HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM KHOA MÔI TRƯỜNG --- --- KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI: ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN VÙNG ĐỆM KHU RỪNG VĂN HÓ
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG
- -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ
GIẢI PHÁP SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN VÙNG ĐỆM
KHU RỪNG VĂN HÓA LỊCH SỬ XÃ TÂN TRÀO,
HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
Người thực hiện : PHẠM KHÁNH LY
Chuyên ngành : KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS ĐOÀN VĂN ĐIẾM
HÀ NỘI – 2016
Trang 2HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG
- -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ
GIẢI PHÁP SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN VÙNG ĐỆM
KHU RỪNG VĂN HÓA LỊCH SỬ XÃ TÂN TRÀO,
HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
Người thực hiện : PHẠM KHÁNH LY
Chuyên ngành : KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS ĐOÀN VĂN ĐIẾM
Địa điểm thực tập : Xã Tân Trào, Sơn Dương, Tuyên Quang
HÀ NỘI – 2016
Trang 3ĐỀ CƯƠNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
1 Họ và tên sinh viên: Phạm Khánh Ly
Tel: 01638447298 Mail: phamkhanhly1007@gmail.com
2 Chuyên ngành: Khoa học môi trường
4 Giáo viên hướng dẫn: Đoàn Văn Điếm
Tên đề tài: “Đánh giá hiện trạng và đề xuất một số giải pháp sinh kế
của người dân vùng đệm khu rừng văn hóa lịch sử xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang”
Người thực hiện
( Ký và ghi rõ họ tên)
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là nghiên cứu của tôi Các số liệu và kết quả trình bày trong khóa luận là hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ nghiên cứu nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận này đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, tháng 5 năm 2016
Tác giả khóa luận
Phạm Khánh Ly
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Khóa luận: “Đánh giá hiện trạng và đề xuất một số giải pháp sinh kế
của người dân vùng đệm khu rừng văn hóa lịch sử xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang” được hoàn thành tại Học Viện Nông Nghiệp
Việt Nam theo chương trình đào tạo cử nhân chuyên nghành Khoa học môi trường khóa 57( niên khóa 2012-2016)
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa luận, em đã nhận được sự quan tâm, ủng hộ, giúp đỡ của Ban giám hiệu nhà trường, các thầy giáo, cô giáo tham gia giảng dạy cho sinh viên khóa 57 khoa Môi Trường, Trường Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam; chính quyền địa phương và các cơ quan, đơn vị trong khu vực nghiên cứu, bạn bè và gia đình của em
Nhân dịp này, em xin chân thành cảm ơn về sự giúp đỡ quý báu đó Đặc biệt là em xin có lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới thầy giáo PGS.TS Đoàn Văn Điếm người hướng dẫn khoa học, đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo, giúp đỡ, truyền đạt những kiến thức quý báu và dành những tình cảm tốt đẹp cho emtrong suốt thời gian học tập cũng như trong thời gian thực hiện khóa luận
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn bạn bè và người thân trong gia đình
đã luôn bên cạnh giúp đỡ, động viên em trong suốt thời gian học tập và hoàn thành khóa luận
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2016
Tác giả khóa luận
Phạm Khánh Ly
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
1.MỞ ĐẦU 1
1.1Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.1 Khu rừng văn hóa lịch sử, vùng đệm KRVHLS và sinh kế người dân 4
1.1.1 Khu rừng văn hóa lịch sử 4
1.1.2 Vùng đệm 4
1.1.3 Sinh kế và sinh kế bền vững 7
1.1.4 Các nghiên cứu về sinh kế bền vững 12
1.2 Quản lý và phát triển KRVHLS 15
1.2.1 Những vấn đề trong quản lý vùng đệm ở Việt Nam 15
1.2.2 Công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang 18
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 22
2.1.1 Đối tượng: 22
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu: 22
2.2 Nội dung nghiên cứu 22
2.3 Phương pháp nghiên cứu 22
2.3.1 Thu thập số liệu thứ cấp: 22
2.3.2 Thu thập số liệu sơ cấp 23
2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 23
Trang 7CHƯƠNG 3: KẾT QỦA THẢO LUẬN 24
3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội của xã Tân Trào 24
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 24
3.1.2 Điều kiện xã hội 26
3.1.2.2 Tình hình phát triển xã hội 26
3.1.3 Tình hình phát triển kinh tế 27
3.1.4 Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội 29
3.2 Thực trạng khu rừng văn hóa, lịch sử Tân Trào 30
3.2.1 Tình hình phát triển khu rừng văn hóa, lịch sử Tân Trào 30
3.2.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp của người dân vùng đệm khu rừng văn hóa lịch sử Tân Trào 30
3.3 Sinh kế của người dân vùng đệm ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của khu rừng văn hóa, lịch sử Tân Trào, Tuyên Quang 32
3.3.1 Khai thác sử dụng đất rừng để sản xuất nông lâm nghiệp 32
3.3.2 Hoạt động khai thác lâm sản 33
3.3.3 Thực trạng vi phạm pháp luật bảo vệ rừng 35
3.3.4 Các nguồn vốn sinh kế của hộ gia đình 36
3.4.5 Đánh giá sinh kế của hộ gia đình tại xã Tân Trào 47
3.4.6 Đánh giá SWOT sinh kế của người dân vùng đệm 50
3.5 Đề xuất giải pháp sinh kế bền vững 53
3.5.1 Định hướng phát triển sinh kế bền vững 53
3.5.2 Các giải pháp phát triển sinh kế bền vững tại xã Tân Trào 54
3.5.2.2 Giải pháp kỹ thuật 59
4.KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 61
4.1 KẾT LUẬN 61
4.2 KIẾN NGHỊ 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
PHỤ LỤC 67
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
ATK: An toàn khu
KRVHLS: Khu rừng văn hóa lịch sử
NN&PTNN: Nông nghiệp và phát triển nông thôn
RIDP: Dự án đa dạng hóa thu nhập nông thôn Tuyên Quang (Rural income diversification)
SKBV: Sinh kế bền vững
SWOT : Điểm mạnh-Điểm yếu-Cơ hội-Thách thức
UBND: Ủy ban nhân dân
UNESCO: Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp xã Tân Trào 31
Bảng 3.2 Tình hình thu nhập của người dân tại vùng đệm đệm khu rừng VHLS Tân Trào 32
Bảng 3.3 Một số hình thức sử dụng đất rừng để sản xuất nông nghiệp 32
Bảng 3.4 Các loại sản phẩm người dân vùng đệm khai thác từ rừng 34
Bảng 3.5 Tình hình vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng năm 2012-2013 35
Bảng 3.6 Quan hệ của các tổ chức liên quan đến cộng đồng 42
Bảng 3.7 Tài nguyên đất đai xã Tân Trào năm 2015 43
Bảng 3.8 Đánh giá nguồn vốn sinh kế của hộ gia đình tại xã Tân Trào 47
Bảng 3.9 Đánh giá xếp hạng các nguồn vốn sinh kế HGĐ 49
Bảng 3.10 Kết quả đánh giá các nguồn vốn sinh kế của HGĐ 49
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Khung sinh kế bền vững 9 Hình 3.1 SƠ ĐỒ KHU RỪNG VĂN HÓA LỊCH SỬ TÂN TRÀO 24
Trang 111.MỞ ĐẦU
1.1Tính cấp thiết của đề tài
Đã từ lâu vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học, chất lượng của các hệ sinh thái và các cảnh quan, hệ động vật, thực vật giàu có của nhiều vườn quốc gia
bị suy thoái do sức ép của nhân dân sinh sống phía ngoài các vườn quốc gia
đã được nhiều người quan tâm Việc xây dựng vùng đệm, tạo thành một vành đai bảo vệ bổ sung cho vườn quốc gia để loại trừ các ảnh hưởng từ phía ngoài
đã được đặt ra ở nhiều nước trên thế giới
Ở nước ta, nhiều vườn quốc gia và các khu bảo tồn đã và đang được xây dựng, nhưng phần lớn các khu vực này lại thường nằm xen với khu dân
cư và chịu sức ép hết sức nặng nề từ phía ngoài Để giải quyết vấn đề này và nhiệm vụ bảo tồn, cần thiết phải có những biện pháp hữu hiệu, đáp ứng những nhu cầu trước mắt của nhân dân địa phương, nhưng đồng thời cũng đáp ứng được những yêu cầu của bảo tồn Vùng đệm được xây dựng chính là để giải quyết các khó khăn đó, nhằm nâng cao cuộc sống cho các cộng đồng dân cư địa phương, tạo thêm công ăn việc làm cho họ để họ giảm bớt sức ép lên các khu bảo tồn và đồng thời giáo dục, động viên họ tích cực tham gia vào công tác bảo tồn
KRVHLS Tân Trào thuộc huyện Sơn Dương vùng an toàn khu( ATK), cách trung tâm Thành phố Tuyên Quang 45 km KRVHLS Tân Trào nằm trên địa bàn 5 xã là: Tân Trào, Bình Yên, Lương Thiện, Trung Yên, Minh Thanh Toàn vùng có diện tích 14.942 ha, trong đó đất lâm nghiệp là 10.910 ha, chiếm 73%, trong đó: Diện tích đất có rừng là 9.664 ha, đất chưa sử dụng đã quy hoạch cho lâm nghiệp 1.246 ha Đây là khu rừng giáp ranh với các địa phương Định Hóa, Đại Từ (Thái Nguyên), Yên Sơn (Tuyên Quang) nên việc quản lý, bảo vệ rừng rất khó khăn Những năm gần đây được sự quan tâm của Nhà nước, giao thông của khu vực đi lại thuận tiện, tuy nhiên đây cũng là khó
Trang 12khăn cho công tác bảo vệ rừng KRVHLS Tân Trào có đa dạng sinh học cao với rất nhiều loài động, thực vật quý hiếm, nhiều loài cây thuốc quý, là nơi phục hồi, lưu giữ các nguồn gen phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, học tập; đồng thời KRVHLS Tân Trào giữ vai trò quan trọng trong việc lưu giữ và điều tiết nguồn nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp của địa phương, góp phần quan trọng trong phát triển và ổn định kinh tế, xã hội của 5
xã ATK huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang Những năm qua, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đã được tỉnh và Sở NN&PTNT Tuyên Quang quan tâm và chỉ đạo thực hiện Tuy nhiên, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trong khu vực vẫn bộc lộ nhiều vấn đề hạn chế; rừng vẫn tiếp tục bị khai thác trái phép và diễn biến phức tạp, chất lượng rừng tự nhiên ngày càng suy giảm; công tác giao, khoán rừng, đất rừng còn nhiều bất cập; cơ sở
hạ tầng kỹ thuật của lâm nghiệp vẫn còn thấp kém; hiệu quả sản xuất lâm nghiệp vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của tỉnh
Với xu hướng thay đổi đáng quan ngại này, việc tìm hiểu thực trạng và giải pháp phát triển sinh kế bền vững cho người dân vùng đệm của KRVHLS Tân Trào là một việc làm hết sức quan trọng và cần thiết, không chỉ có ý nghĩa trong việc tạo ra những thu nhập bền vững cho người dân mà còn giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội của dân cư vùng đệm và bảo tồn đa dạng sinh học của KRVHLS Tân Trào Từ đó đưa ra những biện pháp quản lý KRVHLS Tân Trào và vùng đệm hiệu quả hơn trong tương lai
Vì vậy em chọn nghiên cứu đề tài “Đánh giá hiện trạng và đề xuất một số
giải pháp sinh kế của người dân vùng đệm khu rừng văn hóa lịch sử xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang”
Trang 131.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá được thực trạng sinh kế của người dân vùng đệm khu rừng văn hóa lịch sử xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Đề xuất một số giải pháp phát triển sinh kế của người dân vùng đệm khu rừng văn hóa lịch sử xã Tân Trào, huện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Khu rừng văn hóa lịch sử, vùng đệm KRVHLS và sinh kế người dân
1.1.1 Khu rừng văn hóa lịch sử
Là khu vực gồm một hay nhiều cảnh quan có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu,
có giá trị văn hóa-lịch sử nhằm phục vụ các hoạt động văn hóa, du lịch hoặc
để nghiên cứu, bao gồm:
Khu vực có các thắng cảnh trên đất liền , ven biển hay hải đảo
Khu vực có di tích lịch sử-văn hóa đã được xếp hạng
1.1.2 Vùng đệm
1.1.2.1 Khái niệm vùng đệm
Theo IUCN (1999) “Vùng đệm là những vùng được xác định ranh giới
rõ ràng, có hoặc không có rừng, nằm ngoài ranh giới của khu bảo tồn thiên nhiên và được quản lý để nâng cao việc bảo tồn của khu bảo tồn thiên nhiên
và chính vùng đệm, đồng thời mang lại lợi ích cho nhân dân sống quanh khu bảo tồn thiên nhiên”
Cho đến nay ở nước ta vẫn chưa có sự thống nhất về vùng đệm, nhất là
về nhiệm vụ, quy hoạch và cách quản lý Trước năm 1990, vùng đệm được hiểu là những khu vực nằm bên trong khu bảo tồn và nằm bao quanh khu bảo
vệ nghiêm ngặt của khu bảo tồn (Quyết định 79-CT ngày 31 tháng 3 năm 1986
về việc thành lập Vườn quốc gia Cát Bà, Quyết định 194-CT ngày 9 tháng 8 năm 1986 về việc thành lập 73 khu dự trữ thiên nhiên) Tuy nhiên theo công văn số 1568/LN-KL của Bộ lâm nghiệp (nay là Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn - NN&PTNT) ngày 13 tháng 9 năm 1993, vùng đệm là một vùng
"nằm ở rìa khu bảo tồn, bao quanh toàn bộ các phần của khu bảo tồn Vùng đệm không thuộc khu bảo tồn và không chịu sự quản lý của Ban quản lý khu bảo tồn"(D.A Gilmour và Nguyễn Văn Sản, 1999) Tại Điều 8 - Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg ngày 11/01/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành
Trang 15Quy chế quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất là rừng tự nhiên quy định ghi rõ: "Vùng đệm là vùng rừng, đất hoặc vùng đất có mặt nước nằm sát ranh giới với các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên; có tác dụng ngăn chặn hoặc giảm nhẹ sự xâm phạm khu rừng đặc dụng Mọi hoạt động trong vùng đệm phải nhằm mục đích hỗ trợ cho công tác bảo tồn, quản lý và bảo vệ khu rừng đặc dụng; hạn chế di dân từ bên ngoài vào vùng đệm; cấm săn bắn, bẫy bắt các loài động vật và chặt phá các loài thực vật hoang dã là đối tượng bảo vệ Diện tích của vùng đệm không tính vào diện tích của khu rừng đặc dụng; dự án đầu tư xây dựng và phát triển vùng đệm được phê duyệt cùng với dự án đầu tư của khu rừng đặc dụng Chủ đầu tư dự án vùng đệm có trách nhiệm phối hợp với UBND các cấp và các cơ quan, đơn vị, các tổ chức kinh tế
- xã hội ở trên địa bàn của vùng đệm, đặc biệt là với ban quản lý khu rừng đặc dụng để xây dựng các phương án sản xuất lâm - nông - ngư nghiệp, định canh định cư trên cơ sở có sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương, trình cấp
có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện để ổn định và nâng cao đời sống của người dân" Mặc dù vùng đệm của các vườn quốc gia và các khu bảo tồn
đã được chính thức đề cập đến từ khoảng mười lăm năm nay sau khi có Quyết định số 194- CT ngày 9/8/1986 quy định danh mục 73 khu rừng cấm và Quyết định số 1171/QĐ/ 30/11/1986 của Bộ lâm nghiệp (nay là Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn (NN&PTNT) ban hành các loại quy chế rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, quy định vùng đệm của các vườn quốc gia và các khu bảo tồn thiên nhiên Tuy vậy cho đến nay quan niệm về vùng đệm vẫn chưa rõ ràng, nhất là về ranh giới và vùng đất nào quanh khu bảo tồn phải được đưa vào vùng đệm Trước năm 1990, vùng đệm được hiểu là những khu vực nằm bên trong của khu bảo tồn và bao quanh khu bảo vệ nghiêm ngặt của khu bảo tồn Nói chung, đến nay chưa có một quy chế rõ ràng về việc tổ chức vùng đệm của khu bảo tồn Như vậy, vùng đệm phải được xác định trên cơ sở theo ranh giới của các xã nằm ngay bên ngoài khu bảo tồn, những lâm trường quốc
Trang 16doanh tiếp giáp với khu bảo tồn nên đưa vào trong vùng đệm vì những hoạt động của các lâm trường này có ảnh hưởng đến công tác bảo tồn của cả vùng đệm và khu bảo tồn Trong những trường hợp như thế, ranh giới vùng đệm không nhất thiết cách đều một khoảng và chạy song song với ranh giới các khu bảo tồn
1.1.2.2 Vai trò của vùng đệm
Mọi hoạt động trong vùng đệm phải nhằm mục đích hỗ trợ cho công tác bảo tồn, quản lý và bảo vệ khu rừng đặc dụng; hạn chế di dân từ bên ngoài vào vùng đệm; cấm săn bắt, bẫy các loài động vật và chặt phá các loài thực vật hoang dã là đối tượng bảo vệ Diện tích của vùng đệm không tính vào diện tích của khu rừng đặc dụng; Dự án đầu tư xây dựng và phát triển vùng đệm được phê duyệt cùng với dự án đầu tư của khu rừng đặc dụng Chủ đầu tư dự
án vùng đệm có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban Nhân dân các cấp và các cơ quan, các đơn vị, các tổ chức kinh tế - xã hội trên địa bàn vùng đệm, đặc biệt với Ban Quản lý khu rừng Đặc dụng để xây dựng các phương án sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp, định canh, định cư, trên cơ sở có sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện để ổn định và nâng cao đời sống của người dân
1.1.2.3 Chức năng của vùng đệm
Tại Hội thảo tháng 3/1999 tại Hà Nội có tác giả đã đưa ra định nghĩa vùng đệm của khu bảo tồn Việt Nam như sau: "Vùng đệm là những vùng được xác định ranh giới rõ ràng, có hoặc không có rừng, nằm ngoài ranh giới của khu bảo tồn và được quản lý để nâng cao việc bảo tồn của khu bảo tồn và của chính vùng đệm, đồng thời mang lại lợi ích cho nhân dân sống quanh khu bảo tồn Điều này có thể thực hiện được bằng cách áp dụng các hoạt động phát triển cụ thể, đặc biệt góp phần vào việc nâng cao đời sống kinh tế-xã hội của các cư dân sống trong vùng đệm" Vùng đệm chịu sự quản lý của chính quyền địa phương và các đơn vị kinh tế khác nằm trong vùng đệm Định
Trang 17nghĩa trên đã nói rõ chức năng của vùng đệm là: Góp phần vào việc bảo vệ khu bảo tồn mà nó bao quanh; nâng cao các giá trị bảo tồn của chính bản thân vùng đệm; và tạo điều kiện mang lại cho những người dân sinh sống trong vùng đệm những lợi ích từ vùng đệm và từ khu bảo tồn
1.1.3 Sinh kế và sinh kế bền vững
1.1.3.1 Sinh kế
Tiếp cận sinh kế là khái niệm tương đối mới mẻ, nó phản ánh bức tranh tổng hợp các sinh kế của người dân hay cộng đồng, chứ không chỉ theo phương thức truyền thống chú trọng đến một hoặc hai sinh kế (chẳng hạn như nuôi trồng thủy sản, lâm nghiệp thủy sản) Tiếp cận sinh kế sẽ mang lại cho cộng đồng cũng như những người hỗ trợ từ bên ngoài cơ hội thoát nghèo, thích nghi các điều kiện tự nhiên xã hội và có những thay đổi tốt hơn cho chính họ và cho các thế hệ tiếp theo( Nguyễn Bá Long, 2006) Vì mục tiêu này, chúng ta xem xét khái niệm sinh kế và phân tích sinh kế cho người dân vùng đệm
Một sinh kế bao gồm năng lực tiềm tàng, tài sản (cửa hàng, nguồn tài nguyên, đất đai, đường xá) và các hoạt động cần có để kiếm sống Theo Uỷ ban Phát triển Quốc tế (Vương quốc Anh), một sinh kế bao gồm 3 thành tố chính: Nguồn lực và khả năng mà con người có được, chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế
Kết quả của sinh kế là những thay đổi có lợi cho sinh kế của cộng đồng Nhờ các chiến lược sinh kế mang lại cụ thể là thu nhập cao hơn, nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần, cuộc sống ổn định hơn, giảm rủi ro, đảm bảo tốt hơn an toàn lương thực và sử dụng bền vững hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên
1.1.3.2 Sinh kế bền vững
Hướng phát triển sinh kế cho người dân vùng đệm tại các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia trong và ngoài nước là sinh kế bền vững Trước khi xem xét vấn đề sinh kế bền vững chúng ta cần tìm hiểu một số khái niệm
về phát triển bền vững
Trang 18Theo Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển thì “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại khả năng của các thế hệ tương lai trong đáp ứng các nhu cầu của họ”
Hội nghị môi trường toàn cầu Rio de Janerio (6/1992) đưa ra thuyết phát triển bền vững; nghĩa là sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường một cách khoa học đồng thời với sự phát triển kinh tế
Phát triển bền vững là một mô hình chuyển đổi mà nó tối ưu các lợi ích kinh tế và xã hội trong hiện tại nhưng không hề gây hại cho tiềm năng của những lợi ích tương tự trong tương lai (Nguyễn Văn Huân, Hoàng Đình Phu, 2003)
Phát triển là mô hình phát triển mới trên cơ sở ứng dụng hợp lý và tiết kiệm các nguồn tài nguyên thiên nhiên để phục vụ cho nhu cầu của con người thế hệ hiện nay mà không làm hại cho thế hệ mai sau (Nguyễn Quang Hợp, 2004)
Một sinh kế được xem là bền vững khi nó phải phát huy được tiềm năng con người để từ đó sản xuất và duy trì phương tiện kiếm sống của họ
Nó phải có khả năng đương đầu và vượt qua áp lực cũng như các thay đổi bất ngờ (Kỷ yếu Hội thảo quốc tế vùng đệm các khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam, 2002)
Sinh kế bền vững không được khai thác hoặc gây bất lợi cho môi trường hoặc cho các sinh kế khác ở hiện tại và tương lai trên thực tế thì nó nên thúc đẩy sự hòa hợp giữa chúng và mang lại những điều tốt đẹp cho các thế hệ tương lai ( Nguyễn Bá Long, 2006)
Sinh kế bền vững, nếu theo nghĩa này, phải hội đủ những nguyên tắc sau: Lấy con người làm trung tâm, Dễ tiếp cận, Có sự tham gia của người dân, Xây dựng dựa trên sức mạnh con người và đối phó với các khả năng dễ bị tổn thương, Tổng thể, Thực hiện ở nhiều cấp, Trong mối quan hệ với đối tác, Bền vững và Năng động ( Nguyễn Bá Long, 2006)
Trang 19Một sinh kế được xem là bền vững khi con người có thể đối phó và những phục hồi từ những áp lực và các cú sốc đồng thời có thể duy trì hoặc nâng cao khả năng và tài sản cả ở hiện tại lẫn trong tương lai mà không gây tổn hại đến cơ sở các nguồn tài nguyên thiên nhiên (Kỷ yếu Hội thảo quốc tế vùng đệm các khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam, 2002)
1.1.3.3 Nguồn lực tiếp cận sinh kế
Theo lý thuyết sinh kế mà tổ chức phát triển Anh (DFID) đưa ra, với một cộng đồng hay nhỏ hơn là một hộ gia đình đều có 5 loại nguồn vốn tạo thành một ngũ giác sinh kế và ngũ giá này sẽ bị thay đổi khi có các điều kiện bên ngoài tác động vào Tuy nhiên, tuỳ vào khả năng ứng phó của cộng đồng hay hộ gia đình trước các tác nhân tác động mà khả năng phát triển sinh kế có thể đi theo hướng tốt hơn hay tồi tệ đi Năm nguồn vốn bao gồm Vốn xã Hội (S), Vốn Tài chính (F), Vốn con người (H), Vốn vật chất (P), và Vốn tự nhiên(N)
Hình 1.1: Khung sinh kế bền vững
(Nguồn: DFID, 2001)
Trang 20- Nguồn lực con người: bao gồm kỹ năng, kiến thức và sự giáo dục của từng cá nhân và các thành viên trong gia đình, sức khỏe, thời gian và khả năng làm việc để họ đạt được những kết quả sinh kế
- Nguồn lực xã hội: đề cập đến mạng lưới và mối quan hệ xã hội, các
tổ chức xã hội và các nhóm chính thức cũng như phi chính thức mà con người tham gia để từ đó được những cơ hội và lợi ích khác nhau
- Nguồn lực tự nhiên: là các cơ sở các nguồn lực tự nhiên (của một hộ hoặc một cộng đồng) mà con người trông cậy vào, ví dụ như đất đai, mùa màng, vật nuôi, rừng, nước và các nguồn tài nguyên ven biển
- Nguồn lực tài chính: là các nguồn lực tài chính mà con người có được như nguồn thu nhập tiền mặt và các loại hình tiết kiệm khác nhau, tín dụng và các luồng thu nhập tiền mặt khác như lương hưu, tiền do thân nhân gửi về hay những trợ cấp của nhà nước
- Nguồn lực vật chất: bao gồm các công trình hạ tầng và xã hội cơ bản
và các tài sản của hộ gia đình hỗ trợ cho sinh kế, như giao thông, hệ thống cấp nước và năng lượng, nhà ở và các đồ dùng, dụng cụ trong gia đình
Chiến lược sinh kế là những quyết định trong việc lựa chọn, kết hợp, sử dụng và quản lý các nguồn vốn sinh kế của người dân nhằm để kiếm sống cũng như đạt được mục tiêu và ước vọng của họ Những lựa chọn và quyết định của người dân cụ thể như là: Quyết định đầu tư vào loại nguồn vốn hay tài sản sinh kế; quy mô của các hoạt động để tạo thu nhập mà họ theo đuổi; cách thức họ quản lý và bảo tồn các tài sản sinh kế; cách thức họ thu nhận và phát triển những kiến thức, kỹ năng cần thiết để kiếm sống; họ đối phó như thế nào với rủi ro, những cú sốc và những cuộc khủng hoảng ở nhiều dạng khác nhau; và họ sử dụng thời gian và công sức lao động mà họ có như thế nào để làm được những điều trên ( NACA, 2006)
Những mục tiêu và ước nguyện đạt được là những kết quả sinh kế, đó
là những điều mà con người muốn đạt được trong cuộc sống cả trước mắt và lâu dài, bao gồm:
Trang 21- Sự hưng thịnh: Thu nhập cao và ổn định hơn, cơ hội việc làm tốt hơn; kết quả của những công việc mà người dân đang thực hiện tăng lên và nhìn chung lượng tiền của hộ gia đình thu được gia tăng (Nguyễn Hồng Phương,
Lê Thúy Vân Nhi, Nguyễn Phương Đại Nguyên, Trần Thị Huế, 2008)
- Đời sống được nâng cao: Ngoài tiền và những thứ mua được bằng tiền, người ta còn đánh giá đời sồng bằng giá trị của những hàng hóa phi vật chất khác Sự đánh giá về đời sống của người dân chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều các yếu tố, ví dụ như căn cứ vào vấn đề giáo dục và y tế cho các thành viên gia đình được đảm bảo, các điều kiện sống tốt, khả năng tiếp cận các dịch vụ tốt, sự an toàn của đời sống vật chất (Nguyễn Hồng Phương, Lê Thúy Vân Nhi, Nguyễn Phương Đại Nguyên, Trần Thị Huế, 2008)
- Khả năng tổn thương được giảm: Người nghèo luôn phải luôn sống trong trạng thái dễ bị tổn thương Do vậy, sự ưu tiên của họ có thể là tập trung cho việc bảo vệ gia đình khỏi những đe dọa tiềm ẩn, thay vì phát triển tối đa những cơ hội của mình Việc giảm khả năng tổn thương có trong ổn định giá
cả thị trường, an toàn sau các thảm họa, khả năng kiểm soát dịch bệnh gia súc, (Nguyễn Hồng Phương, Lê Thúy Vân Nhi, Nguyễn Phương Đại Nguyên, Trần Thị Huế, 2008)
- An ninh lương thực được cũng cố: An ninh lương thực là một cốt lõi trong sự tổn thương và đói nghèo Việc tăng cường an ninh lương thực có thể được thực hiện thông qua đảm bảo khả năng tiếp cận nguồn tài nguyên đất, nâng cao và ổn định thu hoạch mùa màng, đa dạng hóa các loại cây lương thực (Nguyễn Hồng Phương, Lê Thúy Vân Nhi, Nguyễn Phương Đại Nguyên, Trần Thị Huế, 2008)
- Sử dụng bền vững hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường: Sự bền vững môi trường là một mối quan tâm lớn mang ý nghĩa quan trọng và hỗ trợ cho các kết quả sinh kế khác (Nguyễn Hồng Phương, Lê Thúy Vân Nhi, Nguyễn Phương Đại Nguyên, Trần Thị Huế, 2008)
Trang 221.1.4 Các nghiên cứu về sinh kế bền vững
1.1.4.1 Dự án phát triển sinh kế các vườn quốc gia tại Đắk Lắk
Từ năm 2003, dự án đẩy mạnh sự tham gia của đồng bào dân tộc thiểu
số vùng đệm hai vườn quốc gia Chư Giang Sin và Yokdon vào tiến trình phát triển kinh tế của tỉnh Đắk Lắk Mục tiêu giai đoạn II là giới thiệu phương pháp lập kế hoạch phát triển chung dựa theo nhu cầu để phân phối nguồn lực
Sự quan tâm đến nhu cầu và bối cảnh văn hóa- xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số là điểm mấu chốt trong việc điều chỉnh khung pháp lý để phát triển nông thôn và quản lý tài nguyên thiên nhiên Dự án hỗ trợ giới thiệu mô hình quản lý rừng cộng đồng có sự tham gia trong giao đất, điều tra rừng và lập kế hoạch quản lý rừng Đồng thời, hỗ trợ các cơ quan liên quan xây dựng và thí điểm các thủ tục hành chính và tài chính cần thiết để thể chế hóa thủ tục và nhân rộng toàn tỉnh Cùng với các cơ quan khuyến nông thuộc Sở NN&PTNT
và với sự tham gia của nông dân là dân tộc thiểu số, dự án đã triển khai thí điểm và phổ biến các mô hình canh tác đất dốc và chăn nuôi gia súc phù hợp Đồng thời giới thiệu các phương pháp khuyến nông có sự tham gia và hỗ trợ người dân tiếp cận các nguồn tín dụng quy mô nhỏ Để tạo cơ hội tăng thu nhập thêm cho người dân, Dự án xúc tiến thúc đẩy mối liên kết giữa sản xuất, chế biến và thương mại thông qua xây dựng các chuỗi giá trị và Hợp tác Công- Tư Dự án cũng tập trung vào nâng cao năng lực và tập huấn cho các cán bộ ở các cơ quan và tổ chức xã hội các cấp trong tỉnh Các quy trình, hướng dẫn mới hoặc được thông qua và các mô hình đã được thí điểm ở 4 xã mục tiêu của dự án ở huyện Lak và Ea H’Leo Phân bổ tài chính công cho các buôn người dân tộc thiểu số ở 2 huyện mục tiêu vùng dự án (Lak và Ea H'Leo) tăng từ 23 tỉ đồng (tương đương khoảng 1,15 triệu Euro vào năm 2005) lên 35 tỉ đồng (tương đương 1,75 triệu Euro)
1.1.4.2 Bảo tồn và quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên khu vực VQG Phong Nha-Kẻ Bàng
Bằng các biện pháp hỗ trợ kỹ thuật, tổ chức hội thảo, và hỗ trợ tài chính, dự án hoạt động nhằm tăng cường cơ chế lập kế hoạch cấp huyện và xã
Trang 23theo đường hướng sử dụng các phương pháp thân thiện với môi trường và quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên Nhằm thúc đẩy sinh kế cho vùng đệm của vườn quốc gia, dự án hỗ trợ việc lập kế hoạch của địa phương
và các cơ quan thực hiện việc lập “kế hoạch phát triển bền vững kinh tế vùng đệm” Mục tiêu tổng thể của kế hoạch này là phác thảo các cơ hội sinh kế thay thế mang tính bền vững và thân thiện với môi trường, giảm sự phụ thuộc của người dân trong vùng vào nguồn tài nguyên thiên nhiên của vườn quốc gia Thêm vào đó, dự án còn xây dựng “Quy hoạch phát triển du lịch” và nâng cao năng lực quản lý, nhận thức môi trường trong khu vực Phong Nha Kẻ Bàng Từ đó, dự án nhằm tiến đến xây dựng và phát triển một ngành du lịch mang tính môi trường bền vững, đem lại lợi ích trực tiếp cải thiện sinh kế của nhân dân địa phương Ngoài ra, dự án hỗ trợ ban quản lý vườn quốc gia tăng cường các biện pháp bảo vệ, hỗ trợ không chỉ việc bảo vệ vườn mà còn tái sinh và bảo tồn các loài động thực vật đang bị đe dọa Thời gian hoạt động của dự án là 8 năm, chia làm 3 giai đoạn, 2 giai đoạn đầu thực hiện trong 3 năm và giai đoạn cuối trong 2 năm Giai đoạn 1 của dự án tính từ 10/2007 đến 10/2010
1.1.4.3 Kết hợp Bảo tồn và Phát triển Khu Dự trữ Sinh quyển tỉnh Kiên Giang
Dự án sẽ tập trung triển khai hoạt động tại ba trọng điểm của Khu Dự trữ Sinh quyển tỉnh Kiên Giang mà đã được UNESCO công nhận năm 2006, gồm Vườn Quốc gia U Minh Thượng, Vườn Quốc gia Phú Quốc và khu vực rừng phòng hộ ven biển thuộc Kiên Lương và Hòn Chông
Mục tiêu của dự án là quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên của tỉnh Kiên Giang và cải thiện việc quản lý các khu rừng phòng hộ
Giai đoạn đầu của dự án sẽ đặt trong tâm vào quản lý hiệu quả các khu rừng phòng hộ và rừng ven biển
Một số khảo sát ban đầu sẽ được thực hiện để điều tra động thực vật trong vùng lõi các vườn quốc gia và các khu rừng phòng hộ ven biển Đây sẽ
là cơ sở để giám sát tác động của dự án cũng như việc triển khai các chiến dịch nâng cao nhận thức
Trang 24Các nhóm đối tượng của dự án gồm người dân nghèo sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên thuộc rừng phòng hộ ven biển, đất ngập nước và các khu bảo vệ cũng như cán bộ trực thuộc các vườn quốc gia, các sở, ban, ngành liên quan của tỉnh và huyện
Tham gia dự án còn có người dân, cán bộ khuyến nông, cán bộ địa phương và các cơ quan đoàn thể, dự án sẽ giải quyết vấn đề xóa đói giảm nghèo thông qua các cơ hội cải thiện và đa dạng sinh kế, đặc biệt cho người dân các dân tộc thiểu số như người Khmer và phụ nữ
Lợi ích trực tiếp của dự án là sự phối kết hợp giữa các bên tham gia được cải thiện Sẽ tổ chức những hội thảo với các bên tham gia để tiến hành lập kế hoạch cho các chiến lược quản lý, và cùng phối hợp với dự án Quản lý Nguồn tài nguyên thiên nhiên vùng ven biển tỉnh Sóc Trăng để chia sẻ thông tin và áp dụng rộng rãi cho các hệ sinh thái khác nhau của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long
Dự án sẽ hỗ trợ đào tào cho cán bộ các vườn quốc gia và cán bộ thuộc các sở liên quan đến quản lý tài nguyên thiên nhiên
Triển khai thực hiện
Đầu ra của Dự án gồm:
- Đa dạng sinh học động, thực vật được đánh giá tại các điểm nóng
- Các chiến lược quản lý sử dụng đất cho Khu Dự trữ sinh quyển được hoàn thiện - Năng lực và kiến thức kỹ thuật cho các cơ hội tạo thu nhập, gồm
cả kiến thức thị trường được cải thiện
- Nhận thức về môi trường và quản lý tài nguyên thiên nhiên được nâng cao
- Xây dựng được các kế hoạch bảo tồn đa dạng sinh học trong Khu Dự trữ Sinh quyển
- Xây dựng các hướng dẫn kỹ thuật quản lý nước tại Vườn Quốc gia U Minh Thượng
Trang 25- Xây dựng các hướng dẫn kỹ thuật phòng cháy, chữa cháy rừng cho Vườn Quốc gia U Minh Thượng và Phú Quốc
- Năng lực lập kế hoạch, thiết kế và quản lý dự án được cải thiện Sau khi nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn về sinh kế bền vững cộng đồng dân cư vùng đệm vườn quốc gia, tác giả đã làm nổi bật được những khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu, đó là khái niệm về sinh kế, cộng đồng dân
cư và vùng đệm Trên cơ sở lý luận, tác giả đã đưa ra được cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu, đó là những vấn đề vùng đệm tại một số VQG và khu bảo tồn của Việt Nam Cơ sở lý luân và thực tiễn là cơ sở quan trọng để tác giả nghiên cứu đề tài
1.2 Quản lý và phát triển KRVHLS
1.2.1 Những vấn đề trong quản lý vùng đệm ở Việt Nam
Cho đến nay nước ta vẫn chưa có sự thống nhất về vùng đệm tại các VQG và khu bảo tồn, kể cả nhiệm vụ, quy hoạch và cách quản lý Do sức ép của nhân dân sinh sống xung quanh hay trong các VQG ngày càng mạnh mà công tác bảo tồn gặp nhiều khó khăn Để giải quyết các mâu thuẫn nói trên, nhiều VQG, khu bảo tồn đã thực hiện một số dự án về nâng cao nhận thức môi trường, cải thiện cuộc sống cho người dân, nhất là những người nghèo sống xung quanh các khu bảo tồn và đã thu được một số kết quả khả quan (Võ Quý, 1998)
Sau đây chúng ta cùng xem xét về tình hình vùng đệm ở nước ta trong những năm qua, các khó khăn gặp phải về quản lý vùng đệm và một số kinh nghiệm rút ra từ việc thực hiện một số dự án có liên quan đến vùng đệm các khu bảo tồn, mong góp phần vào việc quản lý vùng đệm ngày càng tốt hơn, thực hiện được nhiệm vụ quan trọng là bảo tồn đa dạng sinh học và các hệ sinh thái tự nhiên phong phú của đất nước (Nguyễn Bá Thụ, 2009)
Xem xét các vùng đệm đã có hiện nay tại các vườn quốc gia và khu bảo tồn chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng việc thành lập các vùng đệm không theo
Trang 26một khuôn khổ thống nhất Dù vùng đệm của khu bảo tồn được tạo ra theo hình thức nào, hay khi thành lập khu bảo tồn không nói đến vùng đệm, thì những công việc hàng ngày xẩy ra, do dân cư sinh sống xung quanh khu bảo tồn, tạo sức ép nặng nề lên khu bảo tồn, đã buộc các ban quản lý vườn quốc gia và khu bảo tồn phải có những hoạt động liên quan đến việc ổn định cuộc sống của dân cư ở đây, giáo dục, khuyến khích họ bảo vệ thiên nhiên, giải quyết những mâu thuẫn xẩy ra giữa khu bảo tồn và dân, giảm sức ép của dân lên khu bảo tồn v.v Đó là những công việc quan trọng mà ban quản lý khu bảo tồn nào cũng phải thường xuyên lo lắng, và không thể bỏ qua được Các công việc đó thực chất là một trong những công việc quan trọng của việc quản
lý vùng đệm (Kỷ yếu Hội thảo quốc tế vùng đệm các khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam, 2002)
Nhiều ban quản lý khu bảo tồn và chính quyền thuộc các cấp (huyện
và xã) có liên quan đến các khu bảo tồn và vườn quốc gia, trong nhiều năm qua, tuy chưa có sự hướng dẫn của các cơ quan có thẩm quyền, nhưng đã có nhiều cố gắng tổ chức các hoạt động bằng những hình thức khác nhau và bước đầu đã thu được những kết quả khả quan Sức ép của nhân dân các địa phương này lên khu bảo tồn đã giảm đi đáng kể, như các vườn quốc gia Cúc Phương, Yok Đôn, Bạch Mã, Cát Tiên, các khu bảo tồn: Kẻ Gỗ, Xuân Thủy
và một số khu bảo tồn khác nữa Một số dự án quốc tế cũng đã đạt nhiều kết quả trong việc hỗ trợ các khu bảo tồn về nâng cao nhận thức cho người dân, hoặc giúp dân vùng đệm nâng cao cuộc sống để họ giảm bớt sức ép lên khu bảo tồn Một số dự án trong khuôn khổ Chương trình nghiên cứu Việt Nam-
Hà Lan cũng đã đề cập đến vấn đề vùng đệm (Kỷ yếu Hội thảo quốc tế vùng đệm các khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam, 2002)
* Những khó khăn gặp phải trong việc quản lý vùng đệm
Điều khó khăn nhất gặp phải trong việc quản lý khu bảo tồn ở Việt Nam là số dân sinh sống phía ngoài, sát với khu bảo tồn, thậm chí cả trong
Trang 27khu bảo tồn đã tạo sức ép nặng nề lên khu bảo tồn Họ phát nương làm rẫy, săn bắt động vật, chặt gỗ, lấy củi, thu lượm các sản phẩm của rừng và do đó ảnh hưởng lớn đến công tác bảo vệ Nguyên nhân chính của mất rừng là đói nghèo và dân số tăng nhanh (Võ Quý, 1998)
Kinh nghiệm cho thấy trong công tác bảo vệ theo pháp luật là khó thành công Đường ranh giới có biển báo, trạm gác, bắt bớ, tịch thu, giáo dục cũng không thể ngăn cấm họ xâm phạm khu bảo tồn và nếu không có biện pháp thích hợp để ngăn chặn kịp thời thì chẳng bao lâu khu bảo tồn sẽ bị xuống cấp Phải có hệ thống tổ chức mới và cách giải quyết mới, nhằm thỏa mãn được nhu cầu trước mắt của nhân dân mà không gây nguy hại đến mục tiêu lâu dài của khu bảo tồn mới có thể cứu thoát sự suy thoái của các khu này Kinh nghiệm cho thấy: Hợp tác với nhân dân địa phương và chấp nhận những yêu cầu cấp bách của họ là biện pháp bảo vệ có hiệu quả hơn là chỉ có biện pháp hàng rào, ngăn cấm, tuần tra và xử phạt (Trần Đức Viên, Nguyễn Vinh Quang, Mai Văn Thành, 2005)
Điều khó khăn nhất gặp phải trong việc quản lý vùng đệm của vườn quốc gia và khu bảo tồn nước ta hiện nay là:
- Hầu hết vùng đệm đều có đông dân cư sinh sống Ví dụ vườn quốc gia Ba
Vì có tới 42000 dân, Bạch Mã 62000 dân, Cát Tiên 162000 dân, Cúc Phương
có 50000 dân ( Kỷ yếu Hội thảo quốc tế vùng đệm các khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam, 2002)
- Vùng đệm thuộc quyền quản lý của chính quyền địa phương (xã, huyện, tỉnh) nhưng thường chính quyền địa phương ít quan tâm đến khu bảo tồn vì họ không hiểu rõ tầm quan trọng của khu bảo tồn đối với địa phương và coi việc bảo vệ các khu rừng đặc dụng là việc của ban quản lý các khu rừng
đó (Nguyễn Bá Thụ, 2009)
- Nhân dân địa phương, đa số là nghèo, dân số tăng nhanh, dân trí thấp, trong một số trường hợp họ cho rằng việc thành lập khu bảo tồn không đem
Trang 28lại lợi ích gì cho họ, mà chỉ bị thiệt vì họ không được tự do khai thác một phần tài nguyên thiên nhiên như trước (Trung tâm phát triển nông thôn miền Trung, 2005)
- Hầu hết ban quản lý các khu bảo tồn chưa có giải pháp hữu hiệu để lôi kéo người dân vùng đệm tham gia công tác bảo tồn, chẳng những thế mà trong nhiều trường hợp vùng đệm là nơi chứa chấp bọn phá rừng, là tụ điểm thu gom động vật hoang dã trái phép (Nguyễn Bá Long, 2006)
- Tập quán canh tác của người dân sống trong vùng đệm ở một số nơi quá lạc hậu, vẫn tồn tại phương thức đốt nương làm rẫy, chọc lỗ tra hạt vì vậy năng suất mùa màng rất thấp, tỷ lệ hộ đói nghèo cao (Bảo Huy và cộng sự, 2005)
1.2.2 Công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang
Tuyên Quang là một tỉnh miền núi phía Bắc, có điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, đặc biệt là có lợi thế
về đất đất lâm nghiệp chiếm 76,17% diện tích tự nhiên toàn tỉnh
Cấp ủy, chính quyền từ tỉnh đến cơ sở rất quan tâm đến phát triển lâm nghiệp của tỉnh Đã thành lập Ban chỉ đạo các dự án trồng rừng (327, 661) cấp tỉnh và các Ban phát triển rừng cấp cơ sở Đặc biệt, Ban Chấp hành Đảng
bộ tỉnh Tuyên Quang (khoá XIV) đã ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 30/11/2006 về phát triển kinh tế lâm nghiệp giai đoạn 2006-2010, định hướng đến năm 2020; Kết luận Số 30-KL/TU ngày 02/8/2011 về nhiệm vụ, giải pháp đẩy mạnh phát triển kinh tế lâm nghiệp giai đoạn 2011-2015, định hướng đến
2020, trong đó, đã đề ra các giải pháp nhằm đạt được mục tiêu: tăng nhanh tỷ trọng kinh tế lâm nghiệp đóng góp một phần vào giá trị tổng sản xuất nông nghiệp của tỉnh và từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần xoá đói giảm nghèo và tiến tới làm giàu bằng nghề rừng
Trong thời gian vừa qua, công tác bảo vệ và phát triển rừng của Tuyên Quang đã đạt được một số kết quả như sau:
Trang 29- Công tác quy hoạch: Năm 2007, Tuyên quang đã hoàn thành quy hoạch và cắm mốc ranh giới phân 3 loại rừng với tổng diện tích đất lâm nghiệp là 445.847,9 ha, với cơ cấu: Rừng phòng hộ chiếm 31%; rừng đặc dụng chiếm 11% diện và rừng sản xuất: chiếm 58% Sau một thời gian thực hiện quy hoạch, thực tế đã bộc lộ một số tồn tại, như: Diện tích rừng phòng
hộ, đặc dụng còn cao trong cơ cấu các loại rừng của tỉnh, trong khi nhu cầu sử dụng đất rừng sản xuất trong nhân dân là rất lớn; mặt khác, từ năm 2007 đến nay một phần diện tích đất quy hoạch cho mục đích lâm nghiệp đã được UBND tỉnh phê duyệt chuyển đổi sang mục đích khác không phải là lâm nghiệp trong lâm phận rừng phòng hộ và rừng sản xuất nằm hầu hết ở các huyện, thành phố dẫn đến tình trạng số liệu quản lý đất lâm nghiệp bị sai lệch, ranh giới đất lâm nghiệp chưa đúng với thực tế Do đó, năm 2012, Tuyên Quang đã thực hiện rà soát, điều chỉnh quy hoạch phân ba loại rừng Kết quả, tổng diện tích đất lâm nghiệp sau rà soát là 446.926,17 ha, trong đó, diện tích rừng đặc dụng biến động từ 48.881,66 ha (trước điều chỉnh) giảm còn 47.023,55 ha (sau điều chỉnh); diện tích rừng phòng hộ biến động từ 141.677,29 ha (trước điều chỉnh) giảm còn 127.124,41 ha (sau điều chỉnh); Tổng diện tích rừng sản xuất biến động từ 256.367,22 ha (trước điều chỉnh) tăng lên 272.778,21 ha (sau điều chỉnh)
Đồng thời Quy hoạch phát triển lâm nghiệp tỉnh Tuyên Quang, giai đoạn 2011-2020, với tổng diện tích đất lâm nghiệp, xác định đến năm 2020, đất lâm nghiệp là 445.718 ha, trong đó: (1) Rừng phòng hộ: 127.124 ha; chiếm 28,5% diện tích đất lâm nghiệp; trong đó: đất có rừng 119.614 ha; đất chưa có rừng 6.817 ha; đất khác là: 693 ha (1) Rừng đặc dụng: 46.981 ha chiếm 10,5% diện tích đất lâm nghiệp; trong đó: đất có rừng 45.950 ha; đất chưa có rừng 766 ha; đất khác là 265 ha (1) Rừng sản xuất: 271.613 ha chiếm 60,9% diện tích đất lâm nghiệp; trong đó: đất có rừng 233.627 ha; đất chưa có rừng 35.860 ha; đất khác là 2.126 ha
Trang 30- Công tác giao rừng gắn với giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho các tổ chức, cá nhân:
Từ khi thực hiện Luật Đất đai sửa đổi năm 2003 và Nghị định
181/NĐ-CP, ngành Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho các tổ chức và hộ gia đình sử dụng lâu dài vào mục đích sản xuất lâm nghiệp Đặc biệt khi có dự án Đa dang hóa thu nhập nông thôn (RIDP) hỗ trợ, đã lập phương án giao đất và tổ chức giao đất lâm nghiệp được 66 xã, riêng Dự án RIDP đã giao được 26.538 hộ, cấp được 41.483 giấy chứng nhận với 52.058,88 ha Tính đến nay trên địa bàn toàn tỉnh, gần 29, 09% diện tích đất lâm nghiệp đã được giao và cấp GCNQSDĐ cho các chủ quản lý Trong đó: Đã giao cho 02 tổ chức: 48.494,43 ha (Vườn Quốc gia Tam Đảo 6.078,4
ha và Ban Quản lý rừng phòng hộ Na Hang 42.416,03 ha); cho thuê đất cho12
tổ chức 7.125,97 ha (gồm các công ty lâm nghiệp, các công ty cổ phần, Trung tâm nghiên cứu và thực nghiệm cây NLG và Đại học Nông lâm Thái Nguyên); cấp 76.614 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho các
hộ gia đình, cá nhân, với diện tích là 74.442,48 ha
Sau khi được giao đất giao rừng, thì nhận thức của người dân về công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đã chuyển biến rõ rệt, không còn tình trạng coi rừng là của chung mà đã tập trung đầu tư bảo vệ và phát triển rừng trên diện tích đất được giao; các vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng giảm đi rõ rệt Mặt khác việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp là cơ sở pháp lý quan trọng để các tổ chức, cá nhân có tăng cơ hội tiếp cận với các nguồn vốn tín dụng để đầu tư cho phát triển rừng
- Công tác bảo vệ rừng: Trong giai đoạn năm 2000-2010 đã khoán bảo
vệ rừng phòng hộ và đặc dụng được 1.645.808 lượt ha (Rừng đặc dụng: 460.289 lượt ha; Rừng phòng hộ: 1.185.519 lượt ha)
- Công tác trồng rừng: Từng bước chuyển đổi phương thức trồng cây lâm nghiệp thuần túy quảng canh sang trồng rừng thâm canh và nông lâm kết hợp với các giống mới năng suất cao hơn
Trang 31Kết quả: Từ năm 2000-2010 toàn tỉnh trồng được: 102.225 ha, đạt 100,8% kế hoạch; bình quân trồng được 8.518 ha/năm Trong đó: Trồng rừng phòng hộ, đặc dụng: 18.680,9 ha; đạt 82% kế hoạch; trồng rừng sản xuất: 82.201 ha, đạt 100,7% kế hoạch (trong đó trồng rừng sản xuất được hỗ trợ từ ngân sách là 21.216 ha, từ nguồn vốn vay tín dụng 23.516 ha, vốn tự có 37.469 ha); Trồng cây phân tán (quy diện tích): 22.559 ha
Từ năm 2011 đến nay, toàn tỉnh đã trồng được 59.200 ha rừng (bình quân mỗi năm trồng được 14.800 ha), trong đó: Trồng rừng sản xuất được 52.760 ha; trồng rừng phòng hộ - đặc dụng được: 3.925 ha và trồng cây phân tán (quy diện tích) được 2.515 ha
- Công tác khoanh nuôi tái sinh phục hồi rừng: Tuyên Quang chủ yếu
áp dụng biện pháp khoanh nuôi bảo vệ rừng Kết quả, giai đoạn 2000-2010 diện tích khoanh nuôi toàn tỉnh được 54.735 ha, trong đó khoanh nuôi tái sinh
tự nhiên được 54.735 ha, thành rừng 41.956 ha (đạt 76,6%)
- Khai thác lâm sản: Theo số liệu thống kê của tỉnh: Giai đoạn 2000 -
2010, toàn tỉnh đã khai thác được 1,65 triệu m 3 gỗ các loại; 13,3 triệu ster củi; Khai thác tre nứa các loại 30 triệu cây; Lâm sản ngoài gỗ: Song mây, Mộc nhĩ, Trẩu, vỏ quế,măng tươi và một số lâm sản khác như lá Cọ, dược liệu, nhựa Trám, Trẩu đạt khoảng 150 ngàn tấn các loại; và từ năm 2011 đến nay, tỉnh Tuyên Quang đã khai thác được 1,06 triệu gỗ các loại và khoảng
60 nghìn tấn tre nứa các loại.Trong thời gian vừa qua, cơ quan quản lý nhà nước về lâm nghiệp và một số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã quan tâm đến QLRBV và chứng chỉ rừng; đã có 01 doanh nghiệp (Công ty Lâm nghiệp Hàm Yên) đang tiến hành các bước để đề nghị được cấp chứng chỉ rừng, nhưng đến nay chưa hoàn thành
Trang 32CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng:
Sinh kế người dân vùng đệm tại xã Tân Trào, khu rừng văn hóa, lịch sử Tân Trào, Tuyên Quang
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi không gian: vùng đệm tại xã Tân Trào, khu rừng văn hóa, lịch
sử Tân Trào, Tuyên Quang
Phạm vi thời gian: từ 1/2016 đến tháng 5/2016
2.2 Nội dung nghiên cứu
1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội ở khu vực vùng đệm tại xã Tân Trào, khu rừng văn hóa, lịch sử Tân Trào, Tuyên Quang
2 Thực trạng khu rừng văn hóa, lịch sử Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang
3 Sinh kế của người dân vùng đệm ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của khu rừng văn hóa, lịch sử Tân Trào, Tuyên Quang
4 Đề xuất các giải pháp phát triển sinh kế cho người dân vùng đệm tại xã Tân Trào khu rừng văn hóa, lịch sử Tân Trào, Tuyên Quang nhằm quản
Trang 332.3.2 Thu thập số liệu sơ cấp
2.3.2.1 Phương pháp phỏng vấn người dân bằng phiếu câu hỏi:
Điều tra số liệu bằng việc sử dụng bảng câu hỏi có cấu trúc soạn sẵn Phỏng vấn trực tiếp 60 hộ dân trên địa bàn xã Tân Trào và khu rừng văn hóa, lịch sử Tân Trào, Tuyên Quang Phương pháp chọn hộ điều tra theo khối ngẫu nhiên trong các thôn dựa trên danh sách đã được lập sẵn Thông tin thu thập bao gồm tình hình sản xuất nông nghiệp của hộ, nhận thức của người dân về bảo vệ rừng văn hóa, lịch sử Tân Trào Thực trạng sinh kế của người dân vùng đệm khu rừng văn hóa, lịch sử Tân Trào, Tuyên Quang
2.3.2.2 Phương pháp thảo luận nhóm:
Phỏng vấn sâu những người có kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp Mỗi nhóm họp gồm 30 người với đầy đủ các thành phần về giới tính, độ tuổi, kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp và trách nhiệm cộng đồng khác nhau Các công
cụ sử dụng như lập sơ đồ sử dụng đất thôn xóm; lập cây vấn đề trình bày nguyên nhân và kết quả sản xuất nông nghiệp, hiệu quả của các biện pháp sinh kế, tác động của người dân tới khu rừng văn hóa, lịch sử Tân Trào, Tuyên Quang, giải pháp sinh kế của người dân Sử dụng phương pháp SWOT (đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức ) để tổng hợp, phân tích và đánh giá
2.3.2.3 Phương pháp khảo sát thực địa:
Thu thập số liệu, hình ảnh trực quan về sản xuất nông nghiệp, sinh kế của người dân vùng đệm khu rừng văn hóa, lịch sử Tân Trào, Tuyên Quang
2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu
Xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê mô tả trên phần mềm excel
Trang 34CHƯƠNG 3: KẾT QỦA THẢO LUẬN
3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội của xã Tân Trào
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lí
Xã Tân Trào nằm ở phía bắc thị trấn Sơn Dương cách thị trấn Sơn Dương khoảng 15km, phía bắc giáp xã Trung Yên, phía nam giáp xã Bình Yên, Lương Thiện, phía Tây giáp xã Minh Thanh, phía đông giáp tỉnh Thái Nguyên
Hình 3.1 SƠ ĐỒ KHU RỪNG VĂN HÓA LỊCH SỬ TÂN TRÀO
Trang 353.1.1.2 Địa hình, địa mạo, thổ nhưỡng
a) Địa hình: Nằm trong vùng đồi núi thấp, phía Nam tỉnh Tuyên Quang, địa hình bị phân cắt khá rõ rệt, phía Bắc và phía Đông là những dải đồi núi cao,
độ cao trung bình 500-600m, phần giáp tỉnh Thái Nguyên có độ cao trên 800m Nhìn chung địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây
Do sự chênh lệch về độ cao lớn nên địa hình bị phân cắt rất mạnh
b) Địa mạo: Có 3 dạng địa mạo đặc trưng:
- Địa mạo thung lũng, sông suối: đây là phần thấp nhất của địa hình được tạo bởi sông Phó Đáy, Ngòi Thia Bao gồm các bậc thềm sông suối được lấp đầy bởi trầm tích bổ rời hệ thứ tư chủ yếu là đất phù sa, đất thung lũng dốc tụ, có thành phần cơ giới trung bình hoặc đất feralit biến đổi do trồng lúa tạo thành các cánh đồng bậc thang viền quanh chân đồi thấp, thoải
- Địa mạo đồi núi thấp: bao gồm các dải đồi ở độ cao khác nhau, đất được hình thành chủ yếu là đất đỏ vàng trên cát, đất vàng trên phù sa cổ, đất
từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, thời tiết hanh, khô, lạnh và ít mưa, nhiệt độ trung bình từ 10ºC-18ºC Nhiệt độ trung bình trong năm là 22ºC, nhiệt độ cao nhất 38ºC, nhiệt độ thấp nhất là dưới 10ºC Lượng mưa trung bình năm 1500mm/năm, ẩm độ không khí trung bình năm là 80%
Trang 363.1.2 Điều kiện xã hội
3.1.2.1 Tình hình dân cư và lao động
Xã có 08 thôn, dân số 1.196 hộ, 4.783 khẩu, với mật độ dân số là
136 người/km2 (toàn xã có 06 dân tộc gồm: Dân tộc Tày chiếm 48,6%; dân tộc Nùng chiếm 14,8 %; dân tộc Dao chiếm 10,8 %; dân tộc Kinh chiếm 24,4%; dân tộc Cao Lan chiếm 1,2%; dân tộc Mường 0,2%) Dân số trong
độ tuổi lao động chiếm 65% tổng dân số toàn xã, trong đó lao động nông nghiệp chiếm 86,6%, lao động phi nông nghiệp chiếm 13,4%
Năm 2014, toàn xã có 2.840 người trong động tuổi lao động tham gia thường xuyên vào các ngành như trồng trọt, chăn nuôi thú y, sửa chữa máy nông nghiệp trên 3.110 người trong độ tuổi lao động, đạt 91,3% tỷ lệ người dân trong độ tuổi lao động trên địa bàn xã có việc làm thường xuyên
Đến cuối năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn xã giảm từ 34,59% (năm 2011) xuống còn 3,84% (46 hộ, 161 nhân khẩu); tỷ lệ hộ cận nghèo giảm từ 38% (năm 2011) xuống còn 3,01% năm 2015 (36 hộ, 133 nhân khẩu)
3.1.2.2 Tình hình phát triển xã hội
a Giáo dục
Hiên nay, 3/3 trường học( trường mầm non, trường tiểu học, trường THCS) trên địa bàn xã đều đạt trường chuẩn Quốc gia (mức độ I) Tỷ lệ học sinh của xã sau khi tốt nghiệp THCS hàng năm tiếp tục theo học tại các trường THPT và học nghề đạt trên 98,5% Tỷ lệ lao động trong độ tuổi được đào tạo nghề đạt 27,6% (với 895/3.110 người) Công tác khuyến học, khuyến tài, và xây dựng xã hội học tập trên địa bàn xã luôn được quan tâm
Trang 37b Y tế
Hiện nay trạm Y tế xã Tân Trào hoạt động lồng ghép với phòng khám
đa khoa khu vực Tân Trào, với 15 giường bệnh (trong đó 10 giường bệnh của
Phòng khám đa khoa khu vực và 05 giường bệnh của trạm Y tế xã), với tổng
số 12 cán bộ y tế (trong đó, Phòng khám đa khoa có 07 cán bộ, trạm Y tế 05
cán bộ); Cơ cấu cán bộ phù hợp theo quy định của Bộ Y tế, gồm: 01 bác sỹ đa
khoa, còn lại là y sỹ, nữ hộ sinh, điều dưỡng, kỹ thuật viên, hộ lý Phòng
khám được trang bị đầy đủ máy móc, trang thiết bị (máy chụp Xquang, siêu
âm, điện tim, xét nghiệm, khí dung ) cơ bản đáp ứng nhu cầu khám, chữa
bệnh của nhân dân trong xã và khu vực ATK Tân Trào Năm 2013, Trạm Y tế
đã được công nhận đạt chuẩn quốc gia theo tiêu chí mới tại Quyết định số 142/QĐ-UBND ngày 31/3/2014 của UBND tỉnh Tuyên Quang về việc công nhận đạt tiêu chí quốc gia về y tế xã năm 2013 Tính đến tháng 12 năm 2014, tổng số người tham gia BHYT tại xã Tân Trào là 4.458/4.783 nhân khẩu, đạt
tỷ lệ 97,5%
3.1.3 Tình hình phát triển kinh tế
Thu nhập bình quân các thôn là 18,03 triệu đồng/người/năm
3.1.4.1 Sản xuất nông nghiệp
a Trồng trọt
Tổng sản lượng lương thực tính đến 30/10/2015 là 2.200 tấn, đạt 102,6% kế hoạch huyện giao, cụ thể:
- Lúa nước cả năm: Diện tích ước đạt 210 ha, đạt 100,24% kế hoạch
huyện giao
- Cây Ngô cả năm: Diện tích ước đạt 196 ha đạt 124,05% so với kế
hoạch huyện giao
-Cây lạc cả năm: Diện tích ước đạt 8 ha, đạt 100% kế hoạch huyện giao
- Cây đậu tương cả năm: Diện tích 3 ha, đạt 100% kế hoạch huyện giao
Trang 38- Cây cho thức ăn gia súc, cả năm: Diện tích ước đạt 37,7 ha, đạt 251%
kế hoạch huyện giao
+ Cây lâm nghiệp
-Trồng rừng:
+ Rừng sản xuất tập trung 15 ha Kết quả đến nay đã trồng 15,36 ha, đạt 102,4% kế hoạch huyện giao
+ Rừng phân tán 1 ha, đạt 100% kế hoạch huyện giao
Rừng trồng khai thác: Đã khai thác 9,3/30 ha, đạt 31% kế hoạch huyện giao
+ Cây công nghiệp
- Cây chè că năm: Diện tích cả năm ước đạt180,25/96 ha, đạt 187,76%
kế hoạch huyện giao Chè là một trong những cây công nghiệp quan trọng của
huyện Sơn Dương và của tỉnh Tuyên Quang, là cây có thu nhập ổn định, góp phần xoá đói giảm nghèo cho các hộ trong vùng Tổng diện tích chè của các
xã Khu rừng văn hóa lịch sử Tân Trào có 575,1 ha, năng suất chè đạt 62,1
tạ/ha, sản lượng 3.571 tấn chè búp tươi
Nhóm cây công nghiệp hàng năm như mía phát triển tốt; các cây lạc, đỗ
- Cây mía cả năm: Tổng diện tích cả năm ước đạt 40,54/32,8 ha, đạt
123,5% kế hoạch huyện giao, trong đó:
+ Trồng mới, trồng lại: 17,82 ha
+ Diện tích mía lưu gốc: 22,68 ha
- Trồng cỏ VA06 + cây thức ăn gia súc Trồng được 37,7/15 ha, đạt
251,33% so với kế hoạch huyện giao
Đối với cây vụ đông 2015 (ngô), UBND xã đã xây dựng kế hoạch và làm việc với ban lãnh đạo 8 thôn, để giao chỉ tiêu kế hoạch trồng ngô vụ đông , với tổng diện tích 37 ha (chủ yếu trồng trên đất lúa 2 vụ) để từng bước nâng cao thu nhập cho nhân dân; làm việc với Công ty Cổ phần bò sữa cho tương lai, ký Hợp đồng tiêu thụ ngô làm thức ăn chăn nuôi cho nhân dân xã Tân Trào, với tổng số 2.600 tấn ngô (từ nay đến hết 2016)
Trang 39- Về dự án cây ăn quả: Tổng diện tích trồng cây ăn quả xã Tân Trào là
29,3 ha, đạt 100% kế hoạch huyện giao Cơ bản hiện nay các dự án cây ăn
quả trên địa bàn xã Tân Trào đang phát triển tốt, một số cây đã cho thu hoạch
đạt kết quả cao như Ổi, chuối tiêu hồng, diện tích gồm:
- Chuối tiêu hồng 6 ha/ 12.000 cây
- Đại táo 6 ha/ 2.400 cây
- Ổi đài loan 2 ha/ 800 cây
- Cây ăn quả khác: 15,3 ha
b Chăn nuôi
- Đàn trâu: Tổng 579/408 con, đạt 141,91%, kế hoạch huyện giao
- Đàn bò: Tổng 491/276 con, đạt 177,9% kế hoạch huyện giao
- Đàn lợn: 3.244/3.094 con đạt 104,84 % kế hoạch huyện giao
- Đàn dê: 625 con
- Gia cầm: Tổng số 36.500/36.716 con đạt 99,41% kế hoạch huyện giao
- Thủy cầm: Diện tích thả cá 42/42 ha đạt 100% kế hoạch huyện giao
3.1.4 Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội
Sản xuất nông lâm nghiệp đã đạt được những kết quả nhất định( vượt chỉ tiêu xã đề ra tính đến 30/10/2015) bên cạnh đó vần tồn tại những hạn chế như:
- Rừng trồng khai thác thấp (9,3/30 ha), đạt 31% kế hoạch huyện giao
- Hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia phòng chống dịch bệch chưa cao, vẫn còn tình trạng bò bị chết xẩy ra trên địa bàn
- Vẫn còn một số hộ gia đình đã vi phạm Hợp đồng đem bò đi gửi hoặc bán trong dự án bò do Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội tài trợ:
- Việc dự trữ, điều tiết nước của các hồ đập, công trình thủy lợi trên địa bàn xã chưa được khoa học, dẫn đến đôi khi thừa nước về mùa mưa và thiếu nước về mùa khô, ảnh hưởng đến sản xuất nông, lâm nghiệp của nhân dân; việc cho thuê hồ đập của HTX cho nhân dân đấu thầu còn bị buông lỏng, thiếu sự quản lý
Trang 40- Sự phối hợp giữa Hạt kiểm lâm rừng đặc dụng Tân trào trong việc quản lý, bảo vệ rừng đặc dụng, phòng cháy chữa cháy rừng đã được thực hiện tốt nhưng chưa thường xuyên
3.2 Thực trạng khu rừng văn hóa, lịch sử Tân Trào
3.2.1 Tình hình phát triển khu rừng văn hóa, lịch sử Tân Trào
Khu rừng văn hóa lịch sử Tân Trào, được thành lập theo Quyết định số
41-TTg ngày 24/01/1977 của Thủ tướng Chính phủ "Về việc Quy định các khu rừng cấm", theo đó: Tên khu rừng cấm là Tân Trào (núi Hồng) huyện Sơn Dương, tỉnh Hà Tuyên (nay là Tuyên Quang); chức năng của khu rừng: Bảo vệ di tích lịch sử; phạm vi ranh giới: Toàn bộ núi Hồng: Khu vực từ đèo
Re đến đỉnh núi Hồng, núi Tống Thịnh Phía đông nam giới hạn bởi suối Mỏ Ché thuộc khu vực Bảo tàng; diện tích khi đó là 1.081 ha Theo Quyết định số: 1770 /QĐ - CT ngày 31/12/2012của UBND tỉnh Tuyên Quang “Về việc điều chỉnh quy hoạch phân 3 loại rừng (phòng hộ, đặc dụng, sản xuất) tỉnh Tuyên Quang” và Quyết định số: 523/QĐ -CT ngày 31/12/2012 của UBND tỉnh Tuyên Quang “Về việc phê duyệt phê duyệt quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2011 - 2020” Rừng đặc dụng Tân Trào có diện tích 3.892,70 ha, trên địa bàn 5 xã: Tân Trào: 2.289,57 ha, Minh Thanh: 125,36 ha, Trung Yên: 1.061,66 ha, Bình Yên: 68,0621 ha và Lương Thiện: 348,05 ha, nhưng chưa có quy hoạch tổng thể về bảo tồn và phát triển bền vững, chưa quy hoạch phân khu chức năng và chưa có quy hoạch vùng đệm, chưa thành lập Ban quản lý khu rừng
3.2.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp của người dân vùng đệm khu rừng
văn hóa lịch sử Tân Trào
Dân cư của xã phân bố chủ yếu ở ngoài Khu rừng văn hóa lịch sử Tân Trào Tuy nhiên, hiện tại vẫn có 3 thôn: Tân Lập, Mỏ Ché và Lúng Búng của
xã Tân Trào có dân đang sinh sống và sản xuất trong Khu rừng văn hóa lịch