1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Phân biệt FDI và ODA ý nghĩa đối với việc quản lý và hoạch định chính sách đầu tư quốc tế của việt nam

30 816 16

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 526 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý thuyết về FDI a Khái niệm của FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài hay FDI, viết tắt của cụm từ Foreign DirectInvestment, là hoạt động di chuyển vốn giữa các quốc gia, trong đó nhà đầu tư

Trang 1

NỘI DUNG

I Phân biệt FDI và ODA Ý nghĩa đối với việc quản lý và hoạch định chính sách đầu tư quốc tế của Việt Nam

I.1 Lý thuyết chung về FDI và ODA

I.1.1 Lý thuyết về FDI

a) Khái niệm của FDI

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (hay FDI, viết tắt của cụm từ Foreign DirectInvestment), là hoạt động di chuyển vốn giữa các quốc gia, trong đó nhà đầu tưnước này mang vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào sang nước khác để tiến hànhhoạt động đầu tư và trực tiếp nắm quyền quản lý cơ sở kinh doanh tại nước đó.b) Bản chất của FDI

FDI là một loại hình đầu tư quốc tế, mà chủ đầu tư bỏ vốn để xây dựnghoặc mua phần lớn, thậm chí toàn bộ các cơ sở kinh doanh ở nước ngoài để trởthành chủ sở hữu toàn bộ hay từng phần cơ sở đó và trực tiếp quản lý điều hànhhay tham gia quản lý điều hành hoạt động của đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư.Đồng thời, họ cũng chịu trách nhiệm theo mức sở hữu về kết quả sản xuất kinhdoanh về dự án

c) Các hình thức của FDI

FDI thường được thực hiện thông qua các hình thức tùy theo quy định củaluật đầu tư nước ngoài của nước sở tại Các hình thức FDI phổ biến trên thế giớihiện nay là:

- Hợp đồng hợp tác kinh doanh

- Doanh nghiệp liên doanh

- Hợp đồng cấp giấy phép công nghệ hay quản lý hợp đồng li xăng

- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

- Hợp đồng phân chia sản phẩm, mua lại và sáp nhập doanh nghiệp

- Buôn bán đối ứng

I.1.2 Lý thuyết về ODA

a) Khái niệm của ODA

Hỗ trợ phát triển chính thức (hay ODA, viết tắt của cụm từ OfficialDevelopment Assistance), là một hình thức đầu tư nước ngoài gián tiếp Gọi là Hỗtrợ này bởi vì các khoản đầu tư này thường là các khỏan cho vay không lãi suấthoặc lãi suất thấp với thời gian vay dài Gọi là Phát triển vì mục tiếp danh nghĩacủa các khoản đầu tư này là phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi ở nước đượcđầu tư Gọi là Chính thức, vì nó thường là cho Nhà nước vay

Trang 2

ODA là hình thức hỗ trợ phát triển của Chính phủ các nước, các tổ chứcquốc tế, các tổ chức phi Chính phủ có tính chất song phương hoặc đa phương; baogồm các khỏan tiền mà các cơ quan chính phủ viện trợ không hoàn lại hoặc chovay theo các điều khoản tài chính ưu đãi

I.1.3. Phân biệt FDI và ODA:

Khái

niệm

- Khoản hỗ trợ không hoàn lại và các

khoản tín dụng ưu đãi của các Chính

phủ, các tổ chức tài chính quốc tế dành

cho các nước nhận viện trợ

- Loại hình đầu tư quốc tế về vốntrong đó người chủ sở hữu trựctiếp quản lý về vốn

Luật

đầu tư

- Nước tiếp nhận ODA tuy có toàn

quyền sử dụng ODA nhưng thông

thường các danh mục dư án ODA cũng

phải có sự thỏa thuận, đồng ý của nước

viện trợ

- Nước nhận ODA có quyền sử dụng

vốn nhưng phải đúng mục tiêu đã đề ra

- Quy định mức góp vốn tối thiểucho nhà đầu tư

- Quyền điều hành, quản lý doanhnghiệp phụ thuộc vào mức góp vốn

- Cho vay và lãi suất điều kiện ưu đãi

- Doanh nghiệp liên doanh

- Tìm kiếm lợi nhuận

- Theo mục tiêu cơ chế thị trườngthuần túy là chính

điểm - Nguồn vốn ODA từ các nước giàucung cấp cho các nước nghèo cũng

thường gắn với việc mua sản phẩm từ

các nước này mà không hoàn toàn phù

hợp, thậm chí mà không gần thiết đối

với các nước nghèo

- Phụ thuộc vào ý trí của nhà đầu tưnước ngoài

- Quy định mức đóng góp vốn tốithiểu

Bảng 1: Phân biệt ODA và FDI

Trang 3

I.2 Định hướng và chính sách thu hút đầu tư quốc tế vào việt nam

Nguồn vốn ODA có quan hệ mật thiết với nguồn vốn FDI theo hướng thúcđẩy dòng vốn FDI vào Việt Nam, do tác động lan tỏa của ODA khi tập trung đầu

tư vào cơ sở hạ tầng, tạo môi trường thuận lợi thu hút FDI Những nước đang pháttriển như Việt Nam thường có cơ sở hạ tầng kinh tế yếu kém nên việc thu hút FDIvào lĩnh vực này thường gặp nhiều khó khăn do hiệu quả kinh tế không cao Đểnâng cao hiệu quả kinh tế, thu hút nhiều vốn FDI thì ODA phải đi trước để xâydựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nâng cao hiệu quả đầu tư vì việc cải tạo cơ

sở hạ tầng cần nhiều thời gian và vốn đầu tư rất lớn mà vốn đầu tư trong nước quá

ít không thể nhanh chóng cải thiện được còn vốn FDI đòi hỏi hiệu quả nhanhchóng

Sau 30 năm kể từ khi Luật Đầu tư nước ngoài được Quốc hội thông quanăm 1987, Việt Nam theo đuổi chính sách FDI ở cả 3 cấp độ: thu hút FDI, nângcấp FDI, tạo mối liên kết FDI Tuy nhiên, sử dụng khung hệ thống chính sách vềFDI toàn cầu Việt Nam mới chỉ chủ yếu tập trung triển khai cấp độ chính sách đầutiên – cấp độ chính sách thu hút FDI, trong khi các cấp độ chính sách khác chưathực sự được quan tâm Vì vậy, bài nghiên cứu đi sâu vào chính sách thu hút FDIcủa Việt Nam qua các thời kỳ

I.2.1 Chính sách thu hút FDI của Việt Nam

a) Giai đoạn 1987 – 1990

Sự ra đời của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đã tạo môitrường pháp lý cao hơn để thu hút vốn FDI vào Việt Nam Luật này đã bổ sung vàchi tiết hoá các lĩnh vực cần khuyến khích kêu gọi đầu tư cho phù hợp với hoàncảnh mới

Đây là một trong những đạo luật đầu tiên của thời kỳ đổi mới Việc banhành Luật Đầu tư nước ngoài (ĐTNN) tại Việt Nam đã thể chế hóa đường lối củaĐảng, mở đầu cho việc thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn ĐTNN, theophương châm đa dạng hoá, đa phương hoá các quan hệ kinh tế đối ngoại; góp phầnthực hiện chủ trương phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế

Đây là giai đoạn khởi đầu của đầu tư nước ngoài Hoạt động đầu tư nướcngoài chưa có tác động rõ rệt đến tình hình kinh tế -xã hội nước ta Khi đó, ngoàiviệc có được một luật đầu tư nước ngoài khá hấp dẫn và môi trường kinh doanh tự

do thì các cơ quan nhà nước còn rất hạn chế trong việc thu hút đầu tư nước ngoài.Trong 3 năm này chỉ có 211 dự án với tổng vốn đăng ký đạt 1.603,5 triệu USD.Vốn thực hiện hầu như không đáng kể vì các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài saukhi được cấp phép còn phải làm nhiều thủ tục cần thiết mới đưa được vốn vàonước ta

b) Giai đoạn 1990 – 2000

Vào năm 1991, Diễn đàn Đầu tư nước ngoài đầu tiên của Việt Nam với sự

có mặt của các đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng, Chính phủ lúc đó được tổchức tại TP.HCM với sự có mặt của khoảng 650 CEO tập đoàn, doanh nghiệp đaquốc gia, lãnh đạo các tổ chức quốc tế lớn cũng như các đại diện đại sứ quán, lãnh

Trang 4

sự quán tại Việt Nam Diễn đàn này đã tạo nên làn sóng FDI đầu tiên tại ViệtNam Bên cạnh đó, các nghiên cứu về giai đoạn này cũng cho rằng, sự đột phá củalàn sóng FDI giai đoạn đầu là nhờ sự đột phá của Luật Đầu tư nước ngoài tại ViệtNam năm 1987 (Luật ĐTNN) và sau đó là hai lần sửa đổi, vào năm 1990 và 1992

đã bổ sung hoàn thiện nên có sức hấp dẫn đối với các đối tác đầu tư Thêm vào đó

có các bộ luật khác có liên quan như luật đất đai năm 1993, luật thuế, luật lao động

và các cơ chế của nhà nước , của chính quyền các địa phương đã thông thoánghơn, tạo điều kiện thu hút các nhà đầu tư nước ngoài Bên cạnh đó, tình hình kinh

tế khu vực dần ổn định nên các công ty mẹ có đủ các yếu tố cần thiết nhất là vốn,thị trường, công nghệ để mở rộng thị trường vào Việt Nam (Đây là làn song FDIvào Việt Nam lần thứ nhất)

FDI vào Việt Nam giai đoạn 1991 – 1996 đã tăng vượt bậc với 1.409 dự án,với tổng số vốn đăng ký là 18.379,1 triệu USD Đây có thể coi là thời kỳ bắt đầu

sự bùng nổ FDI tại Việt Nam Giai đoạn này môi trường đầu tư kinh doanh tạiViệt Nam bắt đầu hấp dẫn nhà đầu tư, do chi phí đầu tư – kinh doanh thấp so vớimột số nước trong khu vực; lực lượng lao động với giá nhân công rẻ có sẵn; nhiềuthị trường tiềm năng chưa được khai thác

Bên cạnh đó, các yếu tố bên ngoài cũng đã đóng góp làm gia tăng FDI như:Làn sóng vốn FDI chảy dồn về các thị trường mới nổi trong đầu những năm 90;Dòng vốn nước ngoài vào các nền kinh tế quá độ khối xã hội chủ nghĩa

Việt Nam là một quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, cũng được hưởngnhiều lợi thế từ các yếu tố này Trong giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng vốn FDIhàng năm khá cao, nhiều năm đạt trên 50%, đặc biệt là năm 1995 thu hút được

415 dự án, với tổng số vốn đăng ký là 7.925,2 triệu USD

Giai đoạn 1997-2000: FDI có sự sụt giảm cả về số vốn đăng ký lẫn quy mô

dự án Tốc độ tăng trưởng vốn FDI đăng ký cao nhất giai đoạn này là năm 1996,tăng 21,58% so với năm 1995 Trong 3 năm tiếp theo (1997-1999), tốc độ thu hútFDI đều giảm, năm 1997 giảm nhiều nhất 38,19%

Nguyên nhân chính của sự giảm sút FDI là do tác động của cuộc khủnghoảng kinh tế khu vực làm suy giảm dòng đầu tư mới vào khu vực và các nhà đầu

tư có một cách nhìn thực tế hơn và làm cho nhiều dự án đã cấp phép nhưng không

thể triển khai được Bên cạnh đó, môi trường đầu tư của Việt Nam chậm được cải

thiện, trong khi phải chịu sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các nước khác như TrungQuốc về tài nguyên thiên nhiên và giá thuê nhân công Luật đầu tư nước ngoài đãđược sửa đổi bổ sung nhưng còn nhiều bất cập, nhiều cơ chế chính sách vẫn chưalàm yên lòng các nhà đầu tư nước ngoài như giá cho thuê đất cao, chính sách 2 giátrong nhiều lĩnh vực vừa cao so với các nước trong khu vực vừa mang nặng tínhchất phân biệt đối xử (như giá điện, cước điện thoại, vé máy bay ), cơ sở hạ tầngkém nhất là đường giao thông, bến cảng, sân bay Thủ tục hành chính rườm rà

Trang 5

vực Luật sửa đổi từ 1992 đến 1995

Luật sửa đổi từ 1996 đến hết 1999

Trình

tự

đăng

- Dự án FDI được nhận giấy phép đầu

tư trong vòng 45 ngày

- Sau khi có giấy phép DN vẫn phải

xin đăng ký hoạt động

- DN FDI được lựa chọn loại hìnhthức đầu tư, tỷ lệ góp vốn, địađiểm, đối tác đầu tư

- DN xuất khẩu sản phẩm trên80% được ưu tiên nhận giấy phépsớm

Lĩnh

vực

đầu tư

- Khuyến khích các dự án liên doanh

với DN trong nước, hạn chế dự án

100% vốn nước ngoài

- Khuyến khích DN FDI đầu tưvào lĩnh vực định hướng xuấtkhẩu, công nghệ cao

Đất đai - Phía Việt Nam chịu đền bù giải

phóng mặt bằng cho các dự án có vốn

FDI

- Dự án FDI được thuê đất để hoạt

động nhưng không được cho DN khác

thuê lại

- UBND tạo điều kiện mặt bằngkinh doanh khi dự án được phêduyệt; DN thanh toán tiền GPMBcho UBND

- Được quyền cho thuê lại đất đãthuê ở các khu CN, khu chế xuất

Tỷ giá

ngoại

tệ

- Các dự án FDI đầu tư hạ tầng và

thay thế nhật khẩu được nhà nước

đảm bảo cân đối ngoại tệ

- Các dự án FDI thuộc lĩn vực khác

phải tự lo cân đối

- Dự án phải đảm bảo cân đốingoại tệ cho hoạt động của mình

- Áp dụng khung tỷ lệ kết hốingoại tệ do tác động của khủnghoảng tài chính khu vực (80%),sau nới dần tỷ lệ này

- DN có thể mua ngoại tệ với sựcho phép của NHNN

XNK - DN phải đảm bảo tỷ lệ XK ghi trong

giấy phép đầu tư

- Sản phẩm của DN FDI không được

bán ở Việt Nam qua đại lý

- DN FDI không được làm đại lý

Thuế - Áp dụng thuế ưu đãi cho các dự án

đầu tư vào các lĩnh vực đặc biệt ưu

tiên với mức thuế thu nhập 10%

trong vòng 15 năm kể từ khi hoạt

động

- Miễn thuế nhập khẩu đối vớithiết bị , máy móc, vận tải chuyêndung, nguyên liệu vật tư

- Miễn thuế nhập khẩu cho DNđầu tư vào các lĩnh vực ưu tiên,

Trang 6

vực Luật sửa đổi từ 1992 đến 1995 Luật sửa đổi từ 1996 đến hết 1999

- Mức thuế thu nhập của DN 100%

vốn FDI không bao gồm phần bù trừ

lợi nhuận của năm sau để bù lỗ cho

các năm trước

- Không tính vào chi phí sản xuất một

số khoản chi nhất định

- Thuế nhập khẩu được áp dụng ở

mức thấp theo khung giá của Bộ Tài

- DN cung ứng nguyên liệu đầuvào cho DN XK cũng được miễnthuế nhập khẩu nguyên vật liệutrung gian với tỷ lệ tương ứng

Bảng 2: Những thay đổi chủ yếu trong chính sách thu hút FDI thời kỳ

1990 – 1999 của Luật ĐTNN ở Việt Nam c) Giai đoạn 2000 – 2005

Giai đoạn này là thời kỳ thu hút FDI găp nhiều khó khăn do tác động từ bốicảnh quốc tế, nhiều quốc gia trong khu vực đặc biệt là Trung Quốc cải thiện môitrường đầu tư đã tác động ít nhiều đến quá trình thu hút FDI của Việt Nam Trongkhi đó môi trường đầu tư của Việt Nam chưa thật sự hấp dẫn các nhà đầu tư nướcngoài nhưng có lợi thế về ổn định kinh tế vĩ mô và tình hình chính trị, nên dòngvốn FDI vẫn duy trì nhưng không bằng giai đoạn trước

d) Từ năm 2005 – 2015

Định hướng chính sách của chính phủ trong thu hút FDI giai đoạn 2015

Xu hướng thay đổi chủ đạo trong các chính sách FDI chung giai đoạn này

là nới rộng quyền, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư và thu hẹp sựkhác biệt giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài Những thay đổi này thểhiện sự nỗ lực của Chính phủ trong việc cải thiện, tạo môi trường đầu tư theo xuhướng hội nhập quốc tế của Việt Nam Những thay đổi này xuất phát từ ba yếu tốchính:

(1) Thay đổi về nhận thức và quan điểm của Đảng và Nhà nước đối với khuvực FDI

(2) Thay đổi trong chính sách thu hút FDI của các nước trong khu vực vàtrên thế giới, tạp nên áp lực cạnh tranh đối với dòng vốn FDI vào Việt Nam

(3) Thay đổi trong những cam kết quốc tế của Việt Nam về đầu tư nướcngoài

* Việt Nam gia nhập WTO năm 2006

Ngày 07/11/2006, Việt Nam chính thức kết nạp là thành viên mới củaWTO; các cam kết của Việt Nam với WTO chính thức có hiệu lực từ ngày11/01/2007 Sau khi là thành viên của WTO đã mang lại một số lợi ích tích cựccho việc thu hút FDI vào Việt Nam

Trang 7

(1) Việt Nam đã thực hiện đúng các cam kết đa phương, và các cam kết mởcửa thị trường, không phân biệt đối xử giữa các đối tác, tạo môi trường thuận lợi

để thu hút vốn đầu tư nước ngoài,…

(2) Việc cắt giảm thuế quan nhập khẩu sẽ làm giảm chi phí sản xuất và giámặt bằng chung ở Việt Nam, do đó làm tăng mức hấp dẫn của Việt Nam là nơi đểcác DN FDI sản xuất theo hướng xuất khẩu

(3) Tác động thông qua các cam kết tự do hóa thị trường dịch vụ của ViệtNam Đây là một trong những cam kết mang tính cải cách lớn nhất Trước hết,nhiều trong số các ngành dịch vụ bị đóng cửa/hạn chế chặt chẽ từ trước đến nayvới đầu tư nước ngoài (như phân phối, vận tải, viễn thông, tài chính…) nay được

mở rộng (mặc dù còn một số điều kiện hạn chế và một thời gian chuyển đổi,thường là năm năm), đây là mảnh đất màu mỡ cho các nhà đầu tư FDI

Sau khi Việt Nam gia nhập WTO đã tạo nên làn sóng FDI thứ 2 từ HànQuốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản đồng loạt rót vốn vào Việt Nam trong năm 2008 khi thuhút được 1.171 dự án với tổng vốn đăng ký lên đến 71,7 tỷ USD Đến năm 2009

và 2010, do ảnh hưởng bởi khủng hoảng kinh tế toàn cầu, dòng vốn FDI vào ViệtNam cũng bị sụt giảm đáng kể

* Ngày 07/4/2009, Chính phủ ra nghị quyết số 13/NQ-CP về định hướng, giải pháp thu hút và quản lý vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong giai đoạn tiếp theo, cụ thể:

(1) Thu hút đầu tư nước ngoài có định hướng và có chọn lọc vào các lĩnhvực quan trọng: công nghệ cao; công nghiệp phụ trợ; phát triển cơ sở hạ tầng vàphát triển nguồn nhân lực; chế biến nông sản, phát triển các vùng khó khăn, nôngnghiệp và nông thôn; sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên, tiết kiệm nănglượng; các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao; các ngành có tỷ trọng xuất khẩulớn; các ngành có ý nghĩa về an sinh xã hội (khám chữa bệnh, công nghiệp dược

và vac-xin, sinh phẩm), bảo đảm môi trường và an ninh quốc gia…

(2) Rà soát, hoàn thiện các quy định pháp luật về doanh nghiệp, đất đai, xâydựng, kinh doanh và các văn bản pháp luật chuyên ngành tạo môi trường pháp lýcông khai, minh bạch

(3) Hạn chế tình trạng mất cân đối, cấp phép tràn lan, gây dư thừa, lãng phí,hiệu quả đầu tư thấp trong bối cảnh việc cấp phép và quản lý đầu tư đã được phâncấp về các địa phương

(4) Các yếu tố về điều kiện cơ sở hạ tầng gây cản trở tới hoạt động ĐTNNcần được tập trung giải quyết như: hệ thống cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào, hệ thốngcấp điện, nước, đường giao thông, cảng biển; sự ổn định về cung cấp năng lượng,công tác giải phóng mặt bằng,…

(5) Tập trung giải quyết các khó khăn về nguồn nhân lực phục vụ cho các

dự án ĐTNN có quy mô lớn, đặc biệt là tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực đã quađào tạo; sự lạc hậu trong chương trình đào tạo của các cơ sở giáo dục đào tạo,trường nghề; phòng ngừa và giải quyết các tranh chấp lao động nhằm hạn chế cáccuộc đình công có thể xảy ra

Trang 8

* Nghị quyết số 103/NQ-CP ngày 29/8/2013 của Chính phủ về định hướng, giải pháp thu hút và quản lý vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong giai đoạn tiếp theo, cụ thể:

(1) Tạo bước chuyển biến mạnh mẽ về thu hút ĐTNN theo hướng chọn lọccác dự án có chất lượng, có giá trị gia tăng cao, sử dụng công nghệ hiện đại, thânthiện với môi trường, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ thông tin và công nghệsinh học phục vụ nông nghiệp; phát triển kết cấu hạ tầng, đào tạo nguồn nhânlực chất lượng cao, nghiên cứu và phát triển, dịch vụ hiện đại

(2) Tăng cường thu hút các dự án quy mô lớn, sản phẩm có tính cạnh tranhcao, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của các tập đoàn xuyên quốc gia, từ đó xâydựng, phát triển hệ thống các ngành, doanh nghiệp phụ trợ; khuyến khích các dự

án công nghiệp chuyển dần từ gia công sang sản xuất; lựa chọn các nhà đầu tư lớn,

có uy tín đầu tư phát triển thị trường tài chính; đồng thời, chú trọng đến các dự án

có quy mô vừa và nhỏ phù hợp với từng ngành kinh tế, từng địa phương

(3) Khuyến khích, tạo điều kiện và tăng cường sự liên kết giữa các doanhnghiệp ĐTNN với nhau và với các doanh nghiệp trong nước

(4) Quy hoạch thu hút ĐTNN theo ngành, lĩnh vực, đối tác phù hợp với lợithế của từng vùng, từng ngành để phát huy hiệu quả đầu tư của từng địa phương,từng vùng, phù hợp với quy hoạch chung, đảm bảo lợi ích tổng thể quốc gia và táicấu trúc nền kinh tế theo mô hình tăng trưởng mới

* Sửa đổi Luật Đầu tư năm 2014

Năm 2014, Luật đầu tư được sửa đổi và bổ sung, tạo sự minh bạch và dễ dàng hơnđối với các thủ tục đầu tư và tăng cường sự quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư.Theo đó, nhà đầu tư nước ngoài chỉ cần đăng ký để được nhận giấy đăng ký kinh doanhthay vì phải xin phép đầu tư như trước

Luật đầu tư (2000) Luật đầu tư (2005) Luật đầu tư (2014)

Phạm

vi điều

chỉnh

Đầu tư trực tiếp

nước ngoài vào Việt

Nam

Đầu tư trong nước vàngoài nước vào ViệtNam

Đầu tư trong nước vàngoài nước vào Việt Nam

+ Quy mô vốn lớn hơn

là 30 ngày;

+ Không quá 45 ngàycho các trường hợpđặc biệt

+ Tách bạch giữa nội dungđăng ký dự án đầu tư làcấp theo Giấy chứng nhậnđăng ký đầu tư Sau khiđược cấp Giấy chứng nhậnđầu tư, DN sẽ đăng kýkinh doanh theo quy địnhcủa Luật DN điều chỉnh + Dự án hoặc doanhnghiệp FDI góp vốn 51%vốn điều lệ mới phải xinGiấy chứng nhận đăng kýđầu tư

+ Thời gian cấp giấy

Trang 9

Luật đầu tư (2000) Luật đầu tư (2005) Luật đầu tư (2014)

chứng nhận là 15 ngày Hình

+ 100% vốn nướcngoài;

+ Liên doanh;

+ BOT, BTO, BT;

+ M&A + Công ty Cổ phần;

+ Các hình thức khác

+ Hợp đồng hợp tác kinhdoanh;

+ 100% vốn nước ngoài + Đầu tư góp vốn

+ M&A + Mua cổ phần + Các hình thức khác

Bảng 3: Những thay đổi chủ yếu trong chính sách thu hút FDI của

Luật Đầu tư ở Việt Nam qua các năm 2000 - 2014

* Năm 2016 Hiệp định thương mại tự do FTA có hiệu lực

Năm 2016, với việc hàng loạt Hiệp định thương mại tự do (FTA) có hiệulực nguồn vốn đầu tư FDI đã bắt đầu tăng lên Tính chung tổng vốn đăng ký củacác dự án cấp mới, cấp vốn bổ sung và đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổphần trong năm 2016 đạt hơn 24,3 tỷ USD, tăng 7,1% so với năm 2015 Điểmđáng lưu ý là vốn FDI thực hiện năm 2016 ước tính đạt 15,8 tỷ USD, tăng 9% sovới năm 2015, đạt mức giải ngân vốn FDI cao nhất từ trước đến nay

Biểu 01: Diễn biến FDI qua các năm từ 2005 - Q2 2016

(Nguồn số liệu: Tổng cục Thống kê)

Các kết quả đạt được trong giai đoạn 2005 - 2015 của khu vực FDI:

Khu vực FDI đã góp phần giải quyết vấn đề việc làm cho lao độngViệt Nam Bên cạnh đó khu vực FDI đào tạo ra một đội ngũ lao động có kỹ năngtốt, tay nghề cao Rất nhiều lao động của Việt Nam đã từng làm việc tại các doanhnghiệp FDI, sau một thời gian tích lũy kinh nghiệm đã đứng ra thành lập doanhnghiệp riêng và trở thành đối tác lớn của doanh nghiệp FDI Người lao động làmviệc trong các công ty FDI thường có thu nhập cao hơn doanh nghiệp trong nước

Trang 10

Biểu 02: Số lượng lao động của khu vực FDI giai đoạn 2005 - 2015

(Nguồn số liệu: Tổng cục Thống kê)

Trong giai đoạn đầu của quá trình thu hút ĐTNN, dòng vốn FDI hướng vàonhững ngành công nghiệp khai thác và thay thế nhập khẩu Tuy nhiên, xu hướngnày đã thay đổi kể từ năm 2000 đến nay Theo đó, các dự án FDI vào ngành côngnghiệp chế biến và định hướng xuất khẩu đã tăng nhanh, góp phần tăng tổng kimngạch xuất khẩu và chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam Qua cácthời kỳ, định hướng thu hút ĐTNN trong lĩnh vực công nghiệp - xây dựng tuy cóthay đổi về lĩnh vực, sản phẩm cụ thể nhưng cơ bản vẫn theo định hướng khuyếnkhích sản xuất vật liệu mới, sản phẩm công nghệ cao, công nghệ thông tin, cơ khíchế tạo, thiết bị cơ khí chính xác, sản xuất sản phẩm và linh kiện điện tử Đâycũng chính là các dự án có khả năng tạo giá trị gia tăng cao và Việt Nam có lợi thế

so sánh khi thu hút ĐTNN

Biểu 03: FDI được cấp giấy phép theo ngành kinh tế giai đoạn 1988 - 2016 (lũy kế các dự án còn hiệu lực đến ngày 31/12/2016)

(Nguồn số liệu: Tổng cục Thống kê)

Điểm đáng nói nữa là sự xuất hiện của FDI và phát triển của khu vực nàycũng làm xuất hiện nhiều sản phẩm công nghiệp và dịch vụ mới có đóng góp trựctiếp đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu hàng xuất khẩu, ví dụ các sản

Trang 11

phẩm thiết bị điện, điện tử, linh kiện Đây là những mặt hàng xuất hiện cùng vớiđầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam và đóng góp nhiều cho xuất khẩu

Trong các ngành chế biến, chế tạo (chiếm tỷ trọng lớn trong thu hút FDI), 2lĩnh vực sản xuất linh kiện điện tử, máy vi tính, thiết bị ngoại vi có mức tăng vốn,doanh thu lớn trong những năm gần đây, do những năm vừa qua, một số dự án mởrộng, tăng quy mô vốn đầu tư, đặc biệt là các dự án của Samsung Các lĩnh vựcchế biến xăng dầu, nhiên liệu khí, sản phẩm hoá dầu suy giảm về quy mô sản xuất,vốn và tài sản, do thị trường dầu mỏ và các sản phẩm từ dầu mỏ sụt giảm mạnh vềgiá, nguồn cung dư thừa, khiến các doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực này gặp khókhăn, không mở rộng, thậm chí thu hẹp quy mô sản xuất - kinh doanh

Trong các ngành dịch vụ thì vốn FDI vẫn chủ yếu đầu tư vào lĩnh vực bấtđộng sản, các lĩnh vực nhiều tiềm năng khác như tài chính - ngân hàng, bảo hiểm,bán buôn bán lẻ, hành chính và dịch vụ hỗ trợ vẫn chưa nhận được nhiều sự quantâm của các nhà đầu tư nước ngoài so với tiềm năng phát triển

Lĩnh vực phân phối, sửa chữa ô tô, xe máy có mức tăng vốn, doanh thu lớntrong những năm gần đây Nguyên nhân là do các nhà đầu tư nắm bắt lộ trìnhgiảm thuế thực hiện cam kết theo các hiệp định thương mại tự do (FTA) đối vớicác dòng ô tô (gần nhất là lộ trình cắt giảm thuế khu vực mậu dịch tự do ASEAN),

và đáp ứng nhu cầu tiêu thụ ô tô trong nước, từ đó tiến hành đầu tư mở rộng quy

mô hệ thống đại lý phân phối Một số lĩnh vực như dịch vụ tư vấn, hành chính vàkhoa học có sự giảm tỷ trọng về doanh thu, vốn

Biểu 04: Tỷ trọng xuất khẩu của khu vực FDI trong tổng kim ngạch xuất

khẩu cả nước giai đoạn 2005 - Q2 2016

(Nguồn số liệu: Tổng cục Hải quan)

Có thể thấy được giá trị kim ngạch xuất khẩu và tỷ trọng xuất khẩu của khuvực FDI đang có xu hướng tăng dần qua các năm Tăng trưởng tỷ trọng xuất khẩucủa khu vực FDI giai đoạn này chủ yếu là nhờ các sản phẩm máy móc, thiết bị, sảnphẩm công nghệ cao như máy tính, sản phẩm điện tử, điện thoại và linh kiện Đếnnay, xuất khẩu các mặt hàng kỹ thật cao như điện thoại, máy vi tính, sản phẩmđiện tử và linh kiện đã chiếm đến trên 30% tổng kim ngạch xuất khẩu của ViệtNam và chủ yếu đến từ các doanh nghiệp FDI (trên 99%) Như vậy, có thể thấy xu

Trang 12

hướng chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu sang các mặt hàng công nghệ cao của nước tahoàn toàn phụ thuộc vào khối các doanh nghiệp FDI Ngay cả xuất khẩu các sảnphẩm công nghiệp còn lại, các doanh nghiệp FDI cũng chiếm ưu thế.

Một ví dụ cụ thể: Tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao tăng dần quacác năm và còn tăng lên trong các năm tới Xuất khẩu sản phẩm điện thoại và linhkiện năm 2013 đạt 21,09 tỷ USD, nhưng chỉ 2 năm sau đã tăng lên mức 30,09 tỷUSD Điều đáng nói là con số này chủ yếu đến từ một doanh nghiệp là Samsung.Doanh nghiệp này hiện có 3 nhà máy tại Bắc Ninh và Thái Nguyên, tuy mới đưavào hoạt động 2 nhà máy nhưng đã chiếm gần 20% giá trị xuất khẩu của ViệtNam Như vậy, trong tương lai, nhiều khả năng xuất khẩu của Việt Nam sẽ ngàycàng phụ thuộc vào Samsung

e) Đánh giá chung về định hướng thu hút đầu tư FDI ở Việt Nam trong

1987, Luật Đầu tư nước ngoài đã trải qua 6 lần sửa đổi và bổ sung vào năm 1990,

1992, 1996, 2000, 2005, 2014 nhằm điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh kinh tế,tạo nhiều thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài, giảm sự khác biệt giữa nhàđầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài Hạn chế: việc điều chỉnh, sửa đổi và

bổ sung văn bản pháp luật liên quan đến FDI tạo tâm lý e ngại của nhà đầu tư vềmôi trường đầu tư không ổn định của Việt Nam Bên cạnh đó, sự không rõ ràngtrong một số khái niệm, cụm từ giữa các văn bản luật khiến các nhà đầu tư lúngtúng trong việc thực hiện Về thời gian thực hiện thủ tục hành chính, mặc dù đã cónhiều cải thiện, nhưng các nhà đầu tư vẫn cho rằng việc giải quyết thủ tục hànhchính liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh của Việt Nam còn khá chậmchạp so với các quốc gia khác trong khu vực

Thứ hai, chính sách xây dựng cơ sở hạ tầng đã tạo nhiều điều kiện thuận lợicho các doanh nghiệp FDI, góp phần tăng tính hấp dẫn đối với các nhà đầu tưnước ngoài, nhưng còn dàn trải nên hiệu quả chưa cao Trong nhiều năm qua, ViệtNam đã duy trì mức đầu tư hạ tầng khoảng 10% GDP, cao hơn so với mức trungbình 7% của các nền kinh tế Đông Nam Á Mức đầu tư này đã góp phần nhanhchóng mở rộng nguồn cung cơ sở hạ tầng và cải thiện khả năng tiếp cận sử dụng

Thứ ba, chính sách liên quan đến xây dựng lực lượng lao động có trình độ

và có quan hệ lao động tốt ở Việt Nam hiện nay đã tương đối hoàn thiện nhưngmới chủ yếu tập trung ở chiều rộng Chính sách phát triển giáo dục đã được thểchế bằng Luật Giáo dục 2005 và sửa đổi năm 2009, Luật Lao động 2012 Hạn chế:hiệu quả chính sách phát triển nguồn nhân lực này vẫn bị đánh giá là vẫn khôngđáp ứng yêu cầu của quá trình đổi mới và phát triển: chất lượng giáo dục thấp,hiệu quả giáo dục thấp, mất cân bằng,…

Trang 13

Thứ tư, chính sách thương mại của Việt Nam ngày càng được mở rộng vớicác cam kết mở cửa sâu về thương mại hàng hóa trong các Hiệp định thương mạisong phương, đa phương Tiến trình tự do hóa thương mại được thực hiện mộtcách thận trọng, và khá giống với tiến trình thực hiện của một số nước khác trongkhu vực ASEAN.

Thứ năm, chính sách chống tham nhũng được xây dựng và hoàn thiện đểtạo môi trường minh bạch thuận lợi cho hoạt động xúc tiến đầu tư và thu hút vốnđầu tư nước ngoài, tuy nhiên kết quả thực hiện của chính sách này hiện nay cònchưa rõ ràng

Nhìn chung, hệ thống chính sách FDI của Việt Nam đã có nhiều cải thiệnđáng kể thể hiện qua các chỉ số FDI tăng lên qua các năm Trong giai đoạn 2005 –

2015, chỉ số Cơ hội đầu tư toàn cầu của Việt Nam đã tăng từ 4,13 năm 2005 lên4,79 trong năm 2015 Điều này cho thấy sự cải thiện trong chính sách Việt Namđối với việc thu hút FDI Chỉ số FDI thực hiện của Việt Nam đã được cải thiệnliên tục trong các năm qua Chỉ số này tăng 0,7952 điểm từ 1.3938 năm 2002 lên2,1980 điểm năm 2014 Tuy nhiên, so với các quốc gia khác, các chỉ số còn tươngđối thấp, thể hiện sự yếu kém của hệ thống chính sách FDI Việt Nam trong việccạnh tranh thu hút FDI

I.2.2 Chính sách thu hút ODA của Việt Nam

a) Giai đoạn trước năm 1993

- Viện trợ song phương:

Năm 1969 Việt Nam lần đầu tiên được tiếp nhận viện trợ của Thuỵ Điển,sau đó là Nhật Bản (1975), WB, IMF… Viện trợ song phương chủ yếu từ một sốnước XHCN và một số nước thành viên của Tổ chức OECD Sau khi Liên Xô(cũ) tan rã hai tổ chức viện trợ duy nhất còn lại là UNDP và SIDA Thuỵ Điển vớimức vốn viện trợ hạn chế (1% GDP) Sau năm 1991 nhiều thành viên OECD nốilại hỗ trợ, mức viện trợ song phương từ 75 triệu USD/năm (1985 – 1990) lên 350triệu USD/năm năm 1992

- Viện trợ đa phương:

Năm 1977 Việt Nam có quan hệ chính thức với hệ thống các tổ chức thuộcLiên Hợp Quốc (UN) Viện trợ đa phương của các tổ chức thuộc Liên Hợp Quốccho Việt Nam trên 70 triệu USD mỗi năm

b) Giai đoạn 1993 - 2006

 Tình hình thực hiện giai đoạn 1993 - 2006

Trong giai đoạn này ODA được đánh giá là nguồn vốn quan trọng của ngânsách Nhà nước, được sử dụng để hỗ trợ thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế –

xã hội ưu tiên

Ngày 9/11/1993, Hội nghị quốc tế các nhà tài trợ dành cho Việt Nam đãkhai mạc tại Paris, đây là sự kiện đánh dấu sự hội nhập của Việt Nam với cộngđồng tài trợ quốc tế Thông qua 14 Hội nghị CG (Hội nghị Nhóm tư vấn các nhàtài trợ dành cho Việt Nam), các nhà tài trợ đã cam kết ODA cho nước ta với tổng

Trang 14

lượng đạt 37,011 tỷ USD Mức cam kết năm sau cao hơn năm trước và đạt đỉnh

điểm trong năm 2006 (4,4 tỷ USD) Trong thời kỳ 1993-2006, tổng giá trị ODAcam kết là 37,011 tỷ USD; tổng vốn ODA ký kết đạt khoảng 27,810 tỷ USD,tương đương 75% tổng vốn ODA cam kết; tổng vốn ODA giải ngân đạt xấp xỉ17,684 tỷ USD, tương đương 63,54% tổng vốn ODA ký kết

ODA được cung cấp theo dự án hoặc chương trình dưới hình thức viện trợ khônghoàn lại và vay ưu đãi Khoảng 15 – 20% số vốn ODA cam kết nói trên là viện trợ khônghoàn lại, hầu hết là các dự án hỗ trợ kỹ thuật, còn lại một phần nhỏ là các dự án đầu tưxây dựng quy mô nhỏ và phi dự án (viện trợ hàng hóa) Các khoản vay ưu đãi tập trungcho các dự án đầu tư xây dựng, trong đó có các dự án cấp quốc gia với giá trị hàng trămtriệu đô la Mỹ Ngoài ra, còn có các khoản vay theo chương trình gắn với việc thực hiệnkhung chính sách, như khoản vay thể chế tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo của IMF,chương trình tín dụng hỗ trợ giảm nghèo của WB

Bảng 4: Cam kết, ký kết và giải ngân vốn ODA giai đoạn 1993-2006

Đơn vị: Triệu USD Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư

 Tình hình ký kết vốn ODA cho Việt Nam

Trên cơ sở số vốn ODA cam kết của các nhà tài trợ đa phương và songphương, Chính phủ Việt Nam đã ký kết với các nhà tài trợ các Điều ước quốc tế vềODA (như hiệp định, nghị định thư, dự án, chương trình) Tính từ năm 1993 đến

9/2006, tổng giá trị các điều ước quốc tế về ODA đã được ký kết ước đạt khoảng

31,6 tỷ USD Trong đó, vốn vay là 25,65 tỷ USD với 559 hiệp định; viện trợ

không hoàn lại khoảng 6 tỷ USD

Phần lớn các hiệp định vay đều có lãi suất rất ưu đãi, thời hạn vay và ân hạndài 48,8% số hiệp định vay đã ký có lãi suất dưới 1%/năm, thời hạn vay trên 30

Trang 15

năm, trong đó có 10 năm ân hạn; 33,9% hiệp định vay đã ký có lãi suất từ 1 –2,5%/năm; khoảng 17,3% hiệp định vay đã ký có điều kiện vay kém ưu đãi hơn.Trong năm 2006, nguồn vốn ODA được hợp thức hoá thông qua việc ký kết cáchiệp định với các nhà tài trợ đạt 2.824,58 tiệu USD, trong đó ODA vốn vay là2.423,64 triệu USD và ODA viện trợ không hoàn lại 400,94 triệu USD Nguồnvốn ODA được ký kết tiếp tục tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên như: Côngnghiệp- năng lượng (30,78%); Giao thông vận tải-Bưu chính viễn thông (20,51%);Nông nghiệp và phát triển nông thôn (14,31%); Tài chính ngân hàng (13,19%).

 Tình hình giải ngân vốn ODA

Nguồn vốn ODA đã được giải ngân tính cho ngân sách Nhà nước (khôngbao gồm phần giải ngân cho các khoản chi tại nước tài trợ, chi cho chuyên gia…)

trong giai đoạn từ năm 1993 đến hết năm 2006 ước đạt khoảng 15,9 tỷ USD, bằng

64,9% tổng giá trị các điều ước quốc tế về ODA đã ký kết và bằng

khoảng 55,0% tổng lượng ODA đã cam kết trong thời kỳ này.

Tỷ lệ giải ngân thấp này đồng hành với việc tiến độ giải ngân vốn ODAchậm, chỉ đáp ứng được 70 – 80% yêu cầu giải ngân bình quân một năm của thời

kỳ kế hoạch

Mức giải ngân ODA khác nhau giữa các nhà tài trợ và giữa các loại hình dự

án Các dự án hỗ trợ kỹ thuật thường có mức giải ngân cao (chủ yếu là chi chochuyên gia, mua sắm thiết bị, máy móc và đào tạo) Các dự án đầu tư xây dựngthường giải ngân chậm (chi phí nhiều thời gian cho công tác chuẩn bị như đền bù,

di dân và tái định cư)

Tổng mức giải ngân năm 2006 đạt trên 1.785 triệu USD, cao hơn kế hoạch

đề ra (1.750 triệu USD), trong đó vốn vay đạt khoảng 1.550 triệu USD, viện trợkhông hoàn lại đạt khoảng 235 triệu USD trong tổng giá trị giải ngân năm 2006,vốn vay của 5 ngân hàng phát triển (WB, ADB, JBIC, KFW và AFD) đạt trên1.400 triệu USD, chiếm 78,5% tổng số vốn ODA giải ngân

 Đánh giá giai đoạn 1993 - 2006

Công tác thu hút và sử dụng ODA trong giai đoạn 1993 - 2006 đã đượcĐảng và Nhà nước đánh giá về cơ bản có hiệu quả Các nhà tài trợ cũng coi ViệtNam là một trong những quốc gia sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA

Trên các lĩnh vực cụ thể, ODA đã góp phần:

- Thực hiện chính sách đối ngoại của Việt Nam: thông qua hợp tác pháttriển với các chương trình và dự án ODA cung cấp cho Việt Nam, Chính phủ vànhân dân các nước tài trợ cũng như các tổ chức quốc tế đã hiểu và tích cực ủng hộchính sách phát triển kinh tế - xã hội đúng đắn, hợp lòng dân của Đảng và Nhànước Việt Nam

- Nguồn vốn ODA góp phần quan trọng vào sự phát triển cơ sở hạ tầng xãhội: Tổng nguồn vốn ODA dành cho giáo dục và đào tạo ước khoảng 550 triệuUSD, chiếm khoảng 8,5 – 10% tổng kinh phí giáo dục và đào tạo, đã góp phần cảithiện chất lượng và hiệu quả của công tác giáo dục và đào tạo, tăng cường mộtbước cơ sở vật chất kỹ thuật cho việc nâng cao chất lượng dạy và học, như dự ángiáo dục tiểu học, trung học và đại học, dự án đào tạo nghề… Nguồn vốn ODA đã

Ngày đăng: 03/02/2018, 09:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w