1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Di cư mùa vuk nông thôn đô thị và vai trò giới trong gia đình có người di cư nông thôn Hải Phòng (tt)

24 145 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 828,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Di cư mùa vuk nông thôn đô thị và vai trò giới trong gia đình có người di cư nông thôn Hải Phòng (tt)Di cư mùa vuk nông thôn đô thị và vai trò giới trong gia đình có người di cư nông thôn Hải Phòng (tt)Di cư mùa vuk nông thôn đô thị và vai trò giới trong gia đình có người di cư nông thôn Hải Phòng (tt)Di cư mùa vuk nông thôn đô thị và vai trò giới trong gia đình có người di cư nông thôn Hải Phòng (tt)Di cư mùa vuk nông thôn đô thị và vai trò giới trong gia đình có người di cư nông thôn Hải Phòng (tt)Di cư mùa vuk nông thôn đô thị và vai trò giới trong gia đình có người di cư nông thôn Hải Phòng (tt)Di cư mùa vuk nông thôn đô thị và vai trò giới trong gia đình có người di cư nông thôn Hải Phòng (tt)Di cư mùa vuk nông thôn đô thị và vai trò giới trong gia đình có người di cư nông thôn Hải Phòng (tt)

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO

DI CƯ MÙA VỤ NÔNG THÔN - ĐÔ THỊ VÀ VAI TRÒ GIỚI TRONG GIA ĐÌNH CÓ NGƯỜI DI CƯ Ở

NÔNG THÔN HẢI PHÒNG HIỆN NAY

(Nghiên cứu trường hợp tại xã Quốc Tuấn và xã Quang Trung,

huyện An Lão, Hải Phòng)

TÓM TẮT LUẬN ÁN LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: XÃ HỘI HỌC

Mã số: 62 31 30 01

Hà Nội – 2018

Trang 2

Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học: 1 GS.TS Trịnh Duy Luân

2 TS Hà Việt Hùng

Phản biện 1:

Phản biện 2:

Phản biện 3:

Luận án sẽ được bảo vệ trước hội đồng chấm luận án cấp học viện

họp tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Vào hồi giờ ngày tháng năm 2018

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

- Thư viện Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Hiện nay, di cư ở Việt Nam bao gồm 3 loại hình chính: di cư lâu dài, di cư ngắn hạn và di cư mùa vụ Tuy nhiên, số liệu cấp quốc gia và các nghiên cứu quy mô lớn về di cư nội địa ở Việt Nam chưa phản ánh đầy đủ về loại hình di

cư ngắn hạn và di cư mùa vụ

Nhìn chung, di cư mùa vụ nông thôn - đô thị là hoạt động góp phần cải thiện cuộc sống, nâng cao thu nhập, triển kinh tế hộ gia đình và công cuộc xóa đói giảm nghèo ở nông thôn Tuy nhiên, bên cạnh những tác động về kinh tế, di

cư mùa vụ cũng ảnh hưởng nhất định đến việc tổ chức đời sống gia đình người

di cư tại nơi đi Tuy nhiên, cho đến nay trên cả nước cũng như tại địa bàn thành phố Hải Phòng chưa có nghiên cứu lớn và có hệ thống nào về di cư mùa vụ nông thôn – đô thị cũng như những ảnh hưởng của nó đến vai trò giới trong gia đình Từ thực tế tìm hiểu, nhiều địa bàn của Hải Phòng có hiện tượng di cư mùa

vụ với số lượng người không nhỏ Trong số đó, huyện An Lão là một huyện thuần nông với số lượng di cư mùa vụ tăng nhiều trong hơn 5 năm trở lại đây Nhiều người dân hoặc là làm thêm nghề khác hoặc là di cư đi xa kiếm việc làm Tuy vậy, việc coi nông nghiệp là sinh kế, là thẻ “bảo hiểm” của mình vốn đã ăn sâu trong suy nghĩ của nhiều người dân nông thôn nên tại địa bàn nghiên cứu, phần lớn người dân thường chọn di cư ngắn hạn, theo mùa vụ Khác với các báo cáo nghiên cứu kết quả di cư cấp Quốc gia về hiện tượng “nữ hoá di cư”, địa bàn nghiên cứu của Luận án có những đặc điểm khác biệt nhất định về giới tính của người di cư, tần suất có mặt ở nhà của người di cư, sự phân công lao động trong gia đình và một số vấn đề khác Một trong số đó là việc phân công lại lao động trong gia đình khi lao động chính di cư Làm sao để có thể thay thế các công việc cũ của lao động chính? Làm sao có thể thích nghi và hoàn thành tốt các công việc đó? và làm sao để đảm bảo gia đình luôn ổn định, đoàn kết và bền vững là những câu hỏi cần nghiên cứu làm rõ Vì lý do đó, tác giả lựa chọn đề

tài “Di cư mùa vụ nông thôn - đô thị và vai trò giới trong gia đình có người di

cư ở nông thôn Hải Phòng” làm đề tài nghiên cứu luận án của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Từ thực trạng di cư mùa vụ nông thôn - đô thị tại địa bàn nghiên cứu chỉ ra những ảnh hưởng của nó tới sự thay đổi vai trò giới trong gia đình người di cư

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Làm rõ đặc điểm của di cư mùa vụ nông thôn - đô thị tại địa bàn nghiên cứu

- Chỉ ra ảnh hưởng của di cư mùa vụ đến những thay đổi về vai trò giới trong các gia đình có người di cư mùa vụ

- Đề xuất những khuyến nghị có liên quan đến việc quản lý di cư mùa vụ

ở địa bàn nghiên cứu và nhận thức về bình đẳng giới trong điều kiện của các gia đình có người di cư

3 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 4

- Đặc điểm di cư lao động mùa vụ nông thôn - đô thị tại Hải Phòng

- Ảnh hưởng của di cư mùa vụ tới sự thay đổi về vai trò giới trong gia đình

có người di cư ở nông thôn Hải Phòng

3.2 Khách thể nghiên cứu

Hộ gia đình của người di cư mùa vụ hai xã Quốc Tuấn và Quang Trung, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng

3.3 Phạm vi nghiên cứu

- Về thời gian: trong phạm vi khảo sát (2014 - 2015)

- Về không gian: xã Quốc Tuấn và Quang Trung, huyện An Lão, Hải Phòng

- Về nội dung nghiên cứu: trong phạm vi mối quan hệ giữa di cư mùa vụ và vai trò giới trong các gia đình có người di cư mùa vụ ở địa bàn nghiên cứu

4 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

4.1 Câu hỏi nghiên cứu

Luận án hướng tới việc trả lời các câu hỏi nghiên cứu như sau:

- Hộ gia đình có người di cư mùa vụ có những đặc điểm gì (về nhân khẩu

xã hội, về các hoạt động kinh tế - xã hội)?

- Di cư mùa vụ nông thôn – đô thị ảnh hưởng như thế nào tới việc thay đổi vai trò giới trong gia đình?

- Cần phải làm gì để các gia đình có người di cư mùa vụ đảm bảo sự ổn định, bền vững về kinh tế và đời sống gia đình?

4.2 Giả thuyết nghiên cứu

- Phần lớn người di cư mùa vụ là nam giới và đi làm xa nhà trong khoảng thời gian ngắn

- Các gia đình có người di cư mùa vụ có những thay đổi trong vai trò giới nhưng chưa bền vững

- Những thay đổi vai trò giới trong gia đình là khác nhau tùy thuộc vào ai là người di cư mùa vụ trong gia đình (vợ/ chồng/ cả hai)

- Những thay đổi vai trò giới trong gia đình người di cư mùa vụ là không bền vững, nhưng vẫn góp phần vào những thay đổi trong dài hạn

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp nghiên cứu định lượng

Luận án sẽ so sánh sự thay đổi vai trò giới trong gia đình theo thời gian trước và trong khi gia đình có người di cư mùa vụ nên sẽ chọn cách tiếp cận

“trước – sau” (trong Luận án sẽ sử dụng cụm từ “trước – trong” cho phù hợp với mục đích nghiên cứu) Từ danh sách tổng thể gồm 677/1222 hộ gia đình có người di cư mùa vụ của 2 xã Quốc Tuấn và Quang Trung chọn ra các hộ đưa vào mẫu theo bước nhảy là 02 Kết quả đã chọn được 338 hộ gia đình, trong đó đạt đủ yêu cầu đơn vị mẫu là 300 hộ

5.2 Phương pháp nghiên cứu định tính

Từ danh sách các hộ, tác giả chọn ngẫu nhiên 20 người để tiến hành phỏng vấn sâu, trong đó:

5.3 Phương pháp phân tích nội dung tài liệu thứ cấp

Luận án sử dụng số liệu thống kê tình hình phát triển kinh tế - xã hội, cơ cấu lao động, thống kê dân số - việc làm về hiện tượng di cư mùa vụ nông thôn

- đô thị Đồng thời, tham khảo sách báo, tạp chí, internet để đưa ra các câu hỏi/giả thuyết nghiên cứu và mục tiêu của đề tài

6 Khung phân tích và các biến số

Trang 5

- Một số đặc điểm của người di cư mùa vụ

6.2.2 Biến số phụ thuộc

- Thay đổi vai trò giới trong gia đình có người di cư mùa vụ

- Vai trò người ở lại trong gia đình ở 4 lĩnh vực (trong khi người di cư mùa vụ vắng nhà): 1/ Lĩnh vực sản xuất; 2/ Công việc nội trợ; 3/ Chăm sóc con cái và bố mẹ; 4/ Các công việc dòng họ và cộng đồng

- Ý kiến đánh giá của người không di cư trong gia đình

+ Nhận thức, thái độ, hành vi (người di cư, người ở nhà)

+ Khẳng định của người đi/ người ở nhà về lý do /ảnh hưởng của di cư tới thay đổi vai trò giới (để thích nghi)

+ Đánh giá về ý nghĩa của sự thay đổi, đặc điểm, xu hướng của thay đổi vai trò giới trong gia đình có người di cư mùa vụ

6.2.3 Biến số can thiệp

- Chính sách kinh tế - xã hội của địa phương

Chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước và địa phương

Quá trình công nghiệp hoá

cư mùa vụ

Trong lĩnh vực sản xuất Trong công việc nội trợ

Trong chăm sóc con cái và cha mẹ già Trong việc dòng họ và cộng đồng

Đặc điểm di cư mùa vụ nông

vai trò giới trong gia đình có người di cư mùa vụ

Trang 6

- Phong tục tập quán tại địa phương

- Quá trình đô thị hóa

7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

7.1 Ý nghĩa lý luận

Đề tài ứng dụng và góp phần kiểm chứng, phát triển các lý thuyết gồm: hút – đẩy, thay thế vai trò giới, chiến lược hộ gia đình; cũng như các phương pháp đặc thù của chuyên ngành xã hội học (bảng hỏi, phỏng vấn sâu, phân tích tài liệu) vào Luận án

7.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đề tài góp phần cho thấy thực trạng cụ thể của vấn đề di cư mùa vụ tại một địa bàn xác định cũng như tác động của di cư mùa vụ đến vai trò giới trong các gia đình có người di cư Kết quả của nghiên cứu có thể là tài liệu hữu ích đối với địa phương trong quá trình làm rõ thực trạng, nguyên nhân cũng như tìm kiếm giải pháp để giải quyết những vấn đề có liên quan đến di cư mùa vụ Đây cũng là tài liệu có thể dùng để tham khảo cho các giảng viên, học viên trong nghiên cứu về giới và về di cư ở Việt Nam

8 Cấu trúc luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án

dự kiến có kết cấu nội dung gồm 4 chương:

Trang 7

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ DI CƯ MÙA VỤ NÔNG THÔN – ĐÔ THỊ VÀ VAI TRÒ GIỚI TRONG GIA ĐÌNH CÓ NGƯỜI DI CƯ

1.1 NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG ĐÓNG GÓP KINH TẾ TỪ TIỀN GỬI CỦA NGƯỜI DI CƯ CHO ĐẾN ĐỜI SỐNG KINH TẾ GIA ĐÌNH NƠI XUẤT CƯ

Tiền gửi của người di cư có tác động không nhỏ đến đời sống của gia đình

họ, nhiều nghiên cứu chỉ một số tác động quan trọng như sau: 1/ Cải thiện mức sống cho các thành viên; 2/ Cải thiện vấn đề sức khỏe và giáo dục; 3/ Tạo nên nguồn lực vật chất tài chính cho hộ gia đình Đây là một nguồn lực quan trọng trong cuộc sống, ngoài nâng cao đời sống vật chất, số tiền mà họ gửi về còn có vai trò quan trọng trong giáo dục, y tế và chăm sóc sức khoẻ gia đình Kết luận tương tự cũng được tìm thấy trong các nghiên cứu khác

1.2 NGHIÊN CỨU VỀ NHỮNG TÁC ĐỘNG XÃ HỘI CỦA DI CƯ ĐẾN CÁC THÀNH VIÊN TRONG GIA ĐÌNH CÓ NGƯỜI DI CƯ

1.2.1 Tác động của di cư đến quan hệ giữa các thành viên trong gia đình

* Các nghiên cứu về chăm sóc con cái

Các kết quả nghiên cứu của nhiều đề tài cho thấy sự vắng mặt của cha/mẹ tác động lớn đến tình cảm của trẻ nhỏ, việc bù đắp tình cảm của cha mẹ qua hiện vật không thể giúp con cái giảm đi cảm giác thiếu thốn sự gần gũi, thân mật của cha mẹ Các gia đình có vợ di cư, chồng ở nhà hoặc cả hai vợ chồng đều di cư thì người vợ thường phải đợi con đến tuổi đi mẫu giáo hoặc gửi cha

mẹ trông con giúp Phụ nữ thường không di cư quá xa khỏi gia đình bởi vai trò giới của họ không cho phép

* Các nghiên cứu về chăm sóc cha mẹ già

Các điều tra gia đình Việt Nam cho thấy sự chăm sóc của con cái đối với cha mẹ già có ý nghĩa quan trọng Khi ốm đau, người cao tuổi thường dựa vào

sự giúp đỡ của con cái là chủ yếu, con cái không chỉ trợ giúp cha mẹ già tiền bạc hay gửi trực tiếp hiện vật, mà còn giúp cha mẹ sản xuất nông nghiệp, giúp

đỡ lúc ốm đau

1.2.2 Nghiên cứu về sự tác động của di cư đến vai trò giới trong gia đình

Các cuộc điều tra về di cư ở Việt Nam đã chỉ ra những thuận lợi và khó khăn của người di cư, cung cấp những số liệu cho thấy hiện tượng nữ hoá di cư, nếu gia đình có người vợ đi làm ăn xa, người chồng có xu hướng đảm nhiệm thay hầu hết các công việc mà trước đó người chồng ít khi hoặc chưa bao giờ làm như: nội trợ, chăm sóc con cái, tham dự các đám hiếu, hỉ Và ngược lại, khi người chồng đi làm xa nhà, người vợ phải gánh vác các việc trước đó người chồng vẫn làm Di cư làm biến đổi phân công lao động theo hướng bình đẳng hơn, tăng vai trò của phụ nữ trong gia đình hơn nhưng đồng thời cũng làm xuất hiện xu hướng nữ hoá di cư, người già và trẻ em phải đảm nhiệm công việc nặng nhọc của gia đình

1.3 NGHIÊN CỨU VỀ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ DI CƯ

Hiện tại, chính sách lao động và việc làm của Việt Nam đã đưa ra được mục tiêu tạo việc làm và đào tạo nghề cho lao động nông thôn, ưu tiên hỗ trợ

Trang 8

giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, hỗ trợ người nghèo và các nhóm yếu thế nhưng hoàn toàn không nhắc đến đối tượng di cư lao động nghèo ở đô thị

Do đó, không ít công trình nghiên cứu đã phân tích chỉ ra một số những "kẽ hở" cũng như sự bất cập trong các chính sách như bảo trợ xã hội, vấn đề hộ khẩu và một số các chính sách xã hội khác

Tiểu kết chương 1

Tổng quan tình hình nghiên cứu về di cư và sự thay đổi vai trò giới trong gia đình có người di cư tập trung vào 3 hướng nghiên cứu chính: Hướng nghiên cứu về tác động của tiền gửi đến đời sống kinh tế hộ gia đình của người di cư tập trung tìm hiểu sự tác động của tiền gửi đến việc cải thiện và nâng cao mức sống (vật chất) của hộ gia đình và cách họ sử dụng tiền gửi để tái đầu tư cho tương lai; Hướng nghiên cứu về tác động của di cư đến quan hệ giữa các thành viên trong gia đình hướng đến việc tìm hiểu việc tác động của di cư đến tâm tư, tình cảm của người di cư đối với con cái và cha mẹ già (nếu có) và quan trọng nhất là tác động của di cư đến sự thay đổi vai trò giới trong gia đình; Hướng nghiên cứu về chính sách di cư nhằm tìm hiểu vai trò của chính sách đối với việc thúc đẩy hay kìm hãm quá trình di cư, các mặt tích cực và tồn tại của chính sách đối với vấn đề di cư

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU VỀ DI CƯ MÙA VỤ

VÀ VAI TRÒ GIỚI TRONG GIA ĐÌNH NGƯỜI DI CƯ

2.1 CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN TRONG NGHIÊN CỨU

2.1.1 Gia đình

* Gia đình

Theo Luật Hôn nhân và Gia đình (sửa đổi) năm 2006, “gia đình” là tập hợp người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thông hoặc do quan hệ nuôi dưỡng làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa các thành viên với nhau

* Gia đình nông thôn

Theo nhà nghiên cứu Tô Duy Hợp, gia đình nông thôn gồm những đặc điểm sau: 1/ Gia đình nông thôn có tính thuần nhất hơn về mặt chủng tộc, tâm

lý, bền vững, hợp nhất và thực hiện các chức năng hữu cơ hơn so với gia đình

đô thị; 2/ Hầu hết các thành viên trong gia đình nông thôn đều gắn bó với nghề nông; 3/ Gia đình nông thôn có kỷ luật chặt chẽ và các thành viên phụ thuộc lần nhau hơn so với gia đình đô thị; 4/ Gia đình nông thôn tham gia tích cực hơn vào những lĩnh vực hoạt động chung, phần lớn thời gian trong ngày, các thành viên làm việc cùng nhau và gắn với công việc của hộ nông dân

Trang 9

Dựa trên cách tổ chức, di cư được phân loại thành di cư tự phát, di cư được quản lý, di cư có sự hỗ trợ và di cư bắt buộc Trong đó, di cư tự phát là loại hình

di cư không có sự can thiệp của chính phủ và có thể thấy ở trong phạm vi một hay nhiều quốc gia Đối lập với nó là loại hình di cư có sự quản lý của Nhà nước Căn cứ vào điểm đến của di cư, người ta ra các loại hình: di cư nông thôn – đô thị; di cư nông thôn – nông thôn và di cư đô thị - nông thôn Trong đó loại hình di cư nông thôn – đô thị phổ biến ở Việt Nam hơn cả do sự chênh lệch lớn

về mức thu nhập giữa hai khu vực này Dựa vào khoảng thời gian cư trú tại nơi đến, người ta phân loại thành di cư mùa vụ, di cư tạm thời và di cư lâu dài

2.1.2.2 Khái niệm “di cư mùa vụ nông thôn – đô thị”

Hiện tại, các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về "di cư mùa vụ" Theo nhà nghiên cứu Đặng Nguyên Anh, di cư mùa vụ là hình thái đặc thù của di cư con lắc nhưng diễn ra theo chu kỳ rõ rệt hơn về mặt thời gian, theo đó di cư mùa vụ không nhất thiết nói về “mùa thu hoạch”, “vụ mùa” mà nó còn hàm ý các hoạt động mùa vụ khác như mùa xây dựng, mùa lễ hội, mùa du lịch, mùa cà phê Một số nghiên cứu dựa trên khoảng thời gian vắng mặt khỏi nơi cư trú từ 1 -3 tháng như một trong những tiêu chí của di cư mùa vụ

2.1.3 Vai trò giới

“Vai trò giới “dùng để dùng để chỉ trách nhiệm, những công việc phải làm của cả nam và nữ được phân theo giới tính của họ Chính những chuẩn mực, quy tắc ứng xử phổ biến và hệ tư tưởng của một xã hội đã quy định sự phân công này và theo đó, có một số công việc được phân công chủ yếu cho nữ giới

và một số công việc khác được phân cho nam giới Đây có thể là một dạng phân chia công việc, vai trò cũng như vị trí xã hội giữa nam và nữ

Dựa trên các định nghĩa liên quan đến “gia đình”, “di cư”, “vai trò giới”, luận án xây dựng các “định nghĩa làm việc” (working definition) cho các gia đình thuộc mẫu nghiên cứu với các tiêu chí giới hạn như sau:

i) “Gia đình” được xác định là gia đình nông thôn, có ít nhất 01 người là vợ hoặc chồng đã từng di cư mùa vụ trong 5 năm trở lại đây (2011 – 2015); ii) “Hộ gia đình” trong nghiên cứu là các hộ gia đình nông dân có đầy đủ vợ chồng (không chọn các trường hợp ly dị hoặc có vợ/chồng đã qua đời) và có con đang tuổi đi học, trong hộ gia đình đó gồm các thành viên có thể có quan hệ huyết thống hoặc không có quan hệ huyết thống, có ít nhất 01 thành viên (vợ hoặc chồng) di cư mùa vụ trong 5 năm gần đây (2011 – 2015); iii) “Vai trò giới” được xác định gồm vai trò sản xuất, vai trò tái sản xuất và vai trò cộng đồng Trong đó vai trò sản xuất là được xác định là sự tham gia của vợ hoặc chồng vào các hoạt động sản xuất nông nghiệp, sản xuất kinh doanh của hộ gia đình; vai trò tái sản xuất được xác định là sự tham gia của vợ hoặc chồng vào các hoạt động chăm sóc con cái và công việc nội trợ, việc nhà; vai trò cộng đồng được xác định là sự tham gia của vợ hoặc chồng vào các hoạt động dòng họ, thôn, xóm, đoàn thể địa phương

Đề tài xác định người di cư mùa vụ tại địa bàn nghiên cứu có một số đặc điểm sau: Một là, người di cư từ địa bàn nông thôn đến đô thị làm việc; Hai là, người di cư đến và cư trú ở địa bàn đô thị mỗi lần không quá 3 tháng; Ba là, trong vòng 3 tháng đó họ phải quay trở lại quê cũ ít nhất 1 lần

Trang 10

2.2 LÝ THUYẾT VỀ DI CƯ VÀ CÁCH TIẾP CẬN

2.2.1 Tiếp cận lý thuyết hút - đẩy

Ravenstein trong cuốn “Law of Migration” (1889) đưa ra mô hình “hút – đẩy” và bảy qui luật động thái dân số, trong đó, ông cho rằng di cư để tìm kiếm

cơ hội mới và để gạt bỏ rủi ro ở nơi đang sống, lực hút bao giờ cũng lớn hơn lực đẩy đối với những người di cư bởi có người di cư vì họ bị đẩy khỏi nơi sinh sống Thông thường người di cư sẽ lựa chọn giữa lực hút và lực đẩy, cuối cùng

họ thường chọn lực hút bởi con người thường bị ước muốn tốt đẹp hơn thôi thúc di cư thay vì chạy khỏi tình thế không thỏa mãn hiện thời Ravenstein (1889) chứng minh rằng dòng di cư bao giờ cũng gắn với sự di chuyển đến các trung tâm công nghiệp và thương mại Tiếp nối và phát triển lý thuyết của Raveinstein, Everett S.Lee đã đưa ra các phân tích về di cư lao động được trình bày trong công trình nghiên cứu “Lý thuyết về di cư” xuất bản năm 1966 tại

Mỹ Ông lập luận rằng các quyết định di cư được dựa trên 4 nhóm dân tố: 1/ Các nhân tố gắn bó với nơi ở gốc; 2/ Các yếu tố gắn với nơi sẽ đến; 3/ Các trở ngại của quá trình di cư; 4/ Các nhân tố thuộc về người di cư

2.2.2 Tiếp cận lý thuyết “thay thế vai trò giới”

Mallika Pinnawala (2008) trong nghiên cứu về đời sống và khía cạnh giới ở các gia đình có phụ nữ di cư ở Sri Lanka chỉ ra rằng các hộ gia đình luôn thảo luận trước khi di cư và thảo luận có 2 mục tiêu: thứ nhất, tìm người thay thế thích hợp cho công việc nội trợ trong gia đình; thứ hai, tìm người tin cậy để chăm sóc, giữ gìn hạnh phúc gia đình của người di cư Vấn đề sắp xếp (phân công lao động) trong gia đình, vai trò của nam và nữ, của người trẻ tuổi - người già, các quan hệ của họ trong gia đình, và các hàm ý của những sắp xếp này đối với các tổ chức xã hội khác là “mức độ mà theo đó các dàn xếp trong gia đình phụ thuộc vào cấu tạo sinh học của nam và nữ, và mức độ mà theo đó các quan hệ gia đình bị quy định

bởi các yếu tố xã hội và văn hóa”

2.2.3 Tiếp cận lý thuyết “chiến lược hộ gia đình”

Di cư thường được coi là một phần trong chiến lược kinh tế của các hộ gia đình, Stark và Bloom (1985) nhìn nhận di cư là vấn đề không thể tách rời trong các tính toán của hộ gia đình để có thể tối ưu hoá phần thu nhập và giảm thiểu rủi ro kinh tế, cải thiện tình trạng kinh tế của hộ gia đình Simmons (1981) trong nghiên cứu lý thuyết về di cư đã nhấn mạnh rằng lý thuyết “chiến lược hộ gia đình” là lý thuyết có tính ứng dụng tốt nhất đối với các quốc gia kém phát triển bởi nó đã dự đoán đến sự trở về của người di cư theo mùa, vấn đề tiền gửi

về để đầu tư và quan hệ cộng đồng

Tóm lại, lý thuyết “hút – đẩy” được áp dụng để xác định rõ nguyên nhân di

cư mùa vụ Trong khi đó, lý thuyết về “chiến lược hộ gia đình” và lý thuyết

“thay thế vai trò giới” có thể được áp dụng cho nghiên cứu về tổ chức cuộc sống gia đình, phân công lại công việc trong gia đình khi một hay một vài lao động chính di cư mùa vụ

2.3 CƠ SỞ THỰC TIỄN

2.3.1 Tình hình di cư của thành phố Hải Phòng (2011 – 2015)

Trong số các thành phố trực thuộc Trung ương, Hải Phòng có dân số đứng thứ 7 và đứng thứ 2 ở khu vực đồng bằng sông Hồng So sánh với kết quả điều

Trang 11

tra Dân số và Nhà ở quốc gia năm 2009, dân số của thành phố tăng 5,65% so với cùng kỳ, tốc độ tăng dân số 5 năm qua (2010 – 2015) trung bình là 1,11%, cao hơn so với tốc độ tăng dân số của cả nước (1,06%), như vậy, mỗi năm thành phố có thêm 20,756 người GDP năm 2015 ước gấp 1,52 lần năm 2010, GDP bình quân đầu người đạt 2.857 USD/người (khoảng hơn 63 triệu đồng/người/năm), gấp 1,8 lần so với năm 2010 Tỉ trọng GDP Hải Phòng trong GDP cả nước từ 2,7% năm 2010 tăng lên 3,5% năm 2015 Tỉ trọng GDP của các nhóm ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ tăng từ 90,3% năm 2011 lên 92,8% năm 2015 (trong đó dịch vụ tăng từ 53,4% lên 55%)

Cùng với quá trình phát triển kinh tế xã hội và đô thị hoá, vấn đề di cư của thành phố được ghi nhận trong điều tra mới nhất cho thấy đến năm 2014, thành phố có 139.874 người di cư với 37,47% là nam và 62,53% là nữ Cường độ di cư của thời kỳ 2009-2014 đã giảm đi so với thời kỳ 2004-2009, từ 88,0 người di cư/1.000 dân năm 2009 xuống 79,1 người di cư/1000 dân năm 2014 Trong giai đoạn 2009 - 2014, số người di cư đã giảm hơn 8,9 nghìn người so với thời kỳ 2004-2009 Trong số các quận, huyện của thành phố, Vĩnh Bảo và An Dương là hai huyện có số lượng người di cư đi nơi khác tìm kiếm việc làm lớn hơn cả Sau đó là các huyện An Lão, Kiến Thuỵ, Tiên Lãng

2.3.2 Tình hình di cư mùa vụ tại địa bàn nghiên cứu

Quang Trung và Quốc Tuấn là hai xã liền kề nằm về phía Tây Nam huyện An Lão, thành phố Hải Phòng Trong 5 năm qua (2011 – 2015) cả hai xã đã đạt được những bước tiến quan trọng Thu ngân sách hàng năm đều tăng từ 50 – 60%, tỉ lệ hộ nghèo theo tiêu chí mới cũng giảm xuống Tuy nhiên, một số thành tựu quan trọng về kinh tế - xã hội của 2 xã (2015) còn khá thấp so với kết quả của huyện An Lão và có khoảng cách rất xa so với các kết quả thống kê cùng chuyện mục của toàn thành phố Hải Phòng Về thu nhập, mức thu nhập bình quân theo đầu người của hai xã (23 triệu đồng/người/năm) thấp hơn toàn huyện An Lão 5,5 triệu đồng và thấp hơn gần 3 lần so với toàn thành phố (hơn

63 triệu đồng/người/năm) Tỉ lệ hộ nghèo của hai xã cao hơn so với tỉ lệ hộ nghèo của toàn huyện và thành phố Hải Phòng

Gần đây nhất (2014), Hội Liên hiệp Phụ nữ Hải Phòng kết hợp cùng tổ chức Act!Aid đã tiến hành điều tra 150 hộ gia đình có số đất bị thu hồi nhiều nhất (gồm các xã Quốc Tuấn, Quang Trung và An Thắng) Kết quả cho thấy 125/150 hộ nhận xét chất lượng cuộc sống của họ sau khi bị thu hồi đất không khá hơn Nghiên cứu này đi đến kết luận việc mất đất canh tác dẫn đến người nông dân mất đi tư liệu sản xuất và không có nghề thay thế, do đó, việc họ sử dụng tiền đền bù cho các mục đích mua lại đất canh tác, đầu tư học nghề hay đầu tư cho sản xuất là điều dễ hiểu

Báo cáo điều tra Dân số và Nhà ở giữa kỳ 1/4/2014 của Hải Phòng cũng chỉ ra: các huyện Thuỷ Nguyên, Vĩnh Bảo, An Lão là những huyện dẫn đầu thành phố về số lượng người di cư đi nơi khác tìm việc làm do thiếu đất canh tác và dư thừa lao động Nói cách khác, di cư giúp địa phương giải quyết được

số lao động nhàn rỗi và giúp họ kiếm thêm thu nhập

Trang 12

Tiểu kết chương 2

Chương 2 trình bày cơ sở lý luận nghiên cứu đề tài Luận án sử dụng các khái niệm “gia đình”, “hộ gia đình”, “di cư”, “vai trò giới” với các nội dung cơ bản: i) “gia đình” nông thôn có vợ hoặc chồng hoặc cả 2 vợ chồng di cư mùa vụ trong 5 năm qua (2010 – 2015); ii) “hộ gia đình” được xác định là các hộ có ít nhất 01 lao động chính di cư mùa vụ trong 5 năm qua (2010 -2015), hộ còn đầy

đủ cả 2 vợ chồng (không chọn trường hợp đã ly hôn, ly thân hoặc 1 trong 2 người qua đời); iii) “Di cư” được hiểu là di cư từ nông thôn ra đô thị và “di cư mùa vụ” là sự di chuyển lao động từ nông thôn ra đô thị trong thời gian nông nhàn, rỗi rãi hoặc theo mùa đối với một số việc đặc thù, người di cư thường xuyên giữ liên lạc và trở về gia đình

Chương 3 ĐẶC ĐIỂM CỦA DI CƯ MÙA VỤ NÔNG THÔN – ĐÔ THỊ

3.1 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA HỘ GIA ĐÌNH CÓ NGƯỜI DI CƯ MÙA VỤ

3.1.1 Số người di cư mùa vụ của hộ gia đình

Hộ gia đình có người di cư mùa vụ tham gia vào điều tra là các hộ đầy đủ

vợ chồng, có ít nhất 1 người là vợ hoặc chồng đã và đang di cư mùa vụ trong 5 năm qua (2011 – 2015) Đề tài chọn mẫu ngẫu nhiên dựa trên danh sách thống

kê có sẵn các hộ di cư mùa vụ, do đó, kết quả cho thấy với quãng thời gian tương đối dài (5 năm), phần lớn các gia đình đều có 2 người di cư mùa vụ (56%), còn lại là các gia đình có 1 người (44%) Tuy nhiên, tại thời điểm điều tra, số hộ có 1 người di cư mùa vụ chiếm tỉ lệ lớn hơn cả với 93,3%, chỉ có 6,7% số hộ có 02 người hiện đang di cư mùa vụ

3.1.2 Loại hình gia đình có người di cư mùa vụ

Các gia đình cho biết để có điều kiện chăm sóc nhà cửa, con cái, và các hoạt động sản xuất, vợ và chồng thường lựa chọn phương án thay phiên nhau đi làm xa để đảm bảo sự hiện diện tại gia đình và cộng đồng 51,7% số hộ gia đình “hai vợ chồng đều di cư nhưng thay phiên nhau”, 37% hộ gia đình thuộc nhóm “chồng di cư, vợ ở nhà”, 6,7% hộ gia đình thuộc nhóm “vợ di cư, chồng ở nhà” và 4,7% là các trường hợp khác

3.1.3 Giới tính của người di cư mùa vụ

Nhìn chung, nam giới trong các hộ tham gia khảo sát đi di cư mùa vụ nhiều hơn nữ giới, 60,7% người di cư thứ 1 là nam giới, so sánh với 39,3% nữ giới di

cư Hơn nữa, phần lớn gia đình thuộc nhóm “chồng di cư, vợ ở nhà” và “hai vợ chồng cùng di cư nhưng khác thời điểm” nên có thể thấy người thứ 2 di cư mùa

vụ trong gia đình tương đối ít và phần nhiều cũng là nam giới (37,3%)

3 2 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA HOẠT ĐỘNG DI CƯ MÙA VỤ

3.2.1 Chiến lược di cư của hộ gia đình

3.2.1.1 Quyết định di cư

Các gia đình tham gia điều tra đều có vợ hoặc chồng hoặc cả 2 vợ chồng di

cư mùa vụ trong 3 năm qua (2012 – 2015), kết quả điều tra cho thấy hầu hết người di cư đều đưa ra quyết định dựa trên sự thống nhất ý kiến của gia đình

Ngày đăng: 02/02/2018, 09:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w