1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu các nhân tố tác động đến sự tham gia bảo hiểm y tế của nông dân trên địa bàn Thành phố Hà Nội

191 615 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 191
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Đặt vấn đề Tiến tới thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân là quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta. “Đề án thực hiện lộ trình tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân giai đoạn 2012-2015 và 2020” đã được Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt mục tiêu đến năm 2020 có hơn 80% dân số tham gia bảo hiểm y tế (Thủ tướng chính phủ 2013). Để thực hiện mục tiêu trên, Chính phủ đã có các giải pháp chính sách hỗ trợ cụ thể để đối với từng đối tượng người dân để tăng tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế, song để thực hiện được những nội dung, vấn đề lại nằm ở người tham gia BHYT. Thực tiễn cho thấy, có rất nhiều lý do ảnh hưởng tới quyết định tham gia BHYT của người dân. Một mặt là yếu tố chính sách hỗ trợ, nhưng mặt khác còn liên quan đến chất lượng KCB bằng thẻ BHYT, đến công tác tổ chức và quản lý của cơ quan BHYT, đến điều kiện kinh tế và nhận thức của người dân về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc tham gia BHYT,…. Những năm qua, thành phố Hà Nội đã có nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp nhằm đẩy mạnh sự tham gia BHYT trên địa bàn. Cùng với việc ban hành các chính sách hỗ trợ người dân tham gia, thành phố còn có nhiều biện pháp nhằm nâng cao chất lượng KCB bằng thẻ BHYT, tăng cường công tác quản lý và nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ làm công tác BHYT, đẩy mạnh sản xuất, tăng thu nhập cho người dân và đẩy mạnh công tác tuyên truyền về BHYT để người dân tích cực tham gia. Tuy nhiên, đến nay, tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế trên địa bàn còn thấp, đặc biệt là người dân khu vực nông thôn, với dân số gần 3,7 triệu người. “Theo báo cáo của Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội, dù số người tham gia bảo hiểm y tế tăng hằng năm, từ năm 2011 đến năm 2015 tăng 12,8%. Đến tháng 6 năm 2016, Thành phố Hà Nội đã có 5.549.227 người dân tham gia bảo hiểm xã hội” (Phạm Chính , 2016); so với dân số Hà Nội sơ bộ cuối năm 2015 là 7.216.000 người (Tổng cục Thống kê 2016) thì tỷ lệ bao phủ là 76,9%. Trong đó, nhóm tham gia BHYT tự nguyện, BHYT hộ gia đình đạt rất thấp, hiện mới có 334.454 người tham gia. Việc mở rộng phạm vi tham gia BHYT trên địa bàn TP. Hà Nội để thực hiện mục tiêu của Chính phủ tiến tới BHYT toàn dân phụ thuộc rất lớn vào việc tác động đến đối tượng dân số tham gia BHYT tự nguyện, trước hết là nông dân. Vì thế việc nghiên cứu chủ đề nhân tố tác động đến sự tham gia BHYT nông dân trên địa bàn thành phố Hà Nội là vấn đề có ý nghĩa cấp bách cả về lý luận và thực tiễn. 2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1 Mục tiêu Luận án đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện các nhân tố nhằm đẩy mạnh sự tham gia BHYT đối với nông dân trên địa bàn thành phố Hà Nội trước mắt đến năm 2020 và định hướng tới năm 2025.

Trang 1

  

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH VẼ

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ THAM GIA BẢO HIỂM Y TẾ CỦA NÔNG DÂN 4

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến chủ đề luận án 4

1.1.1 Những công trình nghiên cứu ngoài nước 4

1.1.2 Những công trình nghiên cứu trong nước 6

1.1.3 Nhận xét chung và những vấn đề nghiên cứu đặt ra cho chủ đề nghiên cứu 15

1.2 Phương pháp nghiên cứu 17

1.2.1 Quy trình nghiên cứu 17

1.2.2 Thiết kế nghiên cứu 18

1.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 23

TÓM TẮT CHƯƠNG 1 24

CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ THAM GIA BẢO HIỂM Y TẾ CỦA NÔNG DÂN 25

2.1 Bảo hiểm y tế và tầm quan trọng của bảo hiểm y tế đối với nông dân 25

2.1.1 Nông dân và các nhóm đối tượng nông dân 25

2.1.2 Bảo hiểm y tế và đặc điểm của bảo hiểm y tế đối với nông dân 30

2.1.3 Tầm quan trọng của bảo hiểm y tế đối với nông dân và xã hội 37

2.2 Khái niệm và nội dung các nhân tố tác động đến sự tham gia BHYT nông dân 40

2.2.1 Khái niệm về nhân tố tác động đến sự tham gia BHYT nông dân 40

2.2.2 Nội dung các nhân tố tác động đến sự tham gia BHYT nông dân 41

2.2.3 Tiêu chí đánh giá sự tham gia BHYT nông dân 46

2.3 Kinh nghiệm về hoàn thiện sự tác động của các nhân tố ảnh hưởng tới sự tham gia BHYT nông dân 49

2.3.1 Kinh nghiệm quốc tế và một số địa phương trong nước của các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia BHYT nông dân 49

2.3.2 Bài học về hoàn thiện sự tác động của các nhân tố ảnh hưởng tới sự tham gia BHYT nông dân 62

Trang 3

3.1 Khái quát đặc điểm kinh tế - xã hội và tình hình tham gia BHYT nông dân trên địa bàn thành phố Hà Nội 66

3.1.1 Đặc điểm kinh tế, xã hội của thành phố Hà Nội có liên quan đến sự tham gia bảo hiểm y tế 66 3.1.2 Khái quát tình hình tham gia BHYT nông dân trên địa bàn thành phố

3.3 Đánh giá tác động của các nhân tố đến sự tham gia BHYT nông dân trên địa bàn Thành phố Hà Nội qua điều tra khảo sát 96

3.3.1 Tác động của các nhân tố đến sự biến đổi về phạm vi bao phủ của BHYT nông dân 97 3.3.2 Tác động của các nhân tố đến sự thay đổi cơ cấu tham gia bảo hiểm y tế của các nhóm đối tượng nông dân theo thu nhập, theo tính chất ngành nghề và theo vùng 97 3.3.3 Tác động của các nhân tố đến sự biến đổi về tốc độ tăng trưởng của BHYT nông dân 102

3.4 Những thành tựu, hạn chế chủ yếu về các nhân tố tác động đến sự tham gia bảo hiểm y tế đối với nông dân 103

3.4.1 Những thành tựu chủ yếu 103 3.4.2 Những hạn chế về nhân tố tác động đến sự tham gia BHYT nông dân trên địa bàn Hà Nội 105

TÓM TẮT CHƯƠNG 3 114 CHƯƠNG 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC NHÂN

TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ THAM GIA BẢO HIỂM Y TẾ CỦA NÔNG DÂN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 116

Trang 4

tác động đến sự tham gia BHYT nông dân trên địa bàn Thành phố Hà Nội 116

4.1.2 Mục tiêu phát triển BHYT nông dân trên địa bàn thành phố Hà Nội đến năm 2025 123

4.1.3 Phương hướng hoàn thiện các nhân tố tác động đến sự tham gia bảo hiểm y tế đối với từng đối tượng nông dân trên địa bàn Thành phố Hà Nội 125

4.2 Giải pháp hoàn thiện các nhân tố tác động đến sự tham gia BHYT nông dân trên địa bàn thành phố Hà Nội những năm tới 127

4.2.1 Hoàn thiện chính sách hỗ trợ của nhà nước 127

4.2.2 Giải pháp nâng cao chất lượng của các hoạt động khám chữa bệnh sử dụng thẻ bảo hiểm y tế 132

4.2.3 Tăng cường về năng lực tổ chức quản lý và đội ngũ cán bộ về BHYT và phối hợp thực hiện 139

4.2.4 Nâng cao điều kiện kinh tế cho người dân 145

4.2.5 Nâng cao nhận thức của người dân về việc tham gia BHYT 148

TÓM TẮT CHƯƠNG 4 153

KẾT LUẬN 154

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 156CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 156

PHỤ LỤC 164

Trang 5

Bảng 1.1 Phân bổ phiếu khảo sát và phỏng vấn tại 3 huyện và 9 xã 21Bảng 1.2 Thang đánh giá Likert 23Bảng 2.1: Kế hoạch chương trình hỗ trợ thẻ BHYT cho nông dân cận nghèo và nghèo tại TP Hồ Chí Minh 57Bảng 3.1: Tình hình tham gia bảo hiểm y tế trên địa bàn thành phố Hà Nội qua các năm 72Bảng 3.2: Tình hình tham gia BHYT tự nguyện của nông dân tại Hà Nội 75Bảng 3.3: Tỷ lệ bao phủ BHYT của nông dân tại Hà Nội 75Bảng 3.4: Tác động của thu nhập đến phạm vi bao phủ BHYT với các nhóm đối tượng nông dân 98Bảng 3.5: Tác động của tính chất ngành nghề đến phạm vi bao phủ bảo hiểm y tế của các hộ 100Bảng 3.6: Tác động đến phạm vi bao phủ BHYT của các hộ theo vùng 101Bảng 3.7: Khái quát tình hình tham gia bảo hiểm y tế của nông dân qua khảo sát 102Bảng 3.8: Đánh giá mức độ đạt được thực tế hiện nay của các yếu tố tác động đến sự tham gia BHYT nông dân 106Bảng 3.9 Thu nhập bình quân nhân khẩu khẩu của các Hộ nông dân trong năm 2014 112Bảng 4.1 Các phương án tăng tỷ lệ tham gia BHYT tự nguyên nông dân Hà Nội đến năm 2025 124

Trang 6

Biểu đồ 3.1: Thu nhập và chi tiêu bình quân của nông dân theo hộ qua điều tra

(2012 – 2014) 94

Biểu đồ 3.2: Tỷ trọng số người đã tham gia BHYT trong tổng số nông dân 97

qua điều tra (2012 – 2014) 97

Hình 1.1 Quy trình nghiên cứu 17

Hình 1.2 Khung nghiên cứu của luận án 18

Hình 3.1: Cơ cấu tổ chức của BHXH Thành phố Hà Nội 71

Hộp 2.1 Cấu thành thu nhập của nông hộ 45

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Tiến tới thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân là quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta

“Đề án thực hiện lộ trình tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân giai đoạn 2012-2015 và 2020”

đã được Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt mục tiêu đến năm 2020 có hơn 80% dân

số tham gia bảo hiểm y tế (Thủ tướng chính phủ 2013)

Để thực hiện mục tiêu trên, Chính phủ đã có các giải pháp chính sách hỗ trợ cụ thể để đối với từng đối tượng người dân để tăng tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế, song để thực hiện được những nội dung, vấn đề lại nằm ở người tham gia BHYT Thực tiễn cho thấy, có rất nhiều lý do ảnh hưởng tới quyết định tham gia BHYT của người dân Một mặt là yếu tố chính sách hỗ trợ, nhưng mặt khác còn liên quan đến chất lượng KCB bằng thẻ BHYT, đến công tác tổ chức và quản lý của cơ quan BHYT, đến điều kiện kinh tế và nhận thức của người dân về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc tham gia BHYT,…

Những năm qua, thành phố Hà Nội đã có nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp nhằm đẩy mạnh sự tham gia BHYT trên địa bàn Cùng với việc ban hành các chính sách hỗ trợ người dân tham gia, thành phố còn có nhiều biện pháp nhằm nâng cao chất lượng KCB bằng thẻ BHYT, tăng cường công tác quản lý và nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ làm công tác BHYT, đẩy mạnh sản xuất, tăng thu nhập cho người dân và đẩy mạnh công tác tuyên truyền về BHYT để người dân tích cực tham gia Tuy nhiên, đến nay, tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế trên địa bàn còn thấp, đặc biệt là người dân khu vực nông thôn, với dân số gần 3,7 triệu người

“Theo báo cáo của Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội, dù số người tham gia bảo hiểm y tế tăng hằng năm, từ năm 2011 đến năm 2015 tăng 12,8% Đến tháng 6 năm

2016, Thành phố Hà Nội đã có 5.549.227 người dân tham gia bảo hiểm xã hội” (Phạm Chính , 2016); so với dân số Hà Nội sơ bộ cuối năm 2015 là 7.216.000 người (Tổng cục Thống kê 2016) thì tỷ lệ bao phủ là 76,9% Trong đó, nhóm tham gia BHYT tự nguyện, BHYT hộ gia đình đạt rất thấp, hiện mới có 334.454 người tham gia Việc mở rộng phạm vi tham gia BHYT trên địa bàn TP Hà Nội để thực hiện mục tiêu của Chính phủ tiến tới BHYT toàn dân phụ thuộc rất lớn vào việc tác động đến đối tượng dân số tham gia BHYT tự nguyện, trước hết là nông dân Vì thế việc nghiên cứu chủ

đề nhân tố tác động đến sự tham gia BHYT nông dân trên địa bàn thành phố Hà Nội là vấn đề có ý nghĩa cấp bách cả về lý luận và thực tiễn

Trang 8

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục tiêu

Luận án đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện các nhân tố nhằm đẩy mạnh sự tham gia BHYT đối với nông dân trên địa bàn thành phố Hà Nội trước mắt đến năm 2020 và định hướng tới năm 2025

2.2 Nhiệm vụ

- Nghiên cứu làm rõ nội dung, vai trò về bảo hiểm y tế đối với nông dân; Xây dựng khung lý thuyết về mối quan hệ giữa (1) Chính sách BHYT của Nhà nước (ii) chất lượng của các hoạt động điều trị bệnh khi sử dụng thẻ BHYT (iii) thu nhập và nhận thức của nông dân về ích lợi khi tham gia BHYT (iv) tổ chức và năng lực quản lý của tổ chức BHYT với sự tham gia của nông dân vào hệ thống BHYT; Nghiên cứu kinh nghiệm trong nước và thế giới trong việc tạo lập các nhân tố để mở rộng sự tham gia BHYT

- Trên cơ sở khái quát đặc điểm kinh tế xã hội và tình hình tham gia BHYT nông dân trên địa bàn thành phố Hà Nội, luận án phân tích, đánh giá thực trạng các nhân tố tác động tới sự tham gia BHYT và sự tác động của các nhân tố này tới sự tham gia BHYT của nông dân trên địa bàn thành phố Hà Nội Chỉ ra những thành tựu, hạn chế

và nguyên nhân hạn chế của các nhân tố này

- Khuyến nghị về phương hướng và các giải pháp chủ yếu hoàn thiện các nhân tố tác động đến sự tham gia BHYT nhằm thúc đẩy sự tham gia của nông dân vào hệ thống BHYT trên địa bàn ngoại thành Hà Nội đến năm 2020 định hướng tới năm 2025

3 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Là các nhân tố tác động đến sự tham gia BHYT của

nông dân

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về nội dung: Các nhân tố tác động được đề cập đến bao gồm 4 nhóm

nhân tố (i) Chính sách của Nhà nước (ii) chất lượng của các hoạt động điều trị bệnh khi sử dụng thẻ BHYT (iii) điều kiện kinh tế và nhận thức của người dân về ích lợi khi tham gia BHYT và (iv) năng lực tổ chức quản lý và đội ngũ cán bộ có liên quan đến BHYT

Sự tham gia BHYT được thể hiện ở mức độ bao phủ BHYT đối với nông dân

Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu trên địa bàn thành phố Hà Nội, trực

tiếp lựa chọn ở một số huyện ngoại thành

Trang 9

Phạm vi về thời gian: Dữ liệu nghiên cứu của đề tài là các số liệu sơ cấp và thứ

cấp liên quan đến thực trạng tham gia bảo hiểm y tế của nông dân Thành phố Hà Nội giai đoạn 2009-2014, đề xuất hoàn thiện đến năm 2020

4 Những đóng góp chủ yếu của luận án

Về mặt lý luận: Luận án đã góp phần hệ thống hóa và xây dựng những vấn đề

lý luận cơ bản về nhân tố tác động tới sự tham gia bảo hiểm y tế của nông dân trên cơ

sở nghiên cứu những công trình nghiên cứu có liên quan tới đề tài

Về thực tiễn, luận án nghiên cứu tình hình tham gia BHYT của nông dân trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay, luận án đã chỉ ra sự bất cập của 5 nhân tố tác động đến sự tham gia BHYT của nông dân đó là i) Các chính sách hỗ trợ của Nhà nước về việc tham gia BHYT nông dân được ban hành và bổ sung nhưng vẫn còn thấp so với yêu cầu và việc thực hiện chưa thực sự hiệu quả; ii) Chất lượng hoạt động khám chữa bệnh (KCB) bằng thẻ BHYT chưa cao, sự hài lòng của nông dân tham gia BHYT còn rất thấp; iii) Công tác tổ chức quản lý và năng lực đội ngũ cán bộ và sự phối hợp trong quản lý BHYT trên địa bàn Thành phố chưa theo kịp yêu cầu; iv) Thu nhập của nông dân còn thấp; và v) Nhận thức, hiểu biết hết về chính sách BHYT còn thấp

Để đến năm 2020 trên địa bàn Thành phố có 37,59% và đến năm 2025 có 64,59% nông dân tham gia BHYT luận án đề xuất với thành phố Hà Nội i) Nâng mức

hỗ trợ tham gia bảo hiểm y tế cho đối tượng cận nghèo và trung bình; cải cách chính sách BHYT theo hướng công bằng và thống nhất; tăng cường huy động các nguồn lực tài chính để hỗ trợ cho nông dân khó khăn trong tham gia BHYT; ii) Tăng cường chất lượng khám chữa bệnh của các cơ sở KCB, trước hết là xóa bỏ sự phân biệt giữa người

có thẻ BHYT và người bệnh không dùng thẻ BHYT khi KCB; “chuyển hình thức cấp ngân sách Nhà nước từ cấp cho cơ sở cung ứng dịch vụ sang cấp trực tiếp cho đối tượng thụ hưởng dịch vụ y tế thông qua hình thức BHYT”; khắc phục tình trạng phân biệt cơ sở KCB tư và công trong thực hiện chính sách BHYT; iii) Tăng cường năng lực tổ chức quản lý; tăng cường chất lượng công tác giám định BHYT; nâng cao chất lượng, tinh thần trách nhiệm và tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ BHYT; tăng cường phối hợp giữa BHYT với các đơn vị trong thanh tra kiểm tra thực hiện chính sách BHYT; thực hiện áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý; iv) Nâng cao điều kiện kinh tế cho người nông dân; và v) tăng cường truyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của người dân về việc tham gia BHYT

Trang 10

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ THAM GIA BẢO HIỂM Y TẾ CỦA NÔNG DÂN

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến chủ đề luận án

1.1.1 Những công trình nghiên cứu ngoài nước

Bảo hiểm y tế là một trong những chính sách an sinh xã hội quan trọng do vậy đây là vấn đề được rất nhiều học giả trên thế giới quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, trên thực tế hầu hết các tác giả mới chỉ dừng lại nghiên cứu về hệ thống bảo hiểm y tế của các quốc gia trên thế giới, các thành công của các quốc gia này trong việc triển khai BHYT toàn dân Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau đây:

Thomas G.McGuire (2012), “Handbook of Health Economics”, đã đưa ra những hiểu biết tổng quan về hệ thống y tế và lựa chọn về bảo hiểm y tế Tác giả đã đưa ra những phân tích, so sánh liên quan đến cấu trúc, sự phát triển của BHYT ở Mỹ, các quốc gia có thu nhập cao và những nước có thu nhập trung bình Nghiên cứu này chỉ

ra, những ảnh hưởng từ phía cung và cầu đến sự phát triển của hệ thống BHYT cũng như phương thức xác định phí tham gia BHYT

Fiocca và Hey (1989) Trong bài báo “The demand for Italian health insurance”

đã chỉ ra rằng cũng giống như hầu hết các quốc gia khác, hệ thống chăm sóc sức khỏe

y tế ở Italia có sự cùng hoạt động của khu vực công và khu vực tư, đặc biệt là sự phát triển của hệ thống BHYT tư nhân Chính vì vậy, người dân có thể lựa chọn các loại hình bảo hiểm với các mức độ khác nhau Tuy nhiên khác với vương quốc Anh, BHYT tư nhân là tương đối linh hoạt trong chi trả chi phí phẫu thuật và chi phí y tế Còn ở Italia thì người ta nhận thấy rằng họ buộc phải lựa chọn bảo hiểm y tế do khu vực công khi họ không đủ khả năng tham gia BHYT do khu vực tư nhân cung ứng Nghiên cứu này đưa ra một câu hỏi là tại sao các cá nhân lại lựa chọn mua bảo hiểm y

tế khi những chăm sóc y tế được cung cấp miễn phí bởi các bệnh viện công Nói cách khác tại sao lại sự phát triển của BHYT tư nhân ngày càng gia tăng khi mà hệ thống y

tế quốc gia đang tồn tại Lý giải cho vấn đề này Fiocca và Hey cho rằng người dân Italia đang cảm thấy không hài lòng đối với hệ thống chăm sóc y tế quốc gia và cảm thấy nghi ngờ với chất lượng chăm sóc y tế của hệ thống này

Yuyu Chen và Zhe Jin (2012), bài viết “Does health insurance coverage lead to better health and educational outcomes? Evidence from rural China” chỉ ra các mối quan hệ giữa tác động của BHYT đối với tình trạng sức khỏe, tình trạng tử vong của

Trang 11

bà mẹ, và trẻ em, năng suất lao động, khả năng cho con theo học và tiết kiệm tài chính

từ điều trị y tế của các gia đình sở hữu thẻ bảo hiểm y tế Và thông qua số liệu điều tra

ở khu vực nông thôn Trung Quốc, khi so sánh những đầu ra kể trên giữa hai nhóm hộ

có bảo hiểm y tế và nhóm hộ không sử dụng loại thẻ này thì kết quả những hiệu ứng tích cực được chỉ ra từ nhóm các hộ sử hữu thẻ bảo hiểm y tế Mặc dù vậy, kết quả nghiên cứu này cũng cho rằng đối với người dân nông thôn sở hữu thẻ bảo hiểm y tế thì nếu muốn có những điều trị tốt hơn thì họ phải tự bỏ tiền túi ra để hưởng những điều trị này

Kondo và Shigeoka (2013) trong bài viết “Effects of universal health insurance on health care utilization, and supply-side responses: Evidence from Japan” trên tạp chí Journal of Public Economics 99, (2013) Trong bài viết này, tác giả chỉ ra BHYT toàn dân làm cho tình trạng chăm sóc sức khỏe của đối tượng thụ hưởng tăng lên đáng kể thông qua việc người dân đến các cơ sở y tế để khám và điều trị bệnh nhiều hơn Để giải quyết được tốt nhiệm vụ đặt ra từ BHYT toàn dân, nghiên cứu này cho rằng các quốc gia muốn thực hiện BHYT toàn dân phải chuẩn bị nguồn lực tài chính thỏa đáng để trang trải các chi phí điều trị cho cả ngắn hạn và dài hạn Đây cũng là điều mà GERTLER (1994) trong bài viết “On the Road to Social Health Insurance: the Asian Experience” (con đường tới bảo hiểm y tế xã hội: kinh nghiệm của châu Á) trên tạp chí World Development Vol 26, No 4, đề cập đến Tác giả cho rằng để khắc phục những khó khăn về tài chính trong chăm sóc y tế rất nhiều quốc gia đang phát triển

và những nước có thu nhập trung bình thực hiện BHYT bắt buộc Tuy nhiên, việc thực hiện BHYT toàn dân là điều chỉ có thể làm được ở những quốc gia có thu nhập cao như Nhật bản, Singapore, Hàn Quốc và Đài Loan

Takakazu Yamagishi (1992) trong cuốn : “War and Health Insurance Policy in Japan and the United States: World War II ” đã trình bày tương đối rõ ràng về những thay đổi trong chính sách BHYT ở Hoa Kỳ và Nhật Bản kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai

Reka Sundaram-Stukel and Steven Deller (2010) trong nghiên cứu: “Farmer Health Insurance Cooperatives: An Innovative Solution for Other Americans?” đã nghiên cứu, chỉ ra những tồn tại trong chính sách BHYT nông dân của Hoa Kỳ Một trong những vấn đề đặt ra với nông dân là chi phí BHYT khá cao Để giải quyết hạn chế này, các tác giả gợi ý người dân có thể tổ chức các hợp tác xã BHYT nhằm mua BHYT theo nhóm, giảm chi phí

Sarosh Kuruvilla Cornell University, Liu Cornell University, (2007): “Health

Trang 12

Security for the Rural Poor? A Case Study of a Health Insurance Scheme for Rural Farmers and Peasants in India” Đây là một nghiên cứu trường hợp của một sự đổi mới quan trọng trong việc cung cấp chăm sóc sức khỏe cho người nghèo nông thôn được thực hiện qua Đề án bảo hiểm y tế cho người dân nông thôn và nông dân ở Karnataka, Ấn Độ Ở đây đã bắt đầu thực hiện BHYT cho người nghèo nông thôn, chương trình này được bắt đầu vào năm 2003 Đề án thiết kế theo những cách khắc phục những thách thức để cung cấp an toàn sức khỏe cho người dân nông thôn, chương trình bảo hiểm Trên cơ sở này, tác giả xây dựng một mô hình cho các nước đang phát triển nói chung

Tetsuo Fukawa (2002), “Public Health Insurance in Japan” Trong đó, tác giả cho biết hầu hết các dịch vụ y tế tại Nhật Bản được cung cấp thông qua hệ thống BHYT công cộng, trong đó bao gồm các toàn dân Mặc dù khu vực tư nhân đã thành lập một cơ sở hạ tầng quan trọng mang dịch vụ y tế và duy trì sức khỏe cộng đồng, vai trò của nó là tương đối nhỏ về tài chính y tế Khi xem xét vấn đề này trong bài viết này, phần đầu bài viết mô tả lịch sử của hệ thống BHYT và các vấn đề Nhật Bản

đã phải đối mặt với quá trình phát triển của hệ thống, phần tiếp theo mô tả hệ thống BHYT hiện tại, khám phá BHYT Nhật Bản từ góc độ so sánh giữa hiện tại với các vấn đề có thể xảy ra trong tương lai và những bài học có thể rút ra từ kinh nghiệm của Nhật Bản cho đến nay

Song Gao and Xiangyi Meng, (2004), “Health and Rural Cooperative Medical Insurance in China: An empirical analysis” Theo nghiên cứu này, Trung Quốc từ bỏ

hệ thống chăm sóc y tế toàn miễn phí và tư nhân kể từ năm 1980 Hậu quả trực tiếp là nhiều người mất khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe, đặc biệt là những người không lao động tại các tổ chức, bao gồm cả nông dân ở nông thôn Trung Quốc, do đó giảm đáng kể sử dụng dịch vụ chăm sóc y tế của họ Một làn sóng mới của y tế hợp tác nông thôn bảo hiểm lần đầu tiên được quảng bá tại các khu vực được lựa chọn trong năm 2003 và từ đó đã nhân rộng cho cả đất nước Mục tiêu cuối cùng là để người dân

ở tất cả các vùng nông thôn khu vực được tiếp cận với dịch vụ y tế vào năm 2010 Nhờ vậy, bảo hiểm y tế có tác động tích cực đáng kể về cá nhân tình trạng sức khỏe, thậm chí trong thời gian chăm sóc sức khỏe tư nhân

1.1.2 Những công trình nghiên cứu trong nước

Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 22/11/2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế giai đoạn 2012 – 2020, đã chỉ rõ BHYT toàn dân là mục tiêu quan trọng của nước ta nhằm hướng tới xã hội hóa y tế, nâng cao chất lượng KCB

Trang 13

Bảo hiểm xã hội Việt Nam, “Đề án thực hiện lộ trình tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân giai đoạn 2012 - 2015 và 2020 Theo đề án này, nước ta sẽ gia tăng tỷ lệ bao phủ BHYT toàn dân Một trong các giải pháp của Đề án là tăng tỷ lệ bảo hiểm y tế, trong

đó, đối với các nhóm đối tượng đã đạt tỷ lệ bao phủ trên 90% thì tiếp tục duy trì tỷ lệ bao phủ và các giải pháp nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, tăng cường tiếp cận các dịch vụ y tế đồng thời tiếp tục thực hiện các giải pháp tuyên truyền chính sách, pháp luật về bảo hiểm y tế Đối với một số nhóm đối tượng có tỷ lệ tham gia bảo hiểm

y tế thấp, cùng với giải pháp chung (như tăng cường công tác tuyên truyền chính sách, pháp luật về bảo hiểm y tế, vận động tham gia, tăng cường tính hấp dẫn của bảo hiểm

y tế), kết hợp với những giải pháp cụ thể phù hợp với từng nhóm đối tượng Cùng với việc tăng tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế, Đề án cũng đưa ra giải pháp nâng cao chất lượng

và đáp ứng nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế, cải cách thủ tục hành chính, nâng cao tinh thần, thái độ, đạo đức nghề nghiệp để bảo đảm chất lượng phục vụ và sự hài lòng của người bệnh có thẻ bảo hiểm y tế ở cả hệ thống cơ sở khám chữa bệnh nhà nước và tư nhân.” (Bảo hiểm xã hội Việt Nam, 2014)

Nguyễn Hoài Nam, Trường Đại học y dược Thành phố Hồ Chí Minh có bài viết

“Phải xã hội hóa nền y tế mới phát triển”, đăng trên VietNamNet, tháng 3 năm 2006 Bài viết đề cập đến một số vấn đề về tư tưởng người dân về xã hội hóa y tế, đa dạng hóa bảo hiểm y tế, và chủ trương biến ngành y tế dịch vụ thành thế mạnh

Nguyễn Thị Kim Chúc (2007) trong quyển sách “Kinh tế y tế và Bảo hiểm y tế”

của Nhà xuất Y học đã đưa ra các khái niệm về y tế, kinh tế y tế và BHYT Tác giả đã chỉ ra các loại hình của bảo hiểm y tế, các bên tham gia cung ứng BHYT và phương thức tính phí BHYT ở Việt Nam

Mai Ngọc Anh (2010) trong quyển sách “An sinh xã hội đối với nông dân trong nền

hình thành và phát triển bảo hiểm y tế tự nguyện cho các đối tượng ngoài khu vực chính thức ở Việt Nam từ năm 1992-2007 Trong tác phẩm này tác giả cũng đã đưa ra các đề xuất

về hỗ trợ tài chính để tăng mức độ bao phủ của bảo hiểm y tế đối với nhóm đối tượng ngoài khu vực phi chính thức đến năm 2020 như là một nhân tố quan trọng để nhóm dân cư khu vực phi chính thức tham gia BHYT Theo quan điểm của tác giả, từ năm 2010 Chính phủ nên khuyến khích người dân tích cực tham gia vào hệ thống BHYT tự nguyện thông qua việc trợ giúp tối thiểu 40% kinh phí mua thẻ, điều này tạo cơ hội cho người dân nhận thức được lợi ích từ việc sử dụng thẻ BHYT tự nguyện, tạo tiền đề tích cực cho việc thực hiện BHYT toàn dân vào năm 2014 Để đơn giản hóa mức tính phí BHYT tự nguyện, tác giả khuyến nghị Nhà nước nên dùng mức lương tối thiểu làm căn cứ tính phí BHYT tự nguyện Mức phí BHYT tự nguyện 1 tháng bằng 4,5% mức tiền lương tối thiểu, và người đóng

Trang 14

BHYT mua thẻ BHYT theo năm dưới dự hỗ trợ 40% phí mua thẻ từ NSNN

Mai Ngọc Cường (2012): “Một số vấn đề về an sinh xã hội ở Việt Nam giai đoạn

quát về số đối tượng tham gia vào các loại hình BHYT của Việt Nam (BHYT bắt buộc cho khu vực chính thức, BHYT tự nguyện cho nhóm đối tượng ngoài khu vực chính thức và BHYT bắt buộc dành cho nhóm người nghèo) từ năm 1995 đến 2011 Tác giả của quyển sách cho rằng, trong thời gian qua, đối tượng tham gia BHYT mặc dù tăng qua từng năm, nhưng còn một số doanh nghiệp chưa tham gia BHYT hoặc tham không đầy đủ nhất là các doanh nghiệp tư nhân mới được thành lập Một số địa phương chưa nghiêm túc trong việc lập danh sách tham gia BHYT đối với trẻ em dưới 6 tuổi; đối tượng tự nguyện nhân dân tham gia đạt tỷ lệ thấp Đến nay, số người tham gia BHYT chỉ đạt gần 62% dân số, do đó sẽ rất khó khăn để đạt mục tiêu BHYT toàn dân vào năm

2014 Phạm vi bao phủ BHYTTN đối với nông dân, người lao động khu vực phi chính thức vẫn còn thấp Mặc dù các hộ cận nghèo đã được nhà nước hỗ trợ kinh phí tham gia BHYTTN tới 50% mức kinh phí và nhiều địa phương hỗ trợ đến 30% kinh phí nữa, nhưng sự tham gia của người lao động vào BHYTTN vẫn còn khó khăn, tỷ lệ thấp Đây vẫn là vẫn đề thách thức của quyết tâm thực hiện BHYT toàn dân vào năm 2014 Chất lượng phục vụ, cung cấp các dịch vụ y tế của các cơ sở y tế còn yếu, chưa đáp ứng yêu cầu, nhất là tại tuyến y tế cơ sở, trong khi đó tuyến trên cơ sở số bệnh nhân đến khám chữa bệnh lớn dẫn đến sự quá tải

Nguyễn Doãn Hoàn và Lê Minh Tuyến (2013) trong bài viết “Cơ chế chính sách

Kinh tế và Phát triển đã nhấn mạnh: “Trong những năm đổi mới vừa qua, ngành y tế

Hà Nội đã có bước phát triển mạnh mẽ, đã và đang là một trong những trung tâm y tế quan trọng của đất nước, nơi có số lượng lớn bệnh viện nhiều cấp, có đội ngũ cán bộ, chuyên gia y dược có trình độ và tay nghề cao với các cơ sở và phương tiện chữa bệnh hiện đại Cùng với hệ thống bệnh viện Trung ương, Bộ, Ngành, các cơ sở y tế của Thành phố ngày càng đáp ứng tốt hơn trong việc chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho nhân dân Hà Nội và cả nước Tuy nhiên, sự phát triển của hệ thống y tế trên địa bàn Thủ đô cũng đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức, mà một trong những nguyên nhân là do cơ chế chính sách y tế trên địa bàn còn nhiều bất cập Bài viết này khái quát một số vấn đề về chính sách đầu tư tài chính, chính sách bảo hiểm y tế và cơ chế tự chủ tài chính ở các đơn vị cơ sở y tế công lập trong khám chữa bệnh, chỉ ra những điểm được và những bất cập mà ngành y tế Hà Nội cần quan tâm giải quyết

Trang 15

trong những năm tới”

Lê Minh Tuyến, Mai Ngọc Anh (2013) trong bài viết “Những bất cập từ cơ chế,

chính sách thực hiện bảo hiểm y tế và một số khuyến nghị để thực hiện mục tiêu bảo

dân vào năm 2014 của Việt Nam đang đứng trước những thách thức nhất định do mức

độ bao phủ của BHYT hiện nay mới đạt khoảng 60% dân số Chính vì vậy việc đi vào phân tích những nguyên nhân về cơ chế chính sách trong thực hiện BHYT hiện nay là cần thiết để tìm ra những hạn chế để có thể đưa ra những khuyến nghị nhằm mở rộng phạm vi bao phủ của BHYT và thực hiện được mục tiêu BHYT toàn dân”

Chu Thị Kim Loan và Nguyễn Hồng Ban (2013) trong bài “Thực trạng tham gia

ở 4 xã phường của Thành phố Hà Tĩnh giữ năm 2012 đa rút ra một số nhận xét rằng,

số lượng người tham gia BHYT tự nguyện có xu hướng tăng lên nhưng vẫn chiếm một

tỷ lệ khiêm tốn trong tổng số người tham gia BHYT; tỷ lệ người sử dụng thẻ BHYT để khám chữa bệnh là khá cao; Người dân vẫn gặp những phiền hà khi KCB bằng thẻ BHYT tự nguyện, đặc biệt là phải chờ đợi lâu, nhân viên y tế chưa nhiệt tình Kết hợp với ý kiến người được phỏng vấn, nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp để thúc đẩy người dân tham gia BHYT tự nguyện tại thành phố Hà Tĩnh như: Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật về BHYT tự nguyện; nâng cao chất lượng KCB; Giáo dục y đức và năng cao tinh thần phục vụ người bện của nhân viên y tế; giảm thủ tục hành chính phiền hà về KCB BHYT

Nguyễn Thị Hải Đường, Nguyễn Thị Chính (2016) trong bài viết về “Bảo hiểm

đánh giá kết quả thực hiện chính sách BHYT toàn dân trong tổng thể chương trình Chăm sóc sức khỏe toàn dân tính đến thời điểm hiện tại: sự gia tăng về mức độ bao phủ BHYT, gia tăng về qui mô quỹ BHYT, tác động của BHYT đối với vấn đề nghèo hóa do các khoản chi phí y tế mang tính thảm họa tại Việt Nam Các hạn chế của chính sách BHYT được nêu ra trong bài viết như thiếu yếu tố cạnh tranh trong cung cấp dịch vụ BHYT nhà nước, phạm vi bảo hiểm chưa linh hoạt Dựa trên cơ sở thực hiện BHYT tại một số nước tiên tiến và các nước trong khu vực, đề xuất mô hình BHYT đa tầng với nhiều nhà cung cấp, phạm vi bảo hiểm nhiều lớp nhằm khắc phục các hạn chế của mô hình BHYT của Việt Nam

Nguyễn Văn Phúc, Cao Việt Cường (2014) trong bài “Thông tin bất cân xứng,

lựa chọn ngược và rủi ro đạo đức: Nghiên cứu trường hợp mua và sử dụng thẻ bảo

Trang 16

hiểm y tế tự nguyện trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”, tác giả đã “nghiên cứu sự ảnh hưởng của thông tin bất cân xứng đến việc mua và sử dụng thẻ bảo hiểm y tế tự nguyện của người dân dựa trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh Qua chạy mô hình hồi qui dựa trên cơ sở số liệu điều tra 372 người dân trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, kết quả cho thấy thông tin bất cân xứng gây hai tác động là lựa chọn ngược (adverse selection) và rủi ro đạo đức (moral hazard) trong việc mua và sử dụng thẻ bảo hiểm y tế tự nguyện Cụ thể là, đối với lựa chọn ngược, đa số những người dân mua bảo hiểm y tế tự nguyện là những người có tình trạng sức khỏe không tốt; đối với rủi

ro đạo đức là người dân có thẻ bảo hiểm y tế tự nguyện đi khám bệnh nhiều hơn so với những người có thẻ bảo hiểm y tế khác hay không có thẻ bảo hiểm y tế Hệ quả của các vấn đề trên là làm cho quỹ bảo hiểm y tế bội chi, làm cho các bệnh viện quá tải dẫn đến chất lượng của việc khám chữa bệnh bằng thẻ bảo hiểm y tế chưa cao Kiến nghị rút ra là cần phân luồng đối tượng tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện, từ đó xác định mức phí mua bảo hiểm y tế tự nguyện theo tình trạng sức khỏe để khắc phục tình trạng lựa chọn ngược Để khắc phục tình trạng rủi ro đạo đức, cần tăng mức đồng chi trả trong thanh toán phí khám chữa bệnh của người tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện, tránh tình trạng lạm dụng khám chữa bệnh quá mức cần thiết sau khi đã có bảo hiểm y

tế tự nguyện”

Nguyễn Thị Minh, Hoàng Bích Phương, Đỗ Thị Minh Thúy, Nguyễn Phương

Lan (2014) trong bài viết về “Dự báo nhu cầu khám chữa bệnh của người dân Việt

trong bối cảnh hệ thống khám chữa bệnh tại Việt Nam còn nhiều vấn đề, Chính phủ đã phê duyệt đề án “Giảm quá tải bệnh viện 2013-2020” nhằm cải thiện chất lượng dịch

vụ khám chữa bệnh Bài viết này đưa ra con số dự báo về cầu dịch vụ y tế để từ đó có thể xây dựng được kế hoạch phù hợp về phía cung Chúng tôi sử dụng mô hình Poisson để tính toán tác động của các yếu tố lên cầu về khám chữa bệnh ngoại trú, trong đó quan tâm đến hình thức bảo hiểm y tế, từ đó đưa ra các dự báo cho tương lai, khi mà cơ cấu BHYT thay đổi

Nguyễn Thị Minh, Hoàng Bích Phương (2012) trong bài “Rủi ro đạo đức trong

rằng, để có thể xây dựng được một hệ thống chính sách BHYT hoạt động hiệu quả và bền vững cần tính toán đến vấn đề rủi ro đạo đức – là một vấn đề có thể gây ra những tác hại đáng kể làm giảm tính hiệu quả của hoạt động BHYT Bài viết này nghiên cứu mức độ rủi ro đạo đức trong BHYT tự nguyện tại Việt Nam Phương pháp PSM được

sử dụng cho bộ số liệu 2008-2010 Kết quả cho thấy rủi ro đạo đức khá phổ biến trong

Trang 17

BHYT tự nguyện và mức độ nghiêm trọng gia tăng theo nhóm tuổi

Đặng Thị Lệ Xuân (2012) trong bài viết về “Chính sách y tế và chăm sóc bảo vệ

coi là một trong 5 chính sách xã hội cơ bản hướng tới các mục tiêu công bằng, phúc lợi

và hòa nhập xã hội Bài viết hướng tới việc phân tích thực trạng chính sách y tế trong việc đạt được các mục tiêu trên và đề ra một số giải pháp cơ bản cho việc đạt được các mục tiêu đó

Vũ Ngọc Huyền và Nguyễn Văn Song (2014), “Thực trạng tham gia BHYT tự

Phát triển 2014, tập 12, số 6: 853-861 “Trong nghiên cứu của mình, các tác giả đã tiến hành khảo sát 550 nông dân trên địa bàn tỉnh Thái Bình Kết quả điều tra thấy rằng số lượng nông dân tham gia ngày càng tăng, nhưng tốc độ tăng tương đối chậm Hầu hết nông dân (chiếm 92,18%) cho rằng, đây là chính sách rất cần thiết với họ; Mặc dù vậy,

tỷ lệ nông dân không có nhu cầu tham gia còn khá cao (dao động từ 7-31%) do nhiều

lý do Tại thành phố Thái Bình, nơi có tỷ lệ nông dân không có nhu cầu tham gia BHYT tự nguyện cao nhất (khoảng 31%), những lý do chính mà các tác giả thu thập được là: (1) Không có thói quen đi KCB (chiếm 80%); (2) Do thủ tục hành chính rườm

rà (chiếm 75%); (3) Do mức đóng BHYT cao (chiếm 65%) và (4) Thu nhập thấp (chiếm 55%) Dựa trên kết quả nghiên cứu và phân tích, bốn (4) giải pháp cơ bản đã được đề xuất nhằm tăng cường sự tham gia BHYT tự nguyện của nông dân.”

Lê Ngọc Quỳnh (2012), “Thực trạng tham gia BHYT nông dân thị xã Sơn Tây”,

Hà Nội năm 2012 và một số yếu tố liên quan, luận văn thạc sỹ trường Đại học Y tế Công cộng Trong nghiên cứu của mình tác giả đã nghiên cứu BHYT nông dân tại một số quốc gia trên thế giới cũng như chính sách BHYT nông dân ở Việt Nam hiện nay cũng như thực trạng khám chữa bệnh bằng BHYT tự nguyện Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, tiến hành phỏng vấn chuyên sâu với cán bộ UBND Thị xã Sơn Tây về thực thi các chính sách BHYT nông dân trên địa bàn, phát phiếu điều tra phỏng vấn nông dân của thị xã về nhận thức của họ về BHYT, thái độ, niềm tin, mức đóng, mức hưởng và truyền thông về BHYT nông dân Trên cơ sở này, tác giả khuyến nghị một số giải pháp nhằm gia tăng mức độ bao phủ của nhóm đối tượng nông dân về BHYT

Vũ Ngọc Huyền (2017), “Nghiên cứu nhu cầu tham gia bảo hiểm y tế của nông

tác giả đã nghiên cứu làm rõ các cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về cầu, nhu cầu; các

Trang 18

khái niệm BHYT, các chính sách, nghiên cứu liên quan tới nhu cầu tham gia BHYT Luận án đã sử dụng kỹ thuật điều tra phỏng vấn mở trực tiếp người nông dân, cộng đồng dân cư về sự thay đổi của chất lượng hàng hóa, dịch vụ đến sở thích của người được phỏng vấn Luận án đã dành một phần nội dung quan trọng để phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới nhu cầu tham gia BHYT của nông dân tỉnh Thái Bình, bao gồm các nhân tố ảnh hưởng là: độ tuổi, trình độ học vấn, mức độ hiểu biết Ở mỗi nhóm tuổi, thu nhập khác nhau thì quyết định tham gia BHYT cũng khác nhau Ngoài ra, còn nhiều nguyên nhân khác nữa tác động xuất phát từ những tồn tại của công tác KCB bằng thẻ BHYT như: chất lượng phục vụ chưa tốt, thủ tục KCB còn rườm rà, chất lượng tốt không tốt và không có nhiều thuốc đặc trị Kết quả Luận án chỉ ra rằng, để giải quyết những nguyên nhân ảnh hưởng đến nhu cầu tham gia BHYT và thu hút người nông dân tham gia BHYT thì cần nâng cao chất lượng phục

vụ, nâng cấp CSVC kỹ thuật phục vụ người khám chữa bệnh BHYT, sử dụng danh mục thuốc linh hoạt và theo quy định của Nhà nước; tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ đảng, chính quyền, nâng cao chất lượng hoạt động của Ban chỉ đạo chăm sóc sức khỏe nhân dân; cần có các biện pháp tuyên truyền, nâng cao nhận thức của nông dân về tầm quan trọng cũng như tính nhân văn của chính sách BHYT Bên cạnh đó, Nhà nước cũng như tỉnh Thái Bình cần đầu tư phát triển chính sách kinh tế

xã hội khác như: xóa đói giảm nghèo, chương trình vay vốn để phát triển kinh tế, áp dụng khoa học kỹ thuật, phát triển các ngành, nghề trên địa bàn các xã, huyện và tỉnh

để từ đó nâng cao mức sống, thu nhập, nhận thức của người dân Đó là vấn đề mấu chốt để tiến hành BHYT cho toàn dân Mặc dù, trong luận án đã nghiên cứu các nhân

tố tác động tới ý định tham gia BHYT của nông dân nhưng luận án mới chỉ đi sâu đánh giá 3 nhân tố ảnh hưởng là độ tuổi, trình độ học vấn và ý thức của người nông dân Do đó, nhận định các nhân tố ảnh hưởng còn chưa đầy đủ và đánh giá chưa chi tiết về tác động của các nhân tố này

Đông Thị Hồng (2015), “Đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn Thành phố Hà

nghiên cứu đảm bảo ASXH với các trụ cột chính: bảo hiểm xã hội (BHXH), thị trường lao động (TTLĐ) và trợ giúp xã hội (TGXH), XĐGN Luận án đi sâu nghiên cứu các điều kiện đảm bảo ASXH trên địa bàn TP Hà Nội trên ba trụ cột chính nêu trên và tập trung nghiên cứu về: cơ chế, chính sách, nguồn lực tài chính và nguồn lực con người… góp phần đảm bảo ASXH trên địa bàn TP Hà Nội Đối tượng thụ hưởng ASXH là dân

cư trên địa bàn TP Hà Nội; những tác động của cơ chế, chính sách đến đảm bảo ASXH, đặc biệt là các chính sách về ASXH như bảo hiểm y tế (BHYT), BHXH, giáo

Trang 19

dục - đào tạo, giải quyết việc làm (GQVL), đất đai…”

Lê Thị Luyên (2014), “Thực trạng và các yếu tố tác động đến việc tham gia bảo

Khoa học xã hội và nhân văn” Luận án đã làm rõ các yếu tố như yếu tố kinh tế; Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh gồm: trình độ tay nghề bác sỹ, thái độ phục vụ của cán

bộ y tế, chất lượng thuốc được cấp theo thẻ BHYT, số lượng thuốc được cấp theo thẻ BHYT, chất lượng dịch vụ kỹ thuật KCB theo thẻ BHYT; Chính sách BHYT; Điều kiện địa lý, dân tộc Các yếu tố khác như nguồn nước, nghề nghiệp, cơ sở vật chất của

cơ sở khám chữa bệnh tác động như thế nào đến việc tham gia BHYT của người dân tại xã Hua La Nghiên cứu sử dụng dữ liệu định lượng được xử lý từ 175 phiếu trưng cầu của người dân Hua La trong dề tài cấp Nhà nước do “Trường Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn” tổ chức chủ trì về “Định hướng hoàn thiện chính sách an sinh xã hội và phúc lợi xã hội ở nước ta trong điều kiện mới” tiến hành trong vòng 3 năm (10/2012 – 9/2015) do PGS.TS Nguyễn Hồi Loan làm chủ trì đề tài

Vũ Khắc Lương (2005) “Khảo sát mô hình BHYT nông dân tại huyện Sóc Sơn”,

Luận án tiến sỹ, Đại học Y Hà Nội đã làm rõ mô hình BHYT tự nguyện đối với nông dân của Việt Nam Tác giả cũng khảo sát, đánh giá thực trạng tham gia BHYT đối với nông dân huyện Sóc Sơn Bằng các thiết kế bảng hỏi dành cho nhóm đối tượng được khảo sát là nông dân trên địa bàn huyện Sóc Sơn nhằm đánh giá những rào cản khiến

họ chưa tham gia BHYT, tác giả đã phần nào chỉ ra những nhân tố tác động tới việc tham gia BHYT của nông dân Tuy nhiên, các giải pháp chủ yếu mà luận án đưa ra mới chỉ tập trung nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực,…

Lương Ngọc Khuê (2004) về “Nghiên cứu thực trạng và giải pháp hoàn thiện mô

hình khám chữa bệnh BHYT tại trạm y tế xã Phù Linh và Đức Hòa” Luận án tiến sỹ,

chính quyền trong tổ chức công tác khám chữa bệnh BHYT tại các trạm y tế được khảo sát Trên cơ sở này, tác giả đánh giá những kết quả, tồn tại, các yếu tố ảnh hưởng

và những thách thức đối với cơ sở y tế trong quá trình thực hiện nhiệm vụ khám chữa

bệnh cho người có thẻ BHYT

Nguyễn Quang Lộc (2014), “Thực trạng và giải pháp thực hiện chính sách bảo

sỹ, Trường Đại học Thái Nguyên Nội dung của luận văn tác giả cũng đã dùng một phần để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng tham gia BHYT tự nguyện của

Trang 20

các hộ nông dân trên địa bàn huyện Phổ Yên Bằng phương pháp điều tra khảo sát qua bảng hỏi, tác giả phát hiện, đánh giá các nhân tố tác động bao gồm: nhu cầu tham gia BHYT, khả năng tài chính, trình độ học vấn, khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế Nguyễn Thị Thanh, Trần Thị Mai Oanh, Khương Anh Tuấn, Nguyễn Phương

Hạnh (2006), “Nghiên cứu thực trạng BHYT nông dân tại Hải phòng và Thái bình”,

Viện Chiến lược và chính sách y tế Các tác giả đã “nghiên cứu thực trạng và những bài học kinh nghiệm từ việc triển khai BHYTTNND ở một số địa phương (cụ thể là Hải Phòng và Thái Bình); làm cơ sở đề xuất giải pháp nhằm tăng cường khả năng để người dân sống ở nông thôn có thể tham gia BHYT Các tác giả đã chỉ ra rằng, số lượng nông dân tham gia BHYT tăng nhưng chậm và chưa bền vững Nhiều nguyên nhân dẫn đến không bền vững như: chưa có sự hỗ trợ từ Nhà nước; chưa hiểu biết đầy đủ; quyền lợi và khả năng tiếp cận với dịch vụ y tế chưa tốt; có sự phân biệt đối xử; lòng tin của người dân đối với BHYT chưa cao; tình trạng lựa chọn ngược; không cân đối được quỹ Một số ý kiến đề xuất: (1) Cần phải có văn bản thống nhất hướng dẫn thực hiện BHYTTN; (2) Có sự hỗ trợ một phần tài chính từ ngân sách Nhà nước (BHYT tự nguyện theo luật định); (3) Tăng cường truyền thông đến với người nông dân; (4) Xã hội hoá BHYT; (5) Phân bổ quỹ KCB BHYT theo các tuyến y tế cho phù hợp; (6) Tăng quyền lợi của người tham gia BHYT; Nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, chất lượng nhân viên y tế.”

Luận văn thạc sỹ y tế công cộng, trường đại học y tế công cộng của Nguyễn

Minh Thảo (2004) về “Nhu cầu tham gia BHYT của người dân quận Tây Hồ chưa có

cầu tham gia BHYT của người dân: “có 69,7% người dân đồng tình về tham gia BHYT, lý do chính để người dân tham không tham gia BHYT là thủ tục hành chính.”Kết quả nghiên cứu cũng đã kết luận: sự hiểu biết về BHYT và điều kiện kinh

tế của người dân có liên quan đến nhu cầu tham gia BHYT, những người có điều kiện kinh tế cao thì họ tham gia BHYT cao hơn nhóm người còn lại.”

Báo cáo “bảo hiểm y tế - nhu cầu và khả năng mở rộng ở nông thôn” do Trưởng

phòng Sức khỏe – Viện xã hội học – TS Trịnh Hòa Bình và các cộng sự thực hiện vào năm 2006 Báo cáo trình bày kết quả khảo sát tại xã Yên Thường – Gia Lâm với quy mô

500 mẫu phỏng vấn sâu bằng bảng hỏi, 3 thảo luận nhóm và 17 phỏng vấn sâu Báo cáo

đã nêu rõ được những vấn đề về thực trạng tham gia cũng như khả năng mở rộng BHYT

ở nông thôn Báo cáo đã đi sâu tìm hiểu và phân tích khả năng của người dân tham gia trong việc chăm sóc sức khỏe thông qua việc tìm kiếm các dịch vụ và tham gia BHYT

Trang 21

và sử dụng BHYT trong việc khám chữa bệnh Đồng thời, báo cáo cũng chỉ rõ nhận thức của người dân về BHYT và nhu cầu tham gia, khả năng mở rộng BHYT ở vùng nông thôn là rất lớn Tuy nhiên báo cáo chưa so sánh được nhu cầu, thực trạng tham gia

và khả năng mở rộng BHYT ở các nhóm có điều kiện kinh tế, thu nhập khác nhau, các nhóm được hưởng chế độ BHYT của nhà nước và nhóm tự nguyện tham gia BHYT Đồng thời báo cáo cũng chỉ ra các yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến việc tiếp cận BHYT của người dân để từ đó đề xuất các kiến nghị, giải pháp cho phù hợp, sát tình hình thực tế của địa phương Báo cáo này chỉ dừng lại ở mức độ khái quát chung

về tiếp cận BHYT của các nhóm đối tượng khác nhau thông qua các nguồn số liệu điều tra mức sống, điều tra y tế quốc gia Đồng thời báo cáo cũng chỉ ra một số yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia BHYT trong từng nhóm Báo cáo dựa trên các nguồn số liệu điều tra sẵn có nên không đánh giá được đúng nhu cầu tham gia BHYT của người dân ở từng nhóm đối tượng

Báo cáo kết quả nghiên cứu định tính của Viện chiến lược và chính sách y tế năm

2007 và phát triển BHYT ở nông thôn công bằng và bền vững nhằm nâng cao chăm sóc sức khỏe người dân: Kết quả nghiên cứu đã cho thấy: hầu hết các đối tượng tham gia BHYT đã nhận thức được mục tiêu cũng như ý nghĩa của việc tham gia BHYT Các nhóm đối tượng khác nhau nhận thức về chính sách BHYT khác nhau vì vậy nhu cầu tham gia BHYT cũng phụ thuộc vào nhận thức cũng như độ tuổi của đối tượng Đối tượng nghiên cứu đa số không hài lòng với chính sách BHYT trừ BHYT bắt buộc Một thực tế mà nghiên cứu đã làm rõ: việc phát thẻ BHYT cho những đối tượng tham gia chậm trễ làm giảm tỷ lệ tham gia BHYT Đây cũng là một điều rất bức xúc đối với

đa số các đối tượng tham gia BHYT

Luận văn thạc sỹ của Nghiêm Xuân Nam về “Thực trạng và nhu cầu tham gia

Thường – Gia Lâm – Hà Nội đã phần nào đó nêu lên thực trạng tham gia BHYT Luận văn đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính đã chỉ rõ nhu cầu và thực trạng tham gia bảo hiểm y tế của người dân nông thôn hiện nay

1.1.3 Nhận xét chung và những vấn đề nghiên cứu đặt ra cho chủ đề nghiên cứu

Như vậy, những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã khái quát những quan điểm, nội dung cơ bản của BHYT trên các khía cạnh mục tiêu, phương pháp tính phí tham gia, cơ chế khuyến khích tham gia, điều kiện để thực hiện BHYT toàn dân; các bên tham gia cung ứng BHYT, những rào cản trong việc thực hiện cung ứng BHYT; những khó khăn từ phía đối tượng ngoài khu vực phi chính thức khi chủ động

Trang 22

tham gia vào hình thức bảo hiểm này

Tuy nhiên mối quan hệ giữa các yếu tố với việc tham gia BHYT của người dân

ra sao vẫn chưa được làm rõ Nói cách khác, các yếu tố (i) Chính sách của Nhà nước (ii) chất lượng của các hoạt động điều trị bệnh khi sử dụng thẻ BHYT và (iii) năng lực tổ chức quản lý và đội ngũ cán bộ có liên quan đến BHYT (iv) điều kiện kinh tế

và nhận thức của người dân về ích lợi khi tham gia BHYT chưa được đánh giá cụ thể Nhất là kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2015, theo Luật BHYT sửa đổi, với những quy định chính sách mới như tham gia BHYT là bắt buộc với mọi người dân và quy định, khuyến khích tham gia BHYT theo hộ gia đình sẽ có tác động như thế nào đến

sự tham gia BHYT nông dân?

Bên cạnh đó, trong những nghiên cứu trong nước về thực trạng tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện thì nhóm đối tượng có tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện thấp

là nông dân Đối với nhóm người dân làm ngành nghề khác thì bảo hiểm y tế là bắt buộc đối với người lao động trong tổ chức Chính vì vậy, để hướng tới mục tiêu BHYT toàn dân thì cần đẩy mạnh sự tham gia của nông dân là tất yếu Một số nghiên cứu khác cũng được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng tham gia BHYT tự nguyện của mọi người dân tại các địa phương hay thực trạng tham gia BHYT nông dân tại các tỉnh, huyện trong nước Tuy nhiên, hiện chưa có nghiên cứu nào về BHYT nông dân tại Thành phố Hà Nội Là thủ đô, trái tim của cả nước, nhưng Hà Nội có địa giới hành chính rộng, các quận, huyện phân bố hộ gia đình nông dân không đều, công tác quản

lý BHYT nhìn chung khó khăn, phức tạp,… Chính vì lẽ đó, việc nghiên cứu BHYT nông dân trên địa bàn Thành phố là hướng cần thiết để thực hiện thành công BHYT toàn dân, làm tấm gương cho các địa phương khác học tập và làm theo

Đây chính là những nội dung chính mà tác sẽ thực hiện trong quá trình làm nghiên cứu sinh

Từ đó những câu hỏi nghiên cứu đặt ra cần giải quyết là:

nhân tố nào tác động đến sự tham gia BHYT đối với đối tượng nông dân?

hiện nay như thế nào? Những nhân tố nào có tác động tích cực? những nhân tố nào có tính hạn chế đến sự tham gia của nông dân vào hệ thống BHYT?

mạnh sự tham gia của nông dân vào BHYT những năm tới?

Trang 23

1.2 Phương pháp nghiên cứu

1.2.1 Quy trình nghiên cứu

Quy trình nghiên cứu của luận án được tiến hành qua 5 bước như hình 1

Hình 1.1 Quy trình nghiên cứu

Nguồn: Tác giả xây dựng

Bước 1 Nghiên cứu tổng quan và xin ý kiến chuyên gia về mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Bước 2 Xây dựng khung lý thuyết về mối quan hệ giữa (1) Chính sách BHYT của Nhà nước (ii) chất lượng của các hoạt động KCB bằng thẻ BHYT (iii) thu nhập và nhận thức của người dân về ích lợi khi tham gia BHYT (iv) tổ chức và năng lực quản lý của tổ chức BHYT với sự tham gia của nhóm đối tượng ngoài khu vực chính thức, trong đó có nông dân vào hệ thống bảo BHYT

Bước 3 Thu thập cơ sở dữ liệu thứ cấp và sơ cấp bao gồm: Nghiên cứu lý thuyết, kinh nghiệm trong nước và thế giới trong việc tạo lập các nhân tố để mở rộng sự tham gia BHYT; Xây dựng phiếu và tiến hành điều tra, khảo sát, phỏng vấn nhóm đối tượng nông dân và cán bộ quản lý các cấp về các nhân tố tác động đến sự tham gia bảo hiểm

y tế trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay

Bước 4 Xử lý, phân tích dữ liệu điều tra, khảo sát, đánh giá thực trạng, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong việc phát triển hệ thống bảo hiểm y tế đối với nông dân trên địa bàn thành phố Hà Nội thời gian qua Xác định xem trong những nhóm yếu tố tác động đến sự tham gia của các nhóm đối tượng nông dân vào thị trường BHYT trên địa bàn ngoại thành Hà Nội thì nhóm nào có ảnh hưởng tích cực, nhóm nào còn gặp nhiều khó khăn trong việc tham gia vào BHYT

Bước 5 Khuyến nghị với cơ quan nhà nước và người dân về phương hướng và các giải pháp nâng cao mức độ tác động của các nhân tố nhằm đẩy mạnh sự tham gia BHYT

Thu thập dữ liệu sơ cấp

(3)

Phân tích

dữ liệu, đánh giá thực trạng (4)

kết luận, kiến nghị

(5)

Trang 24

của các nhóm đối tượng nông dân vào hệ thống bảo hiểm y tế trên địa bàn ngoại thành Hà Nội đến năm 2020

1.2.2 Thiết kế nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu được thiết kế nhằm làm rõ nhân tố tác động đến sự tham gia BHYT của nông dân

Khung nghiên cứu được cụ thể như sau

Hình 1.2 Khung nghiên cứu của luận án

(Nguồn: Tác giả tự mô hình hóa)

Những nhân tố đầu vào tác động đến sự tham gia BHYT của nông dân gồm: i) Chính sách hỗ trợ của Nhà nước; ii) Chất lượng KCB bằng thẻ BHYT; iii)Tổ chức hoạt động và năng lực đội ngũ cán bộ của BHYT, iv) Thu nhập của nông dân v) và nhận thức của nông dân Các nhân tố đầu vào tác động đến sự tham gia BHYT của nông dân được

đề xuất dựa trên các nghiên cứu khoa học về sự tham gia BHYT của người dân nói chung

và của nông dân nói riêng i) Chính sách hỗ trợ của Nhà nước được phần nào đề cập trong nghiên cứu của Đông Thị Hồng (2015), Lê Thị Luyên (2014); ii) Chất lượng KCB bằng thẻ BHYT là nguyên nhân khiến cho người dân chưa tham gia BHYT đã được khẳng định trong nghiên cứu của Chu Thị Kim Loan và Nguyễn Hồng Ban (2013), Vũ Ngọc Huyền (2017), Lê Thị Luyên (2014); iii)Tổ chức hoạt động và năng lực đội ngũ cán bộ

Thực trạng các nhân tố tác động đến sự tham gia BHYT nông dân ở Thành phố Hà Nôi

Phương hướng và giải pháp hoàn thiện các nhân tố

Nhân tố tác động

1 Chính sách hỗ trợ của Nhà nước

2 Chất lượng KCB bằng thẻ BHYT

3.Tổ chức hoạt động của BHYT; Năng lực đội ngũ cán bộ;

Phối hợp giữa các cơ quan, ban, ngành

4.Thu nhập của nông dân

5 Nhận thức của nông dân

Kinh nghiệm hoàn thiện các nhân tố tác động đến sự

tham gia BHYT nông dân ở nước ngoài và các địa

phương trong nước

Trang 25

của BHYT cũng được đề cập trong nghiên cứu của Vũ Ngọc Huyền và Nguyễn Văn Song (2014), Vũ Ngọc Huyền (2017), iv) Thu nhập của nông dân cũng được khẳng định trong nghiên cứu của Vũ Ngọc Huyền và Nguyễn Văn Song (2014), Lê Thị Luyên (2014), Nguyễn Quang Lộc (2014); v) nhận thức của nông dân được kiểm nhận trong nghiên cứu của Lê Ngọc Quỳnh (2012) hay mức độ hiểu biết của người dân trong nghiên cứu của Vũ Ngọc Huyền (2017), Thực tế còn nhiều nhân tố khác cũng tác động tới

sự tham gia BHYT của nông dân nhưng theo tác giả đánh giá thì thực tế các nhân tố này ảnh hưởng gián tiếp thông qua một trong 5 nhân tố trên Ví dụ như nhân tố trình

độ học vấn của người dân sẽ tác động tới nhận thức của người dân về BHYT nên tác động tới ý định tham gia BHYT của nông dân Do đó, tác giả xây dựng mô hình gồm

5 nhân tố ảnh hưởng tới kết quả tham gia BHYT của nông dân như trên đây

Kết quả tham gia BHYT của của nông dân bao gồm: i) Phạm vi bao phủ; ii) Cơ cấu

tham gia; iii) Tốc độ tăng trưởng BHYT Nông dân được xem xét i) Theo thu nhập (giầu; khá; trung bình; cận nghèo); ii) Theo tính chất sản xuất (thuần nông, phi nông nghiệp và sản xuất kinh doanh hỗn hợp- không tính đến hộ nghèo), iii) theo vùng đồng bằng, và trung du miền núi

1.2.2.1 Nghiên cứu định tính

Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, tiếp cận so sánh, phương pháp trừu tượng hóa, phương pháp hệ thống hoá, phương pháp thống kê mô tả, phương pháp chuyên gia… kết hợp nghiên cứu tại bàn và khảo sát thực tế để làm rõ mối quan hệ giữa các yếu tố i) Chính sách hỗ trợ của Nhà nước; ii) Chất lượng KCB bằng thẻ BHYT; iii)Tổ chức hoạt động và năng lực đội ngũ cán bộ của BHYT, iv) Thu nhập của nông dân v) và nhận thức của nông dân với sự tham gia của nông dân vào hệ thống BHYT Các phân tích được sử dụng với mục đích tìm ra những thuận lợi, khó khăn trong việc triển khai các chính sách nhằm

mở rộng phạm vi bao phủ của BHYT, hay đánh giá về cơ hội, thách thức trong việc đạt được mục tiêu đặt trong giai đoạn tới Các phương pháp định tính cụ thể được áp dụng như sau:

công bố, các tài liệu số liệu đã được công bố từ Cục thống kê, bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội, để làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về phạm vi bao phủ của bảo hiểm y tế đối với nông dân trên địa bàn thành phố Hà Nội

dân trên địa bàn thành phố Hà Nội, đề tài tiến hành điều tra, khảo sát phân tích những

Trang 26

hợp phần cơ bản thuộc (i) Chính sách hỗ trợ của Nhà nước; ii) Chất lượng KCB bằng thẻ BHYT; iii)Tổ chức hoạt động và năng lực đội ngũ cán bộ của BHYT, iv) Thu nhập của nông dân v) và nhận thức của nông dân về ích lợi khi tham gia BHYT

trường kinh tế xã hội của nhóm đối tượng nông dân trên địa bàn thành phố Hà Nội; xác định yếu tố tác động đến khả năng tham gia vào hệ thống BHYT của nhóm đối tượng này, các giải pháp thúc đẩy sự mở rộng phạm vi bao phủ của BHYT đối với nhóm đối tượng này; các hành vi, động lực của các bên tham gia cũng như cơ chế hoạt động, phối hợp để thực hiện những mục tiêu phát triển BHYT cho nhóm đối tượng nông dân trên địa bàn Hà Nội là những yếu tố phân tích không thể thiếu trong cách tiếp cận hệ thống

với nhóm đối tượng nông dân trên địa bàn Hà Nội không chỉ là trách nhiệm của Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội, Sở Y tế, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội mà còn

là trách nhiệm của các Sở Tài chính, Sở Công Thương, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, các quận huyện… cũng như các đơn vị chức năng trực thuộc sự quản lý của các phòng ban ở các Sở này Mục tiêu phát triển BHYT cho nhóm đối tượng nông dân trên địa bàn Hà nội không chỉ phụ thuộc vào trách nhiệm và năng lực của Sở chủ quản, mà còn là sự phối kết hợp trong tổ chức triển khai hoạt động của các cơ quan quản lý của chính quyền địa phương trên địa bàn nghiên cứu Cách tiếp cận này do đó giúp đề tài có cái nhìn tổng quát đối với việc phát triển BHYT cho nhóm đối tượng nông dân trên địa bàn Hà Nội

1.2.2.2 Nghiên cứu định lượng

Nội, từ niên giám thống kê của Hà Nội, BHYT Thành phố Hà Nội, Sở y tế Hà Nội, từ

số liệu điều tra thống kê về việc làm, thu nhập, mức sống, nghèo đói của Cục Thống kê

Hà Nội, từ các báo cáo của Sở Lao động Thương binh và Xã hội Thành phố Hà Nội là nông dân, cán bộ quản lý và cán bộ làm việc tại các bệnh viện, cơ sở y tế Dự kiến cụ thể như sau:

huyện, trong đó, một huyện có thu nhập trung bình thấp nhất, một huyện có thu nhập bình quân ở mức trung bình và một huyện có thu nhập bình quân cao của thành phố Toàn thành phố sẽ điều tra 200 chủ hộ nông dân

Trong 200 chủ hộ nông dân đó, nếu phân theo mức thu nhập sẽ điều tra 4 nhóm

Trang 27

nông dân là thuộc hộ giầu 40 phiếu; Hộ khá 40 phiếu, Hộ trung bình 60 phiếu và Hộ cận nghèo 60 phiếu Phân theo tính chất ngành nghề, sẽ điều tra 100 người thuộc hộ thuần nông, hoặc có thu nhập chủ yếu từ nông nghiệp và 100 người thuộc hộ sản xuất kinh doanh hỗn hợp, có thu nhập từ nông nghiệp và phi nông nghiệp tương đương, hoặc thu nhập phi nông nghiệp cao hơn thu nhập từ sản xuất nông nghiệp Phân theo vùng, có hai vùng là đồng bằng (100 phiếu) và Trung du miền núi (100 phiếu)

quản lý và các nhà khoa học các cấp Cụ thể như sau:

+ 100 phiếu phỏng vấn cán bộ cấp quận, huyện và cấp xã, phường; quận, mỗi huyện phỏng vấn gồm 2 đối tượng là lãnh đạo và cán bộ chuyên viên cấp huyện và cấp

xã có liên quan, trong đó 54 phiếu cán bộ cấp huyện và 50 phiếu cán bộ cấp xã, phường

+ 73 phiếu phỏng vấn cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý ngành BHXH Thành phố, ngành nông nghiệp, ngành lao động, công thương, ngành tài chính, ngành thống kê, cán

bộ các ban ngành và các nhà khoa học có liên quan ở cấp trung ương và cấp Thành phố

viện, trong đó có 30 phiếu là cán bộ quản lý ở 6 bệnh viện Trung ương và Thành phố

và 20 phiếu của cán bộ quản lý thuộc 4 bệnh viện huyện tại 4 huyện điều tra

Phân bổ phiếu khảo sát và phỏng vấn tại 3 huyện và 9 xã như sau

Bảng 1.1 Phân bổ phiếu khảo sát và phỏng vấn tại 3 huyện và 9 xã

Tiêu chí Tổng số Trung ương,

Thành phố Huyện

Xã, Phường

1.1.Trong đó, theo thu nhập

Thuộc Hộ sản xuất kinh doanh

hỗn hợp (vừa nông nghiệp, vừa

phi nông nghiệp)

Trang 28

Tiêu chí Tổng số Trung ương,

Thành phố Huyện

Xã, Phường

trong đó có ba đối tượng

Bệnh viện trong đó, 6 bệnh viện Thành phố và Trung ương, 4 bệnh viện tuyến huyện

- Về nội dung khảo sát, phỏng vấn:

+ Các phiếu điều tra đối với các hộ gia đình nông dân được chia thành ba loại là

hộ theo thu nhập, theo tính chất ngành nghề và theo vùng Qua bảng hỏi sẽ thống kê lại tình hình tham gia BHYT của các nhóm hộ theo các tiêu chí về thu nhập theo nhóm ngũ phân vị, ngành nghề, khu vực cũng như các tiêu chí của các hộ học vấn, trình độ, giới của chủ hộ…

Hệ thống thông tin này cũng giúp cho việc nghiên cứu tập trung xác định được các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến việc tham gia vào hệ thống BHYT của các nhóm nông dân cụ thể được phỏng vấn để đề xuất chính sách phù hợp trong giai đoạn tới

Bảng hỏi cũng hướng tới việc đánh giá các biện pháp chính sách mà chính quyền địa phương đang thực thi nhằm tạo điều kiện hỗ trợ nông dân tham gia vào hệ thống BHYT, từ đó có căn cứ để đề xuất các những điều chỉnh trong thực thi chính sách nhằm mở rộng phạm vi bao phủ của hệ thống BHYT đối với nhóm đối tượng nông dân trong giai đoạn tới

+ Các phiếu đối với các nhà quản lý thuộc các chính quyền địa phương Các phiếu điều tra đối với các cơ quan quản lý địa phương sẽ tập trung vào việc đánh giá mức độ phù hợp và tính hiệu quả của các chính sách hiện hành trong việc khuyến khích nông dân tham gia vào hệ thống BHYT sau khi Luật bảo hiểm y tế ban hành năm 2008

Trang 29

Câu hỏi phỏng vấn với nhóm đối tượng này cũng hướng vào việc tìm hiểu quan điểm, định hướng của chính quyền địa phương đối với vấn đề mở rộng phạm vi bao phủ của hệ thống BHYT đối với họ nông dân trong giai đoạn tới Đây chính là cách thức tích cực nhất trong việc phát triển hệ thống BHYT đối với nhóm đối tượng ngoài khu vực chính thức nói chung và những người nông dân trên địa bàn Hà Nội nói riêng

+ Các phiếu đối với cán bộ quản lý bệnh viện hướng vào đánh giá chất lượng KCB bằng thẻ BHYT, những khó khăn trong KCB bằng thẻ BHYT thường gặp hiện nay tại các bệnh viện và đề xuất của các bệnh viện về nâng cao chất lượng KCB bằng thẻ BHYT để thu hút sự tham gia của người dân nói chung, nông dân nói riêng trên địa bàn

yếu tố tác động đến việc tham gia vào hệ thống BHYT của các nhóm nông dân luận án

sử dụng thang đo Likert 5 điểm Để thuận tiện cho việc nhận xét khi sử dụng giá trị trung bình đánh giá mức độ tác động đối với từng yếu tố tới việc tham gia vào hệ thống BHYT của các nhóm nông dân tác giả quy ước:

Bảng 1.2 Thang đánh giá Likert

Trang 30

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Trong chương luận án đã khái quát các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến nhân tố tác động đến sự tham gia BHYT nông dân Trên cơ sở đó, đã chỉ ra những khoảng trống lựa chọn cho chủ đề nghiên cứu của luận án

Trong chương tác giả đã trình bày rõ quy trình nghiên cứu, thiết kế những nội dung nghiên cứu chủ yếu và phương pháp thu thập số liệu thứ cấp và sơ cấp phục vụ cho nghiên cứu

Trang 31

CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG

ĐẾN SỰ THAM GIA BẢO HIỂM Y TẾ CỦA NÔNG DÂN

2.1 Bảo hiểm y tế và tầm quan trọng của bảo hiểm y tế đối với nông dân

2.1.1 Nông dân và các nhóm đối tượng nông dân

2.1.1.1 Khái niệm về nông dân

Trên thế giới khái niệm về nông dân đã được nhiều nhà nghiên cứu xã hội học đề cập tới Wolf (2000) trong “các cuộc chiến tranh nông dân thế kỷ XX” đã nêu ra khái niệm nông dân là những người trồng trọt ở nông thôn và họ không phải là nông gia (chủ các nông trại) Như vậy, cần phân biệt nông thôn và nông gia Nông trại chính là hình thức tổ chức doanh nghiệp mà người chủ - nông gia chính là chủ doanh nghiệp điều hành một doanh nghiệp Nông dân không phải là người chủ doanh nghiệp, không

có hoạt động điều hành, quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp

mà chỉ quản lý kinh tế gia đình

Cũng trong một nghiên cứu khác, tác giả chỉ ra đặc trưng của nông dân Một mặt nông dân tiến hành các hoạt động kinh tế tự túc, nhằm vào tiêu dùng bản thân

và gia đình, mặt khác, họ được coi là những đơn vị sản xuất của hệ thống kinh tế nói chung và do đó họ phụ thuộc vào một hệ thống quan hệ bóc lột (W Roseberry, 2000)

H Friedmann cố gắng tìm cách thay thế cho khái niệm nông dân được coi như đơn vị sản xuất hộ gia đình hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp (dẫn lại W Roseberry, 2000)

Nông nghiệp được xác định là nền kinh tế đặc thù, đó là ngành sản xuất gắn chủ yếu với sinh vật (cây trồng, vật nuôi) nên bị chi phối bởi nhiều quy luật sinh học, các điều kiện đất đai, khí hậu… để tạo ra sản phẩm cho xã hội tồn tại và phát triển, vì thế nông nghiệp được rất nhiều nhà kinh tế quan tâm đề cập nhất là trong các mô hình phát triển kinh tế của các nước chậm phát triển đang tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Trước những đòi hỏi của thực tiễn trung ương Đảng đã tập trung chỉ đạo phát triển mạnh mẽ nông nghiệp, nông dân và nông thôn nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nông dân, xây dựng nông thôn mới và nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại lấy nông dân là cốt lõi Phương tiện sản xuất chủ yếu của nông dân là đất đai Họ luôn gắn bó với ruộng đất Họ là những người có

Trang 32

ít cơ hội thay đổi lối sống, tập quán canh tác của mình, với lối sống đặc thù “tự cung,

tự cấp, tự sản, tự tiêu”, đặc trưng này tạo ra ở nông thôn một xã hội nông dân

Theo Tô Xuân Dân, Lê Văn Viện và Đỗ Trọng Hùng, Xây dựng nông thôn mới ở

thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp Nông dân sống chủ yếu bằng ruộng vườn, sau đó đến các ngành nghề khác, nhưng TLSX chính là đất đai Từng thời kỳ lịch sử, người nông dân có quyền sở hữu khác nhau về ruộng đất Họ hình thành nên giai cấp nông dân, có vị trí, vai trò nhất định trong xã hội

Theo Bách khoa toàn thư: Giai cấp nông dân là bao gồm những tập đoàn người sản xuất nhỏ hoặc làm thuê cho địa chủ và cho phú nông trong nông nghiệp dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về ruộng đất Vậy giai cấp nông dân là những người sống lâu đời ở nông thôn (làng, bản, ấp) lấy sản xuất nông nghiệp làm nguồn sống chính dưới hình thức tư hữu nhỏ Nông dân là lực lượng cách mạng trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta

Như vậy, có thể quan niệm rằng nông dân chính là những người lao động cư trú tại nông thôn và hoạt động trong lĩnh vực của ngành nông nghiệp theo nghĩa rộng

Trong tiến trình lịch sử của nhân loại, Việt Nam nằm ở một trong những khu vực được coi là cái nôi của loài người và cũng được coi là một trong những trung tâm phát sinh nông nghiệp với nền văn minh lúa nước sớm nhất trên thế giới Nông dân Việt Nam có những đặc điểm chung giống như nông dân các nước trên thế giới về nơi cư trú ở nông thôn, về ngành nghề lao động là trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản… và mục đích lao động là đạt được lợi ích kinh tế nhất định Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế - xã hội, chính trị của mỗi quốc gia khác nhau, nên nông dân Việt Nam có những đặc điểm riêng như sau:

Những điểm mạnh của nông dân Việt Nam:

thu nhanh, nhiều sang tạp, kể cả trong những hoàn cảnh cam go nhất Khi tiếp cận với Kinh tế thị trường, người nông dân khá nhanh nhạy nắm bắt được quan hệ cung – cầu của thị trường cả trong và ngoài nước Nhiều loại cây trồng và vật nuôi đặc sản được cung cấp cho thị trường với sự thông minh, khéo léo của người nông dân Nhiều nông dân ngày nay là thành viên của các nhóm tự quản, tham gia vào việc hoạch định, thực hiện các chính sách phát triển nông nghiệp – nông thôn, đặc biệt là các chính sách liên quan đến ruộng đất, môi trường và các vấn đề xã hội

Trang 33

Thứ hai, nhóm nông dân trước khi được trang bị kiến thức văn hoá và kỹ thuật là những người ham học hỏi các giống cây trồng/ vật nuôi và kỹ thuật canh tác tiên tiến Nhiều người là tác giả của các sang chế về máy móc, thiết bị, kỹ thuật nông nghiệp Nhiều nông dân ngày nay mạnh dạn, chủ động hợp tác với các trung tâm nghiên cứu để nắm bắt

kỹ thuật canh tác không gây hại môi trường, phù hợp với địa phương, nhiệt tình xây dựng

và thực hiện các dự án phát triển ở từng khu vực sinh thái, tích cực tiếp thu và truyền bá kiến thức và trao đổi kinh nghiệm thực tế

chủ động, sáng tạo và biết làm giàu chính đáng Nông dân biết thiết lập mạng lưới trao đổi kinh nghiệm về các biện pháp canh tác có tác dụng bảo vệ nguồn nước, đất và các nguồn tài nguyên khác, giảm thiểu việc sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật và tăng cường tái sử dụng chất thải nông nghiệp

chỉ, kiên nhẫn vượt qua khó khăn, phần lớn đều là chủ các gia đình, biết tổ chức cuộc sống hợp lý, tiết kiệm và sử dụng hiệu quả đồng vốn vay ít ỏi Nữ nông dân đã cùng nhau phối hợp với các tổ chức hữu quan xây dựng phát triển các mô hình đời sống cộng đồng mới, tham gia các quá trình dân chủ và diễn đàn hữu ích khác ở nông thôn Bên cạnh những điểm mạnh trên, điểm hạn chế đối với nông dân Việt Nam hiện nay là:

mún, làm việc theo tập quán, thiếu thông tin và định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp rõ ràng nếu không có sự tư vấn cụ thể về chuyên môn của tổ chức/ người có kinh nghiệm Điều kiện sản xuất và mức sống của nông dân phụ thuộc nhiều và tự nhiên, phần đông quá eo hẹp nên họ thường ít có sự bứt phá

hướng, dẫn đến việc khủng hoảng thừa nên xuất hiện tình trạng nông dân không kiên trì với nghề nông mà chuyển hướng sang làm ngành nghề khác, bắt đầu hoạt động trong một ngành nghề mới nhưng với vốn hiểu biết không nhiều, dẫn tới kết quả có một số người thành công nhưng không ít người thất bại

người nông dân gặp nhiều khó khăn trong việc tìm hiểu thị trường, tìm hiểu đầu vào – đầu ra của sản phẩm, không am hiểu luật kinh doanh, thương mại nên chịu nhiều thiệt hại trong kinh doanh các sản phẩm nông nghiệp trên thị trường trong nước cũng như nước ngoài

Trang 34

Bốn là, do tính mùa vụ của nông nghiệp, thời gian nông nhàn kéo dài nên nông dân có xu hướng thoát ly địa bàn nông thôn ra khu vực thành thị kiếm việc làm, dẫn tới tình trạng hoạt động canh tác nông nghiệp kém hiệu quả

Bên cạnh đó, người nông dân gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận với các dịch vụ giáo dục, y tế nên họ thường thiếu kỹ năng, hạn chế về sức khỏe, khả năng vươn lên nếu không

có sự hỗ trợ của chính sách Nhà nước và các tổ chức hợp tác phù hợp

Dù còn nhiều hạn chế, nhưng với vị trí gắn liền với sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn nên người nông dân luôn là chủ thể quan trọng của quá trình phát triển nông nghiệp – nông thôn Cần phải có lực lượng lao động tại nông thôn có sức khỏe, kiến thức, kỹ năng phù hợp với yêu cầu phát triển nông thôn, đồng thời người nông dân cần được Đảng và Nhà nước hỗ trợ tích cực về các chính sách ASXH trong

đó có BHYT

2.1.1.2 Phân loại các nhóm đối tượng nông dân

Với tư cách là một bộ phận quan trọng trong xã hội, nông dân cũng có cấu trúc phức tạp Các thành phần nông dân có những đặc điểm riêng biệt khác nhau tạo nên một tổng thể, dựa trên các tiêu chí phân loại khác nhau thì nông dân lại có các thành phần khác nhau theo mục đích nghiên cứu nhất định

Thứ nhất, phân loại theo thu nhập

Theo thu nhập, có thể phân loại nông dân theo hộ gia đình chi thành bốn nhóm: nông dân thuộc hộ nông dân nghèo, nông dân thuộc hộ nông dân cận nghèo, nông dân thuộc hộ nông dân trung bình, còn lại là nông dân thuộc hộ nông dân trên mức trung bình Nhằm xác định chính xác đầy đủ hộ nghèo, tỷ lệ nghèo ở từng địa phương và trên

cả nước, làm căn cứ cho việc xây dựng và thực hiện hiệu quả các chính sách phát triển kinh tế và an sinh xã hội của các địa phương và cả nước, ngày 21/9/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 1752/CT-TTg /CT -TTg về việc tổ chức tổng điều tra hộ nghèo trên toàn quốc phục vụ cho việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội giai đoạn 2011 - 2015 Tiếp đó, ngày 30/1/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 – 2015 Theo hai văn bản nêu trên, chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015 như sau: Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống; Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống; Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng;

Trang 35

Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng

Căn cứ vào tiêu chí xác định nêu trên, có thể phân loại hộ nông dân nghèo là hộ

có mức thu nhập bình quân rất thấp, chỉ dưới 400.000 đồng/người/tháng, hộ cận nghèo

có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng/người/tháng đến 650.000 đồng/người/tháng, hộ nông dân trung bình có mức thu nhập bình quân trên 650.000 đồng/người/tháng đến 900.000 đồng/người/tháng (theo Quyết định 32/2014/QĐ-TTg ban hành ngày 27 tháng 5 năm 2014) (Chính phủ, 2011)

Những đối tượng nông dân, hộ nông dân có mức sống phụ thuộc rất nhiều vào mức thu nhập của họ Thu nhập càng thấp, đời sống vật chất và tinh thần càng không được đảm bảo, thậm chí không đủ đáp ứng những nhu cầu tối thiểu như ăn, mặc, tới trường, khám chữa bệnh… Người có thu nhập cao càng có khả năng đảm bảo cuộc

sống đầy đủ, có cơ hội hưởng thụ đời sống vật chất và tinh thần tốt hơn

Thứ hai, phân loại theo tính chất ngành nghề

Theo tính chất ngành nghề, những vị trí và vai trò dành cho nông dân cụ thể theo từng loại nghề, từng loại hình hoạt động lao động sản xuất, tạo thành một hệ thống cấu trúc xã hội theo cả chiều ngang và chiều dọc Trước hết thể hiện ở chỗ những quan hệ sản xuất – xã hội mà nông dân tạo ra những mặt hoạt đông sản xuất khác nhau trong xã hội

Phân loại ngành nghề của nông dân theo chiều ngang là chỉ hệ thống vị trí xã hội, vai trò trong sản xuất ở nông thôn được lập ra thông qua các ngành nghề, loại hình công việc mà các nhân nông dân tham gia có cùng một tầng bậc xét về tính chất lao động, bao gồm: i) Nông dân làm nghề sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi); ii) Người trồng rừng, bảo vệ khoanh nuôi rừng; iii) Người làm nghề đánh bắt, nuôi trồng thuỷ sản; iv) Người làm nghề kinh doanh, buôn bán nông, lâm, thuỷ sản; v) Người làm thuê, mướn các công việc nông nghiệp

Phân loại ngành nghề của nông dân theo chiều dọc chỉ hệ thống những vị trí xã hội cùng vai trò, chức năng hoạt động, có vị thế khác nhau trong cùng một ngành lao động sản xuất xã hội, gồm có: i) Nông dân chưa qua đào tạo; ii) Nông dân có trình độ

sơ cấp, chứng chỉ hành nghề; iii) Nông dân có trình độ cao đẳng, đại học trở lên

Thứ ba, phân loại theo vùng

+ Vùng đồng bằng: Trong địa lý học, vùng đồng bằng là một vùng đất đai rộng

lớn với địa hình tương đối thấp - nghĩa là nó tương đối bằng phẳng, với độ cao so với

Trang 36

mực nước biển không quá 500 m độ dốc không quá 5° Khi độ cao không quá 200m, người ta gọi nó là đồng bằng thấp, còn khi độ cao từ 200m tới 500m, gọi là đồng bằng cao Các đồng bằng đôi khi xuất hiện như là các vùng đất thấp ở vùng đáy các thung lũng nhưng cũng có trên các cao nguyên ở độ cao khá lớn Chúng có thể được hình thành từ dung nham chảy xuống, trầm lắng bởi nước (suối, sông hay biển), băng và gió, hay bởi xói mòn dưới các tác động của các yếu tố này từ các sườn đồi, núi

Các vùng đồng bằng tại nhiều khu vực là quan trọng cho phát triển nông nghiệp,

do khi đất được bồi tích như là các trầm tích thì độ sâu của nó có thể khá lớn và độ màu mỡ là khá cao, cũng như độ bằng phẳng cao thuận lợi cho quá trình cơ giới hóa sản xuất; cũng như tại các đồng bằng có thể có các đồng cỏ cung cấp thức ăn cho gia súc Vì vậy, nông dân ở vùng đồng bằng có nhiều thuận lợi phát triển kinh tế nông nghiệp, nâng cao chất lượng cuộc sống hơn

+ Vùng miền núi: là những nơi có địa hình cao trên 500, độ dốc hơn 5o Nếu địa hình cao trung bình từ hơn 500m đến 1000m là đồi núi thấp, địa hình cao trung bình trên 1000m gọi là đồi núi cao Giao thông cũng như kinh tế xã hội, độ màu mỡ của đất đai những vùng miền núi gặp nhiều khó khăn trong phát triển hơn so với đồng bằng, đặc biệt là vùng cao, vùng sâu, vùng xa Vì vậy, nông dân sống ở những vùng này có cuộc sống khá là khó khăn, cơ cấu sản phẩm nuôi trồng không đa dạng và phong phú như vùng đồng bằng

2.1.2 Bảo hiểm y tế và đặc điểm của bảo hiểm y tế đối với nông dân

2.1.2.1 Bảo hiểm y tế và bản chất của bảo hiểm y tế với nông dân

Từ điển Bảo hiểm Pháp - Việt, NXB Thống kê, 1996, từ “Risque” được định nghĩa: “Rủi ro là sự cố không chắc chắn xảy ra hoặc ngày giờ xảy ra không chắc chắn (ví dụ cái chết là chắc chắn nhưng ngày giờ xảy ra là không chắc chắn) Để chống lại điều đó, người ta có thể yêu cầu bảo hiểm” hoặc theo tác giả Allan Willett trong sách

“The Economic theory of risk and insurance” - Philadelphia University of Pensylvania press, USA 1951: “Rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến việc xuất hiện một biến cố không mong đợi” Nhìn chung rủi ro là khả năng xảy ra biến cố bất thường có hậu quả thiệt hại hoặc mang lại kết quả không mong đợi Để đối phó với rủi ro, có thể sử dụng nhiều biện pháp khác nhau, trong đó bảo hiểm là biện pháp hữu hiệu nhất nhằm chuyển giao rủi ro

Dr.David Bland - Insurance Principles and Practice, Nhà xuất bản Tài chính, 1998: “Bảo hiểm là một hợp đồng theo đó một bên, (gọi là công ty bảo hiểm) bằng việc thu một khoản tiền (gọi là phí bảo hiểm), cam kết thanh toán cho bên kia (gọi là

Trang 37

người được bảo hiểm), một khoản tiền hoặc hiện vật tương đương với khoản tiền đó, khi xảy ra một sự cố đi ngược lại quyền lợi của người được bảo hiểm”

Từ điển thuật ngữ kinh doanh bảo hiểm do Bảo Việt phát hành năm 2002: “Bảo hiểm (insurance) là cơ chế chuyển giao theo hợp đồng gánh nặng hậu quả của một số rủi ro thuần túy bằng cách chia sẻ rủi ro cho nhiều người cùng gánh chịu”

Từ điển bảo hiểm Pháp - Việt, Nhà xuất bản Thống kê, 1996: “Bảo hiểm (Assurance) là một nghiệp vụ mà theo đó, một bên là người được bảo hiểm chấp nhận trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm hay khoản đóng góp cho chính mình hay cho một người thứ ba khác để trong trường hợp rủi ro xảy ra, sẽ được trả một khoản bồi thường từ một bên khác là người bảo hiểm, người chịu trách nhiệm đối với toàn bộ rủi

ro, đền bù những thiệt hại theo luật số lớn”

Luật Kinh doanh bảo hiểm CHXHCN Việt Nam, Điều 3, Chương I: “Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm” Trong cuộc sống, con người có thể gặp rất nhiều rủi ro Các rủi ro về sức khỏe là các rủi ro mà bất kỳ ai cũng có thể gặp phải Trong cuộc đời của mỗi con người, những rủi ro bất ngờ về sức khỏe như ốm đau, bệnh tật luôn có thể xảy ra Chính vì rủi ro này xảy ra bất ngờ nên các chi phí khám và chữa bệnh này không được xác định trước, mang tính đột xuất, vì vậy sẽ gây khó khăn cho ngân quỹ mỗi gia đình, mỗi cá nhân, đặc biệt đối với người có thu nhập thấp và khi chi phí khám chữa bệnh quá lớn Bên cạnh đó người bệnh sẽ bị suy giảm sức khỏe, suy giảm khả năng lao động mãi mãi hoặc tạm thời nên thu nhập của họ sẽ giảm hoặc bị mất đi trong một khoảng thời gian nhất định Để đối phó với rủi ro ốm đau, bệnh tật này, cuối thế kỷ XIX, BHYT ra đời nhằm giúp đỡ mọi người lao động và gia đình khi gặp rủi ro về sức khỏe để ổn định đời sống, góp phần bảo đảm an toàn xã hội

Đồng thời cùng với sự tăng trưởng kinh tế, đời sống con người được nâng cao và nhu cầu khám, chữa bệnh cũng tăng lên Bởi vì khi điều kiện kinh tế cho phép thì dù trạng thái sức khỏe thay đổi rất ít như nhức đầu, mệt mỏi, kém ngủ,…, đều có nhu cầu khám chữa bệnh Hơn nữa, một số bệnh mới và nguy hiểm xuất hiện, đe dọa đời sống con người Trong lúc đó chi phí khám chữa bệnh ngày càng tăng lên vì:

- Ngành y tế sử dụng các trang thiết bị y tế hiện đại, đắt tiền trong việc chuẩn đoán và điều trị bệnh

Trang 38

- Các loại biệt dược, thuốc men tăng giá do biến động giá cả chung của thị trường Đặc biệt có những bệnh phải sử dụng thuốc quý hiếm, chi phí rất lớn

Do đó phải huy động các thành viên trong xã hội đóng góp nhằm giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước, và cũng để phục vụ chính bản thân mình khi gặp rủi ro về sức khỏe Càng ngày BHYT càng tỏ ra không thể thiếu trong đời sống con người

Trong đời sống kinh tế - xã hội, ngoài những tác dụng to lớn của hoạt động bảo hiểm nói chung, BHYT còn có tác dụng góp phần khắc phục sự thiếu hụt về tài chính, đáp ừng nhu cầu khám chữa bệnh, đồng thời nâng cao chất lượng và thực hiện công bằng xã hội trong KCB cho nhân dân Các quốc gia trên thế giới thường có các khoản chi từ ngân sách Nhà nước cho hệ thống y tế Tuy nhiên ở một số quốc gia, đặc biệt là những nước đang phát triển, khoản chi này thường chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển ngành y (Hoàng Mạnh Cừ, Đoàn Thị Thu Hương, 2011)

Trong thời đại ngày nay, khi nền kinh tế càng phát triển thì nhu cầu chăm lo cho sức khỏe của con người ngày càng tăng cao Bên cạnh đó, môi trường ô nhiễm, dịch bệnh diễn biến bất thường,… làm xuất hiện thêm nhiều bệnh mới Chính vì vậy, bảo hiểm y tế những năm qua ngày càng phát triển

BHYT trên thế giới xuất hiện đầu tiên ở Đức vào năm 1883 Hiện nay BHYT đã được nhân rộng ra hầu hết các quốc gia trên thế giới BHYT chính là hình thức hữu hiệu nhất trong đảm bảo cho các rủi ro liên quan tới sức khỏe của con người và được thực hiện ở hầu hết các quốc gia trên thế giới

Dưới góc độ xã hội thì bảo hiểm y tế chính là hình thức tương trợ, chia sẻ của cả cộng đồng với những thành viên gặp phải rủi ro liên quan tới sức khỏe như ốm đau, bệnh tật BHYT không vì mục tiêu lợi nhuận BHYT cũng không giới hạn thành viên tham gia và quyền lợi của người tham gia bảo hiểm được quy định rõ ràng, mức trợ cấp không căn cứ vào mức đóng góp mà căn cứ vào chi phí thực tế phát sinh mặc dù

có quy định mức tối đa Hơn nữa, mỗi quốc gia đều dành một khoản ngân sách cho việc trợ cấp quỹ BHYT Các đối tượng ưu tiên, ưu đã xã hội đều được Nhà nước hỗ trợ phí BHYT nhằm đảm bảo công bằng xã hội, ổn định sức khỏe của nhân dân Hầu hết tất cả các quốc gia đều coi BHYT là chính sách xã hội lớn, Nhà nước chính là người tổ chức thực hiện và bảo trợ (Nguyễn Văn Định, 2012)

Bảo hiểm y tế là một bộ phận cấu thành của hệ thống an sinh xã hội Trong đó chăm sóc sức khỏe là quyền lợi cơ bản của mỗi người dân Nhà nước ban hành các chính sách, quy định pháp luật cụ thể về mức độ đóng góp hay mức độ chi trả của bảo hiểm y tế Khác với bảo hiểm thương mại trong lĩnh vực y tế hay bảo hiểm nhân

Trang 39

thọ, bảo hiểm y tế là một trong những bộ phận quan trọng của hệ thống bảo đảm xã hội hay còn gọi là hệ thống an sinh xã hội do Nhà nước tổ chức hoạt động BHYT là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật Chính bởi vậy, bảo hiểm thương mại liên quan tới y tế, sức khỏe hoạt động theo quy luật lấy sự đóng góp của số đông để bù đắp cho rủi ro của số ít Quy định và nguyên tắc bồi thường sẽ phụ thuộc vào điều khoản của từng sản phẩm khác nhau Trong khi đó, BHYT hoạt động theo nguyên tắc bảo đảm chia

sẻ rủi ro giữa những người tham gia BHYT Mức hưởng BHYT theo mức độ bệnh tật, nhóm đối tượng trong phạm vi quyền lợi của người tham gia BHYT (Nguyễn Văn Định, 2008)

Tại Việt Nam, chăm sóc sức khỏe người dân là lĩnh vực nhận được sự quan tâm lớn của Đảng và Nhà nước Nghị định số 299-HĐBT ngày 15/8/1992 của Hội đồng Bộ trưởng về Điều lệ bảo hiểm y tế được ban hành lần đầu tiên vào năm 1992 Ngay trong điều 62, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quy định rõ: “Công dân có quyền được hưởng các chế độ bảo hiểm sức khỏe….” Về quản lý, thực hiện bảo hiểm y tế, Điều 39, Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001 quy định

“Nhà nước đầu tư và thống nhất quản lý sự nghiệp bảo vệ sức khỏe của nhân dân, thực hiện bảo hiểm y tế, tạo điều kiện cho người dân được chăm sóc sức khỏe…”

Theo Luật bảo hiểm y tế, 2012, Điều 2 thì: “Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với các đối tượng theo quy định của Luật này để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện”

Như vậy, có thể hiểu “bảo hiểm y tế là bộ phận của hệ thống an sinh xã hội, là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người tham gia bảo hiểm khi

họ gặp phải những biến cố gây giảm sút về sức khỏe trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung thống nhất dựa trên quy định bắt buộc của Nhà nước, không

Như vậy, đối tượng tham gia BHYT là mọi người dân có nhu cầu BHYT cho sức khỏe của mình hoặc cũng có thể là một người đại diện cho một tập thể, một đơn vị, một cơ quan,…, đứng ra ký kết hợp đồng BHYT cho tập thể, đơn vị, cơ quan,…, đó Trong thời kỳ đầu mới triển khai BHYT, thông thường các nước đều có hai nhóm đối tượng tham gia BHYT: bắt buộc và tự nguyện Hình thức bắt buộc áp dụng đối với công nhân viên chức nhà nước và một số đối tượng như người về hưu có hưởng lương hưu,… Hình thức tự nguyện áp dụng cho mọi thành viên khác trong xã hội có nhu cầu

Trang 40

và thường quá giới hạn trong độ tuổi nhất đinh tùy theo từng quốc gia (Phạm Thị Định, 2012)

Bảo hiểm y tế đối với nông dân về bản chất vẫn giống như bảo hiểm y tế thông thường, được thể hiện cụ thể như sau:

Thứ nhất, hình thức bảo hiểm được áp dụng với đối tượng nông dân để chăm sóc

BHYT đối với nông dân là hình thức chuyển giao rủi ro mà trong đó đối tượng được hưởng lợi là nông dân Các rủi ro xảy ra được bảo hiểm trong trường hợp này là các rủi ro liên quan tới sức khỏe của người nông dân được bảo hiểm Khi rủi ro xảy

ra sẽ phát sinh các tổn thất liên quan tới chi phí KCB của người nông dân được bảo hiểm Tổn thất này được chia sẻ cho toàn bộ đối tượng tham gia BHYT trong xã hội đều gánh chịu Khoản chi trả này được lấy từ phần phí đóng góp của những người tham gia BHYT Theo đó, người nông dân khi tham gia BHYT đóng khoản phí thấp nhưng khoản chi trả họ nhận được khi ốm đau cao hơn nhiều lần so với khoản chi phí

đã đóng góp

Hai là, chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia bảo hiểm y tế, giữa những người có thu nhập cao với những người có thu nhập thấp, giữa những người không

gặp rủi ro với những người gặp rủi ro gây tổn thất về tài chính

BHYT trước tiên là sự chia sẻ rủi ro giữa chính những người tham gia BHYT Đối với nhóm nông dân, mức đóng BHYT của những người tham gia được quy định là như nhau Mức đóng góp này được hình thành quỹ tập trung thống nhất, dùng để chi trả trợ cấp BHYT cho những trường hợp người tham gia gặp phải rủi ro Tuy nhiên, không phải bất kỳ ai tham gia BHYT cũng gặp phải rủi ro và được chi trả trợ cấp BHYT, có người gặp phải rủi ro lớn, mức trợ cấp được hưởng nhiều trong khi đó, có người gặp phải rủi ro ít, được chi trả trợ cấp BHYT thấp hơn Như vậy, có thể thấy cùng phải đóng mức phí như nhau nhưng mức thụ hưởng cao thấp khác nhau, thậm chí

có người được chi trả trợ cấp, có người không được chi trả trợ cấp, có người ốm đau nhiều, có người ốm đau ít, không ốm đau, có người sử dụng nhiều, có người sử dụng

ít, có người không sử dụng Do đó, rủi ro được chia sẻ giữa những người gặp phải rủi

ro nhiều và những người gặp phải rủi ro ít, thậm chí không gặp phải rủi ro

Sự chia sẻ rủi ro giữa những người có thu nhập cao với những người có thu nhập thấp được biểu hiện qua sự phân phối lại thu nhập được thực hiện giữa các thành viên tham gia vào BHYT Trong đó quỹ BHYT là quỹ tập trung trong toàn xã hội Tức là tất cả những người tham gia BHYT đóng phí đều được tập trung vào một quỹ duy nhất

Ngày đăng: 02/02/2018, 19:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w