1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích thực hiện kết quả đấu thầu thuốc tại cơ sở y tế công lập tỉnh hà giang năm 2016

64 241 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẶT VẤN ĐỀ Thuốc là một loại hàng hóa đặc biệt, giữ vai trò quan trọng trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân.Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển mạn

Trang 1

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

PHẠM QUỐC VIỆT

PHÂN TÍCH THỰC HIỆN KẾT QUẢ ĐẤU THẦU

THUỐC TẠI CƠ SỞ Y TẾ CÔNG LẬP

TỈNH HÀ GIANG NĂM 2016

LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I

HÀ NỘI 2017

Trang 2

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

PHẠM QUỐC VIỆT

PHÂN TÍCH THỰC HIỆN KẾT QUẢ ĐẤU THẦU

THUỐC TẠI CƠ SỞ Y TẾ CÔNG LẬP

TỈNH HÀ GIANG NĂM 2016

CHUYÊN NGÀNH: TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC

MÃ SỐ: 60 72 04 12

LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Thanh Bình Thời gian thực hiện: Từ tháng 4/2017 đến tháng 9/2017

HÀ NỘI 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và lời biết ơn sâu sắc nhất tới

GS.TS Nguyễn Thanh Bình - Phó hiệu trưởng Trường Đại học Dược Hà

Giang, người thầy đã hướng dẫn, chỉ bảo và góp ý cho tôi hoàn thành đề tài tốt nghiệp này

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy, cô giáo, cán bộ Phòng Sau Đại học, Bộ môn Quản lý Kinh tế Dược - Trường Đại học Dược Hà Giang đã luôn giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại Trường

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc, các bạn đồng nghiệp

phòng Nghiệp vụ dược của Sở Y tế Hà Giang đã tạo mọi điều kiện hỗ trợ,

giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài

Cuối cùng tôi xin gửi lời biết ơn tới gia đình và bạn bè đã luôn sát cánh, giúp đỡ động viên để tôi yên tâm, học tập, nghiên cứu và hoàn thành đề tài này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 15 tháng 9 năm 2017

HỌC VIÊN

Phạm Quốc Việt

Trang 4

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN 4

1.1 TỔNG QUAN VỀ ĐẤU THẦU MUA THUỐC 4

1.1.1 Khái niệm đấu thầu 4

1.1.2 Đấu thầu thuốc 5

1.2 ĐÁNH GIÁ VỀ SỬ DỤNG THUỐC TẠI CÁC CƠ SỞ KHÁM, CHỮA BỆNH Ở VIỆT NAM 8

1.2.1 Chi phí thuốc tại các cơ sở khám, chữa bệnh ở Việt Nam 8

1.2.2 Danh mục thuốc chủ yếu tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh 10

1.3 VÀI NÉT SƠ LƯỢC VỀ NGÀNH Y TẾ HÀ GIANG 11

1.4 SƠ LƯỢC HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU THUỐC TẠI TỈNH HÀ GIANG 12

1.4.1 Giai đoạn 2010-2012 12

1.4.2 Giai đoạn 2013-2016 14

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

2.1 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 16

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 16

2.1.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 16

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

2.2.1 Các biến số nghiên cứu 16

2.2.2 Mô hình thiết kế nghiên cứu 19

2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu 19

2.2.4 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 19

2.2.5 Phương pháp thu thập số liệu 22

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 23

3.1 SO SÁNH DANH MỤC THUỐC SỬ DỤNG VỚI DANH MỤC THUỐC TRÚNG THẦU CỦA SỞ Y TẾ HÀ GIANG NĂM 2016 23

Trang 5

3.1.1 Cơ cấu thuốc trúng thầu được sử dụng, không được sử dụng 23

3.1.2 Nhà thầu thực hiện cung ứng thuốc trúng thầu 25

3.1.3 So sánh nhóm thuốc theo TDDL ĐSD với trúng thầu 26

3.1.4 So sánh nhóm thuốc ĐSD với KQTT trong gói generic 27

3.1.5 So sánh thuốc nội/ngoại ĐSD với KQTT 28

3.2 PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC SỬ DỤNG TẠI CÁC CƠ SỞ Y TẾ CÔNG LẬP TỈNH HÀ GIANG NĂM 2016 29

3.2.1 Kết quả thực hiện danh mục thuốc trúng thầu theo phân hạng bệnh viện 29

3.2.2 Tỉ lệ mặt hàng thuốc sử dụng cao trúng thầu ban đầu 30

3.2.3 Tỉ lệ các mặt hàng cao hơn phân bổ ban đầu theo nhóm TDDL của Bệnh viện Hạng I 31

3.2.4 Tỉ lệ các mặt hàng cao hơn trúng thầu theo nhóm TDDL của Bệnh viện Hạng II 33

3.2.5 Tỉ lệ các mặt hàng cao hơn trúng thầu theo nhóm TDDL của Bệnh viện Hạng III 34

3.2.6 Tỉ lệ các mặt hàng sử dụng có vi phạm quy định sử dụng 35

3.2.7 Tỉ lệ mặt hàng có giá trị cao nhưng tỉ lệ sử dụng thấp so với trúng thầu 36

3.2.8 Tỉ lệ các thuốc có tỉ lệ sử dụng cao hơn trúng thầu 120% 39

Chương 4 BÀN LUẬN 41

4.1 VỀ THUỐC THEO NHÓM TDDL TRÚNG THẦU VÀ ĐƯỢC SỬ DỤNG 41

4.2 VỀ THUỐC NỘI, THUỐC NGOẠI TRÚNG THẦU VÀ ĐƯỢC SỬ DỤNG 42

4.3 TÌNH HÌNH CUNG ỨNG THUỐC CỦA CÁC NHÀ THẦU 43

4.4 TÌNH HÌNH THỰC HIỆN DANH MỤC THUỐC TRÚNG THẦU CỦA CÁC CƠ SỞ Y TẾ 44

Trang 6

4.5 CÁC MẶT HÀNG THUỐC SỬ DỤNG CAO HƠN TRÚNG THẦU

BAN ĐẦU 44

4.6 CÁC MẶT HÀNG CAO HƠN TRÚNG THẦU THEO NHÓM TDDL THEO HẠNG BỆNH VIỆN 45

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 46

KẾT LUẬN 46

KIẾN NGHỊ 47

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Các biến số nghiên cứu 16

Bảng 2.2 Các phương pháp phân tích số liệu được sử dụng trong đề tài 20 Bảng 2.3 Cách tính toán các chỉ số 21

Bảng 3.1 Tỉ lệ thuốc TT được sử dụng, không được sử dụng 23

Bảng 3.2 Tỉ lệ giá trị của các gói thầu ĐSD so với TT 24

Bảng 3.3 Nhà thầu thực hiện cung ứng thuốc trúng thầu theo SKM 25

Bảng 3.4 Tỉ lệ giá trị nhóm thuốc theo TDDL ĐSD so với TT 26

Bảng 3.5 Tỉ lệ giá trị các nhóm thuốc ĐSD so với TT trong gói generic 27 Bảng 3.6 Tỉ lệ giá trị thuốc nội/ngoại ĐSD so với TT 28

Bảng 3.7: Tỉ lệ mặt hàng thuốc trúng thầu so với sử dụng theo phân hạng bệnh viện 29

Bảng 3.8: Tỉ lệ mặt hàng thuốc sử dụng cao phân bổ ban đầu 30

Bảng 3.9 Tỉ lệ các mặt hàng cao hơn phân bổ ban đầu theo nhóm TDDL 31

Bảng 3.10 Tỉ lệ các mặt hàng cao hơn phân bổ ban đầu theo nhóm TDDL 33

Bảng 3.11 Tỉ lệ các mặt hàng cao hơn phân bổ ban đầu theo nhóm TDDL 34

Bảng 3.12 Bảng tỉ lệ các mặt hàng sử dụng không đạt kết quả trúng thầu 35

Bảng 3.13 Các mặt hàng giá trị trúng thầu cao sử dụng thấp 37

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1 Tỉ lệ các gói thầu ĐSD so với KQTT 24 Hình 3.2 Tỉ lệ các nhóm ĐSD so với TT trong gói thuốc generic 27

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thuốc là một loại hàng hóa đặc biệt, giữ vai trò quan trọng trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân.Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh, với mô hình bệnh tật đa dạng và phức tạp đan xen giữa các nước phát triển và đang phát triển, nhu cầu sử dụng thuốc ngày càng tăng cao đồng nghĩa với việc chi phí thuốc luôn chiếm tỉ trọng cao trong ngân sách y tế cũng như trong chi phí khám chữa bệnh của người bệnh Theo báo cáo của BHXH Việt Nam, năm 2016, tổng chi thuốc khám, chữa bệnh BHYT là trên 32 nghìn tỷ đồng, chiếm khoảng 43% tổng chi khám, chữa bệnh BHYT; trong đó số chi vật tư y tế không ngừng gia tăng qua các năm Công tác quản lý cung ứng và lựa chọn sử dụng thuốc đang tồn tại một số vấn

đề chưa hợp lý Thị trường thuốc ở Việt Nam với trên 22.000 loại thuốc đang lưu hành trong khi đó công tác đầu thầu thuốc cũng còn một số hạn chế, giá thuốc vẫn có sự chênh lệch trên cùng một địa bàn và giữa các tỉnh thành phố Tìm giải pháp để công tác quản lý thuốc trong khám, chữa bệnh BHYT là vấn

đề rất được quan tâm và phải sớm thực hiện

Hơn nữa, sử dụng thuốc kém hiệu quả và bất hợp lý đã và đang là vấn đề bất cập của nhiều quốc gia Đây cũng là một trong các nguyên nhân chính làm gia tăng chi phí điều trị, tăng tính kháng thuốc và giảm chất lượng chăm sóc sức khỏe

Các nghiên cứu cho thấy tình trạng sử dụng thuốc bất hợp lý sảy ra trên nhiều nước trên thế giới Tại các nước đang phát triển và chậm phát triển 30% - 60% bệnh nhân sử dụng kháng sinh không hợp lý Tại Châu Âu sự đề kháng của phế cầu với Penicilin tỷ lệ thuận với lượng kháng sinh được sử dụng [12]

Tại Việt Nam, tiền thuốc bình quân đầu người trong năm tăng lên từ 19,77 USD/người năm 2009 [16], năm 2010 là 23 USD/người [18], năm 2014

Trang 10

là 31 USD/người, đến năm 2015 là 37,97 USD/người [10] Các loại thuốc có nhu cầu sử dụng nhiều nhất trong năm 2015 là các loại thuốc kháng sinh, hạ nhiệt, giảm đau, chống viêm, Vitamin, thuốc bổ… Cũng trong năm 2015 tổng giá trị tiền thuốc mà cả nước sử dụng là hơn 3 triệu USD; Trong đó giá trị tiền thuốc sản xuất trong nước chiếm hơn 1 triệu USD, còn lại hơn 2 triệu USD là thuốc thành phẩm nhập khẩu Như vậy có thể thấy thuốc ngoại vẫn đang áp đảo so với thuốc nội [10] Việc sử thuốc và bất hợp lý là một vấn đề có phạm vi ảnh hưởng rộng ở khắp mọi cấp độ chăm sóc y tế, dẫn đến nguyên nhân làm tăng đáng kể chi phí cho người bệnh, đặc biệt là những người bệnh ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn Các thầy thuốc kê đơn trong cộng đồng thường có thói quen sao chép lại các đơn thuốc dùng trong bệnh viện và đây thực sự là điều đáng lo ngại, đã và đang là vấn đề bất cập của nhiều quốc gia Theo một số nghiên cứu, Việt Nam là một trong các nước có chi phí tiền thuốc cao (chiếm 60%), trong đó các nước phát triển chi phí cho tiền thuốc chỉ chiếm 15% Đây là việc bất hợp lý, ảnh hưởng đến ngân sách và quỹ BHYT Trong bối cảnh nước ta đang bước vào nền kinh tế thị trường và đang tham gia hội nhập WTO, thị trường thuốc phát triển liên tục với sự đa dạng, phong phú về chủng loại cũng như nguồn cung cấp, tình trạng thiếu thuốc phục vụ cho nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho nhân dân đã được khắc phục Tuy nhiên, do sự mất cân đối về dược lý với các thuốc sản xuất trong nước, sản xuất chủ yếu các nhóm thuốc như chống nhiễm khuẩn ký sinh trùng, vitamin, thuốc bổ, thuốc hạ nhiệt giảm đau, chống viêm, còn các thuốc điều trị chuyên khoa như tim mạch, ung thư, nội tiết vv… còn rất ít dẫn đến các doanh nghiệp cạnh tranh nhau giá trên thị trường Trong khi đó các doanh nghiệp nhập khẩu các thuốc bán chạy, lợi nhuận cao chưa phù hợp với mô hình bệnh tật (MHBT), dẫn đến sự không lành mạch trên thị trường, ảnh hưởng tới hoạt động cung ứng và sử dụng thuốc trong bệnh viện [11]

Trang 11

Với mục tiêu sử dụng thuốc an toàn, hiệu quả với chi phí hợp lý, Bộ Y

tế đã tham mưu với Chính phủ ban hành nhiều văn bản quan trọng, trong đó đặc biệt quan tâm đến vấn đề đấu thầu thuốc

Sở Y tế Hà Giang thực hiện đấu thầu tập trung từ năm 2016, các cơ sở

y tế trên địa bàn tỉnh căn cứ kết quả đấu thầu của Sở Y tế thực hiện việc ký kết hợp đồng với các nhà thầu và mua thuốc với mức giá thống nhất trong toàn tỉnh

Đánh giá thực hiện kết quả đấu thầu thuốc tại cơ sở y tế công lập nhằm chỉ ra những tồn tại khó khăn trong việc thực hiện sử dụng thuốc của các cơ

sở y tế, qua đó đưa ra các giải pháp giúp nâng cao hiệu quả công tác đấu thầu, cung ứng, sử dụng thuốc trúng thầu tại các cơ sở y tế công lập là một yêu cầu cấp bách trong thời điểm hiện nay

Để đánh giá thực trạng công tác sử dụng thuốc theo kết quả trúng thầu

tại Hà Giang, chúng tôi tiến hành đề tài “Phân tích thực hiện kết quả đấu

thầu thuốc tại cơ sở y tế công lập tỉnh Hà Giang năm 2016” nhằm hai mục

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 TỔNG QUAN VỀ ĐẤU THẦU MUA THUỐC

1.1.1 Khái niệm đấu thầu

Luật đấu thầu số 43/2013/QH13 đã định nghĩa: “Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; lựa chọn nhà đầu tư để ký kết

và thực hiện hợp đồng dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu

tư có sử dụng đất trên cơ sở đảm bảo sự cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế “[13]

Luật đấu thầu 43 cũng đã có mục riêng quy định về việc mua thuốc, vật

tư y tế sử dụng vốn nhà nước, nguồn quỹ BHYT, nguồn thu từ dịch vụ KCB

và nguồn thu hợp pháp khác của CSYT công lập

Vai trò của đấu thầu thuốc

Đấu thầu là một hình thức cạnh tranh văn minh trong nền kinh tế thị trường phát triển nhằm lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu kinh tế kỹ thuật của chủ đầu tư Như vậy đấu thầu ra đời và tồn tại với mục tiêu nhằm thực hiện tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch để lựa chọn ra nhà thầu phù hợp nhất và bảo đảm hiệu quả kinh tế của một dự án đầu tư

Đấu thầu góp phần nâng cao hiệu quả của công tác quản lý Nhà nước

về đầu tư và xây dựng, hạn chế và loại trừ được tình trạng thất thoát, lãng phí vốn đầu tư

Đấu thầu góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực xây dựng cơ bản nói riêng và toàn nền kinh tế nói chung

Đấu thầu tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng và lành mạnh giữa các đơn vị xây dựng Đây là động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển của ngành

Trang 13

công nghiệp xây dựng nước ta và tạo điều kiện ứng dụng khoa học kỹ thuật, đổi mới công nghệ xây dựng, từng bước hội nhập với khu vực và thế giới

1.1.2 Đấu thầu thuốc

Thuốc là một loại hàng hóa đặc biệt có liên quan trực tiếp đến sức khỏe

và tính mạng con người nên cần một hệ thống các văn bản quy định chặt chẽ

để đảm bảo hiệu quả sử dụng thuốc an toàn trong khám và điều trị cho người bệnh Đấu thầu thuốc hiện nay được các cơ sở y tế thực hiện dựa trên các văn bản Luật, Thông tư và Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn đầy đủ về đấu thầu thuốc do Bộ Y tế ban hành và liên tục sửa đổi

Sau khi luật đấu thầu số 43 và nghị định số 63 ra đời về quy định chi tiết thi hành một số điều của luật đấu thầu về lựa chọn nhà thầu, nhiều địa phương trên cả nước đã áp dụng hình thức đấu thầu thuốc tập trung và thu được những thành quả nhất định trong mua sắm và cung ứng thuốc cho các đơn vị Từ đó,

Bộ Y tế đã ban hành các Thông tư hướng dẫn đấu thầu mua thuốc trong các cơ

sở y tế thông qua Thông tư số 01 và Thông tư số 36 với những quy định cụ thể

về quy trình đấu thầu thuốc, xây dựng kế hoạch đấu thầu và xét duyệt trúng thầu thuốc tại các cơ sở y tế [3], [6] Bên cạnh đó, các cơ sở y tế áp dụng bảng tiêu chuẩn đánh giá về mặt kĩ thuật tại hồ sơ mời thầu mua thuốc được qui định tại Thông tư số 31 và xây dựng hồ sơ mời thầu theo hướng dẫn lập hồ sơ mời thầu mua thuốc trong các cơ sở y tế tại Thông tư số 37 và Thông tư số 05 [1], [4], [5]

Các qui định mới trong Thông tư số 01 về hướng dẫn đấu thầu mua thuốc trong các cơ sở y tế và Thông tư liên tịch số 36 về sửa đổi, bổ sung một

số điều của Thông tư liên tịch số 01 cũng mang đến những đổi mới trong công tác đấu thầu mua sắm thuốc tại các đơn vị y tế Đặc biệt, các qui định về phân nhóm thuốc đấu thầu, cụ thể là: tại điều 7 về phân chia gói thầu của Thông tư

Trang 14

số 36, thuốc đấu thầu được chia làm 3 gói: gói thầu thuốc theo tên biệt dược, gói thầu thuốc theo tên generic và gói thuốc đông y, thuốc từ dược liệu

Thuốc biệt dược gốc: là thuốc được cấp phép lưu hành lần đầu tiên, trên cơ sở đã có đầy đủ các số liệu về chất lượng, an toàn và hiệu quả

Thuốc generic: là thuốc thành phẩm nhằm thay thế một thuốc phát minh được sản xuất không có giấy phép nhượng quyền của công ty phát minh và được đưa ra thị trường sau khi bằng phát minh và các độc quyền đã hết hạn [3],[18]

Trong đó, gói thầu thuốc theo tên generic được chia thành 5 nhóm, tương ứng với 5 nhóm tiêu chuẩn của nhà sản xuất như sau:

Cơ sở sản xuất thuốc đạt tiêu chuẩn EU-GMP hoặc PIC/s-GMP là cơ

sở sản xuất thuốc được cơ quan quản lý có thẩm quyền của nước tham gia Cơ quan quản lí dược Châu Âu (EMA) hoặc nước tham gia Hội nghị quốc tế về hài hòa hóa các thủ tục đăng kí dược phẩm sử dụng cho con người (ICH) hoặc nước tham gia hệ thống hợp tác về thanh tra dược phẩm (PIC/s) cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn EU-GMP hoặc PIC/s-GMP hoặc tương đương

Nhóm 1:

Thuốc sản xuất tại cơ sở sản xuất đạt tiêu chuẩn EU-GMP hoặc PIC/s- GMP thuộc nước tham gia ICH;

Thuốc sản xuất tại cơ sở sản xuất thuốc đạt tiêu chuẩn WHO-GMP do

Bộ Y tế Việt Nam (Cục Quản lý dược) cấp giấy chứng nhận và được cơ quan quản lý có thẩm quyền của nước tham gia ICH cấp phép lưu hành

Nhóm 2:

Thuốc sản xuất tại cơ sở sản xuất đạt tiêu chuẩn EU-GMP hoặc PIC/s- GMP nhưng không thuộc nước tham gia ICH;

Trang 15

Thuốc nhượng quyền từ cơ sở sản xuất đạt tiêu chuẩn EU-GMP hoặc PIC/s-GMP thuộc các nước tham gia ICH và được sản xuất tại cơ sở sản xuất thuốc Bộ Y tế Việt Nam (Cục Quản lý dược) cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn WHO-GMP

Nhóm 3: thuốc sản xuất tại cơ sở sản xuất thuốc đạt tiêu chuẩn WHO-

GMP được Bộ Y tế Việt Nam (Cục Quản lý dược) cấp giấy chứng nhận

Nhóm 4: thuốc có chứng minh tương đương sinh học do Bộ Y tế công bố

Tương đương sinh học: Hai thuốc được coi là tương đương sinh học nếu chúng là những thuốc tương đương bào chế hay là thế phẩm bào chế và sinh khả dụng của chúng sau khi dùng cùng một mức liều trong cùng điều kiện thử nghiệm là tương tự nhau dẫn đến hiệu quả điều trị của chúng về cơ bản được coi là sẽ tương đương nhau

Nhóm 5: thuốc không đáp ứng tiêu chí phân nhóm quy định tại Điểm a,

b, c và d

Các thuốc được đưa vào gói thầu thuốc theo tên biệt dược gồm:

Thuốc biệt dược gốc hoặc thuốc có tương đương điều trị với thuốc biệt dược gốc do Bộ Y tế công bố

Thuốc thuộc danh mục thuốc hiếm do Bộ Y tế ban hành

Gói thầu thuốc đông y, thuốc từ dược liệu được phân chia thành 2 nhóm theo tiêu chí kỹ thuật và công nghệ được cấp phép như sau:

Nhóm 1: thuốc đông y, thuốc từ dược liệu được sản xuất tại cơ sở đạt tiêu chuẩn WHO-GMP do Bộ Y tế Việt Nam (Cục Quản lý dược) cấp giấy chứng nhận

Nhóm 2: thuốc đông y, thuốc từ dược liệu được sản xuất tại cơ sở chưa được Bộ Y tế Việt Nam (Cục Quản lý dược) cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn WHO-GMP [3]

Trang 16

1.2 ĐÁNH GIÁ VỀ SỬ DỤNG THUỐC TẠI CÁC CƠ SỞ KHÁM, CHỮA BỆNH Ở VIỆT NAM

1.2.1 Chi phí thuốc tại các cơ sở khám, chữa bệnh ở Việt Nam

Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển khoa học kỹ thuật, ngành dược đã có những bước tiến dài về mọi mặt Thị trường dược phẩm thế giới và trong nước ngày càng được mở rộng, với sự đa dạng phong phú cả về chủng loại và số lượng Hệ thống cung ứng thuốc cũng ngày càng được mở rộng và phát triển, việc lựa chọn được một danh mục thuốc hợp lý là một trong các yếu tố mang tính quyết định trong việc sử dụng thuốc hợp lý trong bệnh viện Tuy nhiên, hiện nay công tác quản lý cung ứng và lựa chọn sử dụng thuốc đang tồn tại một số vấn đề chưa hợp lý Thị trường thuốc Việt Nam với khoảng trên 22.000 loại thuốc đang lưu hành trong khi công tác đấu thầu cũng còn một số hạn chế, giá thuốc vẫn còn có sự chênh lệch trên cùng một địa bàn và giữa các tỉnh, thành phố Nhằm tìm giải pháp để công tác quản

lý thuốc trong khám chữa bệnh BHYT, Hội thảo “Quản lý thuốc khám chữa bệnh bảo hiểm y tế”, ngày 22/10/2013, tại Hà Nội, do BHXH Việt Nam phối hợp cùng văn phòng Tổ chức Y tế thế giới (WHO) tại Việt Nam, cơ quan Đảm bảo xã hội và Quốc tế Pháp (GIP SPSI) đã được tổ chức Tại hội thảo theo các báo cáo, chi phí về thuốc, cả tân dược và thuốc YHCT, ngày càng tăng và luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng chi phí của quỹ BHYT Năm 2010: Tổng chi tiền thuốc của quỹ BHYT khoảng 11.564 tỷ đồng (60%) tổng chi KCB của quỹ; năm 2011: khoảng 15.568 tỷ đồng (61,3%) tổng chi của quỹ; tăng 34,6% so với năm 2010; Năm 2012: khoảng 19.561 tỷ đồng (60,6%) tổng chi của quỹ; tăng 4 ngàn tỷ so với năm 2011 Công tác quản lý thuốc vẫn còn nhiều vấn đề như: khó khăn để lựa chọn thuốc trong danh mục thuốc BHYT, nhất là với thuốc chế phẩm YHCT [15]

Cùng với chi phí tiền thuốc tăng, đồng thời sảy ra những bất cập như:

Trang 17

Trong các loại thuốc sử dụng tại bệnh viện, các thuốc chiếm tỷ lệ chi phí lớn thường chỉ tập chung vào một số nhóm thuốc chính như thuốc kháng sinh chiếm (46%), thuốc điều trị các bệnh tim mạch (15,5%), các thuốc hỗ trợ điều trị (11,3%) [13]

Ngoài ra các bệnh không lây nhiễm cũng ngày một tăng cao, điều này cho thấy mô hình bệnh tật hiện nay rất đa dạng Đặc biệt việc sử dụng tràn lan rất nhiều kháng sinh tại tất cả các tuyến là điều đáng lo ngại về tình hình nhiễm khuẩn mắc phải và tình trạng kháng kháng sinh hiện nay Vì vậy, nếu không kiểm soát chỉ định thuốc chặt chẽ, ngoài việc ảnh hưởng tới chi phí KCB BHYT, còn là nguyên nhân khiến hiệu quả điều trị không được như mong muốn

Trong 20 thuốc có chi phí cao nhất được quỹ BHYT chi trả, tỷ lệ chi phi cho các thuốc này tại các bệnh viện tuyến huyện thường lớn hơn bệnh biện tuyến tỉnh Theo thống kê của cơ quan BHXH, chi phí thuốc tại tuyến huyện thường chiếm khoảng 70% chi phí KCB BHYT Đối với các bệnh viện tuyến tỉnh các thuốc có chi phí cao thường do sử dụng với số lượng nhiều, sử dụng các thuốc biệt dược, đắt tiền và các thuốc thương mại có giá thành cao

Việc sử dụng thuốc Generic, thuốc thương mại và thuốc biệt dược gốc đang là vấn đề được các cơ quan quản lý quan tâm Xét trên phương diện điều trị, thuốc biệt dược gốc của nhà phát minh đầu tiên có hiệu quả điều trị cao, nhưng xét về phương diện kinh tế, với chi phí lớn cho các nhóm thuốc này đã ảnh hưởng không nhỏ đến người bệnh, quỹ BHYT và ngân sách Nhà nước Tuy nhiên có một số thuốc tên thương mại, giá thành cao hơn nhiều lần so với thuốc biệt dược gốc, đây là điều không hợp lý trong công tác đấu thầu cung ứng thuốc, điều này dẫn đến hậu quả, chi phí thuốc cao nhưng hiệu quả điều trị lại không cao

Để hạn chế tình trạng trên cần có những giải pháp tổng thể, phù hợp với từng bệnh viện, vùng miền Nhưng trước mắt cần xây dựng danh mục thuốc

sử dụng tại bệnh viện phù hợp với yêu cầu điều trị, phân tuyến chuyên môn

Trang 18

kỹ thuật, đảm bảo cân đối giữa các nhóm trị liệu nhưng có sự ưu tiên cho các thuốc thiết yếu, quan trọng và giảm nhóm thuốc hỗ trợ điều trị, khuyến khích việc sử dụng thuốc Generic, hạn chế thuốc thương mại và thuốc biệt dược gốc

có giá thành cao

1.2.2 Danh mục thuốc chủ yếu tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

Danh mục thuốc có vai trò quan trọng trong chu trình quản lý thuốc tại Bệnh viện, bởi vậy Bệnh viện cần có một danh mục thuốc đảm bảo chất lượng, an toàn, hợp lý, hiệu quả và kinh tế DMTCY được xây dựng trên cơ

sở DMTTY Việt Nam và DMTTY của tổ chức y tế thế giới hiện hành với các mục tiêu sau:

- Đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả

- Đáp ứng yêu cầu điều trị cho người bệnh

- Đảm bảo quyền lợi về thuốc chữa bệnh cho người tham gia BHYT

- Phù hợp với khả năng chi trả chủa người bệnh và khả năng chi trả của quỹ BHYT

Danh mục thuốc chữa bệnh chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám, chữa bệnh được quỹ BHYT thanh toán áp dụng tại Việt Nam hiện nay là thông tư

số 40/2014/TT-BYT, ngày 17 tháng 11 năm 2014 của Bộ Y tế Thông tư ban hành và hướng dẫn danh mục thuốc tân dược thuộc phạm vi thanh toán của quỹ BHYT gồm: 845 hoạt chất, 1060 thuốc tân dược; 57 thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu DMT ban hành kèm theo thông tư này là cơ sở để quỹ BHYT thanh toán chi phí thuốc sử dụng cho người bệnh có thẻ BHYT tại cơ

sở khám bệnh, chữa bệnh [6]

Danh mục thuốc y học cổ truyền được quy định tại thông tư số 05/2015/TT-BYT ngày 17 tháng 3 năm 2015 của Bộ y tế ban hành danh mục thuốc đông y, thuốc từ dược liệu và vị thuốc y học cổ truyền có hiệu lực từ 01/5/2015 thay thế thông tư 12/2010/TT-BYT bao gồm: 229 thuốc đông y

Trang 19

thuốc từ dược liệu dược xếp vào 11 nhóm và 349 vị thuốc y học cổ truyền xếp vào 30 nhóm theo phân nhóm tác dụng chữa bệnh của y học cổ truyền

Các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc phạm vi thanh toán của quỹ BHYT khi xây dựng danh mục thuốc sử dụng tại đơn vị căn cứ vào DMT chủ yếu, phân hạng bệnh viện, nhu cầu điều trị và khả năng chi trả của quỹ bảo hiểm y tế, quá trình mua sắm theo các quy định của pháp luật về đấu thầu

1.3 VÀI NÉT SƠ LƯỢC VỀ NGÀNH Y TẾ HÀ GIANG

Hà Giang là tỉnh miền núi cao, nằm ở cực Bắc của Việt Nam, phía Bắc giáp với tỉnh Vân Nam và Quảng Tây Trung Quốc, phía Nam giáp tỉnh Tuyên Quang, phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng, phía Tây giáp tỉnh Yên Bái

và Lào Cai Hà Giang có tổng diện tích đất tự nhiên 7.914,88 km2 với 277,525 km đường biên giáp với Trung Quốc Dân số 763.503 người, có 22 dân tộc cùng sinh sống Toàn tỉnh có 10 huyện và 01 thành phố, trong đó

có 6 huyện thuộc diện nghèo được thụ hưởng các chính sách theo Nghị quyết 30a của Chính phủ

Bộ máy ngành Y tế tỉnh Hà Giang:

Tuyến tỉnh:

Quản lý Nhà nước: Sở Y tế có 06 bộ phận (Văn phòng, Thanh tra, Kế hoạch-Tài chính, Nghiệp vụ Y, Nghiệp vụ Dược, Quản lý Hành nghề - BHYT); 02 Chi cục (Dân số-KHHGĐ và ATVSTP)

Có 08 đơn vị sự nghiệp (Y tế dự phòng 03; Chuyên ngành 05); Có 05

bệnh viện (Bệnh viện Đa khoa tỉnh 420 giường; Bệnh viện Y - Dược cổ truyền

120 giường, Bệnh viện Lao & bệnh Phổi 120 giường, Bệnh viện Phục hồi chức năng 80 giường, Bệnh viện Mắt 50 giường); 01 Trường Trung cấp Y tế;

Tuyến huyện:

Hệ dự phòng: Gồm 11 Trung tâm Y tế huyện, thành phố

Trang 20

Hệ thống điều trị: Gồm 03 Bệnh viện Đa khoa khu vực; 08 Bệnh viện

đa khoa tuyến huyện với tổng số 1.240 giường bệnh; 19 Phòng khám Đa khoa

khu vực với tổng số 215 giường bệnh 11 Trung tâm Dân số-KHHGĐ (Trực thuộc Chi cục DS-KHHGĐ)

Quản lý Nhà nước: 11 Phòng Y tế huyện, thành phố (Trực thuộc

1.4 SƠ LƯỢC HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU THUỐC TẠI TỈNH HÀ

Năm 2012, UBND tỉnh Hà Giang giao cho Sở Y tế Hà Giang tổ chức đấu thầu tập trung các loại thuốc tân dược bao gồm cả thuốc gây nghiện, thuốc hướng tâm thần và tiền chất dụng làm thuốc, thuốc YHCT,sinh phẩm y

tế, hóa chất, vật tư y tế tiêu hao chủ yếu

Trang 21

Phân chia gói thầu: Việc phân chia gói thầu thành các gói thầu trên

dựa vào tính chất của từng nhóm hàng có tính độc lập với nhau, đảm bảo khi

tổ chức đấu thầu và thực hiện hợp đồng phù hợp với việc cung ứng cho các cơ

sở y tế công lập

Hình thức đấu thầu: Đấu thầu hạn chế (theo danh sách ngắn)

Giá gói thầu: Thực hiện theo Thông tư số 10/2007/TTLT-BYT-BTC

ngày 10/8/2007 của liên Bộ Tài chính-Bộ Y tế về việc hướng dẫn đấu thầu mua thuốc trong các cơ sở y tế công lập và các văn bản hướng dẫn của Bộ Y tế

Phương thức đấu thầu: Gói thầu mua sắm hàng hóa mang tính đặc

thù, cung ứng theo nhu cầu sử dụng của các cơ sở y tế công lập nên áp dụng phương thức đấu thầu một túi hồ sơ, một giai đoạn, trúng thầu theo từng mặt hàng

UBND tỉnh phê duyệt Kế hoạch đấu thầu thuốc

Thẩm định và phê duyệt kết quả đấu thầu: Sở Y tế tổ chức thẩm định

và phê duyệt kết quả đấu thầu thuốc Kết quả đấu thầu là cơ sở để các đơn vị

y tế công lập trên địa bàn tỉnh sử dụng và thanh quyết toán với BHYT

Đánh giá:

Giai đoạn này, thực hiện đấu thầu theo tên thương mại Hình thức này

về cơ bản giống như chỉ đích danh tên thương mại của thuốc mời thầu, mặt khác hình thức đấu thầu hạn chế (theo danh sách ngắn) dẫn đến tính cục bộ tại địa phương, các nhà thầu có uy tín lâu năm, cung ứng thuốc nhiều năm trên địa bàn được ưu tiên lựa chọn đấu thầu theo tên thương mại Thậm chí, có những thuốc có chi phí hoa hồng cao mới được ưu tiên đưa vào đấu thầu, đây

là một biểu hiện không khách quan và dễ dẫn đến tình trạng lạm dụng “biệt dược” trong quá trình lựa chọn thuốc, dẫn đến tăng chi phí sử dụng thuốc so với tổng chi phí chung

Trang 22

Mặt khác, việc quản lý thuốc tại các đơn vị khám chữa bệnh còn lỏng lẻo dẫn đến tình trạng các đơn vị mua các thuốc có chi phí hoa hồng cao với

số lượng lớn (đặc biệt là kháng sinh dạng tiêm, albumin, acid amin và các thuốc vitamin đa thành phần…), tồn kho lớn dẫn đến nợ đọng lớn và kéo dài

do đó, tình trạng thuốc quá hạn sử dụng, lạm dụng sử dụng thuốc cũng xảy ra

ở hầu hết các đơn vị

1.4.2 Giai đoạn 2013-2016

UBND tỉnh Hà Giang giao cho Sở Y tế Hà Giang tổ chức đấu thầu tập trung các loại thuốc tân dược bao gồm cả thuốc gây nghiện, thuốc hướng tâm thần và tiền chất dụng làm thuốc, thuốc YHCT,sinh phẩm y tế, hóa chất, vật

tư y tế tiêu hao chủ yếu

Phân chia gói thầu:

Năm 2013: Thực hiện theo Thông tư liên tịch số BTC ngày 19/01/2012 của liên Bộ Y tế - Bộ Tài chính về hướng dẫn đấu thầu mua thuốc trong các cơ sở y tế

01/2012/TTLB-BYT-Năm 2014, 2016: Thực hiện theo Thông tư liên tịch số BYT-BTC ngày 19/01/2012 của Bộ Y tế - Bộ Tài chính hướng dẫn đấu thầu mua thuốc trong các cơ sở y tế; Thông tư số 36/2013/TTLT-BYT-BTC ngày 11/11/2013 của liên Bộ Y tế-Bộ Tài chính Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư liên tịch số 01/2012/TTLT-BYT-BTC ngày 19/01/2012 của Bộ Y tế

01/2012/TTLT Bộ Tài chính hướng dẫn đấu thầu mua thuốc trong các cơ sở y tế;

Hình thức đấu thầu: Đấu thầu rộng rãi trong nước, xét theo từng

mặt hàng

Hình thức hợp đồng:

Năm 2013: Hợp đồng theo đơn giá cố định;

Năm 2014, 2016: Hợp đồng trọn gói

Trang 23

Việc đấu thầu tập trung tại SYT Hà Giang đã thành công trong việc thống nhất giá thuốc ở tất cả các tuyến và ổn định trong vòng 12 tháng, thời gian, tiết kiệm được nhân lực và chi phí liên quan đến đấu thầu, tạo điều kiện cho các đơn vị tập trung vào công tác cung ứng thuốc và dược lâm sàng, tổ chức đấu thầu ngày càng chuyên nghiệp, lựa chọn được những nhà thầu uy tín, mặt hàng chất lượng với chi phí phù hợp

Tuy nhiên, việc đấu thầu tập trung tại SYT Hà Giang cũng gặp phải những khó khăn, bất cập:

- Việc quy định cung ứng thuốc theo kết quả trúng thầu chỉ được mua vượt 120%, gây khó khăn trong vấn đề cung ứng thuốc khi cơ cấu bệnh tật thay đổi và chính sách bảo hiểm thay đổi

- Số lượng thuốc của các gói thầu chỉ là số lượng dự kiến mua, không phải số lượng chắc chắn sẽ mua Sau khi công nhận trúng thầu và ký hợp đồng sẽ mua theo nhu cầu hàng tháng do các bệnh viện thông báo, dẫn tới nhiều trường hợp thực hiện mua trong năm đạt thấp, những mặt hàng trúng thầu giá cao thì được mua nhiều, trong khi những mặt hàng trúng thầu giá thấp thì nhà thầu lại mua với khối lượng thấp hơn nhiều so với khối lượng mời thầu hoặc không mua dẫn đến sự phản ứng của một số nhà thầu

- Một số nhà thầu vi phạm hợp đồng cung ứng, chậm trễ giao hàng

- Hệ thống quản lý giá thuốc, dữ liệu chuẩn quốc gia chưa hoàn thiện gây khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện

- Khó khăn trong việc đơn giản hóa thủ tục hành chính và lưu tài liệu sau mỗi đợt đấu thầu

Trang 24

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Danh mục thuốc trúng thầu năm 2016 của Sở Y tế Hà Giang

Danh mục thuốc được sử dụng năm 2016 của cơ sở y tế công lập tỉnh

Hà Giang

2.1.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu: Sở Y tế Hà Giang

Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01 đến tháng 12 năm 2016

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Các biến số nghiên cứu

Bảng 2.1 Các biến số nghiên cứu

STT Tên biến số Định nghĩa Giá trị

Cách thức thu thập

Mục tiêu 1: So sánh danh mục thuốc sử dụng với danh mục thuốc trúng thầu của Sở Y tế Hà Giang năm 2016

sử dụng

Biến phân loại

Biến phân loại

Biến phân loại

DMT trúng thầu

và DMT được

Trang 25

Biến phân loại

NK

Biến phân loại

Biến phân loại

Biến phân loại

DMT trúng thầu

và DMT đƣợc

sử dụng

Trang 26

Mục tiêu 2: Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại các cơ sở y tế công lập tỉnh Hà Giang năm 2016

Biến phân loại

DMT trúng thầu

và DMT đƣợc

sử dụng của từng cơ sở

Biến phân loại

DMT trúng thầu

bổ xung và DMT đƣợc sử dụng của từng

Biến phân loại

DMT trúng thầu

bổ xung và DMT đƣợc sử dụng của từng

Biến phân loại

DMT trúng thầu

bổ xung và DMT đƣợc sử dụng của từng

cơ sở

12 Tỉ lệ các mặt

hàng cao hơn

SKM và giá trị trúng thầu bổ xung và

Biến phân loại

DMT trúng thầu

bổ xung và

Trang 27

phân bổ ban đầu

theo nhóm

TDDL của bệnh

viện hạng 3

được sử dụng của thuốc theo nhóm TDDL của bệnh viện hạng 3

DMT được sử dụng của từng

tế

Biến phân loại

DMT trúng thầu

và DMT được

sử dụng của từng cơ sở

tế

Biến phân loại

DMT trúng thầu

và DMT được

sử dụng của từng cơ sở

2.2.2 Mô hình thiết kế nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả hồi cứu

2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu

Tiến hành hồi cứu các tài liệu được Bệnh viện cung cấp dưới dạng file mềm và bản cứng Bao gồm:

- Quyết định phê duyệt danh mục thuốc trúng thầu thuốc năm 2016

- Danh mục báo cáo thuốc được sử dụng tại các cơ sở y tế năm 2016

- Biểu mẫu thu thập số liệu (phần phụ lục)

2.2.4 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

a) Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu sau khi thu thập, được đưa vào phần mềm Microsoft Excel để

xử lý như sau:

Trang 28

+ Sắp xếp số liệu tùy theo mục đích phân tích

+ Tính số khoản mục, giá trị và tỉ lệ của từng biến số

+ So sánh, vẽ đồ thị hoặc biểu đồ, nhận xét: Tập trung tìm ra những vấn đề còn tồn đọng, những mặt hạn chế qua đó đưa ra các giải pháp khắc phục

b) Phương pháp phân tích số liệu

Bảng 2.2 Các phương pháp phân tích số liệu được sử dụng trong đề tài

- Hệ thống hóa các thuốc trong thuốc trúng thầu, KQSD;

- Hệ thống hóa nhà thầu trúng thầu…

Phương pháp

so sánh

- So sánh KQTT với kết quả thực hiện danh mục thuốc trúng thầu năm 2016 về các chỉ số: Thực hiện cung ứng của nhà thầu, cơ cấu thuốc nội thuốc ngoại

Phương pháp

tỉ trọng

- Là phương pháp tính tỉ lệ phần trăm của số khoản mục, giá trị số liệu của một hoặc một nhóm đối tượng nghiên cứu của KQTT so với kết quả thực hiện danh mục thuốc trúng thầu

- Các tỉ lệ nghiên cứu: Tỉ lệ thuốc được sử dụng theo gói thuốc trúng thầu, theo nhóm TDDL

Trang 30

2.2.5 Phương pháp thu thập số liệu

- Thu thập các văn bản, báo cáo, dữ liệu đấu thầu thuốc tại Sở Y tế Hà Giang

- Thu thập dữ liệu thuốc trong danh mục thuốc trúng thầu tại Sở Y tế

Hà Giang năm 2016 theo 3 gói: gói số 1 - thuốc theo tên generic, gói số 2 - thuốc biệt dược và gói số 3 - thuốc Đông Y, thuốc từ dược liệu, bao gồm các chỉ tiêu: tên thuốc, tên hoạt chất, hàm lượng, dạng bào chế, đơn giá trúng thầu, số lượng trúng thầu, nhà sản xuất, xuất xứ, công ty trúng thầu

Thu thập dữ liệu thuốc trúng thầu sử dụng của các cơ sở y tế tại SYT

Hà Giang năm 2016

Xử lí số liệu: Các số liệu nghiên cứu được nhập và xử lý trên phần mềm Microsoft Excel 2010, Microsoft Word 2010

Trang 31

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 SO SÁNH DANH MỤC THUỐC SỬ DỤNG VỚI DANH MỤC

THUỐC TRÚNG THẦU CỦA SỞ Y TẾ HÀ GIANG NĂM 2016 3.1.1 Cơ cấu thuốc trúng thầu được sử dụng, không được sử dụng

Bảng 3.1 Tỉ lệ thuốc TT được sử dụng, không được sử dụng

Trang 32

Bảng 3.2 Tỉ lệ giá trị của các gói thầu ĐSD so với TT

Từ bảng dữ liệu trên cho thấy, tỉ lệ sử dụng trung bình về số khoản mục

và giá trị lần lượt là 90,71% và 74,23% Tỉ lệ sử dụng thuốc trúng thầu gói thuốc Biệt dược cao nhất đạt 100% về số khoản mục và 90,62% về giá trị, tiếp đến là gói thuốc generic tỉ lệ lần lượt số khoản mục và giá trị đạt 91,73%

và 72,46% và thấp nhất là gói thuốc Đông y và Dược liệu (90,79% và 55,16%) Điều này phản ánh mô hình bệnh tật tại địa bàn tỉnh Hà Giang khá

đa dạng và phức tạp Để điều trị hiệu quả các bệnh viện có xu hướng dùng thuốc biệt dược có chất lượng cao nên tỷ lệ sử dụng gói biệt dược là cao nhất

Ngày đăng: 02/02/2018, 23:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w