ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA KINH TẾ & PHÁT TRIỂN --- ---KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP ĐẾN SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN HUYỆN NGHI XUÂN T
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA KINH TẾ & PHÁT TRIỂN - -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP ĐẾN SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN HUYỆN NGHI XUÂN TỈNH HÀ
TĨNH
PHAN THỊ DUNG
Khóa học 2007 – 2010
Trang 2ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA KINH TẾ & PHÁT TRIỂN - -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP ĐẾN SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN HUYỆN NGHI XUÂN TỈNH HÀ
TĨNH
Sinh viên th ực hiện: Giáo viên hướng dẫn:
Lớp: K41 BKTNN
Niên khóa: 2007-2011
Trang 3L ời Cảm Ơn
Khóa luận tốt nghiệp là kết quả của sự cố gắng, nỗ lực của bản thân trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu trên giảng đường Đại học Từ tấm lòng mình tôi xin chân thành cảm ơn các quý thầy giáo, cô
giáo trường Đại học Kinh tế - Đại học Huế đã tận tình dạy bảo tôi
trong suốt những năm qua Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
đến thầy giáo, Th.s Nguyễn Quang Phục, người đã trực tiếp hướng dẫn
và chỉ bảo tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các cô chú, các anh chị đang công tác tại phòng Tài Nguyên và Môi Trường, các phòng, ban chức năng của UBND huyện Nghi Xuân, cùng toàn thể các hộ gia đình đã tạo điều kiện tốt nhất và nhiệt tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực tập
và điều tra thực tế.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến toàn thể gia
đình, người thân và bạn bè, những người luôn bên tôi, giúp đỡ và động viên tôi hoàn thành đề tài này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song do năng lực của bản thân còn hạn chế, kinh nghiệm thực tiễn chưa nhiều, thời gian thực hiện đề tài còn hạn hẹp nên khóa luận này khó tránh khỏi những sai sót, rất mong nhận được sự quan tâm, góp ý của quý thầy cô giáo và các bạn sinh
viên để khóa luận được hoàn thiện hơn nữa.
Một lần nữa xin chân thành cảm ơn.
Sinh viên thực hiện Phan Thị Dung
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN I Error! Bookmark not defined.
ĐẶT VẤN ĐỀ Error! Bookmark not defined.
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Error! Bookmark not defined.
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Error! Bookmark not
defined
1.1 Cơ sở lý luận Error! Bookmark not defined.
1.1.1 Khái niệm về đất đai và đất nông nghiệp Error! Bookmark not defined.
1.1.2 Vai trò của đất đai Error! Bookmark not defined.
1.1.3 Đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và sự cần thiết phải thu hồi đất.Error! Bookmark not defined 1.2 Cơ sở thực tiễn Error! Bookmark not defined.
1.2.1 Quá trình đô thị hóa trên Thế giới và Việt Nam Error! Bookmark not defined.
1.2.1.1 Đô thị hóa ở một số nước trên thế giới Error! Bookmark not defined.
1.2.2 Quá trình đô thị hoá ở Việt Nam hiện nay Error! Bookmark not defined.
1.2.3 Tác động của ĐTH Error! Bookmark not defined.
1.2.3.1 Tác động tích cực Error! Bookmark not defined.
1.2.3.2 Tác động tiêu cực Error! Bookmark not defined.
1.2.4 Phương pháp và các chỉ tiêu nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
1.2.4.1 Phương pháp nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
1.2.4.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá việc làm và thu nhập của lao độngError! Bookmark not defined.
1.2.4.2.1 Tỷ lệ thất nghiệp của lao động Error! Bookmark not defined.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ TÁC ĐỘNG
CỦA NÓ ĐẾN SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN HUYỆN NGHI XUÂN Error! Bookmark
not defined
2.1 Tình hình cơ bản của huyện Nghi Xuân Error! Bookmark not defined.
2.1.1 Điều kiện tự nhiên: Error! Bookmark not defined.
2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội Error! Bookmark not defined.
2.1.2.2 Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp Error! Bookmark not defined.
2.1.2.3 Giao thông – xây dựng cơ bản – bưu điện Error! Bookmark not defined.
Trang 52.1.2.7 Giáo dục – y tế - dân số: Error! Bookmark not defined.
2.1.2.8 Công tác chính sách xã hội, đào tạo nghề, công tác dân tộcError! Bookmark not defined 2.1.3 Tình hình chung về sử dụng đất của huyện Nghi XuânError! Bookmark not defined.
2.1.4 Tình hình dân cư và nguồn lao động của huyện Nghi XuânError! Bookmark not defined.
2.2 Thực trạng thu hồi đất nông nghiệp và tác động của nó đến sinh kế của người
nông dân huyện Nghi Xuân Error! Bookmark not defined.
2.2.1 Thực trạng thu hồi đất của huyện Nghi Xuân Error! Bookmark not defined.
2.2.2 Tác động của việc thu hồi đất đến sinh kế của các hộ điều traError! Bookmark not defined.
2.2.2.1 Đặc trưng chung của các hộ điều tra Error! Bookmark not defined.
2.2.2.2 Tình hình đất đai của các hộ điều tra trước và sau khi thu hồiError! Bookmark not defined 2.2.2.3 Việc làm và lao động sau thu hồi đất của các hộ điều traError! Bookmark not defined 2.2.2.4 Tình hình nguồn vốn tài chính của các hộ điều traError! Bookmark not defined.
2.2.2.5 Tình hình thu nhập của các hộ điều tra sau khi thu hồi đấtError! Bookmark not defined 2.2.2.6 Thu hồi đất và vấn đề an ninh lương thực của hộ điều traError! Bookmark not defined 2.2.2.7 Những khó khăn của các hộ điều tra sau khi thu hồi đấtError! Bookmark not defined.
2.2.3 Đánh giá chung về tác động của việc thu hồi đất đến sinh kế của người dân
huyện Nghi Xuân Error! Bookmark not defined.
2.2.3.1 Tích cực Error! Bookmark not defined.
2.2.3.2 Tiêu cực Error! Bookmark not defined.
CHƯƠNG III: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP Error! Bookmark not defined.
3.1 Định hướng Error! Bookmark not defined.
3.1.1 Kinh tế Error! Bookmark not defined.
3.1.2 Quản lý đô thị và đầu tư phát triển Error! Bookmark not defined.
3.2 Các giải pháp cụ thể nhằm hạn chế tác động tiêu cực của việc thu hồi đất
nông nghiệp tới sinh kế của người dân huyện Nghi XuânError! Bookmark not defined.
3.2.1 Các giải pháp liên quan đến công tác thu hồi và chuyển đổi mục đích sử
dụng đất đai Error! Bookmark not defined.
3.2.2 Giải pháp liên quan đến công tác đền bù và bồi thường thiệt hạiError! Bookmark not defined 3.3.3 Giải quyết việc làm, tạo sinh kế bền vững Error! Bookmark not defined.
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Error! Bookmark not defined 7
1 Kết Luận Error! Bookmark not defined.7
2 Kiến Nghị Error! Bookmark not defined.8
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1 : Biến động sử dụng đất của huyện Nghi Xuân giai đoạn 2008 - 2010Error! Bookmark not defined.
Bảng 2 : Quy mô và cơ cấu lao động của Huyện Nghi Xuân giai đoạn
2008-2010 Error! Bookmark not defined.
Bảng 3 : Số tổ chức, hộ gia đình bị ảnh hưởng do thu hồi đất ở huyện Nghi Xuân
giai đoạn 2008 - 2009 Error! Bookmark not defined.
Bảng 4 : Tình hình thu hồi đất để phát triển của Huyện Nghi Xuân giai đoạn
2006 – 2010 Error! Bookmark not defined Bảng 5 : Tình hình nhân khẩu và lao động của các hộ điều tra Error! Bookmark not defined.
Bảng 6 : Phân tổ các hộ điều tra theo diện tích đất bị thu hồi Error! Bookmark not defined.
Bảng 7 : Quy mô và cơ cấu đất đai của các hộ điều tra Error! Bookmark not defined.
Bảng 8 : Tình hình lao động của các hộ điều tra năm 2010 Error! Bookmark not defined.
Bảng 9 : Trình độ văn hóa, chuyên môn của người lao động trước
khi thu hồi đất Error! Bookmark not defined.
Bảng 10 : Trình độ văn hóa, chuyên môn của người lao động sau khi
thu hồi đất Error! Bookmark not defined.
Bảng 11 : Cơ cấu ngành nghề của lao động ở các hộ điều tra trước và
Trang 7Bảng 12 : Cách thức sử dụng tiền đền bù ở các hộ bị thu hồi đất Error! Bookmark not defined.
Bảng 13 : Cơ cấu thu nhập các hộ điều tra trước và sau khi thu hồi đất Error! Bookmark not defined.
Bảng 14 : Tình hình lương thực của các hộ điều tra trước và sau khi thu hồi Error! Bookmark not defined.
Bảng 15 : Những khó khăn của các hộ sau khi thu hồi đất Error! Bookmark not defined.
Danh mục các thuật ngữ viết tắt
CNH – HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CN – TTCN : Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Trang 8Tr.đ : Triệu đồng
XKLĐ : Xuất khẩu lao động
TN – DV – NH : Thương nghiệp, dịch vụ, nhà hàng
PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài
Hòa mình vào hơi thở của thời đại, đảng và nhà nước ta đang thực hiện quá trìnhCNH-HĐH đất nước, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng giảmdần tỷ trọng nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ Thực hiện mục tiêu
“sớm đưa nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng để đến năm 2020 cơ
bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại” như Nghị quyết Đại hội IX đề
ra, hàng vạn ha đất nông nghiệp được thu hồi để sử dụng vào xây dựng các khu côngnghiệp, đô thị và cơ sở hạ tầng
Việc phát triển các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu kinh tế hạtầng, các công trình công cộng phục vụ lợi ích quốc gia là đồng thời với việc thu hồimột phần đất nông nghiệp của một bộ phận dân cư Thực tế trong những năm trở lại
đây, tốc độ phát triển CNH-HĐH diễn ra ở các địa phương khá nhanh và mạnh mẽ,
do vậy bộ phận dân cư bị thu hồi đất và diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi ngày
càng tăng Điều này dẫn đến tình hình sinh kế của người nông dân bị ảnh hưởng và
Trang 9mặt về đời sống cũng như tinh thần của họ Trong những năm tới, tốc độ đô thị hóa
sẽ còn diễn ra nhanh và mạnh hơn nữa, do đó diện tích đất nông nghiệp sẽ ngày càng
bị thu hẹp hơn, và vấn đề về giải quyết việc làm tạo thu nhập cho những người nông
dân có đất bị thu hồi ngày càng trở nên căng thẳng hơn
Bên cạnh đó một phần diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi để phục vụ cáccông trình, dự án cũng không có hiệu quả cao, một phần diện tích đất nông nghiệpthì đang trong tình trạng “treo”, hay “bỏ ngỏ” trong khi đó một bộ phận hộ nông
dân không có đất sản xuất
Cùng theo xu hướng phát triển chung của đất nước, huyện Nghi Xuân cũng chịuảnh hưởng rất lớn từ quá trình CNH-HĐH Là huyện nằm gần Thành Phố Vinh, có trụcgiao thông đường bộ - quốc lộ 1A chạy qua nên có nhiều xí nghiệp ,cơ sở hạ tầng và sân
golf được xây dựng lên, bộ mặt của huyện nhà đã có phần được đổi mới, mặt khác nhằmthực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của huyện nhà, thì phải tập trung đầu tư pháttriển vào các lĩnh vực như du lịch, thủy lợi, giao thông, cơ sở hạ tầng Quá trình diễn ra tấtyếu một lượng lớn diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi Điều đó tác động không nhỏ đến
lao động, việc làm, thu nhập… của người dân huyện Nghi Xuân
Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi chọn đề tài “Tác động của việc thu hồi đất nông nghiệp đến sinh kế của người dân Huyện Nghi Xuân” để nghiên cứu làm
khóa luận tốt nghiệp
2 Mục đích nghiên cứu:
- Góp phần làm sáng tỏ vấn đề lý luận và thực tiễn về ảnh hưởng của quátrình đô thị hóa, thu hồi đất đến sinh kế của người dân
- Đánh giá tác động của việc thu hồi đất nông nghiệp đến sinh kế của người
dân có đất nông nghiệp bị thu hồi tại huyện Nghi Xuân
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế tác động tiêu cực và phát huy nhữngtác động tích cực của việc thu hồi đất nông nghiệp tới sinh kế của người dântrên địa nghiên cứu
3 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp, thứ cấp
- Phương pháp điều tra chọn mẫu
Trang 10- Phương pháp thống kê mô tả.
- Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo
- Phương pháp so sánh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng: Người dân có đất nông nghiệp bị thu hồi ở huyện Nghi Xuân
- Giới hạn về không gian: Nghiên cứu tình hình thu hồi đất nông nghiệp trên
địa bàn huyện Nghi Xuân
- Giới hạn về thời gian: Từ năm 2008 – 2010, điều tra 2010
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái ni ệm về đất đai và đất nông nghiệp
Khái niệm về đất đai
Ðất theo nghĩa thổ nhưỡng là vật thể thiên nhiên có cấu tạo độc lập lâu đời, hìnhthành do kết quả của nhiều yếu tố: đá gốc, động thực vật, khí hậu, địa hình và thời gian.Thành phần cấu tạo của đất gồm các hạt khoáng chiếm 40%, hợp chất humic 5%, không
khí 20% và nước 35% Giá trị tài nguyên đất được đo bằng số lượng diện tích (ha, km2)
và độ phì (độ mầu mỡ thích hợp cho trồng cây công nghiệp và lương thực)
Trong nông nghiệp, đất đai được định nghĩa rất đặc biệt: Đất đai vừa là đối tượng
lao động, vừa là tư liệu sản xuất Là đối tượng lao động khi con người sử dụng các công
cụ sản xuất, cùng với sức lao động của mình tác động lên đất làm thay đổi hình dạng,thành phần, cấu trúc như cày bừa, lên luống, bón phân Quá trình này nếu được thực hiệnhợp lý sẽ làm tăng chất lượng đất, tạo tiền đề tăng năng suất cây trồng Ruộng đất là tư
Trang 11 Khái niệm về đất nông nghiệp
Theo mục 2 - Điều 6 của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP của Chính phủ thì Đất nôngnghiệp là toàn bộ đất đai được sử dụng chủ yếu vào sản xuất của các ngành như trồng trọt,
chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc sử dụng để nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp
Chỉ khi có đất đai, các hoạt động sản xuất nông nghiệp mới có thể được tiến hành Trong
đất nông nghiệp thì đất canh tác chiếm một tỷ lệ lớn, được sử dụng để trồng cây hằngnăm Đất canh tác là bộ phận của đất nông nghiệp được sử dụng trồng cây hằng năm hay
còn gọi là đất trồng cây hằng năm Có thể nói đây là bộ phận quan trọng nhất trong quỹ
đất nông nghiệp Đây là loại đất có những đặc tính, tiêu chuẩn về chất lượng nhất địnhđược con người cày, bừa, cuốc, xới để trồng cây lương thực, thực phẩm nói riêng và cây
ngắn ngày nói chung
Sản xuất nông nghiệp là quá trình con người bằng sức lao động của mình tác độnglên ruộng đất cho ra sản phẩm, thể hiện sự gắn kết lao động giữa con người với ruộng đất.Mức độ gắn kết càng cao thì hiệu quả đạt được càng lớn Nói cách khác, nếu con người
tác động tốt vào ruộng đất thì ruộng đất sẽ tác động tốt đến cây trồng trong khi vẫn tiết
kiệm được sức lao động và TLSX khác vì chất lượng ruộng đất đã được nâng cao Việcnâng cao chất lượng ruộng đất có nghĩa là nâng cao độ phì nhiêu của đất
1.1.2 Vai trò c ủa đất đai
Đất đai có nguồn gốc từ tự nhiên, cùng với vòng quay của bánh xe thời gian thì conngười xuất hiện và tác động vào đất đai, cải tạo đất đai và biến đất đai từ sản phẩm của tự
nhiên lại mang trong mình sức lao động của con người, tức cũng là sản phẩm của xã hội
Đất đai là một tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia và nó cũng
là yếu tố mang tính quyết định sự tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật khác
trên trái đất Các Mác đã viết “ Đất đai là tài sản mãi mãi với loài người, là điều kiện sinh
tồn, là điều kiện không thể thiếu được để sản xuất, là tư liệu sản xuất cơ bản trong nônglâm nghiệp “ Bởi vậy nếu không có đất đai thì không có bất kì một ngành sản xuất nào,
con người không thể tiến hành ra của cải vật chất để duy trì cuộc sống và duy trì nòi giốngđến ngày nay Theo luật đất đai năm 1993 của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt
Trang 12Nam có ghi “ Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành
phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xâydựng các cơ sở kinh tế văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng Trải qua nhiều thế hệ nhân
dân ta đã tốn bao nhiêu công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ vốn đất đai như ngàynay “ Đất đai còn là nguồn của cải, là tư liệu sản xuất vô cùng quý giá của con người
Vai trò đặc biệt của đất đai trong sản xuất nông nghiệp
Đất đai là cơ sở tự nhiên, là tiền đề đầu tiên của mọi quá trình sản xuất Đất đai
tham gia hầu hết vào quá trình sản xuất của xã hội, nhưng tùy thuộc vào từng ngành củthể mà vai trò của đất đai có sự khác nhau Nếu trong công nghiệp, thương mại, giao
thông đất đai là cơ sở, nền móng để trên đó xây dựng nhà xưởng, cửa hàng, mạng lướiđường giao thông, thì ngược lại trong nông nghiệp đất đai tham gia với tư cách yếu tố tích
cực của sản xuất là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được
Hiện nay cho dù trình độ khoa học công nghệ cao đến đâu, nhiều phát minh sángchế vĩ đại đến mấy thì quá trình sản xuất nông nghiệp vẫn cần phải có đất, đặc biệt là sảnxuất trên quy mô rộng lớn Bởi vì quá trình sản xuất nông nghiệp có liên quan chặt chẽvới đất, phụ thuộc nhiều vào độ phì nhiêu của đất và phụ thuộc vào các quá trình sinh học
tự nhiên Nó ảnh hưởng đến năng suất cây trồng
Ngoài vai trò là cơ sở không gian nói trên thì đất còn có hai chức năng đặc biệtquan trọng sau:
- Đất là đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của con người trong quá trình sản xuất
- Đất tham gia tích cực vào quá trình sản xuất, cung cấp nước, không khí và cácchất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng để cây trồng sinh trưởng và phát triển
Như vậy, đất gần như trở thành một công cụ sản xuất Năng suất và chất lượng sản
phẩm phụ thuộc rất nhiều vào độ phì nhiêu của đất Trong số các loại tư liệu sản xuất dùngtrong nông nghiệp thì chỉ có đất mới thực hiện được chức năng này Nếu con người biết sử
Trang 13Chính vì vậy, người ta có thể nói rằng, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặcbiệt trong nông nghiệp Và đối với các hộ nông dân thì đất đai là tài sản quý giá nhất.
1.1.3 Đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và sự cần thiết phải thu hồi đất.
1.1.3.1 Khái niệm đô thị hóa,công nghiệp hóa và hiện đại hóa
CNH – HĐH và đô thị hóa là con đường phát triển của mọi quốc gia trên thế giới.Trong thời đại khoa học công nghệ phát triển nhanh như vũ bão hiện nay, kinh tế tri thức
đang dần đi vào cuộc sống và toàn cầu hóa là một xu thế không thể cưỡng lại được thì
CNH – HĐH là con đường giúp các nước chậm phát triển và đang phát triển rút ngắnkhoảng cách so với các nước đi trước
CNH – HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuấtkinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế-xã hội, từ sử dụng sức lao động thủ công là chínhsang phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện phương pháp tiên tiến hiện đạidựa trên sự phát triển của công nghiệp, và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất
lao động xã hội cao
- Đô thị hóa là vấn đề quan trọng mang tính chất thời đại nên các quốc gia trênthế giới đều tập trung nghiên cứu Xoay quanh khái niệm này có rất nhiều cách trả lời,nhiều tác giả đã đưa ra ý kiến của mình Tuy vậy vẫn cần thiết phải đề cập vì hơn ai hếtkhái niệm này vẫn phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh của từng quốc gia
- Theo tiến sĩ Guoming Wen, đô thị hoá là một quá trình chuyển đổi mang tínhlịch sử tư liệu sản xuất và lối sống của con người từ nông thôn vào thành phố Thườngquá trình này được nhìn nhận như là sự di cư của nông dân nông thôn đến các đô thị vàquá trình tiếp tục của bản thân các đô thị Ông cũng cho rằng, trong thực tế đô thị hoá làmột quá trình phức tạp hơn nhiều Bởi tiến trình này đã bộc lộ không ít dấu hiệu của tìnhtrạng quá nóng và những vấn đề tiềm ẩn, như áp lực gia tăng đối với việc làm và an ninh
xã hội, tình trạng bong bóng xà phòng trong lĩnh vực bất động sản buộc Chính phủ TrungQuốc phải hãm phanh xu hướng này thông qua việc xem xét một cách cẩn trọng và từng
bước kiểm soát đối với quá trình ĐTH
Trang 14- TS Toshio Kuroda (Nhật Bản) cho rằng đô thị hoá trên tổng số dân cư trú ởthành phố hoặc dựa trên quan điểm về các vùng có mật độ dân cư đông Nghiên cứu thực
tế nước Nhật, ông cho rằng đô thị hoá không đơn thuần là một hiện tượng xảy ra sauchiến tranh ở Nhật Bản mà là một quá trình trình diễn ra từ đầu thế kỷ XX Sau năm 1945quá trình đô thị hoá diễn ra ở Nhật Bản khá rõ do yêu cầu của việc tái thiết nhanh chóng
và tăng trưởng kinh tế đã đẩy nhanh quá trình đô thị hoá Sự di chuyển của một lượng lớn
dân số trẻ từ nông thôn ra thành thị, chủ yếu những người đi tản cư về Quá trình này diễn
ra đặc biệt nhanh chóng từ cuối thập kỷ 50, đầu thập kỷ 60 do người nhập cư mong muốn
có cuộc sống tốt đẹp hơn
Còn ở Việt Nam chúng ta có thể hiểu rằng: “ đô thi hóa là qúa trình biến đổi vàphân bố lại lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư, hình thành pháttriển các hình thức và điều kiện sống theo chiều sâu trên cơ sở hiện đại hóa cơ sở vật chất
– kĩ thuật và tăng qui mô dân số ở các đô thị Đó là quá trình tập trung, tăng cường, phân
hóa các hoạt động trong đô thị và nâng cao tỉ lệ dân số thành thị trong các vùng, các quốcgia cũng như trên thế giới Đồng thời, đô thị hóa cũng là quá trình phát triển của các thànhphố lớn và phổ biến rộng rãi lối sống thành thị trong dân cư “
Thực tiễn phát triển của nhiều quốc gia trong những năm gần đây cho thấy CNH –
HĐH và đô thị hóa là nhân tố quyết định làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất,
chuyển nền kinh tế từ sản xuất nông nghiệp truyền thống, tiểu nông sang phương thức sảnxuất mới hiện đại, do đó cũng làm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội nông thôn Trong nềnkinh tế hiện đại, CNH – HĐH và đô thị hóa có sự gắn bó chặt chẽ với nhau, tạo thành mộttiến trình thống nhất thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Về mặt kinh tế, CNH – HĐH
làm thay đổi phương thức sản xuất và cơ cấu nền kinh tế, chuyển nền kinh tế sang mộtbước phát triển mới về chất, đó là nền kinh tế dựa trên nền đại công nghiệp và dịch vụ
Trang 15minh mới, một phương thức phát triển mới Đó là cách thức tổ chức , bố trí lực lượng sảnxuất, cơ cấu lại nền kinh tế.
ĐTH có hai hình thức biểu hiện chủ yếu là:
1 ĐTH theo chiều rộng: Là quá trình nhờ mở rộng qui mô diện tích các đô thị hiện
có trên cơ sở hình thành các khu đô thị mới, các quận, phường mới ĐTH theo chiều rộng
là hình thức phổ biến hiện nay ở các nước đang phát triển trong thời kì đầu CNH – HĐH
2 ĐTH theo chiều sâu: Là quá trình hiện đại hóa nâng cao trình độ của các đô thị
hiện có ĐTH theo chiều sâu là quá trình thường xuyên và là yêu cầu tất yếu của quátrình tăng trưởng và phát triển Quá trình đòi hỏi các nhà quản lý đô thị, các thành phầnkinh tến trên địa bàn đô thị thường xuyên vận động và phát triển Biết tận dụng tối đanhững tiềm năng và hoạt động có hiệu quả trên cơ sở hiện đại hóa mọi lĩnh vực kinh tế -
xã hội ở đô thị
1.1.3.2 Đặc điểm chủ yếu của quá trình đô thị hóa
CNH – HĐH và ĐTH ở nước ta cũng chính là quá trình cơ cấu lại nền kinh tế theo
hướng phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ, phân bố dân cư theo hướng tăng nhanh
khối lượng dân cư sống ở khu vực thành thị và giảm mạnh số lượng , tỷ lệ dân cư sống ởkhu vực nông thôn Quá trình hình thành đô thị ở nước ta trong những năm gần đây cónhững đặc điểm chủ yếu sau:
- Hình thành các trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ trong các đô thị lớn
Sự hình thành các trung tâm có tính chất chuyên ngành trong những đô thị lớn là xu thếnhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của đô thị, là biểu hiện của tính chuyên môn hóa caotrong sản xuất kinh doanh
- Hình thành các trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ ở các vùng ngoại ô
Sự hình thành các trung tâm của mỗi vùng là một tất yếu khách quan nhằm đáp ứng nhucầu sản xuất, đời sống ngày càng tăng của chính vùng đó và là hạt nhân tỏa sang các vùng
khác Đó cũng là biểu hiện của tính tập trung hóa trong các hoạt động sản xuất kinh doanh
- Mở rộng các đô thị hiện có Việc mở rộng các đô thị hiện có theo mô hình lànsóng là xu thế tất yếu khi nhu cầu về đất xây dựng đô thị tăng và khả năng mở rộng có thể
Trang 16thực hiện tương đối dễ dàng Xu hướng này tạo sự ổn định và giải quyết các vấn đề quátải cho đô thị hiện có.
- Chuyển một số vùng nông thôn thành đô thị Đây là xu hướng hiện đại trong quátrình CNH – HĐH nông nghiệp nông thôn ở nước ta Vấn đề cơ bản là tạo nguồn tài chính
để xây dựng kết cấu hạ tầng hiện đại.Ví dụ: Khu đô thị Nam Sài Gòn
- Chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất Cả hai hình thức ĐTH đều dẫn đến chuyển đổi cơcấu sử dụng đất Hình thức ĐTH theo chiều rộng dẫn đến thu hẹp đất canh tác nhanhchóng, một phần đất do Nhà nước thu hồi để xây dựng các công trình, một phần do dân
cư bán cho chủ khác tới ở để sản xuất, kinh doanh ĐTH theo chiều sâu cũng dẫn đến tình
trạng thay đổi mục đích sử dụng đất Trong quá trình sử dụng, Nhà nước chủ động chuyển
đổi mục đích sử dụng đất nhằm tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế - xã hội
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Trong quá trình ĐTH, cơ cấu ngành kinh tế trong đôthị, trong vùng và cả nền kinh tế đều thay đổi theo hướng giảm tỉ trọng trong khu vựcnông nghiệp, tăng tỉ trọng trong khu vực CN – DV Khi đô thị mở rộng ra vùng ngoại vinhằm giải quyết vấn đề quá tải dân số, hình thành các khu dân cư đô thị ở các vùng ngoại
vi thì các hoạt động thương mại, dịch vụ phát triển, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo
hướng tăng khu vực thương mại, dịch vụ
- Thay đổi hình thái kiến trúc Hình thái kiến trúc đô thị được biểu hiện tập trung ởcác kiểu nhà ở Kiểu nhà ở phản ánh trình độ văn hóa, mức sống, đặc điểm xã hội mỗithời kì Tại các thành phố chúng ta có thể phân biệt những tòa nhà cổ và những tòa nhàmới, tại các vùng nông thôn các ngôi nhà kiểu thành thị đang dần thay thế cho nhà máingói Ở các phường mới, quận mới, khu đô thị mới những tòa nhà hiện đại đã và đang
được xây dựng
- Hình thành nhanh chóng kết cấu hạ tầng Quá trình ĐTH là quá trình hình thànhnhanh chóng kết cấu hạ tầng kĩ thuật mà bắt đầu bằng hệ thống giao thông, tiếp theo đó là
Trang 17- Thay đổi lối sống Thay đổi tập quán sinh hoạt, lối sống, phương thức kiến trúc làkết quả tất yếu của quá trình ĐTH Người dân đô thị sẽ nhanh chóng làm biến đổi tậpquán phù hợp với lối sống đô thị hiện đại.
- Thay đổi cơ cấu dân cư Trong quá trình ĐTH cơ cấu dân cư theo tuổi – giới,theo tầng lớp xã hội, theo nghề nghiệp cũng biến đổi theo Sự phân hóa giàu nghèo ngàycàng rõ nét Thu nhập của dân cư nói chung tăng lên nhưng tốc độ tăng của mỗi nhóm xãhội, mỗi nghề nghiệp khác nhau Cơ cấu giàu nghèo có quan hệ chặt chẽ với cơ cấu việclàm, nghề nghiệp của lao động
1.1.3.3 Sự cần thiết phải thu hồi đất trong quá trình đô thị hóa
Như chúng ta đã biết, ĐTH là xu thế đã, đang và sẽ diễn ra ở các vùng trên khắp cảnước Đây là một hướng đi đúng nhằm góp phần làm thay đổi bộ mặt của đất nước ta, đưanước ta thoát khỏi tình trạng là một nước nông nghiệp nghèo nàn và lạc hậu Vì vậy, lẽ dĩ
nhiên quá trình ĐTH tất yếu dẫn đến sự phân bố lại các nguồn lực trong đó có nguồn lực
về đất đai Một bộ phận đất đai, trước hết là đất nông nghiệp được chuyển sang phục vụcho việc xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất, mở rộng các khu đô thị cũ và xâydựng các khu đô thị mới, cũng như cho việc xây dựng , phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng
và các công trình công cộng phục vụ lợi ích cộng đồng, quốc gia Hiện nay, nền kinh tế
nước ta đang ở giai đoạn CNH – HĐH, ĐTH cũng đang diễn ra đồng thời cả hai quá
trình: ĐTH theo chiều rộng và ĐTH theo chiều sâu, trong quá trình này thì các thành phố,
các khu đô thị có qui mô ngày càng lớn Một loạt các thành phố, thị xã, thị trấn, các khu
đô thị được nâng cấp và hình thành các thành phố, các quận phường mới, theo đó qui mô
dân số đô thị sẽ không ngừng gia tăng Đó cũng là quá trình hình thành các trung tâmcông nghiệp, dịch vụ và các khu đô thị mới
Do vậy tất yếu sẽ dẫn đến việc thu hồi đất để mở rộng và xây dựng các khu côngnghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội Tác động này thể hiện như sau:
Trang 181 Nhờ có thu hồi đất mới có thể mở rộng qui mô và xây dựng các khu côngnghiệp, khu chế xuất, thu hút dự án đầu tư trong nước và nước ngoài cho việc phát triểnkinh tế xã hội đất nước.
2 Nhờ có thu hồi đất, chuyển đổi mục đích sử dụng nên quá trình ĐTH được đẩy mạnh
3 Tạo kiện nâng cấp và xây dựng mới khá đồng bộ và tương đối hiện đại hệ thốngkết cấu hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và an ninh – quốc phòng
4 Việc hình thành các khu công nghiệp, khu đô thị mới đã tạo điều kiện thu hút,giải quyết việc làm, giúp họ từng bước cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần củabản thân và gia đình
Như vậy, nếu CNH – HĐH và ĐTH là tất yếu khách quan đối với nước ta thì việc
thu hồi đất để phục vụ CNH – HĐH và ĐTH là vấn đề có ý nghĩa quan trọng Vì thế,trong quá trình CNH – HĐH và ĐTH, bất cứ quốc gia nào cũng thu hồi và chuyển đổimột bộ phận đất đai từ nông nghiệp sang công nghiệp và đô thị
1.1.4 Khái ni ệm về lao động, việc làm và thu nhập.
1.1.4.1 Khái niệm về lao động
Lao động là hoạt động có mục đích của con người thông qua các công cụ lao độngtác động lên đối tượng lao động nhằm biến đổi chúng thành của cải vật chất cần thiết cho
nhu cầu của mình và xã hội
Lao động là yếu tố đầu vào không thể thiếu được của mọi quá trình sản xuất, là quá
trình con người sử dụng sức lao động hay năng lực lao động bao gồm toàn bộ thể lực vàtrí lực của mình để phát động và đưa vào các tư liệu hoạt động lao động tạo ra sản phẩm
Do vậy, trong quá trình lao động, sức lao động là yếu tố tích cực và hoạt động nhiều nhất,bởi sức lao động là một trong những nguồn lực khởi đầu của quá trình sản xuất để tạo rasản phẩm hàng hóa
Lực lượng lao động hay dân số hoạt động kinh tế bao gồm toàn bộ những người đủ
Trang 19hoặc không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc Trên thực tế vẫn có một số lao động,
thường là lao động nông nghiệp mặc dù ngoài độ tuổi nhưng vẫn tham gia lao động như
thiếu niên từ 13-15 tuổi hay những người nữ trên 55 tuổi, nam trên 60 tuổi Đây là nguồn
lao động và được quy đổi theo tỷ lệ 3:1 với những người dưới độ tuổi lao động, 2:1 vớingười trên độ tuổi lao động
Dân số không hoạt động kinh tế, bao gồm toàn bộ số người từ 15 tuổi trở lên khôngthuộc bộ phận có việc làm và không có việc làm Những người này không hoạt động kinh tế vì
các lý do: đang đi học, đang làm công việc nội trợ cho bản thân hoặc gia đình, tàn tật không có
khả năng lao động, các lý do về sức khỏe, hoặc ở vào tình trạng khác
1.1.4.2 Quan niệm về việc làm
Tùy theo tình trạng việc làm mà dân số hoạt động kinh tế được chia làm 2 loại:
người có việc làm và người thất nghiệp
Theo quan niệm của tổ chức lao động quốc tế (ILO), người có việc làm là người
đang làm việc trong các lĩnh vực ngành nghề, các dạng hoạt động có ích không bị pháp
luật nghiêm cấm, đem lại thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình đồng thời góp mộtphần cho xã hội
Một định nghĩa khác cụ thể hơn thì người có việc làm là những người thuộc nhómdân số hoạt động kinh tế, mà trong tuần lễ trước điều tra người đó:
o Đang làm việc để nhận tiền lương, tiền công hoặc lợi nhuận bằng tiền công hoặc
hiện vật
o Đang làm công việc không được hưởng tiền lương hay lợi nhuận trong hoạt động
sản xuất kinh doanh của hộ gia đình mình
o Đã có công việc trước đó song tại thời điểm điều tra tạm thời không làm việc và sẽ
làm việc trở lại sau thời gian tạm nghỉ
Căn cứ vào thời gian làm việc và nhu cầu làm thêm mà người có việc làm được chia
thành 2 loại, người đủ việc làm và người thiếu việc làm
Trang 20o Người đủ việc làm bao gồm những người có thời gian làm việc trong tuần lễ trướcđiều tra lớn hơn hoặc bằng 40 giờ nhưng không có nhu cầu làm thêm hoặc số giờ
đó bằng hoặc lơn hơn số giờ quy định cho từng ngành nghề riêng biệt
o Người thiếu việc làm bao gồm những người có thời gian làm việc trong tuần lễtrước điều tra nhỏ hơn 40 giờ, hoặc số giờ làm việc nhỏ hơn quy định và có nhu
cầu làm thêm (trừ những người có thời gian làm việc dưới 8 giờ, có nhu cầu làmthêm mà không tìm được việc)
Người thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động có sức lao động nhưngchưa có việc làm, đang có nhu cầu làm việc nhưng chưa tìm được việc làm Hay thất
nghiệp là một tình trạng tồn tại một số người trong lực lượng lao động muốn làm việc
nhưng chưa tìm được việc làm ở mức tiền công đang thịnh hành
1.1.4.3 Khái niệm về thu nhập
Về bản chất, theo nghĩa rộng thu nhập gồm hai bộ phận hợp thành: thù lao cần thiết(tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp mang tính chất tiền lương ) và phần có được
từ thặng dư sản xuất (hoặc lợi nhuận) Tuy nhiên, ở phạm trù khác nhau (toàn bộ nền kinh
tế, ngành kinh tế, doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân), biểu hiện của thu nhập có những
đặc thù riêng biệt Sau đây là một số khái niệm về thu nhập của lao động:
- Theo từ điển kinh tế thị trường thì “thu nhập cá nhân là tổng số thu nhập đạt được
từ các nguồn thu khác nhau của cá nhân trong thời gian nhất định, thu nhập cánhân từ nhiều nguồn khác nhau đều từ thu nhập quốc doanh”
- Theo Robert.J.Gorden thì “thu nhập cá nhân là thu nhập mà các hộ gia đình nhậnđược từ mọi người bao gồm các khoản làm ra và các khoản chuyển nhượng Thu
nhập cá nhân khả dụng là thu nhập cá nhân trừ đi các khoản thuế cá nhân” Tómlại, thu nhập của người lao động là số tiền mà họ nhận được từ các nguồn thu và họ
được toàn quyền sử dụng cho bản thân và cho gia đình”
ệm sinh kế và các nguồn vốn tài sản
Trang 21Sinh kế là sự kết hợp những khả năng, các nguồn vốn tài sản và những hoạt độngcần thiết để duy trì cuộc sống của một cá nhân hay hộ gia đình.
Sinh kế được coi là bền vững khi có thể đương đầu và vượt qua những áp lực và sốc;
đồng thời duy trì hoặc nâng cao khả năng cũng như tài sản ở cả hiện tại và tương lai,nhưng không gây ảnh hưởng đến nguồn lực tự nhiên (Rakodi,1999)
Chiến lược sinh kế của một cá nhân hay hộ gia đình là sự kết hợp nhiều hoạt động vànhiều sự lựa chọn để nhận được các mục tiêu về sinh kế trong điều kiện không gian vàthời gian khác nhau (NCCR, 2002) Theo Ellis (2000), chiến lược sinh kế là sự kết hợpcác hoạt động nhằm tạo ra phương thức để duy trì sự tồn tại của hộ gia đình
1.1.5.2 Các loại nguồn vốn và tài sản
Vốn nhân lực: ( Human Capital )
Vốn nhân lực hay còn gọi là vốn con người bao gồm các đặc điểm cá nhân của con ngườivới tư cách là nguồn lao động xã hội được sử dụng để đạt được những kết quả sinh kế
Vốn nhân lực của một hộ gia đình có thể huy động phụ thuộc vào quy mô hộ, cấu trúcnhân khẩu – lao động, giới tính, giáo dục, kỹ năng, sức khỏe…
Vốn con người có một vị trí rất quan trọng trong các loại nguồn vốn của hộ gia đìnhbởi vì nó quyết định khả năng của một các nhân, một gia đình trong việc sử dụng và quản
lý các loại nguồn vốn khác
Vốn tài chính ( Financial Capital )
Là các nguồn lực tài chính của hộ gia đình hoặc các nhân con người có được như vốnvay, tín dụng, tiết kiệm, thu nhập, trợ cấp…
Vốn vật chất ( Physical Capital )
Là những yếu tố có tính chất “ hiện vật “ bao gồm các công trình cở sở xã hội cơ bản
và tài sản của hộ gia đình hỗ trợ cho sinh kế’
Trang 22 Vốn xã hội ( Social Capital )
Là khái niệm đề cập đến mạng lưới các mối quan hệ xã hội, các tổ chức và các nhómchính thức cũng như phi chính thức mà con người tham gia để từ đó có được những kếtquả sinh kế
Vốn tự nhiên ( Natural Capital )
Vốn tự nhiên bao gồm các nguồn lực tự nhiên mà con người phụ thuộc
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Quá trình đô thị hóa trên Thế giới và Việt Nam
1.2.1.1 Đô thị hóa ở một số nước trên thế giới
Vào năm 1900, toàn thế giới chỉ có 10% dân số sống ở đô thị Đến năm 1950, con
số này là gần 30% Vào 2007, theo thống kê của LHQ, với chừng 3,3 tỷ người trong tổng
số hơn 5,4 tỷ người, số người sống ở đô thị đã vượt ở nông thôn Xu thế này sẽ còn gia
tăng trong những năm tới, đặc biệt là tại châu Phi và châu Á, hai khu vực mà dự kiến vàonăm 2030 sẽ tập trung đa số các đô thị lớn của thế giới Lúc đó, số người sống ở thành thị
sẽ lên tới 5 tỉ người, chiếm 60% dân số toàn cầu
Các nước phát triển (như tại châu Âu, Mĩ hay Úc) thường có mức độ đô thị hóacao (trên 80%) hơn nhiều so với các nước đang phát triển (như Việt Nam hay TrungQuốc) (khoảng ~30%) Đô thị các nước phát triển phần lớn đã ổn định nên tốc độ đô thịhóa thấp hơn nhiều so với trường hợp các nước đang phát triển
Hiện nay, những khu vực phát triển nhất là những nơi có tỉ lệ đô thị hoá cao nhất:Châu Âu, Bắc Mỹ chiếm vị trí hàng đầu với ¾ dân số sống ở thành thị Điều đặc biệt làchâu Mỹ La tinh dù chưa phát triển nhưng lại có mật độ đô thị hoá rất cao, với 78% dân
số sống ở đô thị
Trên thế giới, có những vùng quốc gia bắt đầu ĐTH rất sớm và tốc độ ĐTH rất nhanh
như Seoul (Hàn Quốc) được hình thành từ 600 năm trước đây
Trang 23Thành phố Tokyo của Nhật Bản, từ năm 1960 ĐTH đã diễn ra mạnh mẽ với diện tích
2187 km2,dân số 12 triệu người chiếm trên 50% các hoạt động kinh tê- xã hội của cả nước, vàhiện tại là 1 trong những thành phố có dân số đông nhất thế giới với trên 30 triệu dân
Thành phố Bắc Kinh (Trung Quốc) ĐTH rất mạnh từ 17,6% dân số đô thị lên 29,04%
năm 1995 diện tích 1700km2, dân số hơn 17 triệu người
Ta thấy ĐTH ở các nước Châu Á diễn ra mạnh mẽ trong vòng mấy thập kỷ gần
đây đồng thời với quá trình đô thị hoá là quá trình suy giảm đất nông nghiệp, sự gia tăng
dân số đô thị cùng với sự phát triển kinh tế của các ngành phi nông nghiệp, vấn đề môi
trường trở nên bức xúc Để giảm bớt áp lực dân số đô thị và ô nhiễm môi trường, các
quốc gia đều đã qui hoạch, mở rộng các thành phố Tokyo mở rộng 7 tỉnh xung quanh(Saitama, Kanarawa, Chima, Gumma, Tochigi, Ibaraki và Yamanashi), lập vành đai xanh,hạn chế phương tiện cá nhân đi lại để giảm bớt ô nhiễm; Trung Quốc đã qui hoạch vành
đai xanh và mở rộng 12 Thành phố vệ tinh cách đều xung quanh Bắc Kinh 40 km
1.2.2 Quá trình đô thị hoá ở Việt Nam hiện nay
Quá trình đô thị hoá ở Việt Nam tuy diễn ra khá sớm, ngay từ thời trung đại với sựhình thành một số đô thị phong kiến, song do nhiều nguyên nhân, quá trình đó diễn rachậm chạp, mức độ phát triển dân cư thành thị thấp
Thập kỷ cuối thế kỷ XX mở ra bước phát triển mới của đô thị hoá ở Việt Nam Đặcbiệt, sau khi Quốc hội Việt Nam ban hành Luật Doanh nghiệp (năm 2000), Luật Đất đai
(năm 2003), Luật Đầu tư (năm 2005); Chính phủ ban hành Nghị định về Qui chế khu
công nghiệp, khu chế xuất (năm 1997)… nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài tăng vọt, gắn theo đó là sự hình thành trên diện rộng, số lượng lớn,
tốc độ nhanh các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu đô thị mới và sự cải thiện đáng kểkết cấu hạ tầng ở cả thành thị và nông thôn Làn sóng đô thị hoá đã lan toả, lôi cuốn và tác
động trực tiếp đến nông nghiệp, nông thôn, nông dân
Trang 24Những năm qua, hệ thống đô thị Việt Nam đang trong quá trình phát triển Đếncuối năm 2007, cả nước có trên 700 điểm cư dân đô thị, tăng hơn 40% so với năm 1995.Bên cạnh những đô thị có bề dày lịch sử tiếp tục được mở mang, nâng cấp, đáng chú ý là
sự xuất hiện ngày càng nhiều các khu đô thị mới tập trung, trong đó hệ thống các thị trấn,thị tứ ngày càng toả rộng, tạo thành những nét mới ở nông thôn
Trong nền kinh tế, các đô thị đóng góp 2/3 giá trị của tổng thu nhập và chiếm 30%tổng số dân Ngày nay sự thay đổi của nền kinh tế đã tạo điều kiện cho các đô thị pháttriển mạnh mẽ Tính đến giữa năm 2008, trên phạm vi cả nước đã có gần 200 khu côngnghiệp, phân bố trên địa bàn 52 tỉnh, thành phố với trên 6.000 dự án đầu tư trong, ngoài
nước, thu hút hơn 1.000.000 lao động Phần lớn diện tích các khu công nghiệp, khu chế
xuất là đất nông nghiệp và lực lượng chủ yếu bổ sung vào đội ngũ lao động công nghiệp
là nông dân
1.2.3 Tác động của ĐTH
1.2.3.1 Tác động tích cực
ĐTH phát triển đã tạo đà cho nền kinh tế Việt Nam sớm hội nhập với nền kinh tế thế
giới, mở ra cho đất nứơc ta rất nhiều cơ hội để cùng sánh vai với các cường quốc năm châu
Điều đó đồng nghĩa với việc người dân Việt Nam sẽ dần thoát khỏi được nghèo đói và nâng
cao mức sống về mọi mặt Qua sơ đồ dưới đây chúng ta thấy tầm quan trọng của ĐTH
Trang 25Sơ đồ thể hiện vai trò và tác động tích cực của quá trình đô thị hóa
1.2.3.2 Tác động tiêu cực
V ấn đề di cư
Là nước nông nghiệp đang trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa với sự phát
triển mạnh mẽ của các đô thị, khu công nghiệp thì di dân đến thành phố là một hiện tượngkinh tế- xã hội mang tính quy luật, là một đòi hỏi tất yếu khách quan trong nền kinh tế thị
trường, nhưng đồng thời cũng là biểu hiện của sự phát triển không đồng đều giữa các
vùng miền của đất nước
Bản chất của việc di dân đến thành phố là sự dịch chuyển từ vùng ít cơ hội pháttriển đến vùng có cơ hội phát triển hơn, đặc biệt là vùng có nhiều cơ hội về việc làm vàthu nhập Trên thực tế cho ta thấy ở những vùng nông thôn, miền núi là những vùng màcòn nghèo nàn, lạc hậu về nhiều thứ như : thu nhập thấp, việc làm thì vất vả quanh năm
Thu hút vốn đâu tư và sự
Phân bố của DNo mới
Mở rộng qui mô và PTr
Các ngành DV đáp ứng
Nhu cầu SX và đời sống
Tạo ra các ngoại ứng Tới các hoạt động KT
Phát triển các ngành
SX Đáp ứng nhu cầu Đầu vào của CN
Cung cấp kết Cấu hạ tầng Tốt hơn cho
SX và đời Sống
Tăng nguồn Thu cho Ngân sách Nâng cao phúc lợi XH
Cho các vùng
Trang 26chân lấm tay bùn, công nghệ thông tin thì chưa phát triển, các dịch vụ về văn hóa cũng
như y tế còn nhiều hạn chế đó chính là lực đẩy tạo ra sức ép dịch chuyển lao động Còn
lực hút đối với những lao động là chốn phồn hoa đô thị, nơi mà có nhiều cơ hội tìm việclàm, mọi người có thể tiếp cận dễ dàng đối với các dịch vụ xã hội
Theo tổng cục thống kê, số người di cư (từ 5 tuổi trở lên) trong cả nước thời kỳ1994-2005 khoảng trên 12 triệu người, bằng 14,9% dân số, bình quân hàng năm số người
di cư bằng 1,3% dân số (khoảng 1,1 triệu người); Trong đó di cư đến đô thị là trên 3,9
triệu người (chiếm 32 %) Dòng di cư nông thôn - thành thị chủ yếu đến các thành phốlớn, khu công nghiệp
Vấn đề xã hội của lao động di cư nổi lên khá gay gắt Kết quả điều tra di cư lao
động năm 2004 cho thấy 80 % lao động di cư chỉ đăng ký tạm trú, không có hộ khẩu kéotheo đó là các khó khăn về tiếp cận nhà ở, học tập cho con cái, chữa bệnh và các phúc lợi
xã hội khác Gần ½ số người di cư lao động trả lời rằng họ có khó khăn sau khi chuyển
đến nơi ở mới (riêng Tây Nguyên 80 % trả lời là khó khăn, Hà Nội từ 20-31 %); 1/3 trả
lời rằng có khó khăn về nguồn thu nhập và tình trạng nhà ở xấu hơn trước ( TPHCM là 52
% ); Khoảng ½ trả lời sức khỏe kém đi sau khi chuyển đến; Khoảng 20 % con em lao
động di cư không đi học, 87% người di cư ở Hà Nội không tham gia đoàn thể xã hội nào.Đặc biệt vấn đề xã hội của lao động di cư đến các KCN rất bức xúc, do phát triển các
KCN không gắn với giải quyết các vấn đề xã hội và vấn đề phúc lợi xã hội ngoài KCN
đặc biệt là vấn đề nhà ở, văn hóa, vui chơi giải trí
Tính đến năm 2005, có khoảng 20 triệu người sống ở đô thị nhưng đến năm 2020,
con số này sẽ là khoảng 70 triệu người Điều này cũng đồng nghĩa, chúng ta phải lo cho
50 triệu dân cư đô thị có nhà ở, việc làm và các dịch vụ đời sống khác Hay tính theo quỹ
đất cứ 100m2/đầu người thì cần tới 500 nghìn héc-ta đất dành cho đô thị, trong đó, theo số
liệu của Hiệp hội Đô thị Việt Nam dự báo, chỉ riêng về dịch vụ tối thiểu cho 3 hạng mục
Trang 27Mục tiêu đề ra diện tích bình quân đầu người là 100m2/người Nếu đạt tỉ lệ
100m2/người Việt Nam cần có khoảng 450.000 ha đất đô thị nhưng hiện nay, diện tíchđất đô thị hiên nay vẫn đang ở quy mô 105 000 ha
Do vậy, tình trạng thiếu nhà ở cho dân thành thị đang diễn ra trầm trọng Tìnhtrạnh nhà ở chật chội, nhà tạm còn chiếm phần nhiều và tồn tại 2 thành phố lớn của cả
nước là phổ biến nhất Theo thống kê Tp.HCM còn có 300.000 người đang sống trong các
nhà ổ chuột, 30% dân số Hà Nội phải sống trong môi trường chật chội với diện tích ởkhông quá 3m2/người
Vì vậy nhà nước cần có những chính sách cần thiết và cấp bách nhất để có thể giảiquyết vấn đề, đạt được mục tiêu xoá đói giảm nghèo, công nghiệp hoá - hiên đại hoá đất nước
V ấn đề thu hồi đất nông nghiệp.
Như chúng ta đã biết để hình thành nên những khu công nghiệp, khu đô thị thì cần
rất nhiều nguồn lực của đất nước, trong đó có nguồn lực về đất đai mà chủ yếu là đất nôngnghiệp Vì vậy một diện tích đất nông nghiệp bị mất đi để phục vụ cho mục đích trên là
điều không thể tránh khỏi trong quá trình CNH-HĐH
Đất đai cũng như các nguồn lực khác, nếu không có thì không thể tiến hành sản
xuất đối với tất cả các ngành kinh tế Song đất đai không giống các nguồn lực khác ở chỗ
đất đai là sản phẩm tự nhiên, có giới hạn và không thể thay thế được Nhất là đối với sản
xuất nông nghiệp thì đất đai là nguồn lực quan trọng nhất Hiện nay cùng với tốc độ đô thịhoá của đất nước thì diện tích đất nông nghiệp còn bị thu hẹp lại Trong những năm qua,việc thu hồi đất để chuyển đổi mục đích sử dụng trên khắp cả nước cũng như ở một sốthành phố trọng điểm tăng cao và điều này sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến việc làm và thunhập của người dân trước đây luôn gắn bó với nghề nông
Là một nước nông nghiệp, Việt Nam có tới hơn 70% số dân là nông dân nhưngdiện tích đất dùng cho sản xuất nông nghiệp rất hạn chế Theo số liệu thống kê, Việt Nam
có khoảng 9,42 triệu ha đất nông nghiệp với dân số 86 triệu người (số nông dân ước tính
Trang 28hơn 60 triệu người) Ðất giành cho trồng lúa là 4,1 triệu ha, bình quân mỗi nông dân có
khoảng 480 m2đất canh tác, chỉ bằng 1/4 của nông dân Thái Lan
Chỉ tính từ 5 năm trở lại đây, theo báo cáo của 49 tỉnh, thành phố (số còn lại không
báo cáo) đã lấy đi 750.000 ha đất để thực hiện 29.000 dự án đầu tư, trong đó có tới 80%
là đất nông nghiệp Khoảng 50% diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi nằm trong vùngkinh tế trọng điểm mỗi năm hai vụ lúa "Phong trào" xây sân golf dồn dập trong hai nămnay, nếu như trong 16 năm chỉ cấp phép cho 34 dự án sân golf, thì có 2 năm (2006 - 2008)
đã cấp 104 dự án, tức là cứ bình quân một tuần lại "mọc" 1 sân golf mới Hiện cả nước có
141 sân golf ở 39 tỉnh, thành, sử dụng tới 49.268 ha, trong đó có 2.625 ha đất “bờ xôiruộng mật”
Theo quy hoạch sử dụng đất của Bộ Tài nguyên - Môi trường (TN-MT), diện tích
đất nông nghiệp sẽ tăng từ 8.973.783 ha của năm 2000 lên 9.363.063 ha vào năm 2010
Tuy nhiên, quy hoạch này khó thành hiện thực bởi các nghiên cứu khác cho thấy, đấtnông nghiệp đang bị thu hẹp dần, thay vào đó là các KCN, KĐT mới Thống kê của BộTN-MT, trong 7 năm từ 2001-2007, tổng diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi chuyển
sang đất phi nông nghiệp lên đến hơn 500.000 ha, chiếm hơn 5% đất nông nghiệp đang sử
dụng Đặc biệt, việc đất nông nghiệp bị thu hồi và chuyển sang mục đích đô thị hóa vàcông nghiệp hóa năm sau luôn tăng cao hơn năm trước Chỉ tính riêng trong năm 2007,diện tích đất trồng lúa cả nước đã giảm 125.000 ha
Trong 5 năm, từ năm 2001-2005, tổng diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi là 366,44
nghìn ha (chiếm 3,89% đất nông nghiệp đang sử dụng) Trong đó, diện tích đất nông nghiệp đãthu hồi để xây dựng các khu công nghiệp và cụm công nghiệp là 39,56 nghìn ha, xây dựng đôthị là 70,32 nghìn ha và xây dựng kết cấu hạ tầng là 136,17 nghìn ha
Các vùng kinh tế trọng điểm là khu vực có diện tích đất nông nghiệp thu hồi lớnnhất, chiếm khoảng 50% diện tích đất thu hồi trên toàn quốc Những địa phương có diện
Trang 29Theo số liệu điều tra của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tại 16 tỉnh trọng
điểm về thu hồi đất, diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi chiếm khoảng 89% và diện tíchđất thổ cư chiếm 11% Đồng bằng sông Hồng là vùng có diện tích đất bị thu hồi lớn nhất,
chiếm 4,4% tổng diện tích đất nông nghiệp, tỷ lệ này ở Đông Nam Bộ là 2,1%, ở nhiềuvùng khác dưới 0,5%
Việc thu hồi đất nông nghiệp trong 5 năm (2003-2008) đã tác động đến đời sốngcủa hơn 627 nghìn hộ gia đình, với khoảng 2,5 triệu người Mặc dù quá trình thu hồi đất,
các địa phương đã ban hành nhiều chính sách cụ thể đối với người nông dân như bồithường, hỗ trợ giải quyết việc làm, đào tạo chuyển đổi nghề, hỗ trợ tái định cư tuy nhiên
trên thực tế có tới 67% số lao động nông nghiệp vẫn giữ nguyên nghề cũ sau khi bị thuhồi đất, 13% chuyển sang nghề mới và có tới 25 đến 30% số lao động không có việc làmhoặc có việc làm nhưng không ổn định Thực trạng này cũng là nguyên nhân dẫn đến kếtquả 53% số hộ nông dân bị thu hồi đất có thu nhập giảm so với trước kia, chỉ có 13% số
hộ có thu nhập tăng hơn trước Trung bình mỗi hộ bị thu hồi đất có 1,5 lao động rơi vàotình trạng không có việc làm và mỗi ha đất bị thu hồi sẽ làm mất việc 13 lao động
Trung bình, đất trồng lúa ở nước ta chỉ khoảng 0,1ha/người Nếu 2.625ha là đất lúamất đi, sẽ có hơn 2,6 triệu nông dân mất việc Cho đến năm 2006, đất trồng lúa đã giảm318.400ha so với năm 2000, chỉ tính riêng trong năm 2007, diện tích đất trồng lúa cả
nước đã giảm 125.000ha Chủ trương của Chính phủ là không lấy đất lúa để làm sân golf
Tuy nhiên, sau khi giao quyền cấp phép sân golf về cho các tỉnh, trong số 2.625ha đất lúa
đã bị trưng dụng, không ai trả lời được có bao nhiêu phần trăm là số đất trồng lúa Ở các
tỉnh đồng bằng xây sân golf, tất yếu phải thu hồi đất trồng lúa
Một sân golf được xây dựng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của vài trăm hộnông dân với 2.000 nhân khẩu Như vậy, nếu bình quân ở mỗi tỉnh cho xây dựng khoảng
3 – 4 sân golf với diện tích 150 ha/sân thì đất nông nghiệp của cả nước sẽ mất đi hơn30.000 ha, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của vài trăm ngàn nhân khẩu
M ặt trái của thu hồi đất nông nghiệp.
Vấn đề đền bù
Trang 30Việc thực hiện định giá đền bù đất cũng như tài sản trên đất chưa phù hợp với giá thị
trường và khu tái định cư Theo thống kê của Cơ quan an ninh, ở VN có đến 70 - 80% số vụ
việc khiếu kiện, thắc mắc, tranh chấp trong đời sống xã hội liên quan đến đất đai Đại đa số các
vụ khiếu kiện đông người, phức tạp, khó giải quyết cũng liên quan đến đất đai Chính sách đền
bù đất thu hồi phục vụ ĐTH, CNH tại các địa phương chưa bám sát giá thị trường như LuậtĐất đai quy định mà thông thường chỉ bằng 20 - 30% giá thị trường
Vấn đề việc làm
Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, việc thu hồi đất nôngnghiệp trong 5 năm (2003-2008) đã tác động đến đời sống của trên 627.000 hộ gia đìnhvới khoảng 950.000 lao động và 2,5 triệu người
Mặc dù các địa phương đã ban hành nhiều chính sách cụ thể như bồi thường, hỗtrợ giải quyết việc làm, đào tạo chuyển đổi nghề, hỗ trợ tái định cư đối với nông dân bịthu hồi đất nhưng trên thực tế 67% lao động nông nghiệp vẫn giữ nguyên nghề cũ saukhi bị thu hồi đất, 13% chuyển sang nghề mới và có tới 25 - 30% không có việc làm hoặc
có việc làm nhưng không ổn định
Dư thừa lao động
Kết quả là 53% số hộ dân bị thu hồi đất có thu nhập giảm so với trước đây Chỉ cókhoảng 13% số hộ có thu nhập tăng hơn trước Trung bình mỗi hộ bị thu hồi đất có 1,5
lao động rơi vào tình trạng không có việc làm và mỗi ha đất nông nghiệp bị thu hồi có tới
13 lao động mất việc làm, phải chuyển đổi nghề nghiệp
Điều đáng nói là lao động nông thôn chiếm tới tỷ trọng lớn trong tổng lao động cảnước nhưng lại tập trung chủ yếu trong ngành nông nghiệp, nơi tạo ra năng suất lao động
thấp nhất và cũng là nơi quỹ đất canh tác đang ngày càng bị thu hẹp và giảm dần do rấtnhiều nguyên nhân
Hậu quả tất yếu là dư thừa lao động và thiếu việc làm tại các vùng nông thôn Theo
Trang 31Trung bình mỗi ha đất nông nghiệp thu hồi ở vùng đồng bằng sông Hồng, có 15,33
người bị mất việc làm, cá biệt có địa phương như Hà Nội, 1 ha đất thu hồi có tới gần 20lao động bị mất việc làm
Tuy nhiên, đáng lo là chất lượng lao động nông thôn còn thấp, cả về trình độ vănhóa lẫn chuyên môn kỹ thuật Có đến trên 83% lao động nông thôn chưa từng qua trườnglớp đào tạo chuyên môn kỹ thuật nào và khoảng 18,9% lao động nông thôn chưa tốtnghiệp tiểu học trở xuống Vì vậy khả năng chuyển đổi nghề nghiệp, tìm kiếm hoặc tự tạoviệc làm tốt hơn đối với nhóm lao động này là không đơn giản
Về cầu lao động, kinh tế trang trại cũng như doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nông thônphát triển còn khiêm tốn, mới chỉ tập trung ở các làng nghề và cũng chỉ giới hạn ở một số
địa phương nhất định mà chưa lan tỏa đến nhiều vùng lân cận
Bên cạnh đó, các kênh thông tin việc làm và giao dịch ở nông thôn chưa pháttriển, người lao động tìm việc chủ yếu thông qua người trong gia đình, họ hàng hay bạn
bè thân quen
Vẫn còn nhiều vấn đề bất cập trong quản lý nhà nước về chuyển đổi nghề nghiệpcho nông dân mất đất Kế hoạch phát triển khu công nghiệp không gắn với kế hoạch đàotạo nghề cho nông dân Một số trung tâm đào tạo nghề cho nông dân chỉ biết đào tạo,không biết nhu cầu thị trường, không biết sau đào tạo nông dân có được nhận vào làm ởcác khu công nghiệp hay không Tại Hà Nội, một số lao động mất đất được đào tạo bằngnguồn vốn của Nhà nước, tỷ lệ sau đào tạo được nhận vào làm việc là 33%, bằng vốn của
gia đình là 45,6%
Vấn đề an ninh lương thực
Theo FAO, ANLT được hiểu trên các khía cạnh sau: khả năng đáp ứng nhu cầungày càng cao của nhân dân; mức độ ổn định cung cấp lương thực về số lượng, thời gian,giá cả chất lượng trong mọi điều kiện; khả năng kinh tế mua được lương thực thực phẩmcần thiết duy trì sức khỏe, nâng cao chất lượng nòi giống; đảm bảo chất lượng vệ sinh antoàn thực phẩm để đảm bảo sức khỏe, cân đối dinh dưỡng
Trang 32Theo Bộ NN&PTNT, giai đoạn 2009 - 2030, do 500 ngàn héc ta đất lúa có khả
năng bị chuyển đổi sang mục đích khác sẽ gây áp lực đối với an ninh lương thực quốc gia
và nhu cầu xuất khẩu trong tương lai Diện tích đất trồng lúa lại đang giảm một cáchnhanh chóng Vậy, liệu đó có đủ để đảm bảo an ninh lương thực của nước ta không?
Theo điều tra mới đây của Bộ NN&PTNT tại 16 tỉnh, thành trọng điểm: Diện tíchđất nông nghiệp bị thu hồi chiếm khoảng 89%, hầu hết là đất lúa, với diện tích như vậy,
mỗi năm có thể làm giảm sản lượng trên 1 triệu tấn lúa
TS Nguyễn Văn Ngãi (ĐH Nông lâm TP HCM) cho rằng, với đà này đến năm
2020 sản lượng lúa của Việt Nam chỉ còn đảm bảo nhu cầu tiêu thụ trong nước, chứkhông có khả năng xuất khẩu
Đến nay: Bình quân lương thực theo đầu người cả nước khoảng 20kg/năm, như vậy đã
an ninh chưa? Kinh nghiệm thế giới là chưa, phải ở mức 500kg/năm mới đảm bảo được
Đất đai có ý nghĩa cực kỳ quan trọng với người nông dân, tạo nên nét văn hóa làng
xã gắn bó cộng đồng dân cư nông thôn Vì thế khi đất đai bị thu hồi làm thay đổi bộ mặtlàng xã, cuộc sống có nhiều xáo trộn, sự thay đổi diễn ra nhanh chóng khiến người dânkhông thể bắt kịp với cuộc sống mới
Trang 33- Phương pháp điều tra chọn mẫu:
Căn cứ vào địa bàn của huyện Nghi Xuân cũng như thực trạng thu hồi đất
nông nghiệp của các hộ nông dân, tôi chọn 2 xã của huyện Nghi Xuân trong đó 30 hộ
bị thu hồi đất nông nghiệp của xã Xuân Thành và 30 hộ bị thu hồi đất nông nghiệpcủa xã Xuân Hoa (đây là hai xã có diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi lớn nhất củahuyện) Trong 60 hộ của hai xã tôi chọn 37 hộ có diện tích đất nông nghiệp bị thuhồi chiếm >50% tổng diện tích đất nông nghiệp của hộ, 13 hộ có diện tích đất nông
bị thu hồi chiếm 50 – 70 % tổng diện tích đất nông nghiệp của hộ 10 hộ còn lại lànhững hộ có diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi chiếm 70 – 100% tổng diện tích đấtnông nghiệp của các hộ
Chọn mẫu điều tra: Tổng số mẫu điều tra phục vụ đề tài là 60 mẫu, các mẫu nàyđược điều tra theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên không lặp
Nội dung điều tra: Được phản ánh qua phiếu điều tra đã xây dựng sẵn
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Dựa vào số liệu điều tra của phòng thống kê huyện, niên giám thống kê, số liệu củacác phòng chức năng của Ủy ban nhân dân huyện Nghi Xuân, hai xã Xuân Thành, XuânHoa và phòng Nông nghiệp huyện Nghi Xuân, phòng Tài Nguyên và Môi Trường
Các tạp chí, các loại báo liên quan,
- Phương pháp phân tích thống kê:
+ So sánh sự biến động các chỉ tiêu qua 3 năm ở huyện Nghi Xuân
+ So sánh tác động của thu hồi đất nông nghiệp đến các nhóm hộ điều tra
- Phương pháp chuyên gia chuyên khảo:
Tham khảo ý kiến của giáo viên hướng dẫn, đồng thời thu thập và tham khảo ý kiếncủa các cán bộ ở các phòng Nông Nghiệp, Tài Nguyên và Môi Trường, và những nôngdân có kinh nghiệm và am hiểu về lĩnh vực nghiên cứu
1.2.4.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá việc làm và thu nhập của lao động
Để đánh giá thực trạng việc làm và lao động, trong quá trình nghiên cứu tôi sử
dụng một số hệ thống chỉ tiêu sau:
1.2.4.2.1 Tỷ lệ thất nghiệp của lao động
Trang 34Tỷ lệ thất nghiệp của lao động là tỷ số giữa người thất nghiệp so với lực lượng lao
động Tỷ lệ thất nghiệp lao động được tính theo công thức:
Tn= Tm /Llđ
Trong đó:
+ Tn: tỷ lệ thất nghiệp của lao động (%)
+ Tm: tổng số lao động thất nghiệp (người)
+ Llđ: lực lượng lao động
Tỷ lệ thất nghiệp là chỉ tiêu được sử dụng ở tất cả các nước thực hiện theo cơ chế thị
trường Chỉ tiêu này phản ánh tình hình lao động, việc làm, vấn đề giải quyết công ăn việc làmcho người lao động ở mỗi quốc gia hay mỗi địa phưong Nhưng thất nghiệp lại được phân ra:
thất nghiệp công khai, bán thất nghiệp hay thất nghiệp mùa vụ vì vậy ngoài chỉ tiêu trên, khóaluận còn sử dụng chỉ tiêu tỷ suất quỹ thời gian lao động trong năm
1.2.4.2.2 Thu nhập bình quân của một lao động trong năm
Thu nhập của một lao động nông thôn là một thu nhập của nông hộ Do đó, chúng
ta phải xác định thu nhập của họ được tính theo công thức:
Thu từ thu từ sản thu từ thu từ các khoảnThu nhập = tiền lương + xuất nông, + sản xuất kinh + thu khác được tính
tiền công lâm, ngư doanh Nn – Dv vào thu nhập
Trong đó:
- Thu từ tiền lương bao gồm:
+ Tiền lương, tiền công ( không kể BHXH)
+ Phụ cấp làm thêm giờ , ăn trưa, nghỉ trưa, ăn giữa ca, phụ cấp
+ Phụ cấp độc hại
+ Thưởng và các khoản khác
+ Các khoản trợ cấp
Trang 35Thu nhập từ Tổng thu từ Chi phí
sản xuất nông, = nông, lâm, - sản xuất nông,
lâm, ngư nghiệp ngư nghiệp lâm, ngư nghiệp
Chi phí sản xuất Chi phí chi phí các khoản các khoảnnông, lâm, = vật + dịch + chi + đã
ngư nghiệp chất vụ khác nộp
- Thu nhập từ sản xuất kinh doanh nghề dịch vụ
Thu nhập từ tổng thu từ các chi phí sản xuất
sản xuất kinh = hoạt động sản xuất - kinh doanh ngành nghề
doanh Nn-Dv kinh doanh Nn-Dv dịch vụ và thuế phí
- Các khoản thu được tính vào thu nhập nông nghiệp:
+ Giá trị hiện vật và tiền của người gửi về cho,biếu, mừng, giúp
+ Lương, hưu, trợ cấp mất sức, trợ cấp mất việc một lần
Trang 36CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ TÁC ĐỘNG
CỦA NÓ ĐẾN SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN HUYỆN NGHI XUÂN
2.1 Tình hình cơ bản của huyện Nghi Xuân.
2.1.1 Điều kiện tự nhiên:
Nghi xuân là huyện nằm về phía Bắc của Tỉnh Hà Tĩnh, cách Thành Phố Hà Tĩnh50km và cách thị xã Hồng Lĩnh 20km về phía bắc, cách thành phố Vinh (Nghệ An ) 10
km về phía nam, có quốc lộ 1A đi qua với chiều dài khoảng 11km
Có vị trí địa lý 18031’00”– 18045’00”Vĩ độ Bắc
105039’00”- 105051’00” Kinh độ Đông
- Phía Bắc giáp Thành Phố Vinh tỉnh Nghệ An
- Phía Nam giáp Thị Xã Hồng Lĩnh và huyện Can Lộc
- Phía Tây giáp huyện Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An
- Phía Đông giáp Biển Đông
Toàn huyện có 19 đơn vị hành chính với 17 xã và 2 Thị Trấn với tổng diện tích tựnhiên 21888,35 ha, chiếm 3,64% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Thị trấn Nghi Xuân là
trung tâm văn hóa – kinh tế- chính trị của huyện, cách Thành Phố Vinh 10km về phía
Nam, cách Thị Xã Hà Tĩnh 50 km về phía Bắc Nghi Xuân có bờ biển dài 32 km, sôngLam chảy phía Bắc huyện với chiều dài qua huyện là 28 km, đường quốc phòng 22-12 nối
từ ngã 3 Thị Trấn Nghi Xuân và chạy xuyên qua các xã ven biển của huyện đến các xãcủa huyện Can Lộc, Thạch Hà và Thành Phố Hà Tĩnh Đường quốc lộ 8B nối với quốc lộ8A từ ngã tư trung tâm Thị Xã Hồng Lĩnh đến Cảng Xuân Hải Huyện lại gần một sốcảng sông ( Bến Thủy, Xuân Hội ) và cảng biển (Cửa Lò ) Với vị trí như vậy nên rấtthuận lợi cho giao lưu, thông thương với các tỉnh các trung tâm kinh kế
Nghi xuân có địa hình đặc trưng của tỉnh Hà Tĩnh cũng như của khu vực miền trung(địa hình nghiêng từ Tây Nam sang Đông Bắc), phía Tây Bắc dọc theo ranh giới của tỉnh
Trang 37Về cơ bản địa hình Nghi Xuân được chia làm 3 vùng đặc trưng:
- Vùng 1 : Bao gồm vùng phù sa sông Lam và cát biển phía Bắc Đây là vùng có giátrị kinh tế lớn nhất của huyện, địa hình tương đối bằng phẳng Bao gồm 10 xã Là
vùng có điều kiện tương đối thuận lợi cho việc trồng cây lương thực,cây hoa màu
ngắn ngày và và phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm
- Vùng 2: Thuộc dãy núi Hồng Lĩnh diện tích khoảng 5000 ha nằm về phía nam, đây
là những dãy núi có độ dốc lớn, ven dưới các chân núi, eo núi có nhiều khe rạch
nên các địa phương đã tận dụng để xây dựng 14 hồ đập lớn nhỏ phục vụ cho sản
xuất nông nghiệp Ngoài sản xuất nông lâm kết hợp, chăn nuôi, thế mạnh của vùng
là phát triển lâm nghiệp và du lịch sinh thái
- Vùng 3: Là vùng cồn cát bãi cát kéo dọc theo bờ biển tạo bởi các dãy núi đụn cát,
các úng trúng, địa hình hơi nghiêng về hướng tây, tây bắc với bề rộng từ
500-200m Do có cửa sông, cửa lạch tạo thành các bãi ngập mặn có thể nuôi trồng thủyhải sản Vùng này có tiềm năng phát triển kinh tế biển và dịch vụ du lịch nghỉ mát
2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
Năm 2010 là năm cuối cùng thực hiện kế hoạch nhà nước 5 năm ( 2006-2010 ) và
Nghị Quyết Đại hội huyện Đảng bộ làn thứ XIX Trong bối cảnh cả nước, trong tỉnh vàhuyện nhà diễn ra nhiều sự kiện trọng đại như: Đại hội đảng các cấp, kỷ niệm 80 nămngày thành lập Đảng, 65 năm ngày thành lập nước, 120 ngày sinh Chủ Tịch Hồ Chí Minh,
245 năm ngày sinh đại thi hào Nguyễn Du…Đảng bộ và nhân dân huyện nhà đã nỗ lực
phấn đấu, vượt qua khó khăn thử thách dành được kết quả toàn diện, đồng đều trên tất cảcác lĩnh vực; Đời sống của nhân dân không ngừng được nâng cao
2.1.2.1 Lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp
a) Nông nghiệp: Năm 2010 diễn biến thời tiết vô cùng phức tạp, đầu năm thì hạn
hán kéo dài, tiếp đến thì mưa bão diễn ra dồn dập, đặc biệt là trận lũ lịch sử đợt tháng 10
năm ngoái đã tàn phá hầu như mọi thứ của người nông dân Ảnh hưởng tới việc thực hiện
các chỉ tiêu nông nghiệp mà toàn huyện đã đề ra
Trang 38 Trồng trọt:
Tổng diện tích gieo trồng 11583,6 ha đạt 85% kế hoạch so với cùng kỳ Trong đódiện tích lúa cả năm 5410 ha, đạt 92% kế hoạch so với cùng kỳ Diện tích Lạc 2167,5 ha
đạt 98,5% kế hoạch
Tổng sản lượng lương thực 17758 tấn đạt 95,98% kế hoạch so với cùng kỳ Sản
lượng Lạc 3463,8 tấn đạt 87,86 % kế hoạch so với cùng kỳ Do hạn hán kéo dài diện tích
gieo trồng vụ hè thu giảm 300 ha, lũ lụt đã cuốn trôi 200 ha lúa và rau màu
Tổng đàn gia cầm 410000 con đạt 97,7% so với cùng kỳ
b ) Lâm nghiệp: Hoàn thành cơ bản các chỉ tiêu về trồng rừng tập trung 200,9 ha ( trong
đó dự án 661: 182,5 ha ; Chương trình hội chữ thập đỏ tài trợ 18,5 ha và 51 vạn cây phân tán
khác ) Công tác bảo vệ và phòng chống cháy rừng được quán triệt sâu rộng trong nhân dân.Nhìn chung công tác phòng và chữa cháy rừng luôn được nhân dân và các cấp bộ ngành quan
tâm Trong năm tuy có một số vụ cháy rừng nhưng thiệt hại là không đáng kể ( thiệt hại do
cháy rừng gây ra ước tính là 1,2 ha rừng trồng và 6 ha rừng tự nhiên)
c) Ngư nghiệp: Về nuôi trồng thủy sản do thời tiết nắng nóng kéo dài và đợt lũ lịch
sử đã gây khó khăn cho việc nuôi thả, lượng tôm nuôi trồng năm nay bị bệnh nặng nên đã
ảnh hưởng đến năng suất sản lượng Tổng sản lượng khai thác và nuôi trồng hải sản trongnăm là 7521 tấn đạt 100,3 % so với cùng kỳ, trong đó sản lượng nuôi trồng thực hiệnđược 1033 tấn đạt 77,1 % so với cùng kỳ Giá trị tổng sản lượng ngành hải sản đạt 87,1 tỷđồng Tiến trình quy hoạch và sửa đổi một sô diện tích trồng lúa cho năng suất thấp, sang
Trang 392.1.2.2 Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp
Nhìn chung tình hình sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp còn kém pháttriển, khó khăn về thị trường tiêu thụ, các sản phẩm làm ra chủ yếu là vật liệu xây dựng
như : đá 21000m2, cát sỏi 85000 m3, gạch xây dựng 29000 triệu viên, chiếu cói 70000m2 ,chế biến nước mắm 630000 lít còn mang tính tự cung, tự cấp chưa đủ sức cạnh tranh vớithị trường Trong năm đã thu hút, hình thành 3 cơ sở xây dựng, dự toán vào khai thác sảnxuất đá khoáng 20 tỷ đồng, đưa về 2 xã Xuân Yên và Xuân Trường nhũng ngành nghềmới, tạo việc làm cho gần 200 lao động Gía trị sản xuất – tiểu thủ công nghiệp ( ngoàiquốc doanh ) năm 2010 thực hiện 62,2 tỷ đồng trên kế hoạch 52,5 tỷ đồng Công tác quản
lý nhà nước về điện thực hiện tương đối tốt
2.1.2.3 Giao thông – xây dựng cơ bản – bưu điện
a) Giao thông: Tổ chức nhiều đợt giao thông thủy lợi đã phát quang mở rộng hành
lang giao thông là 6,5 km; Đào đắp tu sửa hệ thống giao thông ở xã hành ngàn m3 đá
Nâng cấp tuyến đường đi vào mộ Nguyễn Du, tu sửa một số đoạn đường 22/12; Một số
xã thị trấn đã tập trung làm đường nhựa, bê tông hóa đường nông thôn hầu như trên mọituyến đường liên thôn của các xã với chiều dài 345km Tiếp tục tổ chức thực đề án 339 vềbảo đảm trật tự an toàn giao thông trên các tuyến đường giao thông nông thôn Tập trung
xử lý an toàn giao thông Tăng cường tuần tra, kiểm soát các hành vi vi phạm an toàn giaothông, từng bước kiềm chế tai nạn giao thông có chiều hướng giảm cả về số vụ
b ) Xây dựng cơ bản: Đã tăng cường công tác kiểm tra uốn nắn kịp thời những sai
sót trong thi công xây dựng các công trình, dự án đầu tư Qua công tác thanh tra, kiểm tra,thẩm tra quyết toán vốn đầu hoàn thành đã hạn chế được thất thoát trong XDCB hàng
trăm triệu đồng ( Chỉ tính riêng phần huyện thẩm, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư hoàn
thành 64 công trình
Trong đó : + Nguồn vốn ngân sách nhà nước : 71.68644 tỷ đồng
+ Ngân sách xã và đóng góp của nhân dân 95.89537 tỷ đồng
Trang 40- Khối lượng thực hiện trong năm đạt 128.63942 tỷ đồng
c) Bưu điện: Đảm bảo thông tin liên lạc kịp thời, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ thông
tin cho mọi đối tượng
Số thuê bao điện thoại cố định đạt bình quân 12 máy /100 dân, dịch vụ Internet tăngnhanh và phát triển ở tất cả các địa phương
Điểm bưu điện văn hóa xã thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị ở các địa phương, việcđầu tư phủ sóng ở các công sở , khu du lịch, khu di tích được quan tâm
Duy trì hoạt động các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ, tiếp tục đầu tư vào khu
du lịch biển Xuân Thành, biển Xuân Yên và Cổ Đạm, khu lưu niệm Nguyễn Du Thu hút
hàng ngàn lượt khách hàng năm
2.1.2.5 Tài chính – Ngân hàng:
a) Tài chính – ngân sách: Tổng thu ngân sách nhà nước 87457281 triệu đồng Trong
đó thu ngân sách tại địa bàn ước thực hiện 18329321 triệu đồng
Tổng chi ngân sách ước thực hiện 93267547 triệu đồng Số còn lại chuyển giao chongân sách xã
b) Ngân hàng: Tập trung giải quyết vốn vay cho cho sản xuất kinh doanh tạo điều
kiện và đáp ứng đủ nhu cầu vốn cho các chương trình mục tiêu giải quyết việc làm – xóa
đói giảm nghèo Trong năm nguồn vốn đã huy động được 102 tỷ đồng đạt 110 % kế
hoạch, trong đó huy động ngoại tệ đạt 100 % theo kế hoạch đã đề ra Doanh số thu nợ 80