Xác định một số vi khuẩn gây viêm phổi ở huyện Sơn Dương và Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang và phác đồ điều trị viêm phổi cho lợn. (Khóa luận tốt nghiệp)Xác định một số vi khuẩn gây viêm phổi ở huyện Sơn Dương và Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang và phác đồ điều trị viêm phổi cho lợn. (Khóa luận tốt nghiệp)Xác định một số vi khuẩn gây viêm phổi ở huyện Sơn Dương và Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang và phác đồ điều trị viêm phổi cho lợn. (Khóa luận tốt nghiệp)Xác định một số vi khuẩn gây viêm phổi ở huyện Sơn Dương và Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang và phác đồ điều trị viêm phổi cho lợn. (Khóa luận tốt nghiệp)Xác định một số vi khuẩn gây viêm phổi ở huyện Sơn Dương và Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang và phác đồ điều trị viêm phổi cho lợn. (Khóa luận tốt nghiệp)Xác định một số vi khuẩn gây viêm phổi ở huyện Sơn Dương và Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang và phác đồ điều trị viêm phổi cho lợn. (Khóa luận tốt nghiệp)Xác định một số vi khuẩn gây viêm phổi ở huyện Sơn Dương và Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang và phác đồ điều trị viêm phổi cho lợn. (Khóa luận tốt nghiệp)Xác định một số vi khuẩn gây viêm phổi ở huyện Sơn Dương và Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang và phác đồ điều trị viêm phổi cho lợn. (Khóa luận tốt nghiệp)
Trang 1NGUYỄN THỊ MAI
Tên đề tài:
XÁC ĐỊNH MỘT SỐ VI KHUẨN GÂY VIÊM PHỔI
Ở HUYỆN SƠN DƯƠNG VÀ YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG
VÀ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ VIÊM PHỔI CHO LỢN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y
Khóa học: 2012 - 2017
Thái Nguyên - 2016
Trang 2NGUYỄN THỊ MAI
Tên đề tài:
XÁC ĐỊNH MỘT SỐ VI KHUẨN GÂY VIÊM PHỔI
Ở HUYỆN SƠN DƯƠNG VÀ YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG
VÀ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ VIÊM PHỔI CHO LỢN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y
Khóa học: 2012 - 2017 Giảng viên hướng dẫn: GS TS Nguyễn Thị Kim Lan,
TS Phạm Diệu Thùy
Thái Nguyên - 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành báo cáo tốt nghiệp này trước hết em xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể các thầy cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã truyền đạt cho em những kiến thức quý báu và bổ ích trong suốt những năm học vừa qua
Em xin dành lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Nguyễn Văn Quang,
cô giáo GS TS Nguyễn Thị Kim Lan và cô giáo TS Phạm Diệu Thùy đã rất tận tình và trực tiếp hướng dẫn em thực hiện thành công đề tài và hoàn thiện
khóa luận này Đề tài được thực hiện bằng kinh phí của đề tài cấp tỉnh: “Nghiên cứu sự lưu hành virus gây bệnh tai xanh ở lợn, ứng dụng kỹ thuật GPS và GIS xây dựng bản đồ dịch tễ, đề xuất biện pháp phòng chống bệnh tai xanh cho lợn tại tỉnh Tuyên Quang” do TS Nguyễn Văn Quang làm chủ nhiệm
Em xin chân thành cảm ơn tới các thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y, Chi cục Thú y tỉnh Tuyên Quang và Bộ môn Vi trùng, Viện Thú y Quốc gia đã giúp đỡ em hoàn thành báo cáo thực tập tốt nghiệp này
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến toàn thể gia đình, bạn bè đã giúp
đỡ và động viên em trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian thực tập tốt nghiệp
Trong quá trình thực tập vì chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế, chỉ dựa vào kiến thức đã học cùng với thời gian hạn hẹp nên báo cáo không tránh khỏi sai sót
Kính mong được sự góp ý nhận xét của quý thầy cô để giúp cho kiến thức của em ngày càng hoàn thiện và có nhiều kinh nghiệm bổ ích cho công việc sau này
Em xin chân thành cảm ơn
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2016
Sinh viên
NGUYỄN THỊ MAI
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Đánh giá mức độ mẫn cảm của vi khuẩn với một số loại
kháng sinh (NCCLS - 2002) 31
Bảng 4.1 Kết quả phân lập vi khuẩn A pleuropneumoniae,
P multocida và S suis ở phổi và cuống họng lợn 33
Bảng 4.2 Kết quả phân lập vi khuẩn A pleuropneumoniae,
P multocida 36
Bảng 4.3 Kết quả xác đinh môt số đăc tính sinh vât, hóa hoc của chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae phân lâp được 39
Bảng 4.4 Kết quả xác định một số đặc tính sinh vật, hóa học của các chủng vi khuẩn P multocida phân lập được 41
Bảng 4.5: Kết quả xác định một số đặc tính sinh vật, hóa học của các chủng vi khuẩn S suis phân lập được 43
Bảng 4.6 Kết quả xác định mức độ mẫn cảm với một số kháng sinh của các chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae phân
lập được 45
Bảng 4.7 Kết quả xác định mức độ mẫn cảm với một số kháng sinh của các chủng vi khuẩn P multocida phân lập được 47
Bảng 4.8 Kết quả xác định mức độ mẫn cảm với một số kháng sinh của các chủng vi khuẩn S suis phân lập được 48
Bảng 4.9 Kết quả điều trị lợn mắc viêm phổi 51
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 3.1: Sơ đồ quy trình phân lập vi khuẩn A pleuropneumoniae
(Viện Thú y Quốc gia) 28
Hình 3.2: Sơ đồ quy trình phân lập vi khuẩn P multocida 29 Hình 3.3: Sơ đồ quy trình phân lập vi khuẩn S suis 30 Hình 4.1: Biểu đồ tỷ lệ vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida
và S.suis phân lập được ở lợn 34 Hình 4.2: Biểu đồ tỷ lệ phân lập vi khuẩn A pleuropneumoniae, P
multocida và S suis theo loại lợn 37
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ADN: Acid Deoxyribonucleic
A pleuropneumoniae: Actinobaccillus pleuroneumoniae
CAMP: Chiristie - Atkinson - Munch - Peterson
CFU: Colony Forming Unit
CPS: Capsule polysaccharide
Cs: Cộng sự
DNT: Dermanecrotic toxin
ELISA: Enzyme linked Immuno sorbant assay
NAD: Nicotinamide Adenine Dinucleotide
OMPs: Outer membrane proteins
PCR: Polymerase Chain Reaction
P multocida: Pasteurella multocida
PRRS: Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome PRRSV: Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome Virus
Sta Aureus: Staphylococcus aureus
S suis: Streptococcus suis
TSA: Tryptic Soya Agar
TSB: Tryptone soya broth
VK: Vi khuẩn
VP: Voges Prokauer
YE: Yeast Extract
Trang 7MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC HÌNH iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
Phần 1 : MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 1
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 1
1.4 Ý nghĩa của đề tài 2
1.4.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
Phần 2 : TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Cơ sở khoa học và pháp lý của đề tài 3
2.1.1 Những hiểu biết về vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis 3
2.1.2 Bệnh viêm phổi do 3 loại vi khuẩn A pleuropneumoniae,
P multocida và S suis gây ra 12
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 20
2.2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 20
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 23
PHẦN 3 : ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
3.1 Đối tượng nghiên cứu 27
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 27
3.2.1 Địa điểm 27
Trang 83.2.2 Thời gian tiến hành 27
3.3 Nội dung nghiên cứu 27
3.3.1 Phân lập và xác định vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis trong mẫu bệnh phẩm của lợn viêm phổi tại huyện Sơn Dương và Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 27
3.3.2 Nghiên cứu biện pháp điều trị 27
3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 27
3.4.1 Chọn mẫu điều tra 27
3.4.2 Phương pháp lấy mẫu 28
3.4.3 Phân lập vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida, S suis 28
3.4.4 Phương pháp xác định đặc tính sinh vật, hóa học của vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis 31
3.4.5 Phương pháp xác định mức độ mẫn cảm với một số kháng sinh của các chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis phân lập được, từ đó xây dựng phác đồ điều trị cho lợn mắc viêm phổi 31
Phần 4 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
4.1 Kết quả phân lập vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis ở phổi và cuống họng lợn tại huyện Sơn Dương và Yên Sơn 33
4.2 Kết quả phân lập vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis theo loại lợn 35
4.3 Kết quả xác định một số đặc tính sinh vật, hóa học của 3 chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis phân lập được 39
4.3.1 Kết quả xác định một số đặc tính sinh vật, hóa học của các chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae phân lập được 39
4.3.2 Kết quả xác định một số đặc tính sinh vật, hóa học của các chủng vi khuẩn P multocida phân lập được 41
Trang 94.3.3 Kết quả xác định một số đặc tính sinh vật, hóa học của các
chủng vi khuẩn S suis phân lập được 43
4.4 Kết quả xác định khả năng mẫn cảm với một số kháng sinh của các chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae,
P multocida và S suis phân lập được 44
4.4.1 Kết quả xác định mức độ mẫn cảm với một số kháng sinh của các chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae phân lập được 44
4.4.2 Kết quả xác định mức độ mẫn cảm với một số kháng sinh của các chủng vi khuẩn P multocida phân lập được 46
4.4.3 Kết quả xác định mức độ mẫn cảm với một số kháng sinh của các chủng vi khuẩn S suis phân lập được 48
4.5 Kết quả thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh viêm phổi cho lợn và đề xuất biện pháp phòng chống bệnh 49
4.5.1 Thử nghiệm một số phác đồ điều trị cho lợn 49
4.5.2 Đề xuất biện pháp phòng chống bệnh viêm phổi cho lợn ở huyện Sơn Dương và Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 52
Phần 5 : KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54
5.1 Kết luận 54
5.2 Kiến nghị 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 10Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Viêm phổi là bệnh do vi khuẩn gây ra, trong đó có 3 loại vi khuẩn
Actinobacillus pleuropneumoniae (A pleuropneumoniae), Pasteurella multocida (P multocida) và Streptococcus suis (S suis) Bệnh viêm phổi
gây nhiều thiệt hại về kinh tế cho người chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi trang trại ở nước ta và nhiều nước trên thế giới Khi mắc bệnh lợn dễ chết với tỷ lệ cao, nếu không được điều trị kịp thời Nếu lợn bị mắc bệnh tai xanh thì vi khuẩn gây viêm phổi kế phát sẽ làm bệnh trở nên rất nặng và lợn thường chết
do viêm phổi kế phát Tỉnh Tuyên Quang có nghề chăn nuôi lợn khá phát triển Chăn nuôi lợn đã góp phần xóa đói giảm nghèo và góp phần làm giàu cho bà con nông dân trong tỉnh Tuy nhiên, bệnh viêm phổi thấy ở nhiều lợn, trong đó có nhiều lợn bị chết, gây thiệt hại về kinh tế cho người chăn nuôi
Để có biện pháp phòng trị bệnh viêm phổi cho lợn hiệu quả, việc xác định
vi khuẩn gây viêm phổi và phác đồ điều trị có hiệu lực cao là vấn đề cần thiết
Xuất phát từ tình hình thực tế nêu trên, em tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Xác định một số vi khuẩn gây viêm phổi ở huyện Sơn Dương và Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang và phác đồ điều trị viêm phổi cho lợn ”
1.2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu về 3 loại vi khuẩn gây viêm phổi và biện pháp điều trị viêm phổi, từ đó góp phần làm giảm thiệt hại do bệnh gây ra, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi lợn ở tỉnh Tuyên Quang
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
- Nuôi cấy, phân lập 3 loại vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida
và S suis gây viêm phổi ở lợn tại huyện Sơn Dương và Yên Sơn, tỉnh
Tuyên Quang
Trang 11- Giám định một số đặc tính sinh vật hóa học của 3 loại vi khuẩn trên
- Thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh viêm phổi cho lợn
1.4 Ý nghĩa của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả đề tài là những thông tin khoa học hoàn thiện thêm về vai trò
gây bệnh của 3 loại vi khuẩn (A pleuropneumoniae, P multocida và S suis)
trong bệnh viêm phổi ở lợn Từ đó có cơ sở đề xuất biện pháp phòng chống bệnh viêm phổi cho lợn hiệu quả
Trang 12Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học và pháp lý của đề tài
2.1.1 Những hiểu biết về vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis
2.1.1.1 Vi khuẩn A pleuropneumoniae
Hình thái, kích thước và đặc tính nuôi cấy
Vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae thuộc họ Pasteurellae, thuộc giống Actinobacillus, được xác định là nguyên nhân chính gây nên bệnh
viêm phổi - màng phổi truyền nhiễm ở lợn
Vi khuẩn A pleuropneumoniae có dạng cầu trực khuẩn nhỏ, bắt màu
gram âm, kích thước khoảng 0,3 - 0,5 x 0,6 - 1,4 µm Vi khuẩn không di động, không sinh nha bào, có khả năng hình thành giáp mô, tuy nhiên một số chủng không có giáp mô cũng đã được quan sát thấy Dưới kính hiển vi điện
tử phát hiện vi khuẩn có nhung mao với kích thước 0,5 - 2 x 60 - 450 nm Loại có vỏ (capsule) là polysaccharide được tìm thấy ở hầu hết các serotype
của vi khuẩn A pleuropneumoniae, còn loại không có vỏ thì ít tìm thấy hơn
(Perry và cs, 1990) [35]
Vi khuẩn A pleuropneumoniae là một loại vi khuẩn khó phân lập trên
các môi trường thông thường và thường phụ thuộc vào yếu tố V Do vậy, khi
nuôi cấy A pleuropneumoniae cần các môi trường giàu dinh dưỡng
Vi khuẩn không phát triển trên môi trường thạch máu thông thường mà chỉ có thể mọc trên thạch máu đã được bổ sung NAD hoặc có cấy kèm vi
khuẩn Sta aureus Sau 24 giờ nuôi cấy, vi khuẩn phát triển thành khuẩn lạc mọc xung quanh đường cấy Sta aureus với kích thước 0,5 - 1 mm và hình
thành một vùng dung huyết β Vùng dung huyết này thường được quan sát rõ
hơn trên môi trường thạch có bổ sung 5 - 7% máu cừu Ngoài ra, vi khuẩn A
pleuropneumoniae còn gây một vùng dung huyết tăng cường trong vùng dung
huyết bán phần, xung quanh đường cấy Sta aureus có độc tố dung huyết β
gọi là hiện tượng CAMP
Trang 13Trên môi trường TSA: Trong thành phần của môi trường này được bổ sung Yearst Extract (YE) và huyết thanh ngựa Sau 24 - 48 giờ nuôi cấy, vi khuẩn tạo thành khuẩn lạc nhỏ, màu trắng trong, dưới ánh sáng đèn điện có màu xám xanh
Trên môi trường thạch chocolate: Sau 24 giờ nuôi cấy, vi khuẩn tạo
thành khuẩn lạc nhầy, màu trắng xám Vi khuẩn A pleuropneumoniae thuộc biotype 1 có thể phân biệt được với H parasuis bởi khả năng gây dung huyết trên thạch máu khi có Sta aureus cấy kèm (Kilian và cs, 1978) [29]
Đặc tính sinh hóa
Vi khuẩn A pleuropneumoniae lên men đường glucose, xylose,
mannitol, mannose và không lên men đường arabinose, lactose, raffinose, sorbitol Dương tính với phản ứng urease, oxidase, CAMP, O.N.P.G; âm tính với phản ứng sinh indol và không mọc trên thạch MacConkey
Cấu trúc kháng nguyên
Vi khuẩn A pleuropneumoniae từ lâu đã được nhiều nghiên cứu xác
định là nguyên nhân chính gây nên bệnh viêm phổi - màng phổi ở lợn và được chia thành 2 biotype chính dựa trên nhu cầu cần sử dụng NAD (Nicotinamide Adenine Dinucleotide) hay còn gọi là yếu tố V cho quá trình sinh trưởng của vi khuẩn Biotype 1 cần có NAD, còn biotype 2 thì không đòi hỏi có NAD trong quá trình nuôi cấy Biotype 1 có độc lực cao hơn biotype 2 Biotype 1 có 12 serotype khác nhau dựa trên sự khác nhau của capsule polysaccharide (CPS) và của lipopolysaccharide (LPS) thành tế bào (Perry và cs, 1990) [35] Ở biotype
2 có serotype 2, 4, 7 và 9 có chung nhóm quyết định kháng nguyên như biotype
1 Trong những năm gần đây, serotype 13 và 14 thuộc biotype 2 được phát hiện
và được mô tả có kháng nguyên khác với biotype 1 Blackall và cs (2002) [23]
đã phát hiện ra serotype 15 thuộc biotype 1 ở 9 chủng vi khuẩn phân lập được
tại Australia
Trang 14Các yếu tố độc lực
Nhiều nghiên cứu đã cho thấy độc lực ở các serotype khác nhau của vi
khuẩn A pleuropneumoniae phần lớn được quyết định bởi các ngoại độc tố
mà chúng sản sinh ra Polysaccharide vỏ, lipopolysaccharide, protein màng, protein thu nhận sắt, yếu tố bám dính, ngoại độc tố và một vài loại enzym có
liên quan cũng đóng vai trò quan trọng đối với độc lực của vi khuẩn A
pleuropneumoniae Hiểu biết về thành phần và cấu trúc kháng nguyên chủ
yếu liên quan đến độc tính, độc lực của vi khuẩn sẽ cung cấp các thông tin quan trọng, là cơ sở khoa học cho việc phát triển kỹ thuật chẩn đoán huyết thanh đặc hiệu cũng như chế tạo vắc xin phòng bệnh
- Các yếu tố độc lực khác: Ngoài các yếu tố độc lực chính như trên vi
khuẩn A pleuropneumoniae còn có một số thành phần khác cũng có vai trò
quan trọng trong sinh bệnh học, bao gồm: fimbriae, ngưng kết tố, hlyX protein, protease, enzym superoxide dismutase (SOD), urease
Khả năng đề kháng với kháng sinh
Việc sử dụng kháng sinh không cần thiết làm cho A pleuropneumoniae kháng lại nhiều loại kháng sinh Khả năng kháng kháng sinh của vi khuẩn A
pleuropneumoniae được quyết định bởi thành phần plasmid có trong tế bào vi
khuẩn và plasmid này có trọng lượng phân tử thấp (2,3 - 3,6) x106 dalton Cơ
sở của hiện tượng kháng này với ampicillin là do vi khuẩn tiết ra men lactamase Những plasmid này không có vật liệu gen để thúc đẩy sự dẫn truyền tới vi khuẩn khác và sự xuất hiện của plasmid này gợi ý về kết quả của
β-một quá trình chọn lọc của vi khuẩn A pleuropneumoniae Đặc tính kháng
kháng sinh có khả năng truyền bằng plasmid
Ở Việt Nam, sự mẫn cảm với kháng sinh của A pleuropneumoniae
cũng được Cù Hữu Phú và cs (2005) [13] cho biết ít mẫn cảm nhất là kanamycin (45,45%), neomycin (50%), lincomycin (63,64%) Nguyễn Thị Thu Hằng (2010) [4] khi nghiên cứu khả năng kháng kháng sinh của các các
Trang 15chủng A pleuropneumoniae phân lập được ở lợn thuộc các tỉnh miền Bắc đã cho thấy các chủng A pleuropneumoniae phân lập được mẫn cảm nhất với
kháng sinh ceftriaxone, chiếm tỷ lệ 73,01%; tiếp theo là các kháng sinh ampicillin, amoxicillin, ceftazidine lần lượt là 63,49%; 58,73% và 55,56% Một số kháng sinh đang được sử dụng nhiều có tỷ lệ kháng thuốc khá cao như lincomycin bị kháng tới 93,65%, tiếp đến là erythromycin, neomycin và gentamicin 85,71%; 80,95% và 49,21%
Như vậy, khả năng kháng thuốc của vi khuẩn A pleuropneumoniae khá
phổ biến, có xu hướng tăng lên về tỷ lệ và chủng loại thuốc bị kháng Do đó cần có biện pháp sử dụng thuốc kháng sinh trong chăn nuôi và thú y hợp lý
nhằm hạn chế khả năng kháng thuốc của A pleuropneumoniae
2.1.1.2 Vi khuẩn P multocida
Hình thái, kích thước và đặc tính nuôi cấy
Vi khuẩn P multocida thuộc bộ Eubacteriales, họ Parvobateriaceae, tộc Pasteurelliae, giống Pasteurella, loài Pasteurella multocida
Vi khuẩn P multocida gây bệnh ở lợn là loại cầu trực khuẩn, bắt màu
gram âm, có kích thước 0,2 - 0,41 x 0,04 - 1,5 m, hai đầu tròn, không di động, không sinh nha bào, thường bắt màu sẫm ở hai đầu trong các tiêu bản
máu ở phủ tạng lợn còn tươi P multocida là loại vi khuẩn sống hiếu khí hoặc
yếm khí tuỳ tiện, điều kiện thích hợp cho vi khuẩn phát triển là 37°C trong
môi trường trung tính hay hơi kiềm (pH: 7,2 - 7,4) Vi khuẩn P multocida
mọc tốt trên một số môi trường như nước thịt, thạch thường, thạch máu… (Cù Hữu Phú, 2005) [13]
Đặc tính sinh hóa
Vi khuẩn P multocida lên men đường glucose, mannitol, sorbitol,
galactose; không lên men đường lactose, arabinose, maltose Phản ứng sinh indol, catalaza và oxydaza: dương tính; phản ứng urease: âm tính; không mọc trên môi trường MacConkey (Đỗ Quốc Tuấn, 2008 [22])
Trang 16Cấu trúc kháng nguyên
Kháng nguyên của vi khuẩn P multocida rất phức tạp và cấu trúc từng loại luôn thay đổi Cho đến nay, người ta đã xác định được P multocida có 2
loại kháng nguyên là kháng nguyên vỏ (K) và kháng nguyên thân (O) Kháng
nguyên O của vi khuẩn P multocida được cấu tạo từ gluxit, lipid và protein
Về đặc điểm sinh học, kháng nguyên O có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành miễn dịch Kháng nguyên K bao quanh thân vi khuẩn giúp cho vi khuẩn chống lại hiện tượng thực bào và ngăn cản sự tiếp xúc giữa kháng nguyên thân O và kháng thể O Kháng nguyên thân O có hai thành phần đặc hiệu và không đặc hiệu, các chủng vi khuẩn khác nhau sẽ khác nhau theo kháng nguyên thân
Độc lực của vi khuẩn
Nhiều nghiên cứu về độc lực của vi khuẩn P multocida cho thấy ở những gia súc, gia cầm chết do vi khuẩn P multocida gây ra, người ta tìm thấy dấu hiệu hoạt động của độc tố Độc lực của 9 chủng P multocida phân
lập được thuộc serotype A tại Australia cho biết: trong 9 chủng này có 3 chủng không chứa plasmid nhưng rất độc với chuột, tiêm liều 100 CFU/con vào xoang bụng thì chuột chết trong vòng từ 10 - 24 giờ, trong khi đó 3 chủng phân lập có chứa 1 plasmid và 3 chủng có chứa 2 plasmid lại không có khả
năng giết chết chuột dù tiêm liều cao hơn Vi khuẩn P multocida thuộc
serotype D còn tạo ra dermanecrotic toxin (DNT) là độc tố gây hoại tử biểu
bì, độc tố này không bền với nhiệt Nếu nuôi cấy vi khuẩn ở 30o
C thì hoạt tính của gen toxA này bị giảm nhiều và số lượng độc tố DNT sinh ra cũng ít đi (Hunt và cs, 2000) [26]
Đỗ Quốc Tuấn (2008) [22] cho thấy vi khuẩn P multocida phân lập
được từ lợn ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam có độc lực gây chết chuột
bạch từ 50 - 100% trong thời gian từ 20 - 48 giờ Vi khuẩn P multocida phân
Trang 17lập được từ gia súc tại các tỉnh Cao Bằng và Hà Giang có độc lực mạnh, đã gây chết từ 27,80% đến 100% chuột thí nghiệm trong vòng 48 giờ sau khi công cường độc
Khả năng đề kháng với kháng sinh
Vi khuẩn P multocida gây bệnh ở gia súc tại Thái Lan chứa 2 loại
plasmid có khả năng đề kháng với kháng sinh Loại plasmid thứ nhất là pJR1 chứa 6.792 bp và loại thứ hai là pJR2 chứa 5.252 bp
Ở Việt Nam, Đỗ Quốc Tuấn và Nguyễn Quang Tuyên (2007) [21] cho
biết 25 chủng P multocida phân lập được từ các mẫu bệnh phẩm lợn mắc
bệnh mẫn cảm cao với các kháng sinh như chlotetracyclin, neomycin và ampicillin Đến năm 2008, Đỗ Quốc Tuấn [22] xác định mức độ mẫn cảm của
các chủng P multocida phân lập được ở lợn tại một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam với một số kháng sinh thông dụng đã cho thấy các chủng P
multocida mẫn cảm cao với norfloxacin, lincomycin và neomycin Tiêu
Quang An và Nguyễn Hữu Nam (2011) [1] cũng cho biết các chủng P
multocida phân lập được ở lợn mắc PRRS mẫn cảm cao với các kháng sinh
như amoxicillin (100%), ampicillin (66,67%), gentamicin (66,67%) và kháng mạnh các kháng sinh như streptomycin, enrofloxacin, colistin
2.1.1.3 Vi khuẩn S suis
Hình thái, kích thước và đặc tính nuôi cấy
Vi khuẩn S suis thuộc giống Streptococcus, họ Streptococcaceae, bộ Lactobacillales, lớp Bacilli
Streptococcus là vi khuẩn gram dương, hình cầu hoặc hình trứng đường
kính nhỏ hơn 1 μm, chúng thường đứng riêng lẻ, xếp thành đôi hoặc thành từng chuỗi ngắn như chuỗi hạt, có độ dài ngắn không đều nhau Vi khuẩn thuộc nhóm yếm khí tùy tiện, không di động, không sinh nha bào, nhưng có khả năng hình thành giáp mô Sự hình thành giáp mô có thể xác định được khi chúng sinh sống trong các mô hoặc phát triển trong các môi trường nuôi cấy
có chứa huyết thanh
Trang 18Vi khuẩn được nuôi cấy sau 18 giờ chủ yếu là có dạng hình cầu, kích thước 0,5 - 1 μm, đứng thành dạng chuỗi 5 - 10 tế bào Đặc biệt, khi nuôi cấy trong môi trường dạng lỏng, hình thái các chuỗi được nhìn thấy rõ
nhất.Vikhuẩn S suis là những vi khuẩn hiếu khí hay yếm khí tùy tiện, gây
bệnh thích hợp ở nhiệt độ 37oC và phát triển tốt trên nhiều loại môi trường như:
+ Môi trường nước thịt: Vi khuẩn S suis hình thành hạt hoặc những
bông, rồi lắng xuống đáy ống Sau 2 giờ nuôi cấy môi trường trong, đáy ống
có cặn
+ Môi trường thạch thường: Vi khuẩn S suis hình thành khuẩn lạc dạng
S, khuẩn lạc nhỏ, tròn, lồi, bóng, màu hơi xám
+ Trên môi trường đặc: Có thể quan sát thấy khuẩn lạc sau 24 giờ nuôi cấy với kích thước khoảng 1 - 2 mm Sau 72 giờ thì kích thước khuẩn lạc lớn nhất, có thể đạt tới 3 - 4 mm Nếu được nuôi trong điều kiện có 5 - 10% CO2 thì khuẩn lạc sẽ phát triển nhanh hơn và rộng hơn Khuẩn lạc thường tạo chất nhầy mạnh, độ nhầy càng rõ và tăng nếu như vi khuẩn được nuôi cấy vài giờ vào môi trường nước thịt có bổ sung huyết thanh trước khi cấy sang môi trường đặc hoặc thạch máu Dạng khuẩn lạc trên môi trường thạch thường nhỏ và khô hơn trên môi trường có bổ sung dinh dưỡng
+ Trên môi trường thạch máu: Vi khuẩn hình thành khuẩn lạc tròn, gọn, hơi vồng, sáng trắng, mịn, dung huyết sau 24 giờ nuôi cấy
+ Trên môi trường MacConkey: Vi khuẩn mọc tốt, sau 24 giờ nuôi cấy, hình thành các khuẩn lạc nhỏ bằng đầu đinh ghim
Đặc tính sinh hóa
Vi khuẩn S suis có khả năng lên men đường glucose, lactose, succrose,
inulin, trehalose, maltose, fructose; không lên men các loại đường ribose, arabinose, sorbitol, mannitol, dextrose và xylose Các phản ứng oxydase, catalase, indol: âm tính (Trịnh Phú Ngọc, 2002) [9]
Trang 19Sức đề kháng
S suis có sức đề kháng kém với nhiệt độ và hoá chất Trong phân, ở
0oC vi khuẩn có thể sống 104 ngày, ở 9oC vi khuẩn sống được 10 ngày, ở 22 -
25oC vi khuẩn có thể sống được 8 ngày Ở 70oC vi khuẩn chết trong 35 - 40 phút, ở 100oC vi khuẩn chết trong 1 phút; vi khuẩn sống trong bụi 25 ngày ở
9oC nhưng không phân lập được vi khuẩn ở bụi trong nhiệt độ phòng (18 -
20oC)/ 24 giờ Vi khuẩn bị diệt dưới ánh sáng mặt trời sau 40 - 60 phút
Lê Văn Tạo (2005) [18] cho biết: S suis dễ bị diệt bởi nhiều chất sát
trùng như: phenol, iod, hypochlorid, acid phenic 3 - 5% diệt vi khuẩn trong vòng 3 - 15 phút, formol 1% diệt vi khuẩn trong vòng 60 phút, cồn 70oC diệt
vi khuẩn trong vòng 30 phút Vi khuẩn có thể sống trong xác lợn chết ở 40oC trong 6 tuần Vi khuẩn tồn tại lâu trong đờm, chất bài xuất có protein Tuy nhiên, vi khuẩn có thể tồn tại ở trên hạch amidan lợn mang trùng hơn 1 năm, ngay cả khi có các yếu tố thực bào, kháng thể và bổ sung kháng sinh phù hợp trong thức ăn
Cấu trúc kháng nguyên
+ Vi khuẩn S suis có cấu trúc kháng nguyên rất phức tạp và có rất
nhiều kháng nguyên đã được tìm thấy, đó là:
Kháng nguyên thân: có ý nghĩa quan trọng trong việc quyết định độc
lực của S suis Kháng nguyên thân nằm ở thành vi khuẩn và được cấu tạo bởi
các phân tử peptidoglycan ở lớp trong cùng, tiếp đến là lớp giữa gồm các polysaccharide, lớp ngoài cùng là các protein gồm M protein, lipoteichoic acid, R và T protein
Kháng nguyên bám dính: có vai trò quan trọng trong việc giúp vi khuẩn
bám dính vào tế bào biểu mô của vật chủ Vi khuẩn S suis là một trong số ít các
loại vi khuẩn gram dương có mang cấu trúc này
Trang 20Kháng nguyên giáp mô: có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ vi khuẩn, kháng lại khả năng thực bào của cơ thể vật chủ
Các yếu tố độc lực của vi khuẩn
Những hiểu biết về các yếu tố độc lực của vi khuẩn S suis còn rất hạn
chế, phần lớn những nghiên cứu được tiến hành với các chủng thuộc serotype
2 Các nhà khoa học đều có chung quan điểm là có sự tồn tại của chủng độc và
chủng không độc của vi khuẩn S suis serotype 2 Thành phần polysaccharide
của giáp mô được xác định là yếu tố độc lực quan trọng vì các chủng đột biến không có giáp mô đều thể hiện là không có độc tính và nhanh chóng bị loại bỏ khỏi hệ thống tuần hoàn của lợn và chuột trong các thí nghiệm gây nhiễm thực nghiệm.Tuy vậy không phải tất cả các chủng có giáp mô đều là chủng độc (Lun
và cs, 2007) [32]
Các yếu tố độc lực khác ngoài polysaccharide giáp mô của S suis,
bao gồm:
+ Yếu tố gây dung huyết
+ Hai loại protein là protein giải phóng muramidase có trọng lượng phân tử 136 kDa và protein giải phóng yếu tố ngoại bào
Khả năng đề kháng với kháng sinh
Ở Việt Nam, Trịnh Phú Ngọc (2002) [9] khi kiểm tra khả năng mẫn
cảm với kháng sinh của các chủng vi khuẩn Streptococcus phân lập được cho
thấy số chủng mẫn cảm với Penicillin G biến động từ 59,09 - 63,63% Sau đó,
khi xác định khả năng mẫn cảm với kháng sinh của vi khuẩn S suis phân lập được ở lợn mắc bệnh viêm phổi cho biết các chủng vi khuẩn S suis mẫn cảm
cao với các loại kháng sinh như ceftiofur, florfenicol, amoxicillin, amikacin
và có hiện tượng kháng lại một số kháng sinh streptomycin, neomycin,
tetracycline, penicillin G Điều này đã thể hiện theo thời gian vi khuẩn S suis
đã có hiện tượng kháng thuốc với một số kháng sinh thông dụng như streptomycin, neomycin, tetracycline và penicillin G
Trang 212.1.2 Bệnh viêm phổi do 3 loại vi khuẩn A pleuropneumoniae,
P multocida và S suis gây ra
2.1.2.1 Bệnh viêm phổi - màng phổi ở lợn do A pleuropneumoniae
* Triệu chứng
Triệu chứng lâm sàng của bệnh thể hiện ở nhiều mức, phụ thuộc vào
tuổi của lợn, tình trạng miễn dịch, điều kiện môi trường và mức độ cảm
nhiễm với tác nhân gây bệnh Tiến triển lâm sàng có thể là quá cấp tính, cấp
tính hoặc mãn tính
- Thể quá cấp tính: Trong cùng một khoảng thời gian một số con của
đàn lợn cai sữa có biểu hiện sốt cao (40,5 - 41,5o
C), uể oải, mệt mỏi Lợn bệnh có một thời gian ngắn bị nôn mửa và tiêu chảy Lợn khó thở, tần số
mạch tăng Da ở vùng mũi, tai, chân và sau đó toàn cơ thể có màu tím xanh
Giai đoạn đầu của bệnh con vật khó thở trầm trọng Lợn bệnh chết nhanh
chóng trong vòng 24 - 36 giờ Trước khi chết lợn chảy nhiều nước dãi, nước
mũi nhiều bọt có thể lẫn máu Đôi khi trong đàn chỉ thấy lợn chết rất nhanh
mà không xuất hiện triệu chứng lâm sàng Bằng thực nghiệm, người ta thấy
lợn có thể chết sau 3 giờ gây bệnh Lợn sơ sinh nếu bị bệnh sẽ bị bại huyết và
thường chết ngay sau khi sinh Nguyễn Bá Hiên và cs (2013) [5]
- Thể cấp tính: Ở thể này thường có nhiều lợn cùng mắc bệnh trong một
chuồng hoặc ở những chuồng khác nhau Lợn bệnh sốt từ 40,5 - 41oC, da đỏ,
mệt mỏi, nằm không muốn dậy, không muốn uống, bỏ ăn Các dấu hiệu hô
hấp nặng như khó thở, ho và đôi khi thở bằng miệng
- Thể mãn tính: Thể này thường do thể cấp tính chuyển sang Lợn
thường không sốt hoặc sốt nhẹ, ho liên tục hoặc ho ngắt quãng Lợn bỏ ăn,
khả năng tăng trọng giảm Khi phải vận động lợn bệnh thường tụt lại phía sau
đàn Khi bị ghép với một số mầm bệnh gây bệnh đường hô hấp khác như
Mycoplasma, một số vi khuẩn và virus sẽ làm cho bệnh trầm trọng hơn
Nguyễn Bá Hiên và cs (2013) [5]
Trang 22* Bệnh tích
- Bệnh tích đại thể: Lợn bị nhiễm A pleuropneumoniae cho thấy lợn
bệnh có những tổn thương chủ yếu ở đường hô hấp Phổi thường bị viêm có tính chất đối xứng, gồm thùy tim, thủy đỉnh và một phần thùy hoành Bệnh tích phổi bị viêm thường tập trung thành từng đám và có ranh giới rõ rệt
- Bệnh tích vi thể: Trong giai đoạn đầu của bệnh, biến đổi bệnh tích vi thể chủ yếu là hiện tượng hoại tử xuất huyết và thâm nhiễm, tế bào đa nhân trung tính, đại thực bào và tiểu huyết cầu, ngoài ra còn thấy hiện tượng nghẽn mạch,phù thũng lan tràn và dịch thủy thũng có nhiều fibrin
* Các biện pháp phòng bệnh
Việc phòng bệnh cần thực hiện theo một số nguyên tắc sau:
- Các trại chăn nuôi không có lợn mắc bệnh và nhiễm A
pleuropneumoniae phải duy trì việc cách ly, đi đôi với việc sử dụng tinh dịch
an toàn Khi nhập lợn mới vào đàn, phải đảm bảo lợn có nguồn gốc từ một đàn không bị bệnh, không bị nhiễm khuẩn, nên nuôi cách ly chúng trong một thời gian trước khi cho vào đàn
- Có thể dùng thuốc kháng sinh để phòng bệnh nhưng không được dùng
kéo dài và thường xuyên kiểm tra sự mẫn cảm của vi khuẩn A
pleuropneumoniae với kháng sinh Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh không
loại bỏ được mầm bệnh hoàn toàn và vi khuẩn A pleuropneumoniae vẫn có
thể thải ra môi trường
- Tiêu hủy toàn đàn khi mắc bệnh là phương pháp tối ưu để thanh toán dịch bệnh, sau đó tiêu độc chuồng trại, tạo đàn mới từ những con giống sạch bệnh Trong trường hợp có tỷ lệ lợn trong đàn kiểm tra huyết thanh dương tính cao thì tiêu hủy là phương pháp hiệu quả
- Hiện đã có nhiều loại vắc xin được sản xuất để phòng cho bệnh này
và được chia thành 2 nhóm chính là vắc xin vô hoạt và vắc xin có chứa một số thành phần cấu tạo của vi khuẩn Vắc xin vô hoạt toàn khuẩn đặc hiệu theo chủng huyết thanh, có thể có miễn dịch chéo với các chủng huyết thanh khác
Trang 23- Trong chương trình kiểm soát dịch bệnh do A pleuropneumoniae gây
ra ở lợn phải thực hiện triệt để biện pháp tiêu độc khử trùng Vi khuẩn nhạy cảm với nhiều chất sát trùng thông thường như Han-Iodine 10%, Benkocid,
Chloramin B Các đàn lợn đã bị nhiễm vi khuẩn A pleuropneumoniae cần có
biện pháp can thiệp kịp thời để loại trừ mầm bệnh Thiết lập lại đàn lợn có
nguồn gốc từ các đàn chắc chắn không bị nhiễm A pleuropneumoniae là một
trong các biện pháp tối ưu
* Điều trị bệnh
Kháng sinh được chọn lựa trong điều trị phải là kháng sinh có nồng độ
ức chế tối thiểu thấp và có khả năng diệt khuẩn tốt nhất Một số kháng sinh mới có gần đây như các dẫn xuất quinolone (enrofloxacin) hoặc cephalosporin bán tổng hợp (ceftiofur sodium) đã được chứng minh trên thử nghiệm rất có kết quả Moller và cs (1996) [33] đã xác định được tilmicosin
có hiệu quả cao trong điều trị bệnh do vi khuẩn A pleuropneumoniae gây ra ở
lợn Điều trị bằng kháng sinh chỉ có hiệu quả ở giai đoạn mới phát bệnh, có tác dụng làm giảm tỷ lệ lợn chết Nếu điều trị muộn khi cơ thể đã xuất hiện nhồi máu hoặc tổn thương mãn tính làm cho lợn bị rối loạn hô hấp thì kết quả rất kém Cần làm kháng sinh đồ khi thí nghiệm điều trị bằng kháng sinh Sự thành công của điều trị phụ thuộc chủ yếu vào việc phát hiện sớm các dấu hiệu lâm sàng và can thiệp điều trị kịp thời
2.1.2.2 Bệnh viêm phổi ở lợn do vi khuẩn P mutocida
*Triệu chứng
- Thể cấp tính: Con vật có biểu hiện sốt cao,khó thở, thở thể bụng, kiệt sức Lợn chết và sắp chết vùng bụng có màu đỏ tím do trúng độc nội độc tố Nguyễn Bá Hiên và cs (2013) [5] Niêm mạc mũi lợn bệnh bị viêm, con vật thở khó, thở nhanh, có tiếng khò khè, ướt trong phế quản, chảy nước mũi đặc, nhờn, đục, có khi có mủ, máu; ho khan, từng tiếng, ho co rút toàn thân, khi gõ vùng ngực con vật đau, thấy có vùng âm đục; tim đập nhanh; chảy nước mắt
Trang 24Quan sát thấy lợn bệnh bị phù thũng dưới da vùng hầu và lan rộng xuống cổ Những vùng này có hiện tượng sưng to và bùng nhùng Lợn mắc bệnh lúc đầu táo sau ỉa chảy có khi có máu hoặc cục máu do xuất huyết ruột Bệnh tiến triển từ 3 đến 12 ngày, con vật gầy yếu dần, ăn ít hoặc không ăn rồi chết Tỷ
lệ chết có thể lên tới 80%, nếu con vật không chết thì có thể chuyển sang thể mãn tính (Nguyễn Vĩnh Phước và cs, 1979) [16]
- Thể mãn tính: Thể này thường tiếp theo thể cấp tính, con vật khó thở, thở nhanh và thở khò khè, hơi sốt nhẹ, các khớp bị sưng nhất là khớp gối Con vật ho nhiều khi vận động, có đám da tróc bong vẩy, niêm mạc miệng đóng màng giả gây áp xe Bệnh tiến triển 3 - 6 tuần sau đó con vật gầy yếu dần rồi chết do suy nhược (Phan Thanh Phượng và cs, 2006) [17]
- Thể mãn tính: Theo Nguyễn Vĩnh Phước và cs (1979) [16] các bệnh tích ở thể này là phổi viêm mãn tính, có vùng gan hoá hoại tử vàng xám, cứng, có ổ áp xe, có khi bị cazein hoá như fomat, đám bã đậu hoá Phế quản
Trang 25viêm mãn tính, màng phổi dày ra ở vùng phổi bị hoại tử, có chỗ dính vào lồng ngực Hạch lâm ba, hạch hạnh nhân, khớp xương mô liên kết dưới da có những đám bã đậu, gan lách có đám cazein hoá
* Biện pháp phòng bệnh tổng hợp
Cũng như các bệnh truyền nhiễm khác, biện pháp phòng chống bệnh do
vi khuẩn P multocida gây ra ở lợn chủ yếu là tuân thủ nghiêm ngặt các điều
kiện cách ly khi bổ sung lợn mới vào đàn Duy trì các biện pháp thú y chặt chẽ, có hệ thống hố sát trùng ở cửa ra vào chuồng trại, có quần áo bảo hộ lao động cho công nhân chăn nuôi, có hệ thống “chuồng nuôi - chuồng nghỉ”, có
kế hoạch diệt loài gặm nhấm; khử trùng tiêu độc chuồng trại theo định kỳ bằng vôi bột, dung dịch NaOH 2%, dung dịch formol 0,5%, HanIodine 10% Khi có lợn mắc bệnh cần cách ly triệt để những con ốm và điều trị kịp thời bằng thuốc kháng sinh đặc hiệu nhằm tiêu diệt vi khuẩn, tiêu diệt mầm bệnh ngay trong cơ thể lợn mắc bệnh; chất thải của mắc bệnh phải được tiêu huỷ và tiêu độc, sát trùng chuồng trại Không được bán chạy, vận chuyển lợn đang bị
mắc bệnh đi nơi khác Đồng thời, cần tập trung nghiên cứu về vi khuẩn P
multocida gây bệnh ở lợn chọn ra các chủng mới để chế tạo vắc xin phòng
bệnh thật hiệu quả Tùy từng địa phương có thể sử dụng vắc xin chế từ các chủng vi khuẩn khác nhau; thực hiện tiêm phòng vắc xin thường xuyên, định
kì, đều đặn, đúng qui trình với tỷ lệ tiêm phòng đạt cao 90 - 100% đàn lợn là biện pháp phòng bệnh hữu hiệu nhất
* Điều trị bệnh
Theo Phan Thanh Phượng và cs (2006) [17], trong thực tế vi khuẩn P
multocida có nhiều biến chủng kháng lại các thuốc kháng sinh thông thường,
nên muốn điều trị có hiệu quả cần phải tiến hành kiểm tra tính mẫn cảm với kháng sinh để chọn loại kháng sinh có hiệu quả Đỗ Quốc Tuấn (2008) [22]
cho biết, các chủng P multocida phân lập được ở lợn tại một số tỉnh miền núi
phía Bắc Việt Nam mẫn cảm cao với norfloxacin, lincomycin, neomycin và
đã chọn hai kháng sinh là lincomycin và norfloxacin điều trị lợn mắc bệnh do
vi khuẩn P multocida gây ra, tỷ lệ lợn khỏi bệnh từ 84,37% đến 91,48%
Trang 262.1.2.3 Bệnh viêm phổi ở lợn do vi khuẩn S suis gây ra
* Triệu chứng
Theo Nguyễn Bá Hiên và cs (2013) [5] Triệu chứng đầu tiên có thể quan sát thấy là lợn sốt cao (42,5oC), bỏ ăn, ủ rũ, mệt mỏi, què Trong thể quá cấp tính, lợn thường chết nhanh không rõ triệu chứng của bệnh Giai đoạn đầu của bệnh lợn có triệu chứng thần kinh đi lại loạng choạng hoặc có tư thế đứng không bình thường, nhanh chóng chuyển thành trạng thái không đứng được,
co giật, có chứng giật cầu mắt Mắt thường nhìn chòng chọc, niêm mạc mắt nhày có màu đỏ Clifton-Hadley nghiên cứu ở lợn gây bệnh thực nghiệm và quan sát lợn trong các ổ dịch tự nhiên cho thấy lợn từ 1- 3 tuần tuổi thường mắc thể viêm não và viêm màng não với các triệu chứng như ủ rũ, kém ăn, sưng hầu, khó nuốt, đi lại khó khăn, lông khô, dựng đứng, sốt, da mẩn đỏ Lợn hoạt động khó khăn, đi lại loạng choạng, khi nằm có biểu hiện tư thế như bơi chèo, tê liệt Triệu chứng viêm não ở lợn trưởng thành rất ít biểu hiện
* Bệnh tích
Lợn bị bại huyết, viêm khớp, viêm phổi, viêm màng não, ngoài ra còn viêm nội tâm mạc, viêm âm đạo, sảy thai
- Thể viêm khớp: thường hay xảy ra ở lợn đang bú và lợn trưởng thành
Ở lợn trưởng thành có hiện tượng viêm một khớp, khớp viêm thường là khớp bẹn, khớp gối hoặc khớp bàn chân Tổn thương đầu tiên bao gồm thủy thũng, sưng khớp và màng khớp sung huyết, dịch khớp đục Bệnh có thể tiến triển năng hơn với hiện tượng viêm tơ huyết và áp xe các tổ chức trong khớp
- Thể viêm não tuỷ: Lợn bệnh sốt cao, bỏ ăn, đi lại siêu vẹo, run rẩy, co giật, nôn mửa, hôn mê và chết sau 2 - 3 ngày Bệnh thường thấy ở lợn sau cai sữa và lợn từ 2 - 3 tháng tuổi, tỷ lệ chết 100% Bệnh tích: màng não tụ huyết
và xuất huyết, dịch não và tủy vẩn đục
- Thể viêm hạch: Sốt cao, hạch hầu và hạch mang tai sưng thủy thũng, sau thành apxe mủ, lâu thành bã đậu Bệnh thấy ở lợn vỗ béo, diễn biến 5 - 8 ngày, tỷ lệ chết 20 - 30% Bệnh tích: hạch hầu, hạch trước vai, trước đùi sưng
tụ huyết ở giai đoạn đầu, giai đoạn cuối viêm bã đậu
Trang 27* Các biện pháp phòng bệnh
- Phòng bệnh bằng vệ sinh, chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý trong chăn nuôi lợn việc chia đàn, phân ô chuồng theo từng loại lợn là rất cần thiết Với lợn con sau cai sữa, cần chia thành các ô nhỏ để đạt được tốc độ tăng trưởng tối đa vì khả năng lây truyền bệnh khi nuôi nhốt với mật độ cao là rất
lớn Để chủ động phòng bệnh ở lợn do vi khuẩn S suis gây ra cần:
+ Thường xuyên thực hiện phun thuốc diệt ruồi, muỗi để ngăn chặn nguồn mang mầm bệnh vào chuồng trại Thu gom rác, phân, chất độn chuồng, nước thải; phun thuốc tiêu độc, tẩy uế chuồng trại bằng các loại thuốc sát trùng như NaOH 2%, Benkocid Han-Iodine 10% theo đúng qui định
+ Chú trọng khâu chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý đàn; hạn chế sự xâm nhiễm và lây lan dịch bệnh nên thực hiện chính sách “Cùng vào cùng ra”
+ Bổ sung kháng sinh vào thức ăn để giảm tỷ lệ lợn khoẻ mang trùng + Lợn con sau khi sinh cần được bú đầy đủ sữa đầu của mẹ để có đủ kháng thể bảo vệ chúng trong giai đoạn đầu giai đoạn dễ cảm nhiễm với bệnh nhất
+ Loại bỏ những lợn mang trùng và có hướng điều trị kịp thời lợn mắc bệnh
+ Không được vận chuyển lợn từ vùng có dịch sang vùng khác
+ Khi có dịch xảy ra, phải cách ly những con bệnh ra khu vực nuôi cách ly để tránh lây lan Theo dõi và điều trị kịp thời những con bị bệnh Với những con không có khả năng chữa khỏi thì tiến hành loại thải
- Phòng bệnh bằng vắc xin:
Hiện nay, các loại vắc xin được sử dụng để phòng bệnh do S suis gây
ra cho lợn chủ yếu là các vắc xin chuồng và hiệu quả bảo hộ của các loại vắc xin này cũng chưa được xác định một cách rõ ràng Các nhà khoa học cũng đã chế tạo thử nghiệm nhiều loại vắc xin khác nhau như vắc xin toàn khuẩn, vắc
Trang 28xin sống nhược độc, vắc xin tiểu phần (chế từ kháng nguyên giáp mô hoặc các protein thành tế bào) Tuy nhiên, miễn dịch bảo hộ ở chuột hoặc lợn thí nghiệm được tiêm các loại vắc xin này cũng rất thất thường và không ổn định Trong một số trường hợp khẩn cấp, việc lựa chọn dùng vắc xin vẫn là phương thức tối ưu nhất để bảo vệ đàn lợn Tại Trung Quốc, năm 1994 đã dùng vắc
xin đông khô chế từ chủng nhược độc của vi khuẩn S suis chủng ST.171,
tiêm cho lợn từ cai sữa đến trưởng thành và nái có chửa ở thời kỳ đầu Khi sử dụng cho thêm nước muối sinh lý có bổ trợ keo phèn 20% hoà thành huyễn dịch tiêm dưới da hoặc tiêm bắp với liều 1ml/con Sau khi tiêm 7 ngày đã sinh miễn dịch, miễn dịch cao nhất sau 14 ngày và thời gian miễn dịch kéo dài được 6 tháng Tuy nhiên, hiện nay việc sử dụng vắc xin cầu khuẩn để tiêm phòng cho đàn lợn ở nước ta chưa được phổ biến rộng rãi, bệnh liên cầu khuẩn vẫn thường xuyên xẩy ra ở lợn gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi
* Điều trị bệnh
Trong thực tế, khi sử dụng kháng sinh có độ mẫn cảm cao để điều trị
cho lợn mắc bệnh do vi khuẩn S suis gây ra đã mang lại hiệu quả Tuy nhiên,
sử dụng kháng sinh để điều trị phải dùng sớm và chỉ có hiệu quả tốt khi con vật chưa có biểu hiện triệu chứng lâm sàng nặng hay chưa có biểu hiện quá ủ
rũ, bỏ ăn Điều trị muộn thì hiệu quả sẽ rất kém hoặc không có hiệu quả Chẩn
đoán phát hiện sớm bệnh do vi khuẩn S suis gây ra và điều trị bằng kháng
sinh thích hợp là biện pháp nhằm tăng khả năng sống sót cho đàn lợn Theo
Tô Long Thành và cs (2007) [19] trong 25 chủng vi khuẩn S suis phân lập
được ở lợn mắc bệnh viêm phổi mẫn cảm cao với ceftiofur (92,00%), florfenicol (88,00%), amoxicillin (88,00%) và amikacin (72,00%) nên có thể
sử dụng một trong các kháng sinh trên để điều trị cho lợn khi mắc viêm phổi
do vi khuẩn S suis gây ra
Trang 292.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
2.2.1.1 Nghiên cứu vi khuẩn A pleuropneumoniae
Năm 1957, Pattison và cs [34] là những người đầu tiên phát hiện bệnh
viêm phổi - màng phổi ở lợn Chủng vi khuẩn gần giống với Pasteurella
heamolytica là nguyên nhân gây bệnh viêm phổi - màng phổi hoại tử là một
biến thể của A pleuropneumoniae, hiện nay được gọi là A pleuropneumoniae thuộc biotype 2 Năm 1978, Kilian và cs [29] khẳng định vi khuẩn A
pleuropneumoniae là nguyên nhân gây bệnh viêm phổi màng phổi ở lợn
Các kỹ thuật chẩn đoán bệnh viêm phổi - màng phổi đã được nhiều tác giả trên thế giới nghiên cứu Lairini và cs (1995) [30] đã dùng kháng thể đơn dòng để xác định độc tố của từng serotype Sử dụng phương pháp PCR để xác
định serotype của A pleuropneumoniae dựa trên các gen apx và amolA
Theo Bongtae Kim và cs (2001) [24] từ năm 1995 đến năm 1998, tại
Hàn Quốc đã phân lập được 76 chủng A pleuropneumoniae và từ lợn mắc
bệnh viêm phổi - màng phổi Trong số đó, tỷ lệ các chủng thuộc serotype 2 chiếm 60,53%; serotype 5 chiếm 26,32%; serotype 6 chiếm 13,16%
2.2.1.2 Nghiên cứu vi khuẩn P multocida
Vi khuẩn P multocida có thể là nguyên nhân nguyên phát hoặc thứ
phát gây ra thể bệnh viêm phổi ở lợn, bệnh có thể gây chết lợn hoặc làm giảm khả năng tăng trọng của lợn do vậy gây thiệt hại rất lớn cho người chăn nuôi
Bệnh do P multocida gây ra nguyên phát được gọi là bệnh tụ huyết trùng, nhưng
trong đa số các trường hợp vi khuẩn thường kết hợp với các vi khuẩn đường hô
hấp khác như: A pleuropneumoniae, Streptococcus sp, B bronchiseptica,
Haemophilus parasuis,… gây nên hội chứng bệnh đường hô hấp
Bệnh do vi khuẩn P multocida gây ra đã được nhiều nhà khoa học trên
thế giới nghiên cứu trong nhiều năm
Trang 30Nhiều tác giả khác cho rằng, vi khuẩn P multocida là một trong những tác nhân chính gây bệnh viêm phổi ở lợn Trong đó chủ yếu là do P
multocida type A gây ra và một phần nhỏ là P multocida type D
Tại Nhật Bản trong số 116 mẫu P multocida phân lập từ phổi lợn có
bệnh tích nhục hóa, áp xe phổi và viêm màng phổi có 81,90% thuộc type A; 18,10% thuộc type D
Tại Triều Tiên, trong 80 chủng P multocida phân lập từ 450 phổi lợn
bệnh có 96,30% thuộc type A; 3,90% thuộc type D Hai hội chứng chủ yếu
thường gặp do vi khuẩn P multocida gây nên là viêm teo mũi và viêm phổi Bệnh viêm phổi do P multocida gây ra xuất hiện rộng khắp thế giới nhưng
bệnh hay xảy ra và gây thiệt hại ở các nước nhiệt đới và á nhiệt đới như: Ấn
Độ, Pakistan, Iran, Thái Lan, Philippin, Indonexia, Triều Tiên, Lào và Việt
Nam, ở tất cả các điều kiện khí hậu và điều kiện chăn nuôi Vì vi khuẩn P
multocida thường cư trú ở đường hô hấp trên của lợn khoẻ mạnh do vậy rất
khó tiêu diệt Vi khuẩn P multocida gây bệnh thường kết hợp với các tác nhân khác như M hyopneumoniae, A pleuropneumoniae, làm cho quá trình
viêm phổi càng nặng thêm
2.2.1.3 Nghiên cứu vi khuẩn S suis
Vi khuẩn S suis là một trong số các tác nhân gây bệnh quan trọng và
gây ra những thiệt hại đáng kể trong chăn nuôi lợn công nghiệp Các thông
báo đầu tiên về bệnh do S suis gây ra ở lợn đã được chính thức xác nhận lần
đầu tiên ở Hà Lan vào năm 1951 (Jansen và Van Dorssen, 1951) [27] và ở Anh vào năm 1954 Kể từ đó, bệnh đã được thông báo là xảy ở hầu khắp các nước trên thế giới - nơi có ngành chăn nuôi lợn phát triển
Bệnh do vi khuẩn S suis gây ra ở lợn mọi lứa tuổi, nhưng thường gặp
nhất ở giai đoạn 3 - 16 tuần tuổi do lợn thời kỳ sau cai sữa trở nên đặc biệt
mẫn cảm với vi khuẩn này (Lamont và cs, 1980) [31] Vi khuẩn S suis là
Trang 31nguyên nhân gây ra các thể bệnh như viêm phế quản - phổi, viêm màng phổi
và viêm phổi ở các lứa tuổi của lợn Các triệu chứng của bệnh do vi khuẩn này gây ra ở lợn có sự sai khác nhau giữa các quốc gia và rất đa dạng, bao gồm như viêm não, nhiễm trùng máu, viêm khớp, viêm nội tâm mạc, viêm đa thanh mạc, viêm màng bụng, viêm phổi, và thường dẫn đến chết đột ngột (Lun và cs, 2007 [32]) Ngoài ra, vi khuẩn còn có thể phân lập được trong các trường hợp lợn bị viêm teo mũi và sảy thai
Ở Anh, bệnh do S suis type 2 chủ yếu là gây ra các triệu chứng như bại
huyết và viêm não ở lợn cai sữa (Windsor và Elliott, 1975) [38]Trong khi đó,
ở các nước Bắc Mỹ, các báo cáo đều chỉ ra rằng S suis là vi khuẩn chủ yếu
phân lập được từ những lợn bị viêm phổi
Các chủng S suis thuộc các serotype khác (không phải type 2) cũng đã
phân lập được từ lợn bị viêm phổi - màng phổi tại Australia, Canada, Mỹ
(Reams và cs, 1994 [36]) Các chủng thuộc S suis type 2 thường gây ra bệnh
cho lợn giai đoạn sau cai sữa và vỗ béo (4 - 16 tuần tuổi) với rất nhiều thể bệnh như viêm não, viêm nội tâm mạc, ngoại tâm mạc, cơ tim hoại tử, viêm phổi, viêm khớp và bại huyết Bệnh thường xảy ra sau khi lợn khoẻ được nuôi hoặc nhốt chung với lợn bệnh và thường gây chết đột ngột với các triệu chứng
như sốt, thần kinh và viêm khớp Tại Hà Lan, tỷ lệ S suis type 2 có liên quan
đến viêm phổi chiếm 42% các trường hợp mắc bệnh, tiếp đến là viêm não (18%), viêm nội tâm mạc (18%), và viêm đa thanh mạc (10%) (Kataoka và cs
(1993) [28] nghiên cứu ở Nhật Bản đã cho biết kết quả là 38% số chủng S
suis phân lập được từ lợn bị viêm não và 33% từ lợn bị viêm phổi
Những nghiên cứu về dịch tễ học cho thấy S suis type 2 có thể lây từ
đàn này sang đàn khác do sự di chuyển của một số cá thể nào đó trong đàn Ngay trong cùng một đàn, sự lây lan chủ yếu là do tiếp xúc giữa các cá thể với nhau hoặc với chất thải nhiễm vi khuẩn Ngoài ra, các vật chủ trung gian
cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình truyền lây S suis Enright và cs (1987) [25] đã chứng minh được rằng ruồi có thể mang S suis type 2 trong
Trang 32vòng ít nhất là 5 ngày và có thể gây nhiễm thức ăn và nguyên liệu mà chúng đậu vào trong vòng ít nhất là 4 ngày Bởi vậy, chính ruồi đóng vai trò quan trọng trong việc làm lây lan dịch bệnh giữa các cá thể trong cùng một đàn và giữa các đàn Vai trò của các loài động vật khác, kể cả chim như là nguồn lây nhiễm vẫn còn đang được tiến hành nghiên cứu Chính con người cũng có thể
là nguồn mang trùng (Sala và cs, 1989)[37]
Trong khi đó, Vi khuẩn S suis type 1 thường gây bệnh cho lợn con
đang theo mẹ (1 - 3 tuần tuổi), có khi tới 6 tuần tuổi và thường ở thể bại huyết hoặc các nhiễm trùng tại chỗ như viêm màng não, viêm não, viêm khớp, viêm nội tâm mạc, đặc biệt là lợn con từ 1 - 7 ngày tuổi Đôi khi, nhóm vi khuẩn thuộc type 2 cũng gây bệnh cho lứa tuổi này, nhưng thường ít gặp hơn Lợn con bị nhiễm bệnh là do lợn mẹ truyền qua đường hô hấp, đường tiêu hoá (do tiếp xúc với phân, các chất thải hoặc các chất tiết 20 khác), đường máu (do tiếp xúc trực tiếp hoặc qua kim tiêm nhiễm trùng) Với một số cá thể, hiện tượng nhiễm khuẩn chỉ biểu hiện ở dạng nhiễm khuẩn qua máu và không bao giờ phát bệnh Tuy nhiên, với một số cá thể khác, vi khuẩn sẽ gây bệnh và biểu hiện bằng hiện tượng nhiễm trùng máu hoặc vi khuẩn di chuyển đến hệ thần kinh trung ương, gây viêm màng não và đây chính là biểu hiện bệnh lý quan trọng nhất
Những năm sau đó, các nghiên cứu từ Anh lại kết luận rằng vi khuẩn này là nguyên nhân chính gây bại huyết, viêm não và viêm đa khớp, ít khi gây viêm phổi; trong khi đó, các bệnh tích ở phổi vẫn là chủ yếu trong các trường hợp lợn bị bệnh tại Bắc Mỹ
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
2.2.2.1 Nghiên cứu vi khuẩn A pleuropneumoniae
Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, A pleuropneumoniae đã được
phân lập và xác định là một tác nhân gây bệnh nhiễm trùng hô hấp khá quan trọng cho lợn nuôi ở tất cả các trại lợn quy mô lớn
Trang 33Cù Hữu Phú và cs (2005) [13] đã xác định tỷ lệ nhiễm, các đặc tính sinh vật hóa học, độc lực trên chuột, mức độ mẫn cảm với kháng sinh của 5 loại vi khuẩn được xem là nguyên nhân chính gây bệnh hô hấp của lợn Kết quả cho thấy có nhiều vi khuẩn gây bệnh cư trú tại đường hô hấp của lợn,
trong đó A pleuropneumoniae cư trú chủ yếu ở niêm mạc đường hô hấp trên
A pleuropneumoniae tồn tại thường xuyên ở niêm dịch và chỉ gây bệnh khi
có đủ các điều kiện cần thiết như: độc lực của vi khuẩn cao, sức đề kháng của con vật giảm sút hay yếu tố môi trường khắc nghiệt Kiểm tra các mẫu bệnh của lợn khỏe và lợn bệnh cho thấy trong số 542 mẫu dịch ngoáy mũi của lợn
dưới 3 tháng tuổi, số mẫu phân lập được A pleuropneumoniae là 43 (7,93%)
và chỉ có 1/53 (0,19%) mẫu phổi, hạch phổi của lợn dương tính với A
pleuropneumoniae Kết quả xác định serotype của 44 chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae phân lập được cho thấy chúng thuộc serotype 1, 2, 5
(có 19 chủng thuộc serotype 2 chiếm 43,18%, 22 chủng thuộc serotype 5 chiếm 50%)
2.2.2.2 Nghiên cứu vi khuẩn P multocida
Ở nước ta P multocida cũng được thông báo là tác nhân gây bệnh quan
trọng ở lợn và được quan tâm nghiên cứu
Nguyễn Ngọc Nhiên (1996) [10] khi nghiên cứu 72 phổi lợn có bệnh
tích bị nhục hóa, áp xe và viêm màng phổi cho biết: tỷ lệ nhiễm P multocida
là 37,50%, tỷ lệ nhiễm S suis là 30,50% và đã nghiên cứu chế tạo thành công
vắc xin toàn khuẩn chết có bổ trợ keo phèn 20,00% phòng hội chứng ho thở truyền nhiễm của lợn được chế tạo từ 9 chủng thuộc 3 giống gây bệnh đường
hô hấp
Khi tiến hành xác định nguyên nhân gây bệnh đường hô hấp của lợn nuôi tại một số tỉnh phía Bắc, Cù Hữu Phú và Nguyễn Ngọc Nhiên (1999) [12] cho biết: với tổng số 53 mẫu phổi và hạch phổi đã phân lập được 8 chủng
Streptococcus chiếm tỷ lệ 15,09%, không phân lập được P multocida Từ 542
Trang 34mẫu dịch ngoáy mũi đã phân lập được 48 chủng Pasteurella (8,86%) và 36 chủng Streptococcus (6,64%)
Cù Hữu Phú và cs (2005) [13] khi gây bệnh thực hiện trên chuột và lợn
đã kết luận: vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida phân lập được có
độc lực cao đối với chuột bạch và lợn Đồng thời khẳng định vi khuẩn là một trong những nguyên nhân chính gây bệnh đường hô hấp ở lợn Tác giả đã sử dụng kết quả này làm cơ sở cho việc lựa chọn chủng chế auto vắc xin, phòng bệnh đường hô hấp cho lợn do các vi khuẩn nêu trên gây ra Mặt khác, còn cho biết vi khuẩn mẫn cảm với các loại kháng sinh rifampicin, ceftazidin, ciprofxacin và khuyến cáo nên sử dụng các loại kháng sinh này để điều trị bệnh đường hô hấp ở lợn
Cù Hữu Phú và cs (2005) [13] cho rằng, P multocida là một trong những nguyên nhân chính gây bệnh viêm phổi ở lợn Lợn khỏe P multocida
có nhiều trong hầu, dịch nhờn mũi Vi trùng chỉ tác động khi có những nguyên nhân làm giảm sức đề kháng của cơ thể
2.2.2.3 Nghiên cứu vi khuẩn S suis
Ở Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Nội và Nguyễn Ngọc Nhiên (1993) [7] về vi khuẩn đường hô hấp của 162 lợn bị bệnh ho thở
truyền nhiễm cho thấy tỷ lệ nhiễm vi khuẩn S suis là 74%
Từ các kết quả nghiên cứu về bệnh cầu khuẩn ở lợn, Khương Thị Bích Ngọc (1996) [8] đã chế tạo vắc xin cầu khuẩn chết có bổ trợ keo phèn tiêm phòng cho lợn nái, đạt hiệu quả bảo hộ cao
Cù Hữu Phú (1998) [11] đã phân lập được vi khuẩn S suis từ bệnh phẩm của lợn ốm chết nghi do vi khuẩn S suis gây ra ở cả 2 phương thức
chăn nuôi là rất cao, trong đó chăn nuôi tập trung chiếm 93,90%, chăn nuôi hộ gia đình chiếm 95,30%
Năm 2005, chính Trung Quốc cũng đã kiểm soát dịch bệnh do S suis gây ra ở lợn bằng vắc xin vô hoạt chế từ các chủng S suis serotype 2
Trang 35Ở nước ta, trong những năm gần đây, số bệnh nhân nhiễm liên cầu khuẩn lợn nhập viện Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương (số 78, Đường 21 Giải Phóng, Đống Đa, Hà Nội) tăng đột biến Tính trong tháng 5/2012 có 14
ca mắc, đến ngày 18/8/2012 có 44 ca mắc liên cầu lợn Đặc biệt đã có một ca
tử vong do bị sốc nhiễm khuẩn quá nặng, gây suy đa phủ tạng Những người
bị nhiễm bệnh đều đã được xác nhận là có tiếp xúc trực tiếp với lợn bị bệnh hoặc tham gia giết mổ hoặc bán thịt lợn
Trang 36PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng nghiên cứu
Lợn các lứa tuổi ở huyện Sơn Dương và Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang
Ba loại vi khuẩn: A pleuropneumoniae, P multocida và S suis gây
bệnh viêm phổi ở lợn
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
3.2.1 Địa điểm
Huyện Sơn Dương và Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang
Phòng thí nghiệm Khoa Chăn nuôi Thú y - trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Bộ môn Vi trùng - Viện Thú y Quốc gia
3.2.2 Thời gian tiến hành
Đề tài được thực hiện từ ngày 18 tháng 11 năm 2015 đến ngày 25 tháng
05 năm 2016
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Phân lập và xác định vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và
S suis trong mẫu bệnh phẩm của lợn viêm phổi tại huyện Sơn Dương và Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang
3.3.2 Nghiên cứu biện pháp điều trị
Thử nghiệm một số phác đồ điều trị lợn mắc viêm phổi tại huyện Sơn Dương và Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang
3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi
3.4.1 Chọn mẫu điều tra
- Chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên, lấy mẫu chùm nhiều bậc
- Trực tiếp quan sát để phát hiện lợn mắc viêm phổi Những lợn có triệu chứng viêm phổi mà chưa sử dụng thuốc kháng sinh để điều trị thì được lấy mẫu để phân lập vi khuẩn gây viêm phổi