM 1

+ Chính sách bảo hộ thương mại thường được thực hiện trước chính sách mậudịch tự do nhằm bảo vệ cho các ngành kinh tế, các doanh nghiệp có đủ thời gian để chuẩn

bị cho sự cạnh tranh với hàng hóa nước ngoài

Trong giai đoạn hiện nay, một số nước có xu hướng đòi các nước khác thực hiệnchính sách mậu dịch tự do đối với hàng hóa của họ, song thực tế hầu hết các quốc gia vẫnbằng cách này hay cách khác thực hiện việc bảo hộ hàng hóa do nước mình sản xuất ra

Trang 6

Như vậy có thể nói chính sách thương mại quốc tế của Việt Nam đang được điềuchỉnh theo xu hướng chủ đạo là tự do hóa thương mại và giảm dần bảo hộ thương mại.

Để giải thích cho phần trả lời này nhóm xin trình bày 2 luận điểm Thứ nhất là về các giaiđoạn của quá trình tự do hóa thương mại và thứ hai là đánh giá về hiệu quả của tự do hóathương mại đối với nền kinh tế Việt Nam

2.1 Các giai đoạn của quá trình tự do hóa thương mại

Kể từ dấu mốc năm 1995 đến nay, có thể phân đoạn quá trình tự do hóa thươngmại ở Việt Nam đến nay thành 3 thời kỳ với các dấu mốc là việc tham gia các Hiệp địnhthương mại quan trọng mà Chính phủ Việt Nam thực hiện

Trang 7

NHÓM 1

ngay khi gia nhập Điều này thực sự mang lại những bước chuyển đặc biệt tích cực chothành tích hội nhập và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn này

2.1.2 Giai đoạn từ năm 2001-2007

Sau những bước đi ban đầu, giai đoạn 2001-2007 được xem là giai đoạn tăng tốctrong quá trình hội nhập của Việt Nam với việc ký kết và thực thi BTA với Hoa Kỳ năm

2001, đàm phán và ký kết nhiều Hiệp định bảo hộ đầu tư, thương mại và cuối cùng làđàm phán gia nhập WTO Với BTA, lần đầu tiên Việt Nam có một hiệp định thương mạisong phương với những cam kết mở cửa thị trường chi tiết trên tất cả các lĩnh vực, hànghóa, dịch vụ, đầu tư

Về mặt nội dung, đây là thỏa thuận đầu tiên mà Việt Nam tiếp cận với các tiêu chuẩnthuế giới về tự do hóa thương mại, trong đó có các nguyên tắc về không phân việt đối xử,bảo hộ đầu tư, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, giải quyết tranh chấp Điều này thực sự tạobước ngặt trong tự do hóa thương mại ở Việt Nam, trong nối cánh những hiệp định songphương về thương mại mà Việt Bam ký kết trước và liền sau đó với các đối tác đều chỉbao gồm chỉ yếu là các quyên bố và nguyên tắc bảo hộ chung( không bao gồm cácnhượng bộ mở cửa thị trường cụ thể) Về mặt đối tác, việc Việt Nam ký BTA với Hoa Kỳ

Trang 8

Đây cũng là giai đoạn đánh dấu bước phát triển mới trong tiến trình tự do hóa thươngmại quốc tế của Việt Nam với các cam kết mở cửa sâu về thương mại hàng hpas trongcác hiệp định thương mại tự do ASEAN+ (ASEAN-Trung Quốc 2004; ASEAN- HànQuốc 2006) Các FTA được đàm phán và có hiệu lực trong giai đoạn này đã gia tăngđáng kể mức độ mở của kinh tế của Việt Nam với việc cam kết loại bỏ phần lớn cácdòng thuế quan cho hàng hóa nhập khẩu với lộ trình khác nhau Theo chiều ngược lại,các đối tác cũng loại bỏ thuế đối với phần lớn dòng thuế cho các sản phẩm xuất khẩucảu Việt Nam Đặc biệt, bước hội nhập quan trọng nhất được kể đến trong giai đoạnnày là việc Việt Nam hoàn tất quá trình đám phán và gia nhập WTO với các cam kết

mở cửa trong các lĩnh vực thương mại, dịch vụ, sở hữu trí tuệ và đầu tư Và mặc dùmức độ tự do hóa trong các cam kết gia nhập WTO không cao trong so sánh với cáccam kết trong FTA, đây lại là những cam kết mở cửa với diện rộng nhất( hầu hết tất cảcác dòng thuế, 110/155 phân ngành dịch vụ, tất cả các nguyên tắc thương mại liên quantới đầu tư trong WTO…) và có mức độ ảnh hưởng hạnh nhất tới nền kinh tế Việt Nam

Trang 9

NHÓM 1

2.1.3,Giai đoạn 2007 đến nay.

Giai đoạn này được đặc trung bởi việc Việt Nam tham gia hội nhập sâu vàothương mại quốc tế với việc đàm phán, ký kết nhiều FTA với các đối tác quan trọngtrong đó có hiệp định đối tác xuyên thái bình dương TPP Cụ thể, trong thời gian này,Việt Nam tiếp tục đàm phán và ký kết thêm các FTA trong khuôn khổ ASEAN(ASEAN- Nhật Bản 2008, ASEAN – Australia và New Zealand và ASEAN- Ấn độnăm 2010) và lần đầu tiên đàm phán ký kết các FTA song phương ( Hiệp định đối táckinh tế song phương với Nhật Bản năm 2009; Hiệp định thương mại tự do Việt Nam –Chi Lê năm 2012) Tiếp nối các FTA này, Việt Nam hiện đang đàm phán một số FTAkhác có diện và phạm vi tương tự, ví dụ Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khuvực(RCEP), FTA Việt Nam – Hàn Quốc, FTA Việt nam – Liên minh thuế quan Nga –

Đặc biệt, ở nửa sau của giai đoạn này, Việt Nam bắt đầu tham gia vào những đàm phánthương mại tự do thế hệ mới với tiêu chuẩn tự do hóa cao nhất cho tới thời điểm nàynhư Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) ; FTA Việt Nam – EU(EVFTA) Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – khối EFTA

Trang 10

NHÓM 1

2.2 Đánh giá về hiệu quả tự do hóa thương mại quốc tê của Việt Nam.

Tự do hóa thương mại thông qua các cam kết mở cửa thương mại nói riêng và việctham gia các thỏa thuận, điều ước quốc tế phục vụ thương mại nói chung đã mang đếncho nền kinh tế Việt Nam những bước phát triển mạnh mẽ Thể hiện rõ nhất là giaiđoạnh từ năm 2001 khi Việt Nam hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới với việc ký kếtBTA, gia nhập WTO và tham gia một loạt các FTA khu vực Giai đoạn này chứng kiếnnhững chuyển biến đang kể đối với nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam

Trang 11

NHÓM 1

- Cụ thể, giai đoạn từ năm 2001-2006 mặc dù vẫn phần nào chịu ảnh hưởng củacuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ châu Á từ những năm 1997-1998, nền kinh tế đã cónhững bước tăng trưởng vượt baach, với tốc độ tăng trường GDP trung bình hàng nămlên tới 7.8%, được đóng góp chủ yếu bởi lĩnh vực công nghiệp- xây dựng, với tốc độtăng trung bình trên 10%/ năm.Giai đoạn từ năm 2007 – 2011, do ảnh hưởng của cuộckhủng hoảng tài chính thế giới năm 2008-2009, nền kinh tế nước ta cũng bị ảnh hưởng

và có những bước phát triển chững lại, với tốc độ phát triển trung bình chậm hơn giaiđoạn trước, khoảng 6,5% nhưng vẫn là tương đối cao so với thế giới Lĩnh vực côngnghiệp – xây dựng vẫn chiếm ưu thế, nhưng tốc độ tăng trường chậm hơn, trong khi lĩnhvực dịch vụ vẫn tăng trưởng đều và ổn định, vượt tốc độ tăng trưởng của công nghiệp-xây dựng Lĩnh vực nông, lâm, thủy sản luôn có tốc độ tăng trưởng thấp nhất và không

ổn định do bị tác động vởi nhiều yếu tố, đặc biệt là thời tiết, dịch bệnh

- Trong tổng thể Việt Nam đạt mức tăng trường liên tục về kim ngạch xuất nhậpkhẩu trong suốt các giai đoạn hội nhập( và chỉ giảm nhẹ trong giai đoạn khủng hoảng tàichính thể giới 2008-2009) là chỉ số thể hiện mạnh mẽ độ mở của Việt Nam với thươngmại thể giới Xét riêng về xuất khẩu thì kim ngạch xuất khẩu năm 2013 bằng khoảng

167 lần so với năm 1986 (132,2 tỷ USD năm 2013 so với 789,1 triệu USD năm 1986).Đặc biệt, số lượng các sản phẩm có sức cạnh tranh mạnh trên thị trường thế giới ngàycàng tăng Nếu như năm 2004 Việt Nam chỉ có 6 nhóm hàng đạt kim ngạch xuất khẩutrên 1 tỷ USD thì năm 2010 có 18 nhóm hàng năm trong “ Câu lạc bộ tỷ đô” này Năm

2013, 19 nhóm hàng có thành tích xuất khẩu trên 1 tỷ USD (trong đó có 12 nhóm hàng

từ 2 tỷ USD trở lên, đặc biệt nhóm dệt may 17,8 tỷ USD; điện thoại, linh kiện 21,5 tỷUSD ), nhiều nhóm nông sản, thủy sản (những nhóm mặt hàng có ý nghĩa đặc biệt vớikinh tế Việt Nam) cũng đã lọt vào nhóm này xuất khẩu mõi nhọn ccuar Việt Nam ( thủysản, chè, điều, cà phê, rau quả )

- Song song với xuất khẩu, Việt Nam cũng nhập khẩu một khối lượng hàng hóa khổng

lồ từ thế giới, với tốc độ tăng nhập khẩu thậm chí còn vượt tốc độ tăng của xuấtkhẩu Tính trị giá tuyệt đối thì kim ngạch nhập khẩu năm 2013 của Việt Nam bằngkhoảng 70 lần kinh ngạch nhập khẩu năm 1985 (131,3 tỷ USD năm 2013 so với1,857 tỷ USD năm 1985) Trong suốt 3 thập kỷ, Việt nam luôn ở tình trạng nhập

Trang 12

NHÓM 1

siêu, với chỉ 3 năm có thặng dư nhẹ ( năm 1992 thặng dư 40 triệu USD, năm 2012 là

78 triệu USD và năm 2013 thặng dư 86 triệu USD) Hàng hóa nhập khẩu chủ yếu làmáy móc, thiết bị, nguyên vặt liệu( chiếm khoảng 80% kim ngạch) Hàng tiêu dùngchiếm khoảng 10% Việc nhập khẩu chủ yếu là hàng hóa vốn cho thấy việc nhậpkhẩu đang phục vụ cho mục tiêu phát triển sản xuất và xuất khẩu như hiện nay cũngphản ánh tính mong manh của sản xuấy Việt Nam( phụ thuộc công nghệ, nguyên phụliệu nước ngoài), đồng thời việc nhập khẩu hàng tiêu dùng ( chủ yếu là những sảnphẩm cạnh tranh trực tiếp với các sản phẩm nội địa) cũng đặt ra những vấn đề khôngnhỏ đối với sản xuất trong nước

- Cùng với xuất nhập khẩu, đóng góp của đầu tư nước ngoài (FDI) vào các khóa cạnhkhác nhau của nền kinh tế cũng là nhân tố phản ánh khá rõ nét độ mở và mức tự do hóacủa Việt Nam

Trang 13

NHÓM 1

Theo số liệu này, có thể thấy trong suốt thời kỳ hội nhập, vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài giữ một vị trí khá ổn định trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội, dao động trongkhoảng ¼-1/5 tổng đầu tư Nếu cộng thêm cả vốn đầu tư gián tiếp từ nước ngoài và cácnguồn vốn khác thì vốn nước ngoài chiếm tới 1/3 tổng vốn đầu tư

Không chỉ đón góp về vốn, khu vực FDI còn có đóng góp đang kể vào kết quảhoạt động của nền kinh tế, với tỷ lệ hiệu suất kinh tế / vốn đầu tư cao nhất so với tất cảcác khu vực khác Ví dụ, theo số liệu thống kê thì GDP khu vực FDI/ tổng GDP của cảnước tăng đều với mức tăng cao hơn tốc độ tăng chung’ nếu như năm 2005 khu vực nàymới đạt 15,16 % thì năm 2010 đạt 17,69% và năm 2013 đạt 19,55% Cũng như vậy, giátrị sản xuất công nghiệp do khu vực FDI tạo ra/ tổng giá trị sản xuất ngành công nghiệpcủa cả nước năm 2005 mới đạt 43,8% tì năm 2012 đã đạt 47,2% Đặc biệt, khu vực FDI

Trang 15

NHÓM 1

Nam nhiều cơ hội tận dùng nguồn vốn, công nghệ từ bên ngoài, nhưng cũng đồng thờiđặt Việt Nam trước những thách thức trong việc duy trù tính ổn định của nền kinh tế, đặcbiệt là trong các vấn đề điều hành tài chính vĩ mô và kiểm soát sự lưu chuyển cí các dòngvốn có nguồn gốc từ bên ngoài khi có biến động tài chính trong nước hoặc trên thế giới

- Về đối tác thương mại Thống kê chưa đầy đủ từ Bộ công thương thì kể từ đầu nhữngnăm 90 đến nay, với các nỗ lực hội nhập nói chung và hội nhập kinh tế quốc tế nóiriêng của mình, Việt Nam đã kỹ kết gần 12.000 điều ước quốc tế Xét riêng tronglĩnh vực thương mại, Việt Nam đã gia nhập WTO, ký kết 07 hiệp định thương mại tự

do , 88 Hiệp định thương mại song phương, 54 Hiệp định tránh đánh thuế hai lần, 61Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư

Về đối tác thương mại hàng hóa Việt nam đã và đang có quan hệ thương mại hàng hóavới hầu như tất cả các đối tác trên thế gưới, trong đó có quan hệ mật thiết với các nềnkinh tế chủ chốt của thế giới Mặc dù vật, đối với một số thị trường, Việt Nam đang thểhiện một sụ phụ thuộc khá lớn(đặc biệt về nguồn nguyên liệu)

Trong tổng thể, chỉ tính riêng năm 2013, Việt Nam có trao đổi với gần 240 quốcgiá và vùng lãnh thổ Đặc biệt, số thị trường đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD cvuar xuấtkhẩu tăng từ 25 thị trường năm 2012 lên 27 thị trường năm 2013 và nhập khẩu răng từ 13thị trường lên 17 thị trường Tổng kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của các thịtrường trên 1 tỷ USD chiếm gần 90% kim ngạch xuất khẩu và 88% kim ngạch nhập khẩu

Ngày đăng: 03/02/2018, 09:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w