MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1. NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN NGƯỠNG CỦA DÂN TỘC BA NA 3 1. Khái quát và các hình thức tín ngưỡng 3 1.1. Khái quát và các hình thức tín ngưỡng 3 1.2.Khái quát về các hình thức tín người của người Việt 4 1.3: Khái quát chung về dân tộc Ba Na 6 1.4: Đặc điểm cơ bản về văn hóa. 7 1.4.1. Văn hóa dân gian. 11 1.4.2 Văn hóa xã hội. 12 2. Quan niệm về thần linh. 13 2.1. Quan niệm về linh hồn 14 2.2: Tín ngưỡng trong thờ cúng tổ tiên. 16 CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG TÍN NGƯỠNG CỦA NGƯỜI BA NA Ở GIA LAI – KOM TUM 20 2.Tổng quan về tín ngưỡng 20 2.1: Tín ngưỡng trong tổ chức lễ hội. 21 2.2. Lễ hội gắn với nông nghiệp 28 2.3. Lễ chuẩn bị cho đất làm rẫy 29 3.1. Lễ cúng thần lúa 31 3. Các lễ hội trong năm 33 3.1.Lễ.Lác đâm trâu 33 3.2. Lễ bỏ mả 34 3.3. Lễ cầu an 36 3.4. Lễ mừng lúa mới 39 CHƯƠNG 3. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN TÍN NGƯỠNG CỦA NGƯỜI BA NA 42 1.Vai trò của tín ngưỡng đối với người Ba Na 42 2.Bảo tồn và phát huy những giá trị tín ngưỡng của người Ba Na 46 2.1. Sự trở ngại trong việc bảo tồn phát huy những tín ngưỡng 47 KẾT LUẬN 50 DANH MỤC THAM KHẢO 51 PHỤ LỤC
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1: Lý do chọn đề tài.
Người Ba Na là một trong những dân tộc tại chỗ sinh sống lâu đời trêncao
nguyên trung phần miền Tây của Tổ quốc Đây là dân tộc thiểu số có dân số lớnthứ ba ở Tây Nguyên sau hai dân tộc thiểu số Gia Rai và Ê Đê, còn nếu tínhtrong số các dân tộc nói ngôn ngữ Môn – Khơ me ở Tây Nguyên thì người Ba
Na là dân tộc có dân số lớn nhất Hiện nay người Ba Na có khoảng trên 200.000dân (năm 2009), sống tập trung ở 2 tỉnh Gia Lai, Kon Tum và một bộ phận ở cáchuyện miền núi các tỉnh Bình Định và Phú Yên
Nửa cuối thế kỷ XIX, xã hội của cư dân bản địa Tây Nguyên nói chung,người Ba Na nói riêng đang ở giai đoạn cuối của thời kỳ công xã nguyên thủy
triển đó, văn hóa tinh thần của người Ba Na chịu ảnh hưởng, bị chi phối và tác
Trang 3hai vấn đề đang đặt ra vừa có tính cấp bách, vừa có tính chiến lược lâu dài
Về mặt xã hội và an ninh chính trị, các dân tộc tại chỗ Tây Nguyên hiện
Trang 4ổn định xã hội, củng cố an ninh chính trị, là nhu cầu cấp thiết cần giải quyết để
thần của một tộc người Vì vậy, khi chọn đề tài này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu sâu ở
các khía cạnh:
quan niệm về sự phân tầng vũ trụ hay ý niệm về thế giới của người Ba Na;
Trang 5thần và ma;
linh hồn; điềm báo (giấc mơ; điềm báo từ những con vật, cây cối ); những
điều kiêng kị; hiện tượng ma thuật và bói toán; vai trò của thầy cúng (pơ jâu, gru)
trong đời sống tinh thần của người Ba Na; những lễ thức để thấy được vai trò của tín
ngưỡng trong đời sống của người Ba Na, giá trị của tín ngưỡng như một mạch ngầm cố kết
các thành viên của cộng đồng
Là một trong những di sản văn hóa phong phú reong kho tàng văn hóa của 54 dân tộc Việt Nam, là một mảng màu làm nên sự đa dạng sinh động trên bức tranh toàn cảnh của bản sắc văn hóa Việt Nam Với nhiều lớp văn hóa tích tụ bồi đắp trong quá trình lịch sử dài lâu, tín ngưỡng Ba Na cho đến nay vẫn luôn là đối tượng hấp dẫn của các nhà nghiên cứu văn hóa trong và ngoài nước Những bài viết, những công trình nghiên cứu đầu tiên
có liên quan đến đề tài này
là những dòng biên niên sử của các triều đại phong kiến Việt Nam và ghi
chép của các quan lại phong kiến Việt Nam trong các sách sử biên niên từ thế kỷ XVI –
XVIII Dưới thời nhà Nguyễn, do yêu cầu thiết lập quan hệ ngày càng chặt chẽ giữa triều
đình với cao nguyên phía Tây mà thông tin về vùng đất Gia Lai, trong đó có thông tin về
tín ngưỡng
cổ truyền được các nhà viết sử đặc biệt quan tâm và ghi chép ngày càng chi tiết trong ại Nam thực lục, Đại Nam chính biên liệt truyện, Phủ Man tạp
lục, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ… Tuy nhiên những công trình này ghi chép về Gia Lai,
về tín
Trang 6ngưỡng của cư dân bản địa Ba Na còn rất mờ nhạt Cũng có quan tâm của nhiều tác giả nước ngoài
J Pierre Combes là linh mục đầu tiên lên truyền giáo tại Tây Nguyên.
năm 1873
Có thể coi đây là học giả người Pháp đầu tiên quan tâm đến tín ngưỡng của
ng ười Ba
Na Công trình này được ông khởi viết tại một vùng rừng núi Bắc Tây
Nguyên vào năm
1865 để rồi sau đó hoàn thành tại Chủng viện Hội Thừa sai Pari ngày
28/1/1873 Đây là cuốn sách viết về buổi đầu trong hành trình truyền giáo lên cao nguyên của
các giáo sĩ phương Tây thế kỉ XIX Công trình đề cập khá nhiều đến địa lí, nhân văn;
những miêu
tả, nhận xét về cây cỏ, muông thú, về số dân, các nhóm sắc tộc hoạt động
mưu sinh, việc rèn đao kiếm, khai thác mỏ,… của các dân tộc bắc Tây Nguyên Tín ngưỡng dân gian, những phong tục tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số
cũng được đề cập như tục kiêng cữ, cấm đoán, một phần những qui định bất thành văn là sức mạnh
“pháp lí” của cộng đồng, là những tư liệu quan trọng cho các nhà nghiên cứu đi sau
muốn tìm hiểu
về các dân tộc sống xung quanh cũng như người Ba Na các miêu tả, nhận
Trang 7xét, bản đồ trong công trình này thực sự có giá trị cho sự tham khảo ngày nay.
3 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
3.1: Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu chung của luận án là giới thiệu một cách hệ thống và
toàn diện về bức tranh tín ngưỡng truyền thống của người Ba Na nhằm góp
phần làm sáng rõ đặc trưng văn hóa của người Ba Na ở Kông Chro tỉnh Gia Lai đồng thời chỉ
rõ những biến đổi trong tín ngưỡng, lý giải nguyên nhân tác động đến những biến đổi
đó và một
số vấn đề đặt ra trong bối cảnh từ sau 1975 đến nay Tín ngưỡng là một vấn đề rất rộng và khó, đòi hỏi phải có thời gian nghiên
cứu và tâm huyết mới có thể khái quát lên diện mạo của nó trong đời sống tinh
thần của một tộc người Vì vậy, khi chọn đề tài này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu sâu ở
các khía cạnh quan niệm về sự phân tầng vũ trụ hay ý niệm về thế giới của người Ba Na;
thần và ma linh hồn điềm báo (giấc mơ; điềm báo từ những con vật, cây cối ) những
điều kiêng
kị hiện tượng ma thuật và bói toán; vai trò của thầy cúng (pơ jâu, gru)
trong đời sống tinh thần của người Ba Na những lễ thức để thấy được vai trò của tín
ngưỡng trong đời sống của người Ba Na, giá trị của tín ngưỡng như một mạch ngầm cố kết
các thành viên của cộng đồng.
Trang 83.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Đưa ra cái nhìn tổng quan về tín ngưỡng củ tộc người Ba Na ở Tây Nguyên và khái quát sơ lược trên các mặt vị trí địa lý, nguồn gốc lịch sử
Để từ đó người đọc có cái nhìn về những vấn đề được trình bày trong bài
tiểu luận
- Nêu nên những thục trạng của tín ngưỡng , phản ánh quá trình phát
triển của tín ngưỡng này
- Đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm bảo tồn phát huy giá trị tín
ngưỡng, khắc phục những vấn đề còn tồn tại củ tín ngưỡng.
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là dân tộc Ba Na và các khía cạnh đời
sống tín ngưỡng truyền thống của người Ba Na tại huyện Kông Chro tỉnh Gia Lai.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Tín ngưỡng là một vấn đề rất rộng và khó, đòi hỏi phải có thời gian nghiên
cứu và tâm huyết mới có thể khái quát lên diện mạo của nó trong đời sống tinh
thần của một tộc người Vì vậy, khi chọn đề tài này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu sâu ở
các khía cạnh quan niệm về sự phân tầng vũ trụ hay ý niệm về thế giới của người Ba Na;
thần và ma linh hồn điềm báo giấc mơ điềm báo từ những con vật, cây cối những điều
kiêng
kị hiện tượng ma thuật và bói toán vai trò của thầy cúng (pơ jâu, gru) trong
đời sống tinh thần của người Ba Na những lễ thức để thấy được vai trò của tín
ngưỡng trong đời sống của người Ba Na, giá trị của tín ngưỡng như một mạch ngầm cố kết
Trang 9các thành viên của cộng đồng
4.3 Địa bàn nghiên cứu
Địa bàn khảo sát chính của chúng tôi là những làng của người Ba Na tại
huyện Kông Chro tỉnh Gia Lai như làng Tơ Nung, làng Măng làng Nhang lớn,
làng Nhang nhỏ, làng Htiêng làng Tpông1, làng Rơng, làng Kun1, (xã Yang Nam); làng Nghe Lớn, làng Bjang thị trấn Kông Chro làng Meo lớn, làng
Meo nhỏ (xã Đak Pling) làng Kuel, làng Kuk, làng Sơ Ró Bên cạnh đó chúng tôi cũng có những so sánh với một số làng của người Ba Na tại các huyện Kbang làng
Hà Nừng, làng Stơr, thị trấn Đăk Đoa làng Dur, làng Klăk, làng Ngol, làng Pi ơm, thuộc
Đóng góp về mặt khoa học: Làm phong phú thêm nhưng vấn đề lý thuyết và
khái niệm liên quan đến tín ngưỡng truyền thống ở các cư dân tiền công nghiệp nói chung và các cư dân nói ngôn ngữ Môn – Khme nói riêng ở Việt
Nam.
Đóng góp về mặt thực tiễn: Làm rõ những biến đổi trong tín ngưỡng của
người Ba Na dưới sự tác động của các điều kiện mới.
6 Cấu trúc của bài tiểu luận
Trang 10Ngoài mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo cáu trúc của đề bài
bao gồm 3 chương.
Chương 1: Kết quả tìm hiểu tín ngưỡng của dân tộc Ba Na
Trang 11
CHƯƠNGPhần 1I NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN NGƯỠNG CỦA DÂN TỘC BA NA
1 Khái quát và các hình thái quát và cáthÍN NGƯt và cá
1.1 Khái quát và các hình thái tín ngưuátngưuát
Theo luật tôn giáo năm 2016 giải thích: “ Tín ngưỡng là niềm tin củacon người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền vói phong tục tậpquán để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng” Ngoài rachúng ta có thể hiểu cụm tù tín ngưỡng như sau:
Thứ nhất, tín ngưỡng là một hình thức văn hóa phi vật thể mang tính độcđáo và biểu hiện khá rõ được đời sống của con người Việt Nam Ngoài ra tínngưỡng còn đóng góp vào việc hình thành nên các giá trị truyền thống của vănhóa và tính cách các dân tộc, kết lối lại cộng đồng với nhau
Thứ hai,tí ngưỡng còn là hệ thống những niềm tin và cách thức thể hiện
những niềm tin ấy bằng những hành động cụ thể của con người đối với một hiệntượng siêu nhiên, xã hội thậm chí là một sự vật nào đó, hoặc cá nhân có liênquan đến cuộc sống thực tại của họ đã được thiên hóa để cầu cho sự che chởgiúp đỡ
Thứ ba, xuất phát từ quan điểm của trường phái Tương đối luận văn hóa,
và thời gian, phương thức sống, chiều sâu của một nền văn hóa mà cá nhân và
cộng đồng đó đang tồn tại Ngô Đức Thịnh đã có một nhận xét tương tự “Tất cả những niềm tin, thực hành và tình cảm tôn giáo tín ngưỡng trên đều sản sinh và
Trang 12tồn tại trong một môi trường tự nhiên, xã hội và văn hóa mà có nguời đang sống, theo cách suy nghĩ và cảm nhận của nền văn hóa đang chi phối họ”.
Thứ tư, tín ngưỡng không tồn tại một cách đơn lẻ mà còn tồn tại một
cách tích hợp với nhiều hình thức văn hóa khác nhau để thể hiện niềm tin của
con người bằng các hành vi cụ thể như Patrick B.Mullen đã nhận định: “Tín ngưỡng dân giann là không chỉ tồn tại ở dạng trừu tượng mà nó còn tồn tại trong thực tiễn vad cách ứng xử thực tế Xin nhắc lại, văn hóa dân gian không chỉ là sự phản ánh một thế giới quan văn hóa trừu tượng mà nó còn tồn tại trong cuộc sống hàng ngày như một phương tiện sáng tạo văn hóa” Nhà nghiên
cứu Ngô Đức Thịnh thì có cách nhìn cụ thể hơn: Bản thân các tôn giáo tínngưỡng đã là một hình thức văn hóa đặc thù, đáy chưa kể, trong quá trình hìnhthành phát triển mỗi tôn giáo tín ngưỡng bao giờ cũng sản sinh, tích hợp trong
nó những hiện tượng, những sinh hoạt văn hóa nghệ thuật Thực chất, tínngưỡng thực ra còn là môi trường sinh hoạt văn hóa dan gian Con người muốnchuyển đạt nguyện vọng của mình nên thần linh thì phải cần có các công cụ,phương tiện như: Múa hát, tượng thờ, phẩm vật lễ nghi, nơi thờ cúng
1.2.Khái quát về các hình thức tín người của người Việt
Người Việt và các dân tộc khác ở nước ta vốn là cư dân nông nghiệptrồng lúa, do vậy, từ ngàn đời nay, từ quan niệm, lối nghĩ đến nếp sống của họ cơbản là người nông dân Quan niệm luận phương Đông cổ đại vẫn là Âm Dươngtương khắc tương sinh Trong tiềm thức của họ việc thờ Thần Đất, Thần Nước,Thân Núi, Hơn nữa, Việt Nam lại là ngã ba đường nơi giao lưu của nhiều tộcngười, của nhiều luồng văn minh Hai yếu tố đó làm cho Việt Nam trở thành mộtquốc gia đa tôn giáo, tín ngưỡng Tính đa thần ấy không chỉ biểu hiện ở số lượnglớn các vị thần mà điều đáng nói là, các vị thần ấy cùng đồng hành trong tâmthức một người Việt Điều đó dẫn đến một đặc điểm cửa đời sống tín ngưỡng –tôn giáo của người Việt đó là tính hỗn dung tôn giáo Trước sự du nhập của cáctôn giáo ngoại lai, nguoiwf Việt không tiếp nhận một cách thụ động mà luôn có
sự cải biến cho gần gũi với tư tưởng, tôn giáo địa phương Vì vậy, ở nước ta,
Trang 13trong khi các tôn giáo vẫn phát triển thì các tín ngưỡng dân gain vẫn giữ vai tròquan trọng trong đời sống tâm linh của người dân Dưới đây là một số tínngưỡng dân gian tiêu biểu của người Việt:
*Tín ngưỡng thờ cũng tổ tiên
Việt Nam là một dân tộc giàu tình cảm, trọng lễ ngĩa, sống hướng nội,thường giải quyết các vấn đề theo cảm tính hơn lý trí Truyền thống “uống nướcnhớ nguồn” là một trong những đức tính đáng trân trọng của dân tộc Việt
Người việt có khuynh hướng nhìn lại quá khứ và nuối tiếc dĩ vãng nhiềuhơn hướng đến tương lai như người phương Tây Vì thế người Việt thường lưugiữ mãi những tình cảm thương tiếc đối với ông bà cha mẹ quá cố Tập tục thờcúng tổ tiên của người Việt ra đời từ trên căn bản này và được đa số người Việtxem gần như một tôn giáo, gọi là đạo Thờ cúng Ông Bà
*Tín ngưỡng thờ thành hoàng làng
Ở làng xã các làng xã, nông thôn Việt Nam, Thành Hoàng là một niêmtin thiêng liêng, một chỗ dựa tinh Thần cho cộng đồng từ bao đời nay Thờ cúngThành Hoàng cũng giống như thờ cũng tôt tiên, nó mang đậm dấu ấn tâm linh vàthể hiện quan niệm “uống nước nhớ nguồn” của người dân Việt Nam
Hầu hết các làng đều thờ hai loại thành hoàng, trong đó mọt cị là biểutượng của sức mạnh tự nhiên, một vị là nhân vật lịch sử hoặc người có công vớilàng
Và điểm đặc biệt của tín ngướng thờ thành hoàng của các làng Việt cổ là
ở chỗ, dù thời cuộc có biến đổi như thế nào, dù làng có chuyển nơi cư trú baonhiêu lần, dù chính sách tôn giáo của Nhà Nước có chặt chẽ hay cởi mở, dù dânlàng giàu sang hay nghèo túng, thì nhân vật được dân làng thờ làm Thànhhoàng vân không thay đổi, mà tồn tại mãi mãi, suốt từ đời này đến đời khác
Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng đều khời dậy ở mỗi con người ý thức vềdân tộc, về ngườn gốc của mình: “Chim có tổ, người có tông” Mang đặc trưng
là hướng tới tổ tiên, nhớ về cội nguồn với mơ ước cuộc sống của ngân dân muônđời được phúc lộc, bình an
*Tín ngưỡng phồn thực
Trang 14Ở Việt Nam, mảnh đất gió mùa nhiệt đới tuy được lợi về ánh sáng và độ
ẩm, nhưng lại nhiều dịch bệnh thiên tai, nên cư dân nông nghiệp lúa nước nơiđây thường xuyên phải vật nộn với thiên nhiên không mấy ưu đãi để đảm bảocuộc sống Tam thức đó là nền móng vững chắc của tín ngưỡng phồn thực.Nhưng, người VIệt một mặt chịu sự chi phối của nguyên lý kết hợp hài hòa âmdương, nguồn cội của sự sinh sôi nảy nở, mặt khác lại ảnh hưởng khá sâu sắc tưtưởng của một số tôn giáo ngoại lai(Phạt giáo, Đạo giáo, Nho giáo) sau khoảngthời gian dài diễn ra quá trình đan xem văn háo Để giải quyết các ngịch lý ấy,tín ngưỡng phồn thực phải háo thân để tồn tại, nó ẩn chứa vào các nghi lễ và tròdiễn trong các lễ hội làng xã cỗ truyền
Tín ngưỡng phồn thức được biểu đạt bởi rất nhiều hình thức khác nhau,tùy theo phong tục của từng vùng mà có những cách làm và thờ những hình
“giống” khác nhau
: Kết quả tìm hiểu tín ngưỡng dân tộc Ba Na
1.321: Khái quát chung về dân tộc Ba Na
• 1.1.1: Khái Ngui quát chung.
Người Ba Na cư trú chủ yếu ở cao nguyên trung phần Việt Nam, có dân
số 174.456 người (đến năm 2003) và 227.716 (2009)
Dân tộc Ba Na là một trong những dân tộc thiểu số đông dân cư nhất tạiTây Nguyên Địa bàn cư trú của họ khá rộng ở nam Kon Tum, bắc Gia Lai vàphía tây tỉnh Bình Định Ở tỉnh Kon Tum, dân tộc Ba Na gồm 2 nhánh là Ba Na
Rơ Ngao và Ba Na Jơ Lâng, đứng thứ hai về dân số trong 6 dân tộc thiểu số bảnđịa
• 1.1.2: Tên gên ngg dâ Ngưdâg dân (các tên g cư nhlà Ba Na Dướa Na Dư g cư
nhất tại Tây Nguyên Địa bàn cư trú cộa Na Dư g cư nhất tại Tây Nguyên Địabàn cư trú của họ khá rộng ở nam Kon Tum, bắc Gia Lai v) là ma Dư g cư nh g
cư nhất dân t Dư g cư nh g c
• 1.1.3: Dân s Dư g cư nh g Dân sốn ss Dư g cư nhất
Trang 15Người Ba Na ở Việt Nam có dân số 227.716 người, cư trú tại 51 trên tổng
số 63 tỉnh, thàn phố Người Ba Na cư trú tập trung tại các tỉnh: Gia Lai (150.416người, chiếm 11,8% dân số toàn tỉnh và 66,1% tổng số người Ba Na tại ViệtNam), Kon Tum (53.997 người, chiếm 12,5% dân số toàn tỉnh và 23,7% tổng sốngười Ba Na tại Việt Nam), Phú Yên (4.145 người), Bình Định (18.175 người,chiếm 8,0% tổng số người Ba Na tại Việt Nam), Đắk Lắk (301 người), BìnhThuận (133 người)
1.1.434: Đặc điểm cơ bản về văn hóa.
• 1.1.4.1: S.4.1 điểm cơ bả.Đ.4.1 điểm cơ bả
Người Ba Na canh tác lúa trên ruộng khô và rẫy Cái cuốc là công cụchủ yếu trong canh tác nông nghiệp ở tộc người này Với ruộng khô thì việcthâm canh không bỏ hóa là đặc điểm khác với rẫy Ruộng khô thường ở vùngven sông suối Từ đầu thế kỷ XX, việc làm ruộng nước bằng cày đã ngày càngphát triển ở nhiều nơi Vườn chuyên canh và vườn đa canh cũng xuất hiện từlâu Công việc chăn nuôi và các nghề thủ công như: đan, dệt, gốm, rèn còn chưaphát triển Người Ba Na sinh sống nhờ nông nghiệp, chủ yếu là trồng rẫy Cùngvới trồng trọt, từng gia đình thường có nuôi gia cầm, gia súcnhư trâu, bò, dê, lợn, gà Chó cũng được nuôi nhưng không bị giết thịt Hầu nhưmỗi làng đều có lò rèn Một số nơi biết làm đồ gốm đơn giản, phụ nữ dệt vải tựtúc đồ mặc trong gia đình Đàn ông đan chiếu, lưới, các loại gùi, giỏ, mủng Việc mua bán theo nguyên tắc hàng đổi hàng, xác định giá trị bằng gà, rìu, gùithóc, lợn hay nồi đồng, ché, chiêng
• 1.1.4.2: Văn hóa.
Nhạc cụ đa dạng: cồng, chiêng kết cấu đa dạng, đàn: t'rưng, brọ, khinhkhung, gôông, klông pút, kơni, kèn: tơ nốt, arơng, tơ tiếp, Nghệ thuậtchạm khắc gỗ phát triển Trong kho tàng văn nghệ dân gian, còn phải kể đến cáclàn điệu dân ca, các điệu múa trong những ngày hội hay các nghi lễ tôn giáo.Những hình thức trang trí sinh động trên nhà rông và đặc biệt những tượng nhà
mồ v.v mộc mạc, đơn sơ, nhưng tinh tế và sinh động như cuộc sống của người
Ba Na
Trang 16• 1.1.4.3: Nhà ở.
Ở mỗi làng có một nhà công cộng là nhà Rông to, đẹp ở giữa làng Nhàrông cao lớn và đẹp đứng nổi bật giữa làng, đó là trụ sở của làng, nơi các giàlàng họp bàn việc công, nơi dân làng hội họp, nơi trai chưa vợ và góa vợ ngủđêm, nơi tiến hành các nghi lễ phong tục của cộng đồng và cũng là nơi tiếpkhách lạ vào làng
Nhà ở của người Ba Na thuộc loại hình nhà sàn Trước đây khi chế độgia đình lớn còn thịnh hành, ở vùng người Ba Na sinh sống thường có nhữngcăn nhà dài hàng trăm mét, tuy nhiên hiện nay chế độ gia đình lớn không cònnữa, mô hình các gia đình nhỏ với những căn nhà sàn gọn gàng xuất hiện ngàycàng nhiều Nhà sàn ngắn của các gia đình nhỏ là phổ biến Nhà sàn thường dài
từ 7m đến 15m, rộng từ 3m-4m, cao từ 4m-5m, sàn cách mặt đất khoảng 1m đến1,5m
Mặc dù có nhiều thay đổi, nhưng vẫn tìm được ở nhiều địa phương khácnhau những ngôi nhà Ba Na với những đặc điểm đặc trưng của nhà cổ truyền Ba
Na là nhà nóc hình mai rùa hoặc chỉ còn là hai mái chính với hai mái phụ hìnhkhum - dấu vết của nóc hình mai rùa Chỏm đầu dốc có "sừng" trang trí (với cáckiểu khác nhau tùy theo địa phươngg) Vách che nghiêng theo thế "thượng thu
hạ thách" Có nhà, cột xung quanh nhà cũng chôn nghiêng như thế vách Thangđặt vào một sàn lộ thiên trước cửa nhà Trên sàn này người ta đặt cối giã gạo(cối chày tay) Điểm đáng chú ý là dưới đáy cối có một cái "ngõng" Khi giã gạongười ta cắm cái ngõng ấy vào một cái lỗ đục trên một thanh gỗ đặt trên sàn
Nhà tre vách nhưng có thêm lớp đố, bên ngoài buộc rất cầu kỳ như làmột lớp trang trí
Bộ khung nhà kết cấu đơn giản Có làm vì kèo nhưng vẫn trên cơ sở của
vì cột Tổ chức mặt bằng đơn giản
Trang 17• 1.1.4.4: Ẩm thực.
Ẩm thực Ba Na chủ yếu là cơm tẻ, một số ít vùng ăn cơm nếp Trước kia
bà con nấu cơm bằng ống lồ ô, thực phẩm chủ yếu là sản phẩm săn bắt, đánhbắt, hái lượm trong rừng, dưới suối, trên nương ThHịt gia cầm gia súc chỉ dùngcho việc cúng lễ, hội hè, các con vật thường được thui nướng khi mổ thịt chếbiến thức ăn
Rượu cần là thức uống chủ yếu vào dịp lễ hội và những nghi thức tronggia đình, cộng đồng
• 1.1.4.5: Trang phục.
Trang phục nam: nam giới Ba Na mặc áo chui đầu, cổ xẻ Đây là loại
áo cộc tay, thân áo có đường trang trí sọc đỏ chạy ngang, gấu áo màu trắng Nammang khố hình chữ T theo lối quấn ngang dưới bụng, luồn qua háng rồi che mộtphần mông Ngày rét, họ mang theo tấm choàng Ngày trước nam giới búi tócgiữa đỉnh đầu hoặc để xõa Nếu có mang khăn thì thường chít theo kiểu đầu rìu.Trong dịp lễ bỏ mả, họ thường búi tóc sau gáy và cắm một lông chim công Namcũng thường mang vòng tay bằng đồng
Trang phục nữ: Phụ nữ Ba Na ưa để tóc ngang vai, có khi búi và cài lượchoặc lông chim, hoặc trâm bằng đồng, thiếc Có nhóm không chít khăn mà chỉquấn bằng chiếc dây vải hay vòng cườm Có nhóm như ở An Khê, Mang Gianghoặc một số nơi khác họ chít khăn trùm kín đầu, khăn chàm quấn gọn trên đầu.Trước đây, họ đội nón hình vuông hoặc tròn trên có thoa sáp ong để khỏi ngấmnước, đôi khi có áo tơi vừa mặc vừa che đầu Họ thường đeo chuỗi hạt cườm ở
cổ và vòng tay bằng đồng xoắn ốc dài từ cổ đến khủy tay (theo kiểu hình nóncụt) Nhẫn được dùng phổ biến và thường được đeo ở hai, ba ngón tay Tục xảtai phổ biến vừa mang ý nghĩa trang sức vừa mang ý nghĩa tín ngưỡng của cộngđồng Hoa tai có thể là kim loại, có thể là tre, gỗ Tục cà răng mang theo quanniệm của cộng đồng hơn là trang sức Phụ nữ Ba Na mặc áo chủ yếu là loại chui
Trang 18đầu, ngắn thân và váy Áo có thể cộc tay hay dài tay Váy là loại váy hở, thường
là ngắn hơn váy của người Ê Đê, ngày nay thì dài như nhau Quanh bụng cònđeo những vòng đồng và cài tẩu hút thọc vào đó
Về tạo hình áo váy, người Ba Na không có gì khác biệt mấy so với dântộc Gia-rai hoặc Ê-đê Tuy nhiên, nó khác nhau ở phong cách mỹ thuật trang tríhoa văn, bố cục trên áo váy của người Ba Na Theo nguyên tắc bố cục dải băngtheo chiều ngang thân người, dân tộc Ba Na dành phần chính ở giữa thân áo vàváy với diện tích hơn một nửa áo, váy cũng như hai ống tay để trang trí hoa văn(chủ yếu là hoa văn với các màu trắng đỏ), nền chàm còn lại của áo váy khôngđáng kể so với diện tích hoa văn Thắt lưng váy được dệt thêu hoa văn và tua vảihai đầu, được thắt và buông thõng dài hai đầu sang hai bên hông
1.1.4.7: Văn hóa tinh thần
Ngôn ngữ: Theo các nà nhân chủng học người Ba Na thuộc chủng tộcIndonesia tiếng nói thuộc ngôn ngữ Môn-Khơ me Vì sống rải rác trên một địabàn rộng lớn nên phong tục, tập quán của người Ba Na có thay đổi ít nhiều theophong thổ từng địa phương và sự giao lưu với xã hội bên ngoài Song nhữngbiến đổi đó không rõ rệt
Về tiếng nói, các nhánh người Ba Na cùng một thứ tiếng, tuy cũng có sựthay đổi ít nhiều tùy theo địa phương Về chữ viết, người Ba Na là dân tộc thiểu
số đầu tiên ở Tây Nguyên biết đọc, biết viết và biết làm tính Năm 1861, chữ Ba
Na viết theo mẫu tự la tinh như chữ quốc ngữ được đặt ra và tồn tại, phát triểncho đến ngày nay
• Lễ :
Lễ hội đâm trâu ( X'trǎng): Đây là một trong những lễ hội quan trọng
hàng đầu của người Ba Na Kon Tum, nhằm tế thần linh hoặc những người đã cócông chủ trì thành lập buôn làng, ăn mừng chiến thắng, ăn mừng mùa màng bộithu
Lễ bỏ mả: (Mơt bơxát hoặc Mơt brưh bơxát): Thông thường kéo dàikhoảng 5 ngày Theo quan quan niệm của người Ba Na, người chết tuy mất đi về
Trang 19thể xác, nhưng phần hồn vẫn tồn tại, ở trong nhà mồ, hồn sinh hoạt bình thườngnhư người sống trên trần gian Sau khoảng 3 năm, 7 năm hoặc lâu nhất là 10năm thì bắt đầu làm Lễ bỏ mả, để hồn người chết bước hẳn qua thế giới mới.
Lễ cầu an (Át te rei ): thường được tổ chức vào cuối mùa Thu đến hết
mùa Xuân (từ tháng 11 đến hết tháng 4 năm sau) Đây là lễ hội truyền thống củangừời Ba Na vừa mang tính chất gia đình, dòng tộc và vừa có tính chất cộngđồng sâu sắc Lễ cầu an được tổ chức khi gia đình gặp những chuyện khôngmay: đau ốm, bệnh tật, mùa màng thất bát, bị tai họa gieo xuống,… Quy mô tổchức Lễ cầu an rất đa dạng, có khi trong phạm vi gia đình, dòng tộc, có khi baogồm tất cả dân làng Hình thức tổ chức lễ hội tuỳ theo điều kiện kinh tế của giađình, cộng đồng làng mà chuẩn bị con vật dâng cúng Yàng phù hợp Những nămgần đây, lễ hội này vẫn được người Ba Na duy trì và tổ chức trang trọng, có sựđổi mới về cách thức tổ chức cho phù hợp với điều kiện, như lễ hội cầu an ởlàng Kon Gộp, xã Đăk Pne, huyện Kon Rẫy, làng Đăk Wơk, xã Hơ Moong,huyện Sa Thầy luôn có sự tham gia của đông đảo dân làng
Lễ mừng lúa mới: thường diễn ra trong khoảng thời gian từ tháng 11dương lịch năm trước cho đến tháng 1 năm sau, đây là thời gian rảnh rỗi của conngười sau khi đã thu hoạch xong vụ mùa thắng lợi và cũng là thời gian cho đất
"nghỉ ngơi" theo tập quán Lễ mừng lúa mới được tổ chức với mong ước cuộcsống ấm no cho cộng đồng ở các buôn làng có truyền thống sản xuất trên nươngrẫy Chọn một ngày đẹp trời sau vụ mùa, dân làng tụ tập ở Nhà rông, mỗi giađình góp 1 con gà, 1 ghè rượu và 1 khay cốm, bày dọc theo 2 hàng của nhà rông.Chuẩn bị xong, mỗi nhà cử một đại diện ngồi vào mâm lễ của mình, đám trailàng đi chung quanh nổi cồng chiêng, già làng cầu mong cho sự bình yên, ấm nochung của cả làng, từng gia đình có điều ước riêng cho mình Già làng và nhữngngười lớn tuổi được phép ăn và uống rượu trước tiên sau đó mới đến dân làng.Tiếng cười nói, đùa vui của người già, lũ trẻ hòa vào nhau, một không khí đầm
ấm, nhộn nhịp Cuộc vui thường kéo dài thâu đêm, đến khi con gà rừng gáy báosáng vẫn còn nghe tiếng cồng chiêng
Trang 201 4.1 1.4 8 : Văn hóa dân gian.
Dân tộc Ba Na có nền âm nhạc rất phong phú Nhạc cụ của Ba Na cũngrất đa dạng gồm cả bộ dây, bộ hơi và bộ gõ Múa dân gian Ba Na trong đó cómúa phục vụ nghi lễ và biểu diễn ở hội hè được nhiều người ưa chuộng Trường
ca, Truyện cổ của dân tộc Ba Na cũng là những tác phẩm dân gian cổ truyền độcđáo, có giá trị trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam Đối với đồng bào Ba
Na, nghề dệt thổ cẩm là một nét văn hoá độc đáo có từ rất lâu đời Nghệ thuậttrang trí của người Ba Na rất phong phú và độc đáo, thể hiện trên các loại hoavăn, hoạ tiết sống động trên trang phục, đồ đan Hoạ tiết thổ cẩm được sử dụngnhiều ở áo, váy, chăn, đồ đan Người Ba Na thường sử dụng các màu: đen, đỏ,trắng, tạo ấn tượng mạnh mẽ Hoạ tiết đối xứng phản ánh quan niệm về vũ trụ,
lý âm dương, trời đất và lấy thiên nhiên làm hình mẫu, nên thổ cẩm của người
Ba Na không khác cảnh thiên nhiên thu nhỏ Người phụ nữ Ba Na đều có rấtthạo nghề dệt thổ cẩm truyền thống
Trang 211 4.2 1.54.9: Văn hóa xã hội.
- Mối quan hệ xã hội.
Trong kho tàng văn nghệ dân gian, còn phải kể đến các làn điệu dân ca,các điệu múa trong ngày hội và các lễ nghi tôn giáo Nhạc cụ Ba Na đa dạng:những bộ cồng chiêng kết cấu khác nhau, những đàn T'rưng, brọ, klông pút, kơ
ni, khinh khung, gông, v.v và những kèn tơ nốt, arơng, tơ-tiếp v.v Nghệ thuậtchạm khắc gỗ của người Ba Na độc đáo Những hình thức trang trí sinh độngtrên nhà rông và đặc biệt những tượng ở nhà mồ v.v vừa mộc mạc, vừa đơn sơ,vừa tinh tế và sinh động như cuộc sống của người Ba Na
Người Ba Na có nước da ngăm đen, ngày xưa đàn ông để tóc dài tới cổ,ngày nay thì tóc ngắn hơn Người Ba Na có bản tính mộc mạc, chất phác, hiềnlành và hiếu khác, họ coi người Kinh là anh em nên đối đãi rất thân thiết Tuynhiên, người Ba Na không muốn khách lạ đụng chạm đến phong tục, tập quánkiêng cữ của họ Muốn vào thăm một nhà nào thì phải được chủ nhân ưng thuận;
kỵ nhất là xông thẳng vào bếp núc (một số người Ba Na thờ thần ở bếp)
-Các lễ nghi.
Hôn nhân: Người Ba Na cho phép tự do tìm hiểu và lựa chọn bạn đời,việc cưới xin đều theo nếp cổ truyền Vợ chồng trẻ ở luân phiên mỗi bên mộtthời gian theo thỏa thuận giữa hai gia đình đôi bên, sau khi sinh con đầu lòngmới dựng nhà riêng Trẻ em luôn được yêu chiều Dân làng không đặt trùng tênnhau Trong trờng hợp những người trùng tên gặp nhau, họ làm lễ kết nghĩa, tùytuổi tác mà xác lập quan hệ anh-em, cha-con, mẹ-con
Ở người Ba Na, các con được thừa kế gia tài ngang nhau Trong giađình mọi người sống hòa thuận bình đẳng
Cưới xin trai gái Ba Na đến tuổi trưởng thành đều có thể tự do chọn lựa
Trang 22người bạn đời mà không cần đến cha mẹ Tiêu chuẩn chọn lựa bạn đời, đó làtrung thực, khỏe mạnh, giỏi làm rẫy, trai có tài săn bắn, lấy củi, gái thạo đan lát,dệt vải Từ lúc yêu nhau cho đến khi nên vợ nên chồng, đôi trai gái phải qua hai
lễ tục bắt buộc là lễ trao vòng và lễ cưới
Trang 2321.2: Kết quả nghiên cứu.
1.2.1: Tín ngưỡng trong quan niệm.
1.2.1.1: Quan niệm về thần linh
• Sự phân chia tầng vũ trụ của người Ba Na
Toàn bộ đời sống của người Ba Na được phản chếu qua tín ngưỡng thờthần linh những lời cầu khấn yang luôn gắ với nhịp điệu cuộc sống của từng giađình (sinh đẻ, cưới xin, bệnh tật, tang ma, mua bán ) nhịp điệu của các nghi lẽnông nghiệp bắt đầu và kết thúc lao động sản xuất năm mới, khoác lên nhịp điệu
đó một ý nghĩa tinh thần chưa kể những lời khấn nguyện thường đi kèm với cáchành động và nâng nó lên cao bằng cách đem lại cho nó một nét thiêngliêng Trong thế giới thần linhcon người cố gắng thích nghi với những trật tự đãđược định sẵn đi vào trong tuần hoàn ấy, sáp nhập vào csi thiêng liêng ấy, thamgia vào nhiijp điệu của nó Trong thế giới thần linh, không có chỗ cho nữnghoạt động ngẫu hứng nó như một con đường mòn đã được vạch sẵn mà thế hệ àynối tiếp thế hệ khác cứ thế giẫm chân len nhau Đối với người Ba Na, hệ thốngthân linh của họ chưa đủ để xây một điện thần linh đồ sộ Tuy vậy qua những sửthi, qua những truyền thuyết lý giải sự hình tành vũ trụ và muôn loài ta có thểhình dung được các vị thần yang của người Ba Na môt cách khá sinh động theoquan niệm cả chính những con người trong cuộc
Trước hết phải kể đến thế đôi thần linh tối cao Bok Kei Die và Yă KulKel họ là những vị thần chủ trì nhịp dựng điệu nông nghiệp,là người sáng tạo ratất cả coi sóc con người và mua màng của họ Tiếp đến là yang thần mặt trăng-thần mặt trời Thần mặt trời là nữ thân của sự sinh sản và phì nhiêu, thần mặttrăng luôn gần gũi vớ lao động, giúp con người nhận biết thòi gian để cay trồnghay tổ chức các nghi lễ Trong tín ngưỡng người Ba Na vị trí thần lúa (yang Sri)cũng như việc thờ cúng cây lúa luôn chiếm một vj thế đặc biệt, lúa là một loại
Trang 24cây có “hồn” mà người ta phả giữ gìn một cách cẩn thận không được xúc phạm
để luuongw thục được dồi dào và vụ mùa đực đăng hòa
Đáng sợ nhât với người Ba Na chính lầ thần sấm sét Bok Glaih khôngchỉ là vị thần chăm lo đến mỹ tục truyền thống củ con người công việc của thầnlinh còn là duy trì mọt trật tự cần thiết cho vũ trụ Với thần linh mọi trật tự từkhơi nguyên cần phải được duy trì và tôn trọng luôn thân thiện và được yêu mến
là thaafn nước yang Đak Trong đời sống hằng ngày của mình người Ba Na cónhững nghi thức kieng cữ liên quan đến việc bảo vệ sự thuần khiết cho nguồnnước Với người Ba Na, lửa được xem là vị thần đầy quyền uy bởi khả năng pháhủy ghê gớm của nó Khi chuẩn bị đốt rẫy để bắt đầu cho mùa trồng trỉa, bao giờngười Ba Na cũng cầu khấn thần Lửa (yang Unh) để mong thần ban cho conngười ngọn lửa quý báu giúp rẫy cháy đều, có nhiều tro để cho mùa màng tươitốt, để cuộc sống con người luôn được bình yên, hạnh phúc Thường xuất hiệnnhiều trong các câu chuyện thần thoại của người Ba Na là thần cây đa yang longjơri hơn tất cả những loài cây khác cây đ là loại cây tối thiêng biểu tượng củasức mạnh và sự sống Ngoài các vị thần vừa kể trên, người Ba Na còn vô số các
vị thần khác nữa như thần Rừng yang Bri, thần Đất yang Teh, thần Đá yangT’mo, thần Núi yang Kông, thần Sông yang Krong, thần Nồi yang Ga, thần Sắtyang Mam, thần Chiêng yang Ching… Mỗi thần có một công việc cụ thể, một
sự sắp đặt, phân công sẵn của đấng tạo hóa Bok Kei Dei - Yă Kuh Keh
1.2.11 2: Quan niệm về linh hồn.
Người Ba Na cho rằng mọi vật đều có linh hồn, từ hạt thóc, chiếc chétoàn bộ đời sống của người Ba Na đều được phan chiếu qua tín ngưỡng thờ cúngthần linh Hệ thống của họ chưa đủ để xay dựng một hệ thống thần linh đồ sộ.Tuy vậy qua những sử thi, những truyền thuyết lý giải sự hình thành của vũ trụ
và muôn loài, ta có thể hình dung các vị thần (yang) của người Ba na một cáchkhá sinh động theo quan niệm của người trong cuộc
Trang 25Người Ba Na cho rằng mọi vật đều có linh hồn, từ hạt thóc, chiếc chécho đến những con nắn bằng cảm quan thông thường, ở những thời khắc bìnhthường Nhưng trên cái nền của những chứng nghiệm trực quan, cảm tính truyềnthống cùng với những trải nghiệm của cá nhân đem lại từ những giấc mơ thường
là sống động và dày dặn, thì linh hồn không phải là cái gì đó côn trùng bé nhỏ Ngay cả con người cũng vậy, con người có linh hồn - một thực thể linh thiêng cóvai trò làm nên sự sống vốn kì diệu nhưng lại vô hình vô ảnh, không thể nhìnthấy hay sờ không thực hay quá trừu tượng Với người Ba Na, giấc mơ của conngười là lúc hồn người pơ ngol rời khỏi thể xác a kâu để đi vào thế giới huyền
ảo của mình, thế giới mà ở đó hồn có thể gặp lại những người thân đã chết hay
Cái chết vốn là sự tương phản sâu sắc với sự sống Vì vậy, bản chất của linhhồn sau cái chết cũng sẽ có những đổi thay nhất định Nếu ở trạng thái song đôicùng thể xác, linh hồn là một thực thể yếu mềm và dễ bị tổn thương vì nhiềunguyên do khác nhau, thì khi cái chết chia cắt vĩnh viễn nó với thể xác, lập tứclinh hồn biến thành môt thực thể với đủ sức mạnh thiêng liêng Nó tồn tại mộtcách độc lập, có ích và đôi khi không phải là vô hại Cái chết, với người Ba Na,
là sự không trở lại của hồn, khi đó hồn cứ lang thang mãi trong thế giới riêngcủa nó Người ta tin có ma lành, ma tốt (kiăk lâng), có ma dữ, ma xấu (kiăk me).Việc trở thành ma lành hoặc ma dữ không phụ thuộc vào tư cách hoặc thể chấtcủa con người lúc sống mà phụ thuộc vào tình trạng chết lành hoặc chết dữ của
nó Theo quan niệm của người Ba Na, chết lành là chết già, chết vì đau ốm, bệnhtật ở trong nhà, sau này khi xuống làng người chết (plei atâu), hồn sẽ trở thành
ma lành luôn phù hộ cho con cháu trong gia đình Người Ba Na rất sợ ngườichết dữ (lôch kơni), những cái chết không bình thường như tự tử (lôch đipo),phụ nữ chết trong khi sinh mà đứa con vẫn còn trong bụng (lôch xơnom) ,những hồn này thường hay trở về quấy phá hay làm hại người trong làng Nhữngngười chết dữ được chôn ở nghĩa địa riêng, không chung với nghĩa địa của làng,cách xa làng, nơi chẳng ai dám đến chặt cây, làm rẫy, phá rừng
Trang 26Tín ngưỡng truyền thống của người Ba Na luôn tồn tại với tất cả sự sống độngtrong tâm trí của họ Ngày nay, những làng của người Ba Na đã theo đạo Thiênchúa thì niềm tin đối với thần Sấm sét, thần Nước, thần Lúa, niềm tin vào sự tồntại của linh hồn không phải là đã chấm dứt Họ cầu Chúa và cũng vẫn cầu xincác vị thần, các siêu linh trong truyền thống của mình Tín ngưỡng truyền thốngcủa người Ba Na có một sức sống bền bỉ không thể rũ bỏ một sớm một chiều,nói như vậy không có nghĩa là tín ngưỡng của người Ba Na không bị mai một đi
ít nhiều Thời gian cùng với sự ra đi của các vị già làng đáng kính, người lưu giữnhững kho tàng tri thức vô giá của tộc người; sự va chạm văn hóa và những biếnđổi hằng ngày, hằng giờ khiến cho tín ngưỡng truyền thống của người Ba Na cónhiều rạn vỡ, nhiều vấn đề còn bỏ ngỏ Chúng tôi hy vọng rằng, thời gian cùngvới sự mở rộng việc tìm kiếm thông tin có lẽ sẽ tìm thấy lời giải đáp trọn vẹnhơn trong vấn đề này
Trong hệ thống tín ngưỡng của người Ba na, sự sống hiển hiện như mộtthể thống nhất qua sự sắp đặt từ bàn tay của thể sóng đôi thần linh tối cao Bok
Trang 27Kei Dei và Yă Kǔh Kěh Họ đồng thời cũng là những vị thần chủ trì nhịp điệu
nông nghiệp Với người Ba na, chỉ ở những vị thần ấy mới có đầy đủ các đứctính: nhân từ, vĩnh hằng, tối cao tuyệt đối, là người sáng tạo ra sự sống, coi sóccon người và mùa màng Người vợ, Yă Kǔh Kěh làm nên trời đất, còn chồngBok Kei Dei làm ra mặt trời, mặt trăng và các vì tinh tú rồi đính chúng lên bầutrời
Trong tín ngưỡng của người Ba na, thần Lúa (yang Sri) cũng như việcthờ cúng cây lúa luôn chiếm một vị thế đặc biệt Tín ngưỡng thờ thần Lúa cómặt khắp nơi trên thế giới Người ta gọi thần Lúa là mẹ Lúa, gắn thần Lúa vớihình ảnh của người phụ nữ Với người Ba na, lúa là một loại cây có "hồn"(Pơngol) nên con người không được xúc phạm, phải giữ gìn một cách kính cẩntrên nương rẫy và trong kho lúa để cho lương thực được dồi dào và vụ mùa đượcphong đăng hòa cốc Người Ba na có không ít kiêng cữ để tránh làm phật lòngthần Lúa cùng với nhiều lời khấn để giữ lúa lại với con người Chẳng hạn, khithu hoạch lúa trên rẫy phải căng dây đưa hồn Lúa về kho; ở những nơi phải quasuối thì phải bắc cầu cho hồn Lúa qua; ở những chỗ ngã ba đường phải cắm hoalau chỉ đường cho hồn Lúa về kho; chỉ được tuốt lúa mà không được dùng liềmcắt lúa; chỉ phụ nữ mới được lên kho lấy lúa về giã ăn hàng ngày Lúa là ngườiphụ nữ nên chỉ có đàn bà mới biết cách chăm lo cho nó, từ trên nương rẫy chođến trong bếp núc nấu nướng Đàn ông thì cầu khấn Bok Glaih (thần Sấm) cònđàn bà thì cầu khấn yang Sri như một điều quy định đối với người Ba na Sự gắn
bó thần bí giữa tính phì nhiêu của đất và sức mạnh sáng tạo của người phụ nữ làmột trong những trực cảm cơ bản của cái gọi là ý thức nông nghiệp
1.2.1.232: Tín ngưỡng trong thờ cúng tổ tiên.
Người Việt và các dân tộc khác ở nước ta vốn là cư dân nông nghiệptrồng lúa ở vùng nhiệt đới gió mùa do vậy từ ngàn đời nay từ quan niệm lối sốngsuy nghĩ đến nếp sống của họ cơ bản vẫn là người nông dân Quan niệm luậnphương Đông cổ đại vẫn là Âm Dương tương khắc tương sinh, trong tiềm thứccủa họ việc ton thờ các vị thần hơn nữa Việt Nam lại là ngx ba đường nơi giao
Trang 28lưu của nhiều tộc người của nhiều luồng văn minh Hai yếu tố đó làm cho ViệtNam trở thành một quốc gia đa tôn giáo đa tín ngưỡng Tính đa thần ấy khôngchỉ biểu hiện ở số lượng lớn các vị thần mà điều đáng nói là các vị thần ấy cùngđồng hành trong tâm thức mỗi người Việt điều đó dẫn đến một đặc điểm của đờisống tín ngưỡng- tôn giáo của người Việt đó là tính hỗn dung tôn giáo.
Tín ngưỡng thờ cũng tổ tiên là một dân tộc giàu tình cảm trọng lễ nghĩasống hướng nội thường giải quyết vấn đề theo cảm tính hơn lý trí Truyền thống
“uống nước nhớ nguồn” là một trong những đức tính đáng trân trọng của dân tộcViệt ta
Người Việt có khuynh hướng nhìn lại quá khứ và nuôi tiếc dĩ vãn nhiềuhơn hướng đế n tương lai như người phương Tây Vì thế người Việt thường lưugiữ mãi những tình cảm thương tiếc đối với ông bà cha mẹ quá cố, tập tục thờcúng tổ tiên của người Việt ra đời trên căn bản này và được đa số người Việt tathờ cúng
Việc thờ cúng tổ tiên tại gia đình thường được tiến hành quanh năm, xuấtphát từ quan niệm dù đã khuất nhưng linh hồn họ vẫn luôn ở bên cạnh con cháu.Không chỉ cúng lễ trong các dịp quan trọng như tang ma, giỗ chạp, cưới xin…,không chỉ trong những ngày lễ tiết như Tết nguyên đán, Thanh minh, Hàn thực,Đoan ngọ…, các ngày Sóc(ngày mồng một), Vọng (ngày rằm) theo chu kỳ tuầntrăng, mà các vị tổ tiên còn được con cháu kính cáo mọi chuyện vui buồn: sinh
nở, ốm đau, thi cử, đỗ đạt, kiện cáo, bất hòa, dựng vợ gả chồng… Con cháu cònkính mời các vị về hưởng thụ hoa trái đầu mùa, lễ tạ tổ tiên khi có phúc, có lộc
Có thể nói trong tâm thức những người sống tổ tiên là bất tử Người Việt dânghương, làm lễ cúng tổ tiên để báo cáo và để cầu tổ tiên phù hộ, hay để tạ ơn khicông việc thành công Bản chất việc thờ cúng tổ tiên của người Việt là từ niềmtin người sống cũng như người chết đều có sự liên hệ mật thiết và hỗ trợ nhau
Trang 29Con cháu thì thăm hỏi, khấn cáo tiền nhân Tổ tiên thì che chở, dẫn dắt hậu thếnên việc cúng giỗ là thực hiện mối giao lưu giữa cõi dương và cõi âm.
Trên thực tế, quan niệm về thần linh của người Ba na đang dần bị maimột và mất đi cùng với quá trình vận động và phát triển của cuộc sống hiện đại.Già làng, bậc minh triết trong làng, sẽ trở về cùng với thế giới của ông bà, tổtiên, mang theo những điều huyền bí về thần linh mà lớp trẻ ngày nay chẳngmấy bận tâm Cái mà họ lưu tâm hơn cả chính là những bài nhạc trẻ, những bộphim hiện đại, những thú vui của thanh niên người Việt
Ở những làng theo đạo, thần linh dần dần nhường chỗ cho đức Chúa.Những lời cầu khấn các vị thần giàu hình tượng, phản ánh lối tư duy cụ thể, cảmtính được thay thế bằng những lời kinh thánh trong tất cả các nghi lễ Ngay cảnhững làng mà tín ngưỡng cổ truyền còn "chăn dắt" tâm linh của họ thì lời cúng
cổ dành cho các vị thần đáng kính cũng đã nhạt nhòa nhiều Người ta lặp lạinhững câu còn nhớ nhưng đôi khi là vô thức Lời cúng thần hiện tại cũng trở nêngiản tiện, ngắn gọn và thực dụng hơn; chẳng hạn người ta hay cầu xin xe máy,máy kéo, tivi, catset trong những nghi lễ cúng thần của mình
Một quy tắc của hiến sinh là việc con người dâng lên thần những thứ màvới họ là giá trị hơn cả Thế nhưng khi hệ giá trị đã ít nhiều thay đổi thì lập tức
nó đi vào các nghi lễ cúng tế Không chỉ dâng cho thần linh rượu ghè, thứ rượu
mà thần yêu thích, họ còn dâng cho thần thứ rượu trắng (rượu đế) mua ở cácquán người Việt Các thần chắc cũng sẽ hài lòng
Tất cả những biểu hiện trên cho thấy quan niệm về thần linh của người
Ba na đã thay đổi Trong giai đoạn hiện nay, lưu giữ những giá trị văn hóa tộcngười là vấn đề cần được quan tâm Trước hết, cần tiến hành sưu tầm chuyện cổ
về các vị thần của người Ba na từ những vị già làng đáng kính, những người cấtgiữ trong mình vô vàn điều thú vị về các thần ở miền ký ức xa xăm
Thứ hai, cần phục dựng lại hệ thống các nghi lễ truyền thống như nghi lễnông nghiệp, nghi lễ vòng đời người Chỉ có thông qua những nghi lễ cụ thể,chúng ta mới có thể hiểu rõ được vai trò, chức năng của từng vị thần trong đờisống tâm linh, cũng như quan niệm của họ về những vị thần đó
Trang 30Thứ ba, cần sưu tầm những lời khấn cổ trong những nghi lễ vì lời khấnkhông chỉ là sợi dây tâm linh giao kết giữa con người và thần linh mà quan trọnghơn, nó cố kết tính bền vững, trường tồn của cộng đồng Lời khấn thường đượcdiễn xướng bằng hình thức văn vần nên ít nhiều có thể xem nó như một dạng thơ
ca trữ tình đặc thù của người Ba na
Thứ tư, cần tạo một tác động phản hồi về văn hóa truyền thống đối vớigiới trẻ, những người sẽ nhận sứ mệnh trao truyền văn hóa Khi nhận thức đượcvăn hóa tộc người mình đang được quan tâm thì họ sẽ có ý thức trong việc bảotồn, phát triển văn hóa của chính mình
Truyền thống không phải nhất thành bất biến mà nó luôn gắn với quyluật vận động của lịch sử Niềm tin vào các vị thần sẽ thay đổi rất nhiều trongcuộc sống hiện tại của người Ba na nhưng những giá trị nhân văn lưu chứa trong
đó phải cần được bảo lưu, trân trọng, giữ gìn bởi đó là sự tích hợp văn hóa củatộc người, là sự trao truyền văn hóa giữa các thế hệ, là trầm tích lắng lại saumuôn vàn biến động của thời cuộc
Trang 31CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TÍN NGƯỠNG CỦA NGƯỜI BA NA
Ở GIA LAI – KOM TUM 2.Tổng quan về tín ngưỡng
Tín ngưỡng là một vấn đề rất rộng và khó, đòi hỏi phải có thời gian
tụ bồi đắp trong quá trình lịch sử dài lâu, tín ngưỡng Ba Na cho đến nay vẫnluôn là đối tượng hấp dẫn của các nhà nghiên cứu văn hóa trong và ngoài nước.Những bài viết, những công trình nghiên cứu đầu tiên có liên quan đến đề tàinày
là những dòng biên niên sử của các triều đại phong kiến Việt Nam và ghi chép
Trang 32quan lại phong kiến Việt Nam trong các sách sử biên niên từ thế kỷ XVI –
ngưỡng của cư dân bản địa Ba Na còn rất mờ nhạt
2.131.2.3: Tín ngưỡng trong tổô chức lễế hội.
Hàng năm, đồng bào Ba Na ở Gia Lai tổ chức rất nhiều lễ hội nhưng đặcsắc nhất trong số đó phải kể đến lễ hội Dúi Đây là lễ hội chỉ diễn ra duy nhấttrong cộng đồng dân tộc Ba Na ở xã Kon Pne, vào cuối mùa khô, đầu mùa mưa,lúa vừa bắt đầu trổ bông (khoảng tháng 5 dương lịch)
Để chuẩn bị cho lễ hội, trước đó, đàn ông mang cuốc, xè beng vào rừng để đàobắt dúi, còn những người phụ ở nhà chuẩn bị ghè rượu cần thật to Đây là 2 lễvật quan trọng dành để cúng Yàng Con dúi bắt được phải còn sống và không bịthương tật Khi mỗi gia đình “sở hữu” một con dúi khỏe mạnh, họ sẽ chọn ngày
tổ chức lễ hội Người dân trong thôn sẽ gác mọi việc riêng trong vòng 7 ngày đểchuẩn bị cho lễ hội, như chặt tre về dựng cây nêu, chuẩn bị chiêng…
Lễ hội chỉ diễn ra trong vòng 2 ngày đêm nhưng mọi thứ đều được trang trí côngphu và cẩn thận Một cây nêu được dựng lên giữa sân nhà rông, con dúi sau khiluộc chín sẽ được cắm vào một cái que từ đuôi lên đến đầu treo lên cây nêu này
Trang 33Con dúi của gia đình nào thì gia đình đó cắm que đánh dấu để không bị lộn vớicác con dúi của gia đình khác Các ghè rượu cần được làm từ men của các loạicây rừng cũng được bày thành từng hàng ngay ngắn giữa sân nhà rông, mỗi ghèrượu cần sẽ được bày xen kẽ với một con dúi Phía dưới và khu vực xung quanh
sẽ trang trí các con vật linh thiêng và vẽ những hình ảnh mang tính chất tínngưỡng của người Ba Na
Sau nghi lễ kết thúc, những chàng trai, cô gái sẽ biểu diễn các bài chiêng, cácđiệu múa vui nhộn khắp một vùng Lễ hội sẽ kéo dài suốt 2 ngày, cả làng chỉ tậpchung tại nhà rông, họ quây quần bên nhau nói chuyện đủ thứ về kinh nghiệmlàm rẫy, kể chuyện cười dân gian,… Đến buổi tối, mọi người sẽ chuyển về nhàmình tiếp tục làm lễ mong Giàng phù hộ cho mùa màng Thịt con dúi của mỗigia đình sẽ được xẻ ra chia phần cho mỗi gia đình trong thôn
Lễ hội Dúi của người Ba Na ở Kon Pne có ý nghĩa quan trọng trong đời sốngtâm linh Thông qua lễ hội con dúi diễn ra hàng năm, những người dân tộc Ba
Na muốn giáo dục con cháu trong thôn bản phải chăm chỉ làm ăn mới mong cóđược một cuộc sống no đủ
Trang 34Để nói đến lễ hội của người Ba Na co thể thấy tộc người này họ có rấtnhiều lễ hội độc đáo.
Lễ hội đâm trâu ( X'trǎng): Đây là một trong những lễ hội quan trọng
hàng đầu của người Ba Na Kon Tum, nhằm tế thần linh hoặc những người đã cócông chủ trì thành lập buôn làng, ăn mừng chiến thắng, ăn mừng mùa màng bộithu
Để chuẩn bị cho lễ hội, dân làng chọn một con trâu mới lớn, khỏemạnh, cho ăn uống đầy đủ rồi tắm rửa sạch sẽ Thường trâu tế lễ là của làng, cònnếu trâu mua từ nơi khác thì phải mang về trước đó 10 ngày, cho ăn cỏ uốngnước của làng Vào ngày diễn ra Lễ hội, trâu được cột vào dây mây, một đầu nối
với cây nêu (Người Ba Na gọi cây cột này là gưng sakapô) Người chủ trì Lễ
(thường là già làng) sẽ đọc bài khấn, cảm ơn thần linh trong mùa vụ qua vàmong thần linh phù hộ độ trì cho dân làng trong mùa sắp tới Sau đó dân làngnhảy múa hò reo theo nhịp cồng chiêng rộn rã, xung quanh con trâu tế lễ Nghi
lễ đâm trâu là phần quan trọng bậc nhất của lễ hội: những thanh niên mạnh khỏe
Trang 35cổ vũ của cả dân làng Khi con trâu dã thấm mệt, họ lựa thời cơ, bất ngờ phónglao dài giết trâu Con trâu bị giết được đem xẻ thịt nhỏ chia cho các nhà trongbuôn làng cùng liên hoan, xem như chia sẻ điều may mắn Lễ đâm trâu thườngđược tổ chức vào khoảng thời gian từ tháng Chạp cho đến tháng 3 âm lịch Đó là
là khi mùa màng thu hoạch xong, thóc đã được đưa vào bồ, các gia đình đượcnghỉ ngơi Người Bana tổ chức lễ đâm trâu là để tạ ơn thần linh, đón mừng nămmới, cầu mong sức khỏe cho mọi người và cầu chúc cho một năm mới mùamàng tươi tốt Anh Đào Minh Ngọc, hướng dẫn viên Bảo tàng dân tộc tỉnh ĐắcLắc, cho biết: “Lễ hội đâm trâu là lễ hội lớn linh thiêng đối với người Bana Lễhội đâm trâu (còn gọi là lễ hiến sinh) phải trải qua nhiều nghi lễ nhỏ với nhiềuhình thức như: lễ cúng thần linh, nghi lễ uống rượu cần, diễn tấu cồng chiêng và
có bài khóc trâu Lễ hội đâm trâu chỉ được dùng trong cúng thần linh”
Lễ đâm trâu thường diễn ra trong 3 ngày đêm Để chuẩn bị cho lễ đâmtrâu, người Bana phải chuẩn bị hàng tháng trời Những người đàn ông khoẻmạnh trong buôn được cử vào rừng chọn những cây gỗ Pơlang thẳng, đẹp nhất
để làm cột Gưn, chọn những cây mây vàng bóng để bện thành sợi dây vữngchãi buộc trâu trong ngày lễ Thường thì lễ đâm trâu tế Giàng (Thần linh) được
tổ chức vào sáng sớm, lúc mặt trời vừa lên Dân làng chọn một con trâu khỏemạnh làm vật hiến sinh, con trâu này được coi như vị sứ giả chuyển lời cầukhấn, ý nguyện của bà con tới các vị thần Vào ngày lễ, trâu được đưa đi tắm rửasạch sẽ và cho ăn uống no nê rồi đem buộc bằng dây mây vào cột Gưn mà người
Ba Na gọi cây cột này là gưng sakapô Đây là một cây cột gỗ cao trên 5 mét,được trang trí hoa văn, hoa rừng và cờ rất đẹp Trên đỉnh cột thường đặt mộtbiểu trưng hình chim Phượng hoàng bằng gỗ Khi con trâu được cột vào Gưng,làng cử đại diện gồm: già làng, thanh niên nam, nữ, trẻ nhỏ dắt trâu đi vòngquanh cột vừa đi vừa nói những điều tốt đẹp Đây cũng là lúc bà con trong buôntập trung lại và những nghi thức của buổi lễ bắt đầu
Trang 36Chủ lễ là già làng, người có uy tín nhất cộng đồng đọc lời khấn trời đất,cầu chúc mưa thuận gió hòa, dân làng khỏe mạnh, hoa trái mùa màng tốt tươi…Khấn Giàng xong, con trai, con gái nhảy múa vòng tròn theo nhịp cồng chiêngrộn rã, âm vang khắp núi rừng Một người lớn tuổi được cử ra để mời bà con vàkhách uống rượu cần thể hiện lòng hiếu khách Tâm điểm của lễ hội là các chàngtrai trong buôn biểu diễn các màn võ truyền thống quanh cột Gưn buộc trâu,trong khi các cô gái nối thành vòng xoang nhảy múa theo nhịp cồng chiêng Saumột đêm nhảy múa, ca hát, buôn cử 5 người đại diện gồm 3 thày cúng và 2 giàlàng làm lễ hiến sinh đọc thần chú, xin dâng cúng trâu cho thần linh và cầunguyện những điều tốt đẹp còn mọi người ngồi nói chuyện, uống rượu cần Suốtđêm hôm ấy bà con dân làng thức với con trâu, khóc thương con trâu, bày tỏ tìnhcảm của mình với con trâu bằng bài hát "Khóc trâu" Bài hát với lời : lâu naytrâu sống cùng với con người, giúp đỡ người trong công việc đồng áng nặngnhọc, nhưng vì làng có việc trọng đại, cần đến trâu để tạ ơn Giàng, mong trâuvui vẻ thực hiện nhiệm vụ của mình Sau buổi lễ, thịt trâu được chia đều cho tất
cả mọi người, từ già đến trẻ nhỏ trong buôn và cả khách mời, ai cũng có phầnđem về nhà, mang may mắn cho mọi người Già làng Bok Ny dân tộc Bana ởtỉnh Kon tum, cho biết: “Lễ hội để cầu mong mưa thuận gió hoà Sau khi lễ hộixong cũng là là kêu gọi bà con phát huy tính tự lực tự cường, cùng nhau làm ăncần cù để cuộc sống buôn làn ngày càng phát triển đi lên”
Lễ đâm trâu của người Bana cũng là dịp để con cháu ôn lại truyền thốnghào hùng của dân tộc, giúp lớp trẻ hình dung các bước thực hiện lễ đâm trâu đểlưu giữ truyền thống tổ tiên Lễ hội đâm trâu góp phần giữ gìn nét văn hóa dângian của người Bana, làm phong phú thêm sắc thái văn hóa của dân tộc ViệtNam
Lễ bỏ mả: (Mơt bơxát hoặc Mơt brưh bơxát): Thông thường kéo dài
khoảng 5 ngày Theo quan quan niệm của người Ba Na, người chết tuy mất đi vềthể xác, nhưng phần hồn vẫn tồn tại, ở trong nhà mồ, hồn sinh hoạt bình thường
Trang 37như người sống trên trần gian Sau khoảng 3 năm, 7 năm hoặc lâu nhất là 10năm thì bắt đầu làm Lễ bỏ mả, để hồn người chết bước hẳn qua thế giới mới.
Để làm Lễ bỏ mả, gia đình sẽ chọn ngày cuốc dọn (anăr chohcham) nghi lễ cầu xin hồn ma người chết cho dựng nhà mồ mới, bắt tay vào dọndẹp khu nhà mả cũ Những ngày đầu, họ tập trung lại xây dựng nhà mả mới chongười chết, gia đình đem rượu, thịt tới khu nhà mả ăn uống, có để phần chongười đã chết và khóc lần cuối cùng vĩnh biệt người thân Đến ngày thứ tư, khuviệc xây dựng nhà mả mới đã xong, gia đình người chết dắt trâu ra nhà rông củalàng để làm lễ tế thần linh Sau khi xong nghi thức cúng tế bỏ mả, con trâu sẽđược phục vụ cho việc ăn uống, vui chơi của cả làng trong đêm đó
Lễ bỏ mả hoàn thành, mọi ràng buộc giữa người sống và người chết đãcắt đứt, người chết sẽ sang một thế giới khác Hồn không còn quấy rầy nhữngngười còn sống ở trên trần gian nữa, người sống không phải kiêng kị gì nữa L
bỏ mả hoàn thành, mọi ràng buộcời sống đã có thể cắt đứt mọi quan hệ tình thânvới người chết sau mấy năm chịu tang, về sau nếu không còn cúng giỗ cũngkhông ai khiển trách.Lễ được tiến hành vào mùa khô, từ tháng Chạp đến tháng
Tư năm sau
Trưbỏ mả hoàn thành, mọi ràng buộcời sống đã mồ mới sau khi dở bỏcái cũ Mọi người vừa dựng nhà vừa đánh cồng chiêng vui chơi suốt đêm, có khikéo dài đhoàn thành, mọi ràng buộcời sống đã mồ mới sau khi dở bỏ cái cũ.Mọi người vừa dựng nhà vừa đánh cồng chiêng vui chơi suốt đêm, có khi giỗcũng kống